1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về đất đai từ thực tiễn thành phố biên hòa tỉnh đồng nai

91 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 716,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai * Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ TIẾN KHÔI

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TỪ THỰC

TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

ĐỒNG NAI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ TIẾN KHÔI

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TỪ THỰC

TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 83.80.106

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Lê Vương Long

ĐỒNG NAI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng nhờ sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS.TS Lê Vương Long đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Luât - Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong Luận văn là trung thực Những tư liệu được sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

Trang 5

MỤC LỤC TRANG TỰA

PHẦN MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 11

1.1 Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai 11

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về quản lý Nhà nước về đất đai 17

1.3.Các yếu tố ảnh hưởng thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 33

2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thành phố Biên Hòa 33

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 37

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý Nhà nước về đất đai của thành phố 61

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 70

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai 70

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý Nhà nước về đất đai 73

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế, chính trị,

xã hội của mỗi đất nước Ở nước ta, đất đai được xác định tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn nội lực quan trọng nhất

để phát triển kinh tế, là thành phần quan trọng của môi trường sống Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”

Đất đai có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng như vậy nên quản lý, sử dụng đất đai luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta chú trọng quan tâm Từ khi chúng ta tiến hành đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, quan điểm về quản lý, sử dụng đất đai và được ghi nhận trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI và XII Hội nghị Trung ương 7 khóa IX (ngày 13/01/2003) đã dành hẳn một Nghị quyết bàn về vấn đề đất đai, trong đó, đề ra các quan điểm chỉ đạo về quản lý, sử dụng đất đai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trương ương 6 khóa

XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đã khẳng định đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước

Sử dụng đất đai một cách hợp lý có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại về kinh

tế và ổn định chính trị, phát triển xã hội cả trước mắt và lâu dài

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuyển dịch từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Điều đó đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ nhưng nó cũng khiến cho nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng lên và làm cho công tác quản lý sử dụng đất trở nên phức tạp

Đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử

Trang 8

dụng hiệu quả, tiết kiệm

Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh của tỉnh Đồng Nai là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thành phố thuộc tỉnh đông dân nhất cả nước, nơi đây

có tốc độ gia tăng dân số, sự đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc dẫn đến nhu cầu về đất đai gia tăng, gây sức ép lớn đến quỹ đất cho các ngành kinh tế nói riêng

và quỹ đất đai nói chung Điều này đòi hỏi UBND thành phố Biên Hòa phải có những chính sách về quản lý, sử dụng đất đai phù hợp nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hợp lý

Nghiên cứu công tác thực hiện pháp luật về quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Biên Hòa giúp chúng ta có nhìn ra những mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản lý về sử dụng đất, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đai đai trong những năm tiếp theo

Nhận thức được tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai học viên đã tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai từ thực tiễn thành phố

Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đất đai Tuy nhiên, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá, các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu liên quan đến đất nông nghiệp và nhằm mục đích phát triển nông nghiệp Chuyển sang thời kỳ đổi mới, cùng với sự ra đời của Luật Đất đai năm 1987, tình hình nghiên cứu về đất đai nói chung và quản lý Nhà nước về đất đai nói riêng cũng phát triển khá mạnh Ngoài các vấn đề liên quan đến quản lý đất nông nghiệp thì các vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai gắn với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm phân hoá giàu nghèo, thực hiện công bằng xã hội hay các vấn đề quản lý mang tính kỹ thuật như quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất, định giá đất… được đề cập khá nhiều Trong những lần chuẩn bị để bổ sung sửa đổi và ban hành mới Luật Đất đai (1993, 1998, 2001, 2003; 2013), đã có nhiều nghiên

Trang 9

cứu về chính sách đất đai của các nước và kinh nghiệm đối với Việt Nam Gần đây thì các vấn đề về quản lý đất đai và thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản, các vấn đề về giá đất, đền bù giải phóng mặt bằng hay các chính sách đối với những vùng bị mất nhiều đất sản xuất là đề tài được nghiên cứu, trao đổi rất nhiều trên báo chí cũng như các loại tạp chí chuyên ngành Đối với các nghiên cứu sinh và học viên cao học, cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến đất đai và quản lý Nhà nước về đất đai Tại học viện Chính trị

- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có một số đề tài nghiên cứu, luận án tiến

sỹ, luận văn thạc sỹ như: Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Đào Xuân Mùi (năm 2002) với đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai ở ngoại thành Hà Nội”; Luận văn thạc sĩ của học viên Bùi Thị Tuyết Mai (năm 2004) với đề tài: "Thị trường quyền sử dụng đất ở Việt nam hiện nay”;

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là làm rõ thực trạng và đánh giá chung tình hình thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai ở thành phố, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật quản lý và sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu

Nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và sự cần thiết thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai Kinh nghiệm thực hiện quản lý đất đai ở một số nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đất đai

ở Việt Nam nói chung và thành phố Biên Hòa nói riêng

Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai ở thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2012 - 2017 Từ đó tìm ra những mặt thuận lợi và hạn chế và nguyên nhân chủ quan, khách quan trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế các vấn

đề còn tồn tại trong công tác thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 10

- Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật

quản lý Nhà nước về đất đai, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác

quản lý sử dụng đất

- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật quản lý Nhà

nước về đất đai của thành phố Biên Hòa, từ đó đề xuất những giải pháp thích

hợp với thực tế địa phương góp phần hoàn thành công tác trong thời gian tới

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai qua thực tiễn thực hiện tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Nghiên cứu thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về

đất đai ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

+ Về thời gian: giai đoạn 2012 - 2017

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tập

hợp và phân tích các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất và thực tiễn thực hiện các nội dung này

- Phương pháp thu thập số liệu: Thực hiện thu thập và nghiên cứu các hồ

sơ, tài liệu, số liệu, văn bản liên quan tới đối tượng nghiên cứu nhằm rà soát, phát hiện và hệ thống hoá các vấn đề

- Phương pháp thống kê: Quá trình thống kê, phân tích nhằm phân loại tài

liệu đã thu thập, liệt kê các tài liệu, số liệu có nội dung đáng tin cậy, từ đó tổng hợp xây dựng nội dung của luận văn

- Phương pháp kế thừa, có chọn lọc: Phương pháp này sử dụng và thừa

hưởng những tài liệu, dữ liệu đã có về vấn đề nghiên cứu, dựa trên những thông tin sẵn có để xây dựng và phát triển thành cơ sở dữ liệu cần thiết của luận văn Phương pháp này áp dụng đối với phần tổng quan khi nghiên cứu các vấn đề về tình hình quản lý, sử dụng đất trên thế giới và ở Việt Nam; cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước về đất đai

Trang 11

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Kết hợp các yếu tố định tính với định

lượng, các vấn đề vi mô và vĩ mô trong phân tích, mô tả, so sánh và đánh giá

- Phương pháp đánh giá tình hình thực hiện việc quản lý Nhà nước về đất

đai, việc thực hiện những chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 03 chương chính:

Chương 1: Những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Quan điêm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

Trang 12

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.1 Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

* Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai

Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai

Quản lý Nhà nước về đất đai nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai và được tập trung vào 04 lĩnh vực cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Nhà nước nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ

các thông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình

hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai

Thứ hai: Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo

quy hoạch và kế hoạch chung thống nhất Nhà nước chiếm hữu toàn bộ quỹ đất đai, nhưng lại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu

sử dụng đất đai của các ngành, các tổ chức cũng khác nhau Nhà nước với vai trò chủ thể quản lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế Hơn nữa, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi

Trang 13

đất Vì vậy, Nhà nước thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quản lý việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; quản lý việc chuyển quyền sử dụng đất

Thứ ba, Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử

dụng đất đai: để có thể phát hiện các vi phạm và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó

Thứ tư, Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi tài chính từ đất

đai, thông qua các chính sách như: thu tiền sử dụng đất, thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất, thuế thu nhập cao từ việc chuyển quyền sử dụng đất ), nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng mang lại

Các hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất đều nhằm mục đích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai Nắm chắc tình hình đất đai là tạo cơ sở khoa học và thực tế cho phân phối đất đai và sử dụng đất đai một cách hợp lý theo quy hoạch, kế hoạch Kiểm tra, giám sát là củng cố trật tự trong phân phối đất đai và sử dụng đất đai, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước

* Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

Thực hiện pháp luật là một khái niệm pháp lý được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt

động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [23]

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt

động có mục đích, có chủ định để làm cho các quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hoạt động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”

[25]

Trang 14

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích

nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [29]

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật có các hình thức sau đây:

- Tuân theo (tuân thủ) pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Ở hình thức thực hiện này, đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động Ví dụ: Công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật (không vượt đèn đỏ) Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vào tập thể, vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, tập thể lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích bộ phận cục bộ Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân ko được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ko đc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đó là nững điều pháp luật cấm Đồng thời vì lợi ích chung, tùy theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc tổ chức, công dân phải làm một việc nào đó

- Thi hành (chấp hành) pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Chẳng hạn các đối tượng nộp thuế cho nhà nước đầy đủ, đúng hạn Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực

- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi

mà pháp luật cho phép) Chẳng hạn ký kết hợp đồng, thực hiện các quyền khởi kiện, khiếu nại trong khuôn khổ pháp luật quy định Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện

Trang 15

- Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Áp dụng pháp luật là hình thức luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền

Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước

Ví dụ: phát hiện một xác chết trên sông có dấu hiệu bị giết, cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, trưng cầu giám định pháp y

Trường hợp thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được, ví dụ tranh chấp hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trường hợp thứ ba, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước do các chế tài pháp luật quy định đối với những chủ thể có hành vi vi phạm Những người có hành vi vi phạm bị xử phạt làm hàng giả, hàng nhái…

Trường hợp thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ

đó hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế Chẳng hạn tòa án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với một người; tuyên bố không công nhận vợ chồng đối với nam nữ sống chung với nhau không

có đăng ký kết hôn hoặc đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền

Thực hiện pháp luật về bản chất đó là sự chuyển hoá các quy tắc xử sự, các mệnh lệnh, chỉ dẫn của pháp luật thành những hành động hoặc không hành động của các chủ thể pháp luật, được tiến hành thông qua hành vi hợp pháp của

họ, nhằm đạt được mục đích của pháp luật đặt ra Như vậy, THPL luôn là hành

Trang 16

vi của con người được tiến hành phù hợp với các quy định của pháp luật và không vượt ra khỏi khuôn khổ mà pháp luật đã định trước

Quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam có những nét khác biệt với nhiều nước trên thế giới là: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, có nghĩa là QLNN về đất đai phải thể hiện được vai trò làm chủ của người dân thông qua các hoạt động kiểm tra giám sát; sử dụng đất đai nhằm đem lại hiệu quả lớn nhất cho người dân, cho cộng đồng, cho xã hội Nhà nước trong đó có chính quyền địa phương các cấp là Nhà nước của dân, do dân bầu ra và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai tại địa bàn theo quy định của pháp luật Những mục đích tốt đẹp đó cần được thể chế hoá bằng các chính sách và các phương pháp tổ chức thực hiện khoa học trong QLNN về đất đai của chính quyền các cấp bằng các hành động cụ thể, không phải là “khẩu hiệu” Có thể nói, QLNN

về đất đai là một công việc phức tạp, cùng một mảnh đất tại một vị trí cụ thể nhưng được quản lý trực tiếp và gián tiếp bởi nhiều cơ quan và cấp độ khác nhau (theo ngành và lãnh thổ)

Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm: Thực hiện pháp luật quản lý

Nhà nước về đất đai là hoạt động có mục đích, của các cơ quan Nhà nước, các

tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ đất đai, bằng hành vi của mình để làm cho những quy định về đất đai đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể tham gia

1.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai

- Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Tất cả các nhà nước để quản lí được xã hội đều phải ban hành pháp luật về đất đai và mong muốn nó điều chỉnh được các quan hệ trong xã hội, điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm do nhà nước ban hành được các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác đầy đủ Do vậy, đối với các nhà nước vấn đề quan trọng không chỉ là ban hành pháp luật về đất đai mà còn phải tổ chức thật tốt quy định pháp luật đất đai để chúng được thực hiện trong thực tế Hiện nay, hoạt

Trang 17

động quản lý nhà nước về đất đai do nhiều chủ thể thực hiện theo hướng phân quyền cho chính quyền cấp dưới, nhưng Chính Phủ và các bộ ngành có vai trò hết sức quan trọng để tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đất đai

- Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật tham gia quan hệ pháp luật đất đai Pháp luật về đất đai được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi pháp luật của con người Hành vi đó có thể là hành động hoặc không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật Hành vi thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp nên không trái pháp luật, không vượt quá phạm vi quy định của pháp luật, vì vậy hành vi trái pháp luật không thể được coi là thực hiện pháp luật Như vậy theo cách hiểu này thì thực hiện pháp

luật quản lý Nhà nước về đất đai là làm cho pháp luật trở thành sự thực hay làm

cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Muốn thực hiện tốt quản lý nhà nước về đất đai cần vừa hoàn thiện pháp luật vừa phải triển khai pháp luật vào đời sống

- Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai là một giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai một mặt nhằm đạt được những mục đích của xã hội mặt khác còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về đất đai và cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống

- Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức khác nhau Chủ thể thực hiện pháp luật quản

lý Nhà nước về đất đai đa dạng, phong phú bởi lẽ quan hệ đất đai là quan hệ chủ yếu của con người Nó là một trong những nhu cầu sinh hoạt cũng như hoạt động chính của con người Vì vậy, không một ngành nào, cấp nào đảm đương riêng rẽ được nhiệm vụ thực hiện, các chủ thể đó được quy định trong luật đất đai và các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Chủ thể là

Trang 18

cá nhân bao gồm: công dân Việt Nam; người nước ngoài, người không có quốc tịch Hai là, chủ thể là pháp nhân, tổ chức bao gồm: Nhà nước là chủ thể đặc biệt, chỉ có nhà nước mới có chức năng ban hành chính sách, pháp luật và thiết lập bộ máy tổ chức Nhà nước thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đất đai thông qua các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Bộ, các cơ quan ngang bộ, các

cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, .) đơn vị lực lượng vũ trang (Bộ quốc phòng, Bộ công an, Bộ tư lệnh hải quân, Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ chỉ huy quân sự địa phương, công an các địa phương…); các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã…); các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp Pháp luật mang tính bắt buộc chung đòi hỏi mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện Vì vậy, thực hiện pháp luật có thể

là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội Pháp luật gồm rất nhiều các loại quy phạm pháp luật khác nhau, do vậy đối với mỗi loại quy phạm pháp luật thì những cách thức thể hiện chúng cũng khác nhau

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về quản lý Nhà nước về đất đai

Vai trò của Nhà nước đối với đất đai được thể hiện ở các nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai Nội dung của QLNN đối với đất đai là việc Nhà nước

sử dụng những phương pháp, biện pháp, những phương tiện, công cụ quản lý thông qua hoạt động của bộ máy quản lý để thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với đất đai, nhằm đạt được mục tiêu sử dụng đất đặt ra Các nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta trên cơ sở quy định chung tại Điều 22 - Luật đất đai 2013 cụ thể như sau:

1.2.1 Ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó

Trải qua các thời kỳ, Việt Nam đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đai đai tương đối chi tiết và đầy đủ nhằm tạo cơ sở pháp lý

Trang 19

cho việc triển khai đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới người sử dụng đất, cùng với Luật đất đai 1987, 1993, 2003, 2013

Các văn bản pháp luật của Chính phủ: Cùng với Luật đất đai năm 2013, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị … hướng dẫn cụ thể việc thi hành Luật đất đai, cụ thể:

Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 03 Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013

Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất;

Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất;

Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định về khung giá đất;

Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện;

Nghị định số 34/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ

về quản lý sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước;

Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước;

Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi

Trang 20

Nhà nước thu hồi đất;

Thông tư số 39/2011/TT-BTC ngày 22 tháng 3 năm 2011 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 83/2007/TT-BTC ngày 16 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2007 và Thông tư số 175/2009/TT-BTCngày 09 tháng 9 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung của Quyết định

số 140/2008/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước;

Văn bản quy phạm pháp luật của thành phố Biên Hóa:

- Căn cứ Nghị quyết số 85/2006/NQ-HĐND ngày 21/12/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai Khóa VII kỳ họp thứ 10 về chính sách bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Quyết định 09/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quy định về việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Quyết định số 02/2018/QĐ-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc tổ chức xác định giá đất cụ thể và quy trình luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của tổ chức sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Nhìn chung, công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản

lý, sử dụng đất đai qua các thời kỳ của nước ta là tương đối đầy đủ Hệ thống văn bản pháp luật sau Luật đất đai 2013 đã quy định chi tiết đảm bảo quản lý thống nhất toàn bộ quỹ đất trong phạm vi cả nước theo quy hoạch và pháp luật

Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng sở dĩ công tác quản lý đất đai ở nước ta còn nhiều yếu kém, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, là do thiếu luật Nhưng thực tế lại không phải đúng như vậy, ở nước ta hiện có quá nhiều văn bản pháp luật từ thấp đến cao điều chỉnh các quan hệ xã hội về đất đai Nhiều khi các văn bản này lại mâu thuẫn, chồng chéo với nhau gây rất nhiều khó khăn cho người thực hiện Vấn đề đáng quan tâm hiện nay không phải là thiếu

Trang 21

luật mà chính là ở chỗ hiệu lực của các văn bản pháp luật Hiệu lực pháp luật yếu kém đến mức có nhiều lĩnh vực gần như vô hiệu trong thực tiễn

1.2.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Do Nhà nước ta tổ chức theo mô hình Nhà nước đơn nhất: từ Trung ương đến tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) đến huyện (thành phố , thị xã, thành phố thuộc tỉnh) đến xã (phường, thị trấn) Nhà nước tiến hành xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính các cấp trong phạm vi cả nước Theo thống kê hiện nay cả nước có 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương)

1.2.3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất lập bản đồ địa chính

Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất là công việc đầu tiên của công tác quản lý đất đai Thông qua công tác này nhà nước mới nắm chắc được toàn bộ vốn đất đai cả về số lượng lẫn chất lượng trong lãnh thổ quốc gia, đánh giá được khả năng đất đai ở từng vùng, từng địa phương để có mục đích sử dụng đất phù hợp, là cơ sở xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất giúp cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai nắm chắc các thông tin của từng thửa đất, cả về số lượng, chất lượng, diện tích, loại đất

Bản đồ địa chính là tài liệu bản vẽ chuyên ngành được lập cho đến từng thửa đất, thể hiện diện tích, hình thể, độ cao, chủ sử dụng đất và loại đất sử dụng Bản đồ địa chính được lập ở các loại tỉ lệ (Đô thị tỉ lệ: 1/200; 1/500 và 1/1000; ngoại thành và nông thôn tỉ lệ: 1/1000 và 1/2000), lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là hình ảnh sao chụp thực tế sử dụng đất ở vào 1 thời điểm Thể hiện diện tích, tình hình sử dụng, hình thể, các công trình trên đất Bản đồ hiện trạng được lập ở các loại tỉ lệ 1/1000 và 1/2000; 1/5000 Lập theo đơn vị hành chính

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ

Trang 22

quy hoạch, thể hiện sự phân bổ của công tác quy hoạch Lập ở các loại tỉ lệ 1/1000 và 1/2000; 1/5000; 1/10.000

Công tác phân hạng đất đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp Nhà nước quản lý đất đai về mặt chất lượng Thông qua phân hạng đất Nhà nước xác định được từng hạng đất làm căn cứ pháp lý quan trọng để tính thuế nông nghiệp, tiền

sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất…đảm bảo công bằng

cả về quyền lợi và nghĩa vụ cho người sử dụng đất

1.2.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ pháp lý, kỹ thuật quan trọng để điều tiết các quan hệ đất đai Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là định hướng khoa học cho việc phân bổ sử dụng đất theo mục đích và yêu cầu của các ngành kinh tế, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của cả nước ở từng giai đoạn cụ thể Quy hoạch sử dụng đất được lập cho giai đoạn 10 năm, kế hoạch sử dụng đất được lập cho giai đoạn 5 năm Mục đích của công việc này là để sử dụng đất một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả cao và ổn định

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài Đây là một căn cứ pháp lý, kỹ thuật quan trọng cho việc điều tiết các quan hệ đất đai như: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

1.2.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích

Giao đất và cho thuê đất là những hình thức Nhà nước giao quyền sử dụng cho người sử dụng đất Chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất là việc Nhà nước thực hiện quyền định đoạt của mình đối với đất đai, cụ thể:

Nhà nước giao quyền cho người sử dụng đất Giao đất, cho thuê đất:

Người được giao đất, cho thuê đất không có quyền định đoạt đối với mảnh đất được giao, cho thuê mà chỉ được quyền sử dụng, khai thác công năng, tính dụng và các nguồn lợi từ mảnh đất được giao hay cho thuê Ngoài các quyền chung trong sử dụng đất, người được giao đất, cho thuê đất có các quyền

Trang 23

năng bao gồm: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa

kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền

sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai thông qua công tác Thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất:

Thu hồi đất: là biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê dất Biện pháp này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai

Chuyển mục đích sử dụng đất: Chuyển mục đích sử dụng đất là hành vi thuộc thẩm quyền của Nhà nước (chuyển một diện tích đất hoặc một khu vực đất nào đó từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt) Tất cả những thể nhân đã được Nhà nước giao đất phải sử dụng đúng mục đích được giao nếu chuyển mục đích trái thẩm quyền phải bị xử lý theo quy định của pháp luật

1.2.6 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất là một biện pháp quan trọng để xác định quyền sử dụng đất,

quản lý biến động đất đai, cụ thể:

Công tác đăng ký đất đai: với mục đích nhằm ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính, xác lập quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước và người sử dụng đất Là một thủ tục hành chính do cơ quan nhà nước thực hiện đối với các đối tượng sử dụng đất là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

Có hai hình thức đăng ký là đăng ký tự nguyện và đăng ký bắt buộc Theo

Trang 24

quy mô và mức độ phức tạp của công việc về đăng ký đất trong từng thời kỳ, đăng ký đất được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn một là đăng ký đất ban đầu

và giai đoạn hai là đăng ký biến động đất đai Đăng ký ban đầu được tổ chức thực hiện lần đầu tiên trên phạm vi cả nước để thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp GCNQSD cho tất cả các chủ sử dụng đất đủ điều kiện Còn đăng ký biến động thực hiện ở những địa phương đã hoàn thành đăng ký đất ban đầu cho mọi trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung của hồ sơ địa chính đã thiết lập

Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: là cơ sở để bảo vệ các quyền của người sử dụng đất khi xảy ra tranh chấp cũng như xác định nghĩa vụ tài chính mà họ phải tuân thủ theo pháp luật Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ở trung ương phát hành UBND tỉnh, thành phố thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức và đối tượng được chính phủ quyết định giao đất UBND thành phố , huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý đảm bảo quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người sử dụng, là một công cụ

để Nhà nước thực thi công tác quản lý Nhà nước đối với người sử dụng đất và thửa đất cụ thể

1.2.7 Thống kê, kiểm kê đất đai

Thống kê đất đai là biện pháp tính toán để tổng hợp, đánh giá về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất giữa hai lần thống kê, mục đích nắm được quỹ đất vào một thời điểm xác định, tình hình sử dụng của từng loại đất, tình hình biến động đất đai giữa các thời điểm Thông thường việc thống kê được tiến hành mỗi năm/ 01lần ở tất cả các cấp hành chính Nhà nước

Kiểm kê đất đai: là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính

và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê, tình hình biến

Trang 25

động đất đai giữa 2 lần kiểm kê Từ đó có cơ sở để xây dựng quy hoạch, kế hoạch và đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Đơn vị thống kê, kiểm kê đất đai là đơn vị lập sổ địa chính, đó là UBND

xã, phường, thị trấn UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc thống

kê, kiểm kê đất đai ở địa phương Thực hiện tốt công tác lập hồ sơ địa chính nhằm đảm bảo cho việc quản lý đất đai đến từng chủ sử dụng, đến từng thửa đất được, cập nhật kịp thời nhanh chóng những thay đổi về diện tích, chủ sử dụng đất, ranh giới…

1.2.8 Quản lý tài chính về đất đai

Quản lý tài chính về đất đai là việc sử dụng hệ thống công cụ tài chính như giá đất, thuế, tiền thuê đất, lệ phí…, nhằm điều tiết các quan hệ về đất đai

để đạt mục tiêu quản lý

Thuế thu nhập cao: do chuyển quyền sử dụng đất: là loại thuế trực thu nhằm huy động vào ngân sách Nhà nước một phần thu nhập của người sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất

Lệ phí trước bạ: là khoản tiền mà người có nhu cầu xin trước bạ nộp cho

cơ quan thuế để được Nhà nước đảm bảo về mặt pháp lý quyền sở hữu một tài sản

Tiền sử dụng đất: là một khoản tiền mà người sử dụng đất phải nộp khi được Nhà nước giao đất để làm nhà ở, đầu tư xây dựng nhà để bán, cho thuê; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; người đang sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng

từ các loại đất sản xuất nông nghiệp

Lệ phí địa chính: là một khoản tiền người sử dụng đất phải trả khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức được uỷ quyền giải quyết các công việc về địa chính như: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận đăng

ký biến động đất đai, trích lục bản đồ hoặc các văn bản cần thiết trong hồ sơ địa chính, xác nhận tính pháp lý của các giấy tờ nhà đất

Trang 26

1.2.9 Quản lý và phát triển thị trường sử dụng đất trong thị trường bất động sản:

Luật đất đai năm 2013 đã chấp nhận sự tồn tại của thị trường quyền sử dụng đất cũng như thị trường bất động sản thể hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ mới Thị trường bất động sản ở Việt Nam thực chất đã ngầm phát triển từ lâu song lại không có một điều khoản nào trong Luật đất đai trước đây

Việc quản lý và phát triển thị trường bất động sản trong những năm gần đây mới thực sự được quan tâm vì cơ sở vật chất, tiền đề để phát triển thị trường này đòi hỏi phải xây dựng một cách hoàn thiện và đầy đủ Để phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản cần phải có một hệ thống cơ sở vật chất tốt như hệ thống quy hoạch đất đai đầy đủ, rõ ràng, công khai và minh bạch; phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương; các loại bản đồ phải đầy đủ, chính xác cùng với nó là hệ thống pháp luật phải tạo được hành lang thông thoáng nhưng cũng đảm bảo chặt chẽ, khoa học mới có thể phát triển ổn định thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

1.2.10 Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử

dụng đất

Đảm bảo người sử dụng đất thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo pháp luật Đồng thời hạn chế tính quan liêu thậm chí tiêu cực của cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

là một nội dung mới trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật đất đai năm 2013 so với năm 2003 Đây là một nội dung nhằm xem xét việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, đảm bảo thực hiện đúng theo pháp luật đối với công tác quản lý và sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Từ khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý, giám

Trang 27

sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất mới được quan tâm thực hiện, coi trọng

Trong thời gian qua, người sử dụng đất đã được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật như quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp Bên cạnh đó, họ cũng thực hiện khá đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước trong quá trình sử dụng đất

1.2.11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đất đai và xử lý vi phạm pháp luật đất đai

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai nhằm phát hiện các sai phạm để ngăn chặn kịp thời tránh hậu quả xấu gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc cá nhân Mục đích của công tác này là nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đất đai, đảm bảo cho đất đai được quản lý chặt chẽ, các loại đất được sử dụng một cách hợp pháp, tiết kiệm và mang hiệu quả cao, góp phần tăng cường đoàn kết trong nhân dân, bảo vệ trật tự

an toàn xã hội Mặt khác, qua thanh tra, kiểm tra để nắm được các chính sách pháp Luật đất đai đã đi vào thực tế như thế nào, qua đó phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực, tìm ra những nội dung không phù hợp để đề xuất và bổ sung, sửa đổi các chính sách pháp luật Đất đai cho ngày càng hoàn thiện hơn

Về xử lý các sai phạm trong việc quản lý sử dụng đất tùy theo tính chất nghiêm trọng, mức độ tác hại và hậu quả của các trường hợp sai phạm mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện phương sách cho phù hợp

1.2.12 Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết các khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất:

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, nó gắn liền với quyền lợi và lợi ích kinh tế của người sử dụng đất Đặc biệt cùng với cơ chế thị trường và sự phát triển của nền kinh tế, đất đai trở nên có giá trị hơn Do vậy, vấn đề tranh chấp đất đai xảy ra thường xuyên, phức tạp và quyết liệt; không giải quyết được sẽ

Trang 28

gây ra sự mất ổn định trong xã hội

Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai: là biện pháp nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ sử dụng đất đem lại sự công bằng xã hội, góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết trong nhân dân, nâng cao lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền và giữ vững được an ninh chính trị trong xã hội Luật đất đai năm 2013 quy định thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

1.2.13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai:

Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai thể hiện chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta trong việc quản lý và sử dụng đất ở thời kỳ mới, đồng thời cũng nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản một cách công khai, minh bạch

Trong quản lý và sử dụng đất, các hoạt động dịch vụ công về đất đai bao gồm các hoạt động như: tư vấn về giá đất; tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; dịch vụ về đo đạc thành lập bản đồ địa chính; dịch vụ về thông tin đất đai,…Các dịch vụ này được các tổ chức, cá nhân thuộc Nhà nước hoặc không thuộc Nhà nước thực hiện có thu tiền dưới sự quản lý, cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Hiện nay, hầu hết các địa phương trên toàn quốc đã thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, vừa cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước

về đất đai

1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý Nhà nước

về đất đai, Điều kiện kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhìn vào điều kiện kinh tế xã hội của một đất nước, một địa

Trang 29

phương có thể thấy được tình hình, hiện trạng sử dụng đất của đất nước, địa phương đó Liệu đất nước, địa phương đó có đủ trình độ để áp dụng khoa học vào sản xuất, khai thác đất đai không? trình độ, nhận thức, giá trị thu lại trên diệc tích đất sử dụng có cao hay không? Ngược lại khi nhìn vào hiện trạng sử dụng đất có thể thấy được trình độ phát triển kinh tế của vùng, địa phương, thành phố đó Cụ thể, một đất nước, địa phương khai thác đất với quy mô tập trung, theo mô hình tổ chức có quy hoạch, khoa học công nghệ cao, thu nhập mang lại lớn thì dĩ nhiên nước đó là một nước có nền kinh tế phát triển Mối quan hệ qua lại giữa sử dụng, quản lý đất đai và đời sống kinh tế - xã hội thể hiện rất rõ theo những khía cạnh sau: Khi nền kinh tế - xã hội phát triển nhu cầu của con người cũng thay đổi không những về mặt số lượng mà còn về mặt chất lượng Khi xã hội phát triển trình độ nhận thức và khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất cũng tăng nhanh, khả năng khai thác nguồn lực đất đai của con người cũng tăng lên Phản ánh mối quan hệ giữa điều kiện kinh tế - xã hội và hiện trạng của công tác quản lý Nhà nước về đất đai Xã hội cũng phát triển theo

sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức… Trên đây là mối quan hệ qua lại giữa điều kiện kinh tế - xã hội và công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp Trong xu hướng phát triển của xã hội cơ cấu kinh tế phải chuyển dịch phù hợp

xu thế phát triển và tình hình thực tế của đất nước Cơ cấu thương mại dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp phát triển đi đôi với quy hoạch các quỹ đất đai phục

vụ cho mục đích phát triển Trên thế giới, tình hình kinh tế - xã hội phong tục tập quán của con người cũng khác nhau nên phan bố cách quản lý đất đai cũng khác nhau Nước ta không thể áp dụng công tác quản lý của nước khác, chế độ chính sách quản lý cũng phải co sự sai khác, có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước khác nhưng không thể áp dụng một cách rập khuôn, giáo điều vì như thế chỉ là sự áp dụng một cách máy móc không khoa học Như vậy mối quan hệ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và công tác quản lý Nhà nước về đất đai là rất rõ ràng, người quản lý phải có phương pháp, cách thức, quy định hợp, linh hoạt để công tác quản lý đi cùng với lợi ích của cá nhân, hộ gia đình,

Trang 30

tổ chức sử dụng đất cũng như lợi ích của xã hội

1.3.2 Yếu tố quy hoạch sử dụng đất đai

Quy hoạch sử dụng đất đai là việc Nhà nước bố trí sắp xếp các loại đất đai cho các đối tượng sử dụng đất đai theo các phạm vi không gian và trong từng khoảng thời gian nhất định, với mục đích phục vụ tốt nhất cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và cho phép sử dụng hợp lý, có hiệu quả các yếu tố đất đai

Quy hoạch sử dụng đất đai là công cụ quản lý quan trọng, là nội dung không thể thiếu được trong công tác quan lý Nhà nước về đất đai Điều này thể hiện ở các vấn đề sau:

Quy hoạch sử dụng đất đai đảm bảo cho sự lãnh đạo quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước Thông qua quy hoạch, thông qua việc sắp xếp, bố trí

sử dụng các loại đất đã được phê duyệt và được thể hiện tên các bản quy hoạch, Nhà nước kiểm soát mọi diễn biến về tình hình sử dụng đất đai Từ đó, ngăn chặn được tình trạng sử dụng đất đai bừa bãi, lãng phí, sử dụng đất đai không đúng mục đích Mặt khác thông qua quy hoạch, bắt buộc các đối tượng sử dụng đất đai chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình Điều đó cho phép Nhà nước có cơ sở để quản lý đất đai chắc chăn và trật tự hơn, các vứng mắc, tranh chấp đất đai có cở sở để giải quyết tốt hơn

Quy hoạch sử dụng đất đai là căn cữ quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai Trong tất cả các loại quy hoạch, các mục tiêu, quan điểm

và các chỉ tiêu tổng quát của nó đều phải được củ thể hoá để đưa vào thực tiến

và việc cụ thể hoá đó thông qua kế hoạch Như vậy việc xây dựng kế hoạch phải dựa vào quy hoạch, phải coi quy hoạch là một trong các căn cữ không thể thiếu được của kế hoạch Quy hoạch cúng có cơ sở khoa học, càng chính xác bao nhiêu thì kế hoạch càng có điều kiện để thực hiện bấy nhiêu

Quy hoạch sử dụng đất đai tạo điều kiện sử dụng đất đai hợp lý Trên cơ

sở phân hạng đất đai, phân loại, đánh giá đất đai, Nhà nước bố trí sắp xếp các loại đất đai cho các đối tượng sử dụng đất đai hiểu rõ được phạm vi ranh giới và

Trang 31

chủ quyền, về loại đất đai trên vùng lãnh thổ để họ yên tâm đầu tư khai thác phần đất đai, do vậy hiệu quả sử dụng đất đai sẽ cao hơn

Quy hoạch sử dụng đất đai tạo điều kiện cho việc tính thuế, xác định giá

cả các loại đất đai hợp lý Việc tính thuế, xác định giá cả các loại đất đai phải dựa vào đánh giá, phân hạng các loại và quy mô đất đai Mà những vãn đề cơ bản trên đã được thể hiện trong quy hoạch Như vậy quy hoạch sử dụng đất đai càng có cơ sở khoa học thì việc tính thuế, giá cả đất đai càng hợp lý và chính xác hơn

Quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò vô cùng quan trọng, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Quản lý chặt chẽ không chỉ giảm thiểu những tranh chấp mà còn thuận tiện cho việc quy hoạch cơ sở hạ tầng

1.3.3 Yếu tố tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai

Mỗi chế độ chính trị được thiết lập thì có một bộ máy quản lý khác nhau

Cơ cấu tổ chức, phân công chức năng, quyền hạn của bộ máy quản lý đó cũng khác nhau phù hợp với từng điều kiện cụ thể của đất nước sở tại Đối với nước

ta chế độ sở hữu đất đai được công nhận là chế độ sở hữu của toàn dân (Luật Đất đai năm 2013), Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trên phạm vi cả nước Nhà nước là người có quyền tối cao đối với đất đai trên phạm vi cả nước Chính vì vậy cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta cũng khác với các nước công nhận chế độ sở hữu tư nhân., Sự sai khác về cơ cấu, tổ chức, phân quyền… không những phụ thuộc vào chế độ sở hữu của nước sở tại mà còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác như: yếu tố dân tộc, yếu tố tự nhiên, yếu tố lịch

sử, yếu tố truyền thống…Nhà nước ta là cơ quan quyền lực lớn nhất nước, nhà nước ta có quyền định đoạt tối cao đối với đất đai trên toàn vùng, lãnh thổ quốc gia Hệ thống cơ quan quản lý được tổ chức, thiết lập, phân cấp, phân quyền từ trung ương đến địa phương Cơ quan cao nhất, có quyền hạn lớn nhất trong bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai và môi trường là Bộ tài nguyên và Môi trường (được thành lập theo nghị định 91/CP, ngày 11/11/2002) là cơ quan trực thuộc của chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai, tài nguyên, môi

Trang 32

trường, đo đạc bản đồ, quản lý hành chính, dịch vụ công… Ngoài ra ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các Sở Tài nguyên và Môi trường Ở các huyện, thành phố thành phố, thị xã, xã, phường có các phòng tài nguyên môi trường Các sở, phòng này chịu trách nhiệm quản lý về các lĩnh vực có liên quan trên địa bàn được giao, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp và báo cáo lên cấp trên trực tiếp tình hình sử dụng đất đai để nắm bắt được tình hình sử dụng đất một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất Nước ta với cơ cấu tổ chức bộ máy quản

lý Nhà nước về đất đai có nhiều thuận lợi, nhưng đồng thời còn tồn tại nhiều bất cấp, Cụ thể: Bộ Tài nguyên và Môi trường đóng vai trò cao nhất báo cáo lên chính phủ và quốc hộ về tình hình của lĩnh vực mình quản lý, các cấp, các ngành quản lý có liên quan báo cáo lên cấp trên trực tiếp của mình Do đó, công tác quản lý rất thống nhất theo một hướng chung Tuy nhiên sẽ có khó khăn lớn nếu một khâu, một bộ phận trong hệ thống làm việc không tập trung, không hiệu quả

dễ làm cho cả bộ máy hoạt động không hiệu quả theo Muốn công việc quản lý hiệu quả bộ máy phải được tổ chức thật phù hợp về cơ cấu, trách nhiệm, quyền hạn, phân chia phối hợp với các ngành, lĩnh vực khác có liên quan, có sự hướng dẫn bám sát của cơ quan ban ngành, chức năng

1.3.4 Yếu tố pháp luật

Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai thực hiện nhiệm vụ ban hành văn bản, quy định hướng dẫn về quản lý Nhà nước về đất đai, đây là cơ sở cho việc tổ chức thực hiện quản lý Thực tiễn cho thấy, hệ thống khung khổ về pháp luật về đất đai bao gồm các luật, nghị định, thông tư

và các quyết định quy định về đất đai không phải bao giờ cũng bao quát được các vấn đề phát sinh liên quan đến đất đai trong thực tế Việc giải quyết các vấn

đề, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể để áp dụng luật và các văn bản có liên quan, tuy nhiên, cũng có những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được quy định trong luật, do đó, cần phải có văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý

về đất đai

Do vậy, việc ban hành văn bản và các quy định hướng dẫn về quản lý Nhà

Trang 33

nước về đất đai của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai là một yếu tố có ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai Yếu tố này đòi hỏi phải có tính chính xác và tính kịp thời, nếu một vấn đề phát sinh liên quan đến đất đai không được hướng dẫn giải quyết chính xác thì nó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Ngoài ra, nếu vấn đề mang tính chất cấp bách mà không được giải quyết kịp thời thì cũng đem lại hậu quả không mong muốn

Tóm lại, thực hiện tốt việc ban hành văn bản và quy định hướng dẫn sẽ có tác động tích cực và mang lại hiệu quả cho công tác quản lý, còn nếu không nó

sẽ có tác động ngược lại

Tiểu kết chương 1

Thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai luôn Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và hoàn thiện Luật Đất đai năm 2003 chính là một minh chứng cho sự phát triển của lĩnh vực pháp luật này Từ đó, pháp luật đất đai ở Việt Nam đã có những đổi mới căn bản, góp phần tạo ra những chuyến biến tích cực về kinh tế, xã hội Tuy nhiên, do sự vận động và phát triển của xã hội, sau gần một thập kỷ, Luật Đất đai năm 2003 đang bộc lộ những bất cập Đòi hỏi nghiên cứu, sửa đổi hoàn thiện đổi mới về chính sách đất đai trong Luật đất đai

2013, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân

Nội dung chương 1 tác giả đi phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản quản lý Nhà nước về đất đai như khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai; phân tích nội dung thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai; các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai Những vấn đề lý luận cơ bản làm sáng tỏ ở chương 1 là cơ sở

để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật ở chương 2 của luận văn

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thành phố Biên Hòa

Tây tỉnh Đồng Nai, Vi ̣ trí đi ̣a lý:

- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu;

- Phía Nam giáp huyện Long Thành;

- Phía Đông giáp huyện Trảng Bom;

- Phía Tây giáp thị xã Tân Uyên, thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương

Thành phố Biên Hòa là Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của tỉnh Đồng Nai, là một thành phố công nghiệp lớn của cả nước và là một trung tâm của vùng trọng điểm kinh tế ở phía Nam bao gồm TP.HCM – Biên Hòa – Vũng Tàu - Bình Dương và có ý nghĩa quan trọng về mặt an ninh, quốc phòng đối với khu vực , là một trong các cực tăng trưởng quan trọng của VKTTĐPN

và của cả nước

Sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, bình quân 5 năm (2012- 2017) giá trị tăng thêm đạt 30,1%/năm Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2013 đạt 27.528,22 tỷ đồng

Doanh thu thương mại - du lịch - dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hoá khu vực ngoài nhà nước năm 2013 đạt 34.452,158 tỷ đồng, trong đó giá trị hàng xuất khẩu đạt 22,69 triệu USD [13]

Thu ngân sách năm 2012 là 327 tỷ 981 triệu đồng, năm 2017 thực hiện 2.361,791 tỷ đồng; chi ngân sách năm 2012 là 272 tỷ 871 triệu đồng, năm 2017

là 2.284,265 tỷ đồng Năm 2013, tổng thu ngân sách 3.207,906 tỷ đồng, chi ngân sách 3.053,147 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản 2.339,11 tỷ đồng.[13]

Trang 35

Đă ̣c điểm đất đai và đi ̣a hình

Tổng diện tích tự nhiên theo đi ̣a giới hành chính thành phố Biên Hòa là 26,354,82ha, gồ m: Đất nông nghiệp 8.7849,04ha (chiếm 30,02% diê ̣n tích tự nhiên); đất phi nông nghiê ̣p 3.833,64ha (chiếm 68,28% diê ̣n tích tự nhiên); đất chưa sử du ̣ng 2,716,99ha (chiếm 9,30% diê ̣n tích tự nhiên)

Đi ̣a hình thành phố Biên Hòa tương đối bằng phẳng, đô ̣ chênh đi ̣a hình không lớ n, biên đô ̣ cao trình nằm trong khoảng 0,3m - 2m, Thành phố Biên Hòa được định hình là 4 khu vực phát triển đô thị: Khu đô thị trung tâm lịch sử; Khu

đô thị trung tâm mở rộng phía Đông; Khu đô thị phía Tây đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; Khu đô thị phía Đông đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu Tổng khu vực phát triển đô thị trên địa bàn thành phố chia làm 21 khu tương ứng với 21 phân khu trong quy hoạch chung

Đặc điểm dân số và lao động

Dân số trên địa bàn thành phố đã tăng lên 1.037.905 người, mâ ̣t đô ̣ dân số trung bình 4.772 người/km2, dân số trong đô ̣ tuổi lao đô ̣ng là 787.619 người, chiếm 74,48% dân số , mức tăng dân số tự nhiên bình quân 5.726 người/năm, tạo

ra nguồn lực lao động bổ sung hàng năm [13]; [14]

Nguồn lao động có chất lượng tương đối cao; trong số lao đô ̣ng trong đô ̣ tuổi, có 322.727 người đã qua đào ta ̣o, chiếm 35,4%; cơ cấu đô ̣ tuổi lao đô ̣ng tương đố i trẻ, số người trong đô ̣ tuổi 15- 44 tuổi chiếm 66,7% trong số người từ

15 tuổi trở lên Năm 2012 - 2017, Quâ ̣n đã dành hàng ngàn tỷ đồng từ nguồn ngân sách để đào tạo hơn 17.500 người, giải quyết việc làm cho hơn 22.500 lao

đô ̣ng nông nghiê ̣p sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

Trang 36

có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô- tô đến trung tâm

Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51 sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực

Việc thực hiện đầu tư xây dựng, cải tạo tập trung vào 04 mảng hạ tầng chính đô thị là giao thông, cây xanh, thoát nước thải - chất thải rắn - nghĩa trang

và kiến trúc cảnh quan nhằm cải thiện các tiêu chí phát triển đô thị, góp phần hoàn chỉnh các tiêu chuẩn chưa đạt của đô thị loại I trong giai đoạn 2016 - 2020 Ngoài ra, các chương trình, dự án này còn giúp cải thiện các vấn đề bức xúc trong thành phố Biên Hòa như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, hình thành và phát huy bản sắc đô thị:

Cải tạo, nâng cấp các tuyến đường hiện hữu thuộc 04 phường Long Bình, Long Bình Tân, Tân Phong, Trảng Dài nhằm phục vụ tách lập phường mới Ngoài ra, thực hiện nâng cấp một số tuyến đường đô thị thuộc cấp quản lý của thành phố như đường Bùi Văn Hòa, đường Đặng Văn Trơn, đường Phạm Văn Thuận, đường nối từ Bùi Hữu Nghĩa đến QL1K, tuyến đường vào Nhà máy nước Thiện Tân, thực hiện một số dự án chống ùn tắc giao thông trên QL1A, xây dựng nút giao thông hầm chui Tân Phong, …;

Cây xanh, thoát nước thải, chất thải rắn và nghĩa trang: Xây dựng công viên dọc sông Đồng Nai, cải thiện môi trường đô thị bằng các dự án xử lý nước thải nhỏ dọc trục QL 51, quy mô 10.000 m3/ngày.đêm (theo quy hoạch chung), thực hiện di dời bãi rác tại phường Trảng Dài, xây dựng Nhà tang lễ tại Bửu Long;

Các chương trình phát triển nâng cấp Biên Hòa đạt chuẩn đô thị loại I cần thực hiện đầu tư xây dựng tập trung vào một số ngành còn yếu như giao thông

Trang 37

đô thị, thủy lợi và thoát nước đô thị, thu gom và xử lý nước thải - rác thải, cảnh quan đô thị

Tổng số dự án ưu tiên đầu tư xây dựng đô thị theo quy hoạch định hướng

là 52 dự án, bao gồm các lĩnh vực trọng yếu, có vai trò thúc đẩy kinh tế xã hội của thành phố và vùng như: Các cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị

Cụ thể như sau:

Về tiêu chí cảnh quan: Nhằm tận dụng các kinh phí từ Trung ương và tỉnh, các dự án về cải thiện cảnh quan đô thị sẽ tập trung vào việc cải tạo, tu bổ các di tích được xếp hạng trên địa bàn thành phố như: Tu bổ tôn tạo di tích mộ Đoàn Văn Cự, di tích Nhà lao Tân Hiệp, di tích thành Biên Hòa, di tích Nhà Xanh,…

Hạ tầng xã hội: Tập trung xây dựng Trung tâm hành chính mới của thành phố tại phường Thống Nhất; đầu tư mở rộng Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất lên 1.000 giường; bổ sung, xây mới một số Trung tâm y tế như Bệnh viện Đa khoa Biên Hòa (xây dựng mới tại phường Bửu Long), Bệnh viện Nhi Đồng Nai (giai đoạn 02), .; xây dựng các dự án cây xanh công viên văn hóa, nhà hát lớn, Trung tâm Triển lãm và văn hóa, và các dự án trường học trên địa bàn thành phố;

Hạ tầng kỹ thuật: Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung chính đô thị gồm giao thông, chuẩn bị kỹ thuật, cấp nước, cấp điện và thông tin liên lạc, thoát nước - thu gom chất thải rắn và nghĩa trang, môi trường

đô thị Cụ thể như sau:

Chuẩn bị kỹ thuật: Thực hiện các dự án cải tạo và nạo vét các tuyến sông, suối chính đô thị như nạo vét, cải tạo suối Chùa, suối Bà Lúa, suối Cầu Quan, kè gia cố bờ sông Đồng Nai tại một số đoạn, chống ngập úng khu vực ngã năm Biên Hùng;

Cấp nước: Đầu tư xây dựng Nhà máy nước Bửu Hòa, nâng công suất hệ thống cấp nước Thiện Tân (giai đoạn 01), nâng công suất hệ thống cấp nước Nhơn Trạch (giai đoạn 01); xây dựng hệ thống cấp nước Thiện Tân 3

Trang 38

Cấp điện và thông tin liên lạc: Hoàn thiện và đấu nối hệ thống điện thành phố như xây dựng các trạm biến áp Tam Phước, Trạm 110/22 KV Quang Vinh, Trạm 110/22 KV Khu đô thị Long Hưng,… xây dựng các tra ̣m vê ̣ tinh và hê ̣ thố ng cáp quang trong thành phố;

Thoát nước - thu gom chất thải rắn và nghĩa trang: Xây dựng điểm trung chuyển chất thải rắn sinh hoạt tập trung 2, công suất 600 tấn/ngày.đêm, quy mô 1,0 ha; xây dựng điểm trung chuyển chất thải rắn công nghiệp tập trung, công suất 200 tấn/ngày.đêm, quy mô 0,5 ha; xây dựng Trạm xử lý nước thải số 1 thành phố Biên Hòa (giai đoạn 01); hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Biên Hòa (giai đoạn 01); xây dựng tuyến thoát nước phường Hố Nai,…

Môi trường: Thực hiện dự án cải thiện môi trường các sông chính trên địa bàn thành phố

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2.2.1 Tình hình tổ chức quản lý, sử dụng đất

Bộ máy quản lý đất đai của thành phố Biên Hòa

Phòng Tài nguyên và thành phố Biên Hòa hình thành trên cơ sở Quyết định số 663/2001/QĐ-UBND ngày 08/5/2001 của UBND thành phố Biên Hòa

về việc ban hành quy chế tổ chức, hoạt động của Phòng Tài nguyên và Môi trường;

Nhiệm vụ của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Biên Hòa là thực hiện chức năng tham mưu cho UBND thành phố về công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản - môi trường, quản lý đất và nhà ở trên địa bàn thành phố

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố được thành lập theo Quyết định số 607/QĐ-UBND ngày 13/8/2008 của UBND thành phố Biên Hòa về việc thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Biên Hòa Văn phòng là cơ quan dịch vụ công có chức năng tổ chức thực hiện việc đăng ký sử dụng đất, chỉnh lý biến động về sử

Trang 39

dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính; giúp Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất theo quy định của pháp luật

Bộ máy quản lý đất đai của thành phố gồm:

- Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố

- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (thuộc phòng TN&MT thành phố)

- Cán bộ địa chính của 30 phường (xã)

Ngoài ra, Uỷ ban nhân dân thành phố còn giao cho Văn phòng đăng ký ký hợp đồng với một số kỹ sư ngành quản lý đất đai để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các phường và Văn phòng đăng ký đất và nhà 100% các cán bộ, chuyên viên, lao động hợp đồng đều có trình độ đại học và sau đại học

Khái quát tình hình sử dụng đất của thành phố Biên Hòa

Biên Hòa có 30 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 23 phường và 7 xã)

Cụ thể, các phường gồm: An Bình, Bửu Hòa, Bình Đa, Bửu Long, Hòa Bình,

Hố Nai, Long Bình, Long Bình Tân, Quyết Thắng, Quang Vinh, Thanh Bình, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Biên, Thống Nhất, Tân Hiệp, Tân Hòa, Tân Mai, Tân Phong, Tân Tiến, Tân Vạn, Trảng Dài, Trung Dũng và 7 xã: Hóa An, Hiệp Hòa, Tân Hạnh, riêng các xã An Hòa, Long Hưng, Phước Tân và Tam Phước mới được sát nhập vào Biên Hòa vào tháng 4/2010 [13]; [14]

Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu 90

Km (theo Quốc lộ 51)

Tổng diện tích tự nhiên là 264,08 km2, với mật độ dân số là 2.970 người/km2 Thành phố Biên hòa nằm phía Tây Nam tỉnh Đồng Nai, là Trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của tỉnh lớn này

Cơ cấu diện tích đất đai được thể hiện tại bảng 2.1

Trang 40

73.01%

Nhóm đất nông nghiệp Nhóm đất phi nông nghiệp Nhóm đất chưa sử dụng

Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai năm 2015 thành phố Biên Hòa

Do thành phố công nghiệp, rộng lớn, phát triển công nghiệp, dân nhập cư vào làm ăn, làm công nhân công tác tổ chức thành phố còn gặp nhiều khó khăn

Vì vậy mà công tác quản lý và sử dụng đất của thánh phố cũng có nhiều vấn đề vướng mắc, trở ngại đang cần được khắc phục [12]

2.2.2 Tình hình thực hiện pháp luật quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Biên Hòa

Thực hiê ̣n luâ ̣t Đất đai năm 1993, luâ ̣t sửa đổi bổ sung mô ̣t số điều luâ ̣t Đất đai năm 1993 và luâ ̣t Đất đai năm 2003, thành phố Biên Hòa đã chú ý đến việc tuyên truyền sâu rô ̣ng tới mo ̣i tầng lớp nhân dân và các ngành các cấp; các Nghị đi ̣nh, thông tư hướng dẫn Luâ ̣t Đất đai của Trung ương ban hành, thành phố Biên Hòa tổ chức tâ ̣p huấn cho cán bô ̣ chủ chốt ở cơ sở và các ban ngành liên quan Ngoài ra thành phố cũng chú ý tới viê ̣c tuyên truyền luâ ̣t Đất đai trên

các phương tiê ̣n thông tin đa ̣i chúng như trên đài, báo, truyền thanh, truyền hình đảm bảo việc quản lý đất đai theo đúng quy định của pháp luật

Về công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Công tác quản lý đất đai là vấn đề phức tạp và nhạy cảm do vậy UBND thành phố thường xuyên kiểm tra đôn đốc công tác triển khai các văn bản liên quan đến công tác quản lý đất đai như: Luật Đất đai năm 2013; Nghị định

số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Mai Xuân Yến (2000), Giáo trình Hệ thống chính sách và pháp luật đất đai. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính sách và pháp luật đất đai
Tác giả: Mai Xuân Yến
Năm: 2000
10. Nguyễn Thị Vòng, Nguyễn Nhật Tân, Nguyễn Đức Minh (2001), “Bài giảng về quy hoạch sử dụng đất (dùng cho học viên cao học)”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về quy hoạch sử dụng đất (dùng cho học viên cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Vòng, Nguyễn Nhật Tân, Nguyễn Đức Minh
Năm: 2001
11. Bộ tư pháp (2014), Những đổi mới quan trọng trong Luật đất đai 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới quan trọng trong Luật đất đai 2013
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2014
12. UBND Thành phố Biên Hòa (2014), Báo cáo thống kê đất đai Thành phố Biên Hòa năm 2013, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê đất đai Thành phố Biên Hòa năm 2013
Tác giả: UBND Thành phố Biên Hòa
Năm: 2014
13. UBND Thành phố Biên Hòa (2013), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố năm 2015, 2016, 2017, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố năm 2015, 2016, 2017
Tác giả: UBND Thành phố Biên Hòa
Năm: 2013
14. UBND Thành phố Biên Hòa (2013), Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Biên Hòa đến 2020, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Biên Hòa đến 2020
Tác giả: UBND Thành phố Biên Hòa
Năm: 2013
15. UBND Thành phố Biên Hòa (2013), Báo cáo kết quả giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai năm 2013 - 2017, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: kết quả giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai năm 2013 - 2017
Tác giả: UBND Thành phố Biên Hòa
Năm: 2013
17. Nguyễn Đình Bồng (2001), “Hiện trạng sử dụng đất Việt Nam năm 2000 và vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên đất quốc gia trong 10 năm 2001 - 2010”, Tạp chí của Tổng cục Địa Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiện trạng sử dụng đất Việt Nam năm 2000 và vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên đất quốc gia trong 10 năm 2001 - 2010”
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2001
18. Chu Văn Thỉnh (1999), “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách sử dụng và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”, Báo cáo khoa học, Tổng cục địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách sử dụng và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”
Tác giả: Chu Văn Thỉnh
Năm: 1999
19. Nguyễn Kim Sơn (2000), “Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới”, Báo cáo khoa học chuyên đề 1, Tổng cục địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới”
Tác giả: Nguyễn Kim Sơn
Năm: 2000
21. Thông tư số: 28/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường “Về việc hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng và sử dụng đất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng và sử dụng đất
22. Thông tư: 29/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11năm 2004 của Bộ Tài nguyên Môi trường “Về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: 29/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11năm 2004 " của Bộ Tài nguyên Môi trường “"Về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính
23. Quyết định số: 36/2004/QĐ- BTNMT ngày 20 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường “Về việc ban hành qui phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về việc ban hành qui phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
24. Đặng Thái Sơn (2002): Đề tài nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư. Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư
Tác giả: Đặng Thái Sơn
Năm: 2002
25. Tổng quan quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam (2002).NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam (2002)
Tác giả: Tổng quan quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Năm: 2002
26. Phạm Đức Phong (2002): Mấy vấn đề then chốt trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam (2002). Hội thảo Đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam ngày 12 - 13/9/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề then chốt trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam (2002)
Tác giả: Phạm Đức Phong (2002): Mấy vấn đề then chốt trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam
Năm: 2002
30. Chính phủ, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP: Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
31. Chính phủ, Nghị định 123/2007/NĐ-CP: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
4. Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai Khác
5. Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w