1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân tỉnh đồng nai

111 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Pháp Luật Trong Thực Hành Quyền Công Tố Ở Giai Đoạn Điều Tra Vụ Án Hình Sự Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai
Tác giả Đoàn Văn Hùng
Người hướng dẫn TS Đinh Ngọc Thắng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Và Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Luật
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 830,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về các luận văn, công trình nghiên cứu của các tác giả như: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, do VKSND tối cao thực hiện năm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOÀN VĂN HÙNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LUẬT

NGHỆ AN, 8-2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOÀN VĂN HÙNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 6.38.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LUẬT

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Ngọc Thắng

NGHỆ AN, 8-2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

TÁC GIẢ

Đoàn Văn Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU

TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

13 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật trong thực hành

quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân

1.2 Nội dung và quy trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công

tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 30

1.3 Các yếu tố bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền

công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC

VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH

ĐỒNG NAI

47 2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội và tổ chức bộ máy của

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai

đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

50 2.3 Đánh giá chung về thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền

công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

tỉnh Đồng Nai

66

Trang 6

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG

TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

81 3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực hành quyền

công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

3.2 Giải pháp nâng cao nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực

hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát

Trang 7

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ADPL : Áp dụng pháp luật BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự BLHS : Bộ luật hình sự

CQĐT : Cơ quan điều tra CQTP : Cơ quan tư pháp ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên THQCT : Thực hành quyền công tố TTHS : Tố tụng hình sự

VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2.1 Số liệu VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố và yêu

cầu khởi tố vụ án

52

Bảng 2.2.2 Số liệu VKS phê chuẩn, yêu cầu khởi tố, yêu cầu

thay đổi quyết định khởi tố bị can

54

Bảng 2.2.3 Tỷ lệ giải quyết án hình sự của CQĐT và của VKS 55

Bảng 2.2.4 Số liệu tạm giam và các trường hợp VKS không phê

chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam

57

Bảng 2.2.5 Số liệu CQĐT, VKS đình chỉ do không phạm tội 62

Bảng 2.2.6 Số liệu VKS, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung 64

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đời sống kinh tế

- xã hội của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Song, tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm diễn biến có chiều hướng phức tạp, một số loại tội phạm có tính chất và hậu quả nghiêm trọng hơn Kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp (CQTP) trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ pháp chế, phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn chưa đáp ứng được tình hình mới Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan được pháp luật trao thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây là chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp Thông qua việc thực hiện chức năng của mình, VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [24] Hoạt động áp dụng pháp luật (ADPL) của VKSND trong quá trình thực hành quyền công tố (THQCCT), kiểm sát các hoạt động tư pháp có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời góp phần có hiệu quả vào việc giáo dục ý thức pháp luật ADPL của VKSND trong THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải được chú trọng và

Trang 10

nâng cao chất lượng mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra Công tác THQCT ở giai đoạn điều tra thực hiện đúng theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho cơ quan điều tra (CQĐT) hoạt động đúng hướng; việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng người, đúng tội; hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời Kết quả điều tra vụ án hình sự là điều kiện tiên quyết thiết thực, trực tiếp cho việc thực hiện quyền công tố (QCT), công tác kiểm sát việc truy tố và xét xử của Tòa án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội và tránh bỏ lọt tội phạm Thực tiễn cải cách tư pháp hiện nay đang đặt ra cho ngành tư pháp nói chung và VKSND nói riêng những nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi ngành kiểm sát phải đổi mới mạnh

mẽ trong tổ chức và hoạt động

Qua công tác tổng kết, đánh giá thực tiễn tại VKSND tỉnh Đồng Nai cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác THQCT vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như việc khởi tố, bắt, giam, giữ vẫn còn xảy ra oan sai; một số trường hợp phải đình chỉ điều tra do không phạm tội, một số vụ án đã không được khởi tố kịp thời, trả hồ sơ điều tra bổ sung do lỗi Kiểm sát viên (KSV), những hạn chế đó đã ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Những yếu kém trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, có cả nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan Nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là

do nhận thức pháp luật và năng lực ADPL trong hoạt động thực tiễn của CQĐT, VKSND

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và từ nhận thức việc ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là một trong những vấn đề quan trọng, cần có sự quan tâm hơn nữa kể cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn để việc ADPL trong THQCT của VKSND tỉnh Đồng Nai đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Vì

những lý do trên, việc lựa chọn vấn đề "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân,

Trang 11

từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học là yêu cầu tất

yếu khách quan hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề liên quan đến áp dụng pháp luật trong hoạt động thực hành quyền công tố đối với vụ án hình sự trong những năm qua đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, trong các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, sách tham khảo và trong các đề tài nghiên cứu cấp bộ do Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện Trong đó, đáng chú ý một số công trình như:

- Về sách, giáo trình gồm có: Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam,

Nguyễn Minh Đoan (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2009 Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), GS-TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội năm 2014; Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015, PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Nxb chính trị quốc gia – sự thật năm 2016; Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, PG TS Nguyễn Văn Động (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia - sự thật năm 2017

- Về các luận văn, công trình nghiên cứu của các tác giả như: Những vấn đề

lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, do VKSND tối cao thực hiện năm 1999; Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, của TS.Lê Hữu Thể chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2008; Luận án tiến sĩ: Quyền công tố ở Việt Nam, của nghiên cứu sinh Lê Thị Tuyết Hoa thực hiện năm 2002; Luận văn thạc sĩ: Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công

tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay của Trịnh Duy Tám, năm 2005; Luận văn thạc sỹ luật học, Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam của

Đinh Công Thành (2011),

Trang 12

- Một số bài viết như: “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố” của

Lê Cảm (Báo cáo tại Hội nghị khoa học: Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong tình hình mới, do Ủy ban pháp luật của Quốc hội tổ chức (Tp Hồ Chí Minh,

ngày 2/4/2001); "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp" của Hà Mạnh Trí (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2003); "Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện của nhà nước pháp quyền" của Nguyễn Đăng Dung (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2008); Trần Công Phàn, "Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân trong tình hình mới và một số vấn đề về tăng cường sự Lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm" (Tạp chí Kiểm sát số 19)/2011) Hoàn thiện pháp luật hiện hành để “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Nguyễn Hồng Vinh (Tạp chí kiểm sát, số 01/2013); Những dấu mốc quan trọng hình thành, phát triển chế định Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Nguyễn Thị Nga (Tạp chí kiểm sát, số 06/2016);Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo các quy định mới của pháp luật của Lại Hợp Việt (Tạp chí kiểm sát, số 17/2016); Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, hạn chế án hình sự bị hủy và trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Trí Khôn

(Tạp chỉ Kiểm sát, số 17/2017)…

Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề về QCT và việc ADPL trong THQCT của VKSND, có nhiều giá trị để tham khảo Song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy

đủ, có hệ thống về mặt lý luận và thực trạng dưới góc độ ADPL trong THQCT của VKSND ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự tại tỉnh Đồng Nai nói riêng Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên, tác giả mạnh dạn tiếp cận vấn đề ADPL dưới góc độ

Trang 13

lý luận về nhà nước và pháp luật để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về ADPL trong thực hành quyền công tố của VKSND ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại địa bàn tỉnh Đồng Nai Tác giả mong muốn tìm ra giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong THQCT nói chung và ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu để tìm ra những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hơn nữa chất lượng ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND tỉnh Đồng Nai, góp phần xây dựng VKSND tỉnh Đồng Nai vững mạnh, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố

ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Ðể thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

+ Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận về ADPL và ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND Trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm, quy trình và các yếu tố đảm bảo việc ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND;

Trang 14

+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND tỉnh Đồng Nai

+ Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực trạng ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự , luận văn nêu quan điểm và đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND tỉnh Đồng Nai Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL trong THQCT của VKSND ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

+ Giới hạn về không gian và thời gian: Trên cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra, luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND hai cấp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2013 đến năm 2017

+ Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận

và thực tiễn về ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Nhất là các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị: "Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020"

Trang 15

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử trong triết học Mác-Lênin Đồng thời, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải để làm sáng tỏ các khái niệm, các quy định của pháp luật liên quan đến ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND; phương pháp thống kê, chứng minh thông qua khảo sát tại các phòng nghiệp vụ (Phòng 1, Phòng 2, Phòng 3), Phòng Thống kê và Văn phòng Tổng hợp của VKSND tỉnh Đồng Nai để có số liệu cụ thể

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chế định QCT, THQCT và hoạt động ADPL nói chung, trong đó xác định những vấn đề lý luận của ADPL trong hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng

6.1 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đánh giá khách quan, khoa học về thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế, đồng thời đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND tỉnh Đồng Nai

Ở mức độ nhất định, quả kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm

tư liệu tham khảo phục vụ cho cán bộ, kiểm sát viên trong cơ quan VKS, nhất là những KSV trực tiếp làm công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp để nâng cao chất lượng ADPL Bên cạnh đó, luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên luật cán bộ nghiên cứu giảng dạy và nghiên cứu một số chuyên đề khác có liên quan đến hoạt động THQCT nói chung và trong THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của VKSND nói riêng

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công

tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

- Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật

Pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là hệ thống các qui tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế; thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh [10, tr.337]

ADPL là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật, bao gồm tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL ADPL là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền nhằm tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện đày đủ và nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật ADPL khác với tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật ở chỗ: nó chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền

và trong ADPL có cả tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật Tuy vậy, không phải trong mọi trường hợp đều ADPL, mà ADPL chỉ được

tiến hành trong bốn trường hợp sau đây:

Trang 18

Một là, khi đã có quy phạm pháp luật quy định trước về những điều kiện cần

và đủ để làm phát sinh quan hệ pháp luật cụ thể, nhưng quan hệ pháp luật đó vẫn chưa hình thành vì chưa có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bởi vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ADPL để làm phát sinh quan hệ pháp luật ấy

Hai là, khi quan hệ pháp luật cụ thể đã phát sinh, nhưng nó vẫn chưa được

thực hiện vì giữa các chủ thể quan hệ pháp luật đó có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết

Ba là, khi nhà nước (cụ thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thấy cần xác

nhận những sự kiện thực tế để chuyển hoá chúng thành những sự kiện mang tính pháp lý

Bốn là, khi có vi phạm pháp luật xảy ra và cơ quan nhà nước có thẩm quyền

thấy cần phải truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật đó

Từ những điều trình bày ở trên, có thể định nghĩa: ADPL là một hình thức hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật hiện hành đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể trong trường hợp cụ thể [12, tr 416, 417, 418, 419]

1.1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Thứ nhất: Hoạt động ADPL chỉ được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có

thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền Pháp luật qui định mỗi cơ quan nhà nước hay nhà chức trách khác nhau có thẩm quyền ADPL khác nhau, như Thẩm phán có quyền xét xử ra bản án, KSV có quyền THQCT, đề ra yêu cầu điều tra hoặc tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp…Trong trường hợp đặc biệt một

số tổ chức xã hội được nhà nước uỷ quyền cũng được ADPL Như vậy pháp luật là

Trang 19

cơ sở xuất phát điểm để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ADPL thực hiện chức năng của mình Việc ADPL được xem là sự tiếp tục thực hiện ý chí của nhà nước được thể hiện trong pháp luật

Thứ hai: Hoạt động ADPL được tiến hành theo thủ tục, trình tự do pháp luật

quy định Do tầm quan trọng và tính chất phức tạp của ADPL, chủ thể bị ADPL có thể được hưởng những lợi ích rất lớn hoặc chịu những hậu quả bất lợi nghiêm trọng, nên pháp luật luôn xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quá trình ADPL Bởi vậy mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

và các bên có liên quan trong quá trình ADPL phải tuân thủ nghiêm chỉnh các qui định

có tính thủ tục đó

Thứ ba: ADPL là hoạt động điều chỉnh mang tính chất cá biệt Đối tượng của

hoạt động ADPL là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong qui phạm pháp luật Bằng hoạt động ADPL những qui phạm pháp luật nhất định được cá biệt hóa vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống

Thứ tư: ADPL mang tính quyền lực nhà nước Thể hiện trước hết ở chủ thể

có quyền ADPL Nếu như với các hình thức thực hiện pháp luật khác thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng thực hiện được thì ADPL chỉ do những cơ quan, cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép mới có quyền thực hiện và cũng chỉ được áp dụng trong một phạm vi nhất định Kết quả của việc ADPL là những mệnh lệnh, quyết định buộc mọi tổ chức, cá nhân đều phải chấp hành, nếu không muốn bị cưỡng chế bằng sức mạnh nhà nước

1.1.2 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.2.1 Khái niệm quyền công tố

Trang 20

“Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “Công” có nghĩa là “thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư”, còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”,

“công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [15 tr 453, 459, 663]

Ở Việt Nam, thuật ngữ "Quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp 1980, sau đó được nhắc lại ở Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981

Như vậy, trong các hoạt động của VKSND, bên cạnh khái niệm truyền thống kiểm sát việc tuân theo pháp luật đã xuất hiện khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố Trong khoa học luật tố tụng hình sự (TTHS), việc xác định khái

niệm QCT và theo đó là THQCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các CQTP nói riêng; xác định

rõ chức năng của VKS, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức VKS các cấp

Vấn đề khái niệm QCT đã có nhiều tài liệu nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí đề cập đến khái niệm này với những mức độ khác nhau Song cho đến nay khi chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách tư pháp, khái niệm QCT vẫn chưa đạt được sự nhận thức thống nhất cao, đang có nhiều quan điểm khác nhau Có thể khái quát một số quan điểm cơ bản sau:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động kiểm sát tuân theo

pháp luật đều là THQCT Theo quan điểm này công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [34] Cơ sở lập luận của quan điểm này, theo

tác giả là họ chủ yếu dựa vào Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981 Nếu hiểu QCT như trên là quá rộng và chưa chính xác, vì chức năng công tố và chức năng kiểm sát

Trang 21

việc tuân theo pháp luật là hai chức năng hoàn toàn độc lập của VKS Trong thực tiễn hoạt động của VKS thì hai chức năng này có những nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, nhưng không phải vì thế mà phủ nhận được tính độc lập của hai chức năng này cả về nội dung và phạm vi áp dụng

+Quan điểm thư hai cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao

cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố) [32, tr.86-88] Quan điểm này đã nhấn mạnh vai trò duy

nhất của VKS trong thực hiện QCT theo qui định của pháp luật TTHS, nhưng lại coi QCT chỉ có trong hoạt động truy tố và buộc tội tại phiên tòa Quan điểm này đã nhầm lẫn giữa QCT và THQCT và đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi QCT, không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này Trên thực tế, truy tố và buộc tội của VKS tại phiên toà chỉ là một trong số những hoạt động THQCT Quan điểm này không lý giải được các hoạt động khác của VKS ở giai đoạn điều tra để đảm bảo cho hoạt động truy tố và buộc tội tại phiên tòa thuộc về chức năng nào của VKS, trong khi rõ ràng không phải là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

+ Quan điểm thứ ba cho rằng: quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước

đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước,

xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật” [34, tr.84] Những người theo quan điểm

này cho rằng QCT xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật QCT được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Theo quan điểm này, khái niệm QCT được xác định trên cơ sở các khái niệm công tố nhà nước, công tố xã hội và tư tố QCT là quyền của nhà nước giao cho VKS thực hiện theo luật định Nội dung QCT là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định được tiến hành với sự liên kết chặt chẽ với nhau mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp QCT là một quyền năng nhằm thực hiện

Trang 22

chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, xét về nội dung THQCT là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hình sự và dân sự và các lĩnh vực tố tụng khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra xử

lý theo pháp luật, tăng cường pháp chế thống nhất Quan điểm này đã thể hiện sự đồng nhất giữa khái niệm QCT nhà nước với khái niệm thẩm quyền của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và các loại án khác

+ Quan điểm thứ tư cho rằng: QCT là quyền của nhà nước giao cho các cơ

quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội [41] Theo quan điểm này, không chỉ VKS mà

các cơ quan tố tụng khác như CQĐT, Tòa án, Cơ quan Thi hành án đều được thực hiện QCT và QCT được thực hiện trong mọi giai đoạn TTHS Hiểu khái niệm QCT như quan điểm trên là chưa chính xác, bởi đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự Vì vậy dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong TTHS, hơn nữa không chỉ VKS là cơ quan duy nhất THQCT mà cả CQĐT, Tòa án, Thi hành án đều thực hiện QCT và QCT được tiến hành trong mọi giai đoạn tố tụng từ khởi tố đến thi hành án

+ Quan điểm thứ năm cho rằng: “QCT là quyền của nhà nước, được nhà

nước giao cho một cơ quan (ở Việt nam là cơ quan VKS) thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa.” [32, tr40] Theo quan điểm này, QCT là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội Do đó, QCT chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà không

có trong các lĩnh vực tố tụng khác

Như vậy, có thể thấy, về khái niệm QCT còn một số quan điểm nhận thức khác nhau, mỗi quan điểm đều có những nhân tố hợp lý riêng, song nhìn từ nhiều góc

Trang 23

độ cũng như quan điểm chỉ đạo của Đảng, những qui định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của Tòa án, VKSND, thì vẫn còn những yếu tố bất cập nhất định Với nhận thức của mình, tác giả đồng tình với quan điểm thứ năm nêu trên về khái niệm QCT, bởi các lý do:

Thứ nhất, quan điểm này đã khẳng định được QCT là quyền của Nhà nước,

nhân danh Nhà nước để buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình

sự coi là tội phạm xâm hại trật tự chung của xã hội và nó chỉ có trong lĩnh vực hình sự Quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên cứu của lịch sử nhà nước và pháp luật về QCT

Thứ hai, quan điểm cũng thừa nhận QCT gắn liền với quyền tài phán của tòa

án Đó là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra tòa và bảo vệ

sự buộc tội trước phiên tòa Song, cũng cần nhận thức rằng, không có nghĩa cứ phải đưa được người phạm tội ra tòa mới là thực hành QCT Bởi lẽ, trên thực tế, QCT có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của QCT nếu hội đủ căn cứ để triệt tiêu

Thứ ba, quan điểm cũng thừa nhận QCT chỉ có thể do một cơ quan thực hiện

và độc lập với cơ quan tài phán (ở Việt Nam thực hiện quyền này là VKS)

Thứ tư, quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng về xây dựng

nhà nước pháp quyền XHCN, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

Từ những vấn đề phân tích trên có thể hiểu rằng: Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng theo quy định của pháp luật để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng phấp luật; không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Trang 24

1.1.2.2 Khái niệm thực hành quyền công tố

Theo qui định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành thì VKS thực hiện hai chức năng đó là THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp Trên thực tế, vấn đề này rất nhiều người nhầm lẫn hoặc nhận thức sai lầm giữa QCT và THQCT, giữa thẩm quyền của VKS với các quyền năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền đó, hay hành vi nào là THQCT, hành vi nào là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Việc lý giải rõ ràng mạch lạc về QCT và THQCT giúp cho việc nhận thức đầy

đủ, chính xác vị trí vai trò của VKS trong hệ thống các CQTP, cũng như chức năng nhiệm vụ của VKS, đặc biệt là trong TTHS, nó càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách các CQTP

QCT như được đề cập ở trên đó là quyền nhân danh Nhà nước phát hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó trước Toà án Để thực hiện quyền đó, Nhà nước thông qua pháp luật quy định các quyền năng pháp lý và giao nó cho cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy tố người có hành vi bị coi là phạm tội, buộc tội người đó khi người đó bị đưa ra xét xử tại Toà án và bảo vệ việc buộc tội

đó Cơ quan được Nhà nước giao quyền đó được gọi là cơ quan THQCT Việc quy định cơ quan THQCT ở mỗi nước có sự khác nhau Ở nước ta, căn cứ vào các quy định của pháp luật từ năm 1960 đến nay thì Nhà nước giao quyền đó cho VKSND

Vì vậy, hiện nay VKSND là cơ quan duy nhất có chức năng THQCT ở Việt Nam

Từ đó có thể định nghĩa: Thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.1.3 Khái niệm vụ án hình sự và điều tra các vụ án hình sự

1.1.3.1 Vụ án hình sự

Trang 25

Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt

là Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi) quy định: “1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho

xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm quyền con người, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của

Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; Người phạm tội tự thú”

Như vậy, pháp luật hiện hành không quy định khái niệm thế nào là vụ án

hình sự Tuy nhiên, căn cứ các quy định của Bộ luật TTHS có thể hiểu: Vụ án hình

sự là vụ án phát sinh khi vụ việc phạm pháp bị phát hiện có dấu hiệu tội phạm đã được quy định trong BLHS được cơ quan có thẩm quyền ( bao gồm CQĐT, Cơ quan khác được được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,Viện kiểm sát, Toà án) ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định trong BLTTHS

1.1.3.2 Điều tra vụ án hình sự

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn của TTHS Là hoạt động của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để phát hiện, làm rõ hành vi phạm tội, người phạm tội căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu

Trang 26

thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của TTHS, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và lập hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát truy tố người phạm tội hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng

Như vậy, có thể hiểu: Điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố tụng của CQĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật dưới sự kiểm sát của VKS nhằm xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng, tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các

cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa

1.1.4 Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.4.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Trang 27

Căn cứ quy định của pháp luật ở nước ta hiện nay, thì VKS là cơ quan duy nhất có chức năng THQCT Nói cách khác thì VKS là cơ quan duy nhất có quyền ADPL khi THQCT VKSND căn cứ vào các quy định của BLHS, BLTTHS để cá biệt hóa các quy phạm này đối với những cá nhân cụ thể, trong những tình huống cụ thể, nhằm phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm Quyết định ADPL của VKSND khi THQCT trong giai đoạn điều tra tác động trực tiếp đến người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Về nguyên tắc, trong giai đoạn này thì người bị tình nghi thực hiện tội phạm chưa bị coi là có tội, bởi vì “Người

bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục

do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” Đây là điểm mới về nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 Bộ luật TTHS quy định rất chặt chẽ trình tự, thủ tục để VKS thực hiện ADPL khi THQCT Việc ADPL trong giai đoạn này là nhằm mục đích đảm bảo “Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật " [24 ,Điều 3] Để đảm bảo việc ADPL được chính xác đòi hỏi phải có tính tổ chức và phối hợp cao giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong đó đặc biệt là giữa CQĐT và VKS; giữa ĐTV và KSV; giữa KSV

và Viện trưởng, Phó Viện trưởng; giữa ĐTV và Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT Phạm vi áp dụng chỉ diễn ra trong lĩnh vực tố tụng hình sự, nhằm cá biệt hóa các quy định của BLHS, BLTTHS vào các trường hợp cụ thể, cá nhân cụ thể

Trang 28

Như vậy, có thể hiểu: Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động do VKSND tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự và TTHS vào các trường hợp cụ thể

1.1.4.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra của VKS là một dạng ADPL nói chung Do vậy, hoạt động này cũng bao hàm những nội dung cơ bản nhất của lý luận chung về ADPL Tuy nhiên, chúng cũng có đặc điểm riêng thể hiện bản chất hoạt động THQCT của VKS trong TTHS, bao gồm số đặc điểm sau:

Thứ nhất, ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt

động do VKS là chủ thể duy nhất tiến hành theo pháp luật quy định

Điều đó có nghĩa là VKS là cơ quan duy nhất, độc lập, quyết định trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can và quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử Thực tiễn cho thấy, rất ít khi VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố, tuy nhiên các quyết định khởi tố của CQĐT đều đặt dưới sự kiểm sát, chấp nhận hoặc không chấp nhận của VKS Đối với các lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam,…của Cơ quan điều tra chỉ có hiệu lực thi hành sau khi có sự phê chuẩn của VKS Trong quá trình điều tra việc thay thế, hủy bỏ những lệnh này đều do VKS quyết định, trong những trường hợp cần thiết VKS trực tiếp ra lệnh bắt giam đối với bị can Với chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS có quyền và trách nhiệm hủy bỏ các lệnh, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, nếu các lệnh, quyết định đó không có căn cứ và trái pháp luật Thay vào đó, VKS có quyền ra các lệnh, quyết định tố tụng và giao cho Cơ quan điều tra thực hiện

Trang 29

Thứ hai,ADPL khi THQCT trong giai đoạn điều tra của VKS phải tuân thủ

những quy định về trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định

Tính chặt chẽ được thể hiện ở chỗ, ngoài BLTTHS thì còn nhiều văn bản dưới luật, quy chế phối hợp để quy định về trình tự, thủ tục ADPL trong lĩnh vực này Việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục này cũng là hoạt động rất phức tạp, đòi hỏi chủ thể phải có kiến thức chuyên sâu, sự phối hợp nhịp nhàng mới đạt được hiệu quả Thực tiễn cho thấy, liên ngành Công an, VKS, Tòa án cũng đã phải ban hành rất nhiều thông tư liên tịch, hoặc tự mình ban hành các thông tư, nghị quyết, hướng dẫn về các trình tự, thủ tục này Một số quy định dù có trong BLTTHS nhưng nếu chưa có văn bản hướng dẫn thì vẫn khó áp dụng được trên thực tế

Tính chặt chẽ trong trình tự, thủ tục còn thể hiện ở thời gian tiến hành các hoạt động ADPL được quy định nghiêm ngặt và giới hạn thời gian thường là tương đối ngắn, trong một số trường hợp có thể gia hạn nhưng phải theo một trình tự và điều kiện khắt khe Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 110 BLTTHS 2015 thì thời hạn VKS xem xét để ra quyết định ADPL trong việc phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là 12 giờ kể từ khi VKS nhận được văn bản đề nghị xét phê chuẩn và các tài liệu liên quan đến việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Thứ ba, ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND có tính chất

bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng, với các chủ thể có liên quan và được pháp luật bảo đảm thi hành

VKS là cơ quan có quyền và có trách nhiệm bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự được tuân theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Vì vậy, VKSND được pháp luật trao cho một hệ thống các quyền năng pháp lý nhất định để bảo đảm thực thi các quyền trên

Trang 30

Các văn bản ADPL của VKS trong THQCT ở giai đoạn điều tra là thể hiện ý chí của nhà nước, nó không chỉ tác động trực tiếp đến đối tượng bị áp dụng là người phạm tội mà còn tác động đến cả cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

và đối tương có liên quan Bởi các văn bản ADPL của VKS trong THQCT ở giai đoạn điều tra buộc người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do các chế tài pháp luật hình sự đặt ra Đây là loại chế tài nghiêm khắc nhất trong hệ thống các chế tài của pháp luật, nó tước bỏ hoặc hạn chế các quyền nhân thân và tài sản của người bị áp dụng Các lệnh, quyết định của CQĐT liên quan đến vụ án, bị can ít nhiều có tác động đến người phạm tội, nhưng nó đều phải được đặt dưới sự kiểm sát của VKS Một số lệnh, quyết định của CQĐT liên quan đến vụ án, bị can phải

có sự phê chuẩn của VKS thì mới có hiệu lực pháp luật như: quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam bị can, lệnh bắt tạm giam bị can… Các quyết định ADPL của VKS trong giai đoạn điều tra đều phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh để đảm bảo việc truy tố đúng người đúng pháp luật, có căn cứ, không để xảy ra các trường hợp khởi tố, bắt giữ, giam oan, sai

Thứ tư, ADPL khi THQCT của VKSND là một hoạt động mang tính cá biệt

cao Đây là hoạt động của VKS nhằm cụ thể hóa quy định của BLTTHS, BLHS vào từng trường hợp cụ thể, đối với những cá nhân cụ thể Khi quyết định ADPL, VKS phải xác định được chính xác thời gian, địa điểm, nội dung sự việc, những ai tham gia, mức độ, tính chất hành vi, lỗi, nhân thân, hậu quả thiệt hại, động cơ, mục đích… Chẳng hạn khi quyết định ADPL để phê chuẩn khởi tố bị can, VKS phải làm rõ được thời gian, không gian, địa điểm xảy ra sự việc, nội dung sự việc, hậu quả, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, … Từ đó, mới ra quyết định phê chuẩn khởi tố bị can đối với cá nhân con người đó về một hành vi phạm tội cụ thể

Thứ năm, áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND

chỉ được tiến hành đối với các vụ án hình sự

Trang 31

Công tố và theo đó là THQCT chỉ có trong lĩnh vực hình sự và TTHS Đó

là quyền của nhà nước giao cho VKS tiến hành nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Khi THQCT và kiểm sát các hoạt động điều tra vụ án hình

sự, VKS vừa có quyền nhưng cũng có nghĩa vụ thực hiện các quyền năng pháp lý thuộc nội dung công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc thu thập tài liệu chứng cứ xác định tội phạm và người phạm tội Những hoạt động đó nhằm làm rõ các nội dung: có hay không có hành vi phạm tội xảy ra? Nếu có thì phạm tội gì? Được quy định tại điều khoản nào của BLHS? Ai là người thực hiện hành vi đó? Họ có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa? Trên cơ sở đó truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, với tư cách là cơ quan THQCT, VKS có trách nhiệm xem xét nghiên cứu hồ sơ một cách khách quan, toàn diện để trên cơ sở đó

ra văn bản ADPL bảo đảm có căn cứ và đúng pháp luật Đây là những hoạt động được pháp luật TTHS quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra, truy

tố và xét xử các vụ án hình sự được đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm nhưng cũng không để làm oan người vô tội

Thứ sáu, không có việc ADPL tương tự khi THQCT trong giai đoạn điều

tra vụ án hình sự Bởi vì, cơ sở của việc truy cứu trách nhiệm hình sự là BLHS

Theo quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015 sửa đổi thì “Chỉ người nào phạm một tội

đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Điều này xuất phát

từ nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS Theo đó, Điều 7 BLTTHS năm 2015 quy định “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” Điều này khẳng định, dù có sự việc xảy ra gây nguy hiểm cho xã hội cần thiết xử lý, song nếu không có quy phạm pháp luật hiện hành quy định điều chỉnh

Trang 32

thì cơ quan tiến hành tố tụng không thể ADPL tương tự làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ việc đó Để có căn cứ xử lý thì buộc phải sửa đổi luật để đưa hành vi đó vào trong luật Thực tế cho thấy, gần đây các vụ việc vi phạm nghiêm trọng luật pháp về môi trường, kinh tế do các pháp nhân thương mại thực hiện ngày càng tinh vi và để lại hậu quả nghiêm trọng, nhưng pháp luật hiện hành (BLHS năm 1999) chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại nên không thể xử lý hình sự Do đó, để phù hợp với thực tiễn nhằm tạo tính răn

đe cao đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phòng, chống các loại tội phạm mà chủ thể là pháp nhân vì lợi nhuận gây hại đến môi trường, kinh tế và các lĩnh vực khác nên BLHS 2015 sửa đổi quy định một số tội liên quan đến chủ thể là pháp nhân thương mại, theo đó BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm Chương XXIX về trình tự, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

1.1.4.3 Vai trò của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

- ADPL trong THQCT của VKS ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ XHCN, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản và các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội Đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện xử lý nhanh chóng nghiêm minh kịp thời; không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội

- VKS là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng với phạm vi của quyền công tố và THQCT từ khi phát hiện tội phạm đến khi bản án có hiệu lực pháp luật Hoạt động của các CQĐT, truy tố, xét xử đều có sự đan xen, ràng buộc nhau Do có VKS nên CQĐT không thể tùy tiện khởi tố, bắt giữ ai hay bỏ qua cho trường hợp nào cũng được; tương tự, Tòa án cũng không thể thích xét xử thế nào cũng được

Trang 33

mà họ có thể bị VKS can thiệp bằng các quyền năng tố tụng ngay lập tức, nếu họ ra các văn bản ADPL sai trái Điều đó cho thấy VKS có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ công lý, công bằng, dân chủ trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử

- Thông qua công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, những Kiểm sát viên là những người trực tiếp kiểm nghiệm tính phù hợp hay không phù hợp, có căn cứ hay không có căn cứ của các văn bản qui phạm pháp luât, nhất là BLHS và BLTTHS Đặc biệt trong xu thế hội nhập và phát triển, khi cơ chế quản lý nhà nước của chúng ta chưa hoàn thiện còn nhiều vấn đề bất cập, một số quan hệ thuộc lĩnh vực mới nhưng BLHS chưa kịp pháp điển hóa để bảo vệ, nhiều qui phạm đã lạc hậu chồng chéo, nên tội phạm thường lợi dụng lỗ hổng của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội mà không bị xử lý hình sự Do đó, để khắc phục những điều này thì chúng ta phải hoàn thiện hệ thống thể chế - tức là phải xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ, có tính dự báo trên tất cả các lĩnh vực của quản

lý nhà nước Qua công tác THQCT, VKSND Tối cao sẽ tổng hợp những vấn đề bất cập nêu trên đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp Như vậy công tác THQCT ở giai đoạn điều tra có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật

- ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự có vai trò hướng các chủ thể của quan hệ pháp luật thực hiện đúng, đầy đủ chức trách nhiệm

vụ của mình khi tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giữ, bị can, người bị hại; ngăn ngừa việc lạm quyền của những người tiến hành tố tụng

- Qua việc truy tố người phạm tội, công tác THQCT đã góp phần giáo dục riêng đối với người phạm tội, răn đe phòng ngừa chung đối với những người đã và đang có ý định phạm tội; góp phần phổ biến tuyên truyền pháp luật; kiến nghị các

cơ quan tổ chức có biện pháp phòng ngừa vi phạm và tội phạm

Trang 34

1.2 Nội dung và quy trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.2.1 Nội dung áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Nội dung THQCT là việc VKS sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện và xử lý tội phạm, tránh oan, không lọt Theo đó nội dung THQCT bao gồm:

Thứ nhất, khởi tố vụ án, khởi tố bị can những hoạt động phát động quyền

công tố, mở đầu qúa trình điều tra xử lý TNHS đối với tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội

+ Khởi tố vụ án: Là việc nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội

có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện tội phạm đó [32, tr.62]

Theo khoản 2 Điều 154, khoản 1 Điều 158 BLTTHS năm 2015 thì CQĐT,

cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự kèm theo hồ sơ tài liệu liên quan đến VKS để kiểm sát việc khởi tố Quyết định khởi tố của Hội đồng xét xử phải được gửi cho VKS để xem xét, quyết định việc điều tra Yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử được gửi cho VKS để xem xét, quyết định việc khởi tố

Theo Điều 159 BLTTHS năm 2015, khi THQCT, VKS có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ của CQĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và ra quyết định không khởi tố vụ

án hình sự Trong trường hợp sau khi xác minh CQĐT cho rằng không có dấu hiệu tội phạm và ra quyết định không khởi tố vụ án, nhưng qua THQCT, thấy có dấu hiệu tội phạm thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố đó của CQĐT đồng thời

Trang 35

trực tiếp ra quyết định khởi tố yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra theo qui định của Bộ luật TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm Trường hợp quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử không có căn cứ, VKS có quyền kháng nghị lên Tòa án cấp trên để xem xét quyết định Như vậy, xét đến cùng việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự là

do VKS quyết định, CQĐT, Tòa án không hoàn toàn độc lập trong việc khởi tố vụ

án Bởi vì, để truy cứu TNHS thì với tư cách THQCT, VKS chỉ chấp nhận những quyết định khởi tố có căn cứ đúng pháp luật, còn nếu không đảm bảo cho việc truy cứu TNHS thì quyết định khởi tố đó sẽ bị hủy hoặc đe dọa bị hủy ngay lập tức

+ Khởi tố bị can: Theo khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2015, khi có đủ căn

cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can Điều này có nghĩa Nhà nước đã tuyên bố chính thức một người hoặc một pháp nhân bị tình nghi đã thực hiện hành

vi phạm tội, thì các Cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một số biện pháp theo qui định của BLTTHS làm hạn chế một số quyền công dân, quyền của của người hoặc pháp nhân bị khởi tố để phục vụ cho việc điều tra, truy nguyên hình sự

Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của của VKS theo qui định của BLTTHS năm 2015 là xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố

bị can của CQĐT Theo khoản 3 Điều 179 BLTTHS năm 2015, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho CQĐT Trường hợp VKS yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn

03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can

Trang 36

Quyết định khởi tố vụ án là hoạt động khởi động để CQĐT tìm kiếm dấu vết thu thập chứng cứ, chưa can thiệp sâu vào quyền cơ bản của công dân, pháp nhân, còn quyết định khởi tố bị can có ảnh hưởng sâu sắc tới sinh mạng quyền lợi chính trị, tới tâm lý, tình cảm, hình ảnh của người bị khởi tố, quyền lợi của pháp nhân bị khởi tố Tuy pháp luật thực định qui định quyền khởi tố bị can của CQĐT, nhưng quyết định khởi tố

đó chỉ có hiệu lực khi có sự phê chuẩn của cơ quan THQCT là VKS, mục đích nhằm đảm bảo việc khởi tố bị can của CQĐT đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Như vậy, Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và kiểm sát việc khởi tố bị can

là những hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra rất quan trọng của VKS, bởi khởi

tố vụ án hình sự, khởi tố bị can là những hoạt động "đầu vào" của một vụ án hình

sự, của một công dân chính thức bị nghi vấn là đã thực hiện hành vi phạm tội Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can mở ra khả năng cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp điều tra, mà các biện pháp này phần lớn mang tính chất cưỡng chế, miễn cưỡng đối với người dân có liên quan hoặc can thiệp mạnh mẽ tới các quyền cơ bản của công dân đối với bị can Kiểm sát việc khởi tố vụ án, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can được coi như một trạm kiểm duyệt của VKS nhằm ngăn chặn sự oan sai, sàng lọc việc bỏ lọt tội phạm đối với CQĐT ở thời điểm đầu vào của TTHS

Thứ hai, hoạt động THQCT tiếp tục được thực hiện bởi VKS trong giai đoạn

điều tra vụ án hình sự bằng các biện pháp cụ thể sau:

Theo qui định tại Điều 165 BLTTHS năm 2015 khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền:

+ Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

Trang 37

+ Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật

+ Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định

+ Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không

có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do

+ Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này

+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu CQĐT truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Trong quá trình THQCT đối với vụ án, KSV phải đề ra các yêu cầu điều tra để định hướng điều tra, nhanh chóng kết thúc điều tra vụ án Điểm mới của BLTTHS năm

2015 đó là cùng với việc luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử), Bộ luật này quy định việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp này do Viện trưởng VKS quyết định (phải được Viện trưởng VKS cấp tỉnh phê chuẩn hoặc hủy bỏ)

+ Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra,

bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT, cơ quan

Trang 38

được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện

có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố Chẳng hạn, trực tiếp lấy lời khai người

bị đề nghị khởi tố, hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, xem xét đồ vật tài liệu, dấu vết nhằm củng cố tài liệu hoặc kiểm tra độ tin cậy của nguồn tài liệu do CQĐT đã thu thập Đây là điểm mới, Bộ luật quy định cụ thể những trường hợp VKS phải trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra thay cho quy

định có tính chất định tính “xét thấy cần thiết” như BLTTHS 2003 Thực tiễn cho

thấy, việc KSV trực tiếp ghi lời khai hoặc tham gia lấy lời khai người bị đề nghị khởi tố hoặc hỏi cung bị can cùng điều tra viên (ĐTV) là hết sức quan trọng, đó

chính là thực hiện chủ trương “Tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” Muốn làm tốt điều này, KSV cần làm tròn hai vai,

một là nhiệm vụ THQCT trong hoạt động điều tra nhằm hỏi làm rõ hành vi phạm tội, hai là nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm kiểm sát, đánh giá tính khách quan của nội dung lời khai do ĐTV lập có trong hồ sơ để xác định có vi phạm tố tụng hay không, nhất là dấu hiệu mớm cung, bức cung, nhục hình Mặt khác thông qua đó KSV nắm bắt thái độ, tâm lý của người bị khởi tố, của bị can đảm bảo không xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm

+ Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm

Trang 39

+ Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy

bổ sung quy định: trong thời hạn 05 ngày (trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn là 15 ngày), kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án, CQĐT có trách nhiệm chuyển biên bản tài liệu này cho VKS để kiểm sát việc lập hò sơ vụ án Trong thời hạn 03 ngày, VKS đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho CQĐT Thứ tư, nhằm kiểm sát chặt chẽ hoạt động trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản, Bộ luật quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản hoặc kẻ từ khi nhận được két luận giám định, kết luận định giá tài sản, CQĐT phải gửi các quyết định, yêu cầu, kết luận này cho VKS (Điều 205, 213, 215, 221 BLTTHS ),

Trang 40

Thứ ba, hoạt động THQCT của VKS tiếp tục được thực hiện trong giai đoạn

xét xử,, thể hiện qua việc đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm; hỏi những người tham gia tố tụng, tranh lụân, quyết định rút quyết định truy

tố hoặc định tội nhẹ hơn; kháng nghị bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm ; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án và tham gia tranh luận tại phiên toà phúc thẩm; phát biểu quan điểm của VKS tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm

Nhằm đảm bảo tính khoa học trong việc phân chia các giai đoạn tố tụng, khắc phục những hạn chế trong kỹ thuật lập pháp của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 xác định TTHS có 05 giai đoạn: khởi tố; điều tra; truy tố; xét xử; thi hành án Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ riêng với những chủ thể tương ứng, quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể cũng khác nhau qua mỗi giai đoạn Đánh dấu sự bắt đầu

và kết thúc của mỗi giai đoạn là các văn bản tố tụng chuyên biệt gắn với giai đoạn

đó Chẳng hạn, giai đoạn khởi tố bắt đầu từ tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm

và kết thúc khi có quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án; giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi ban hành kết luận điều tra hoặc trong trường hợp vụ án do cơ quan điều tra đình chỉ Giai đoạn truy tố

từ khi VKS nhận hồ sơ kết thúc điều tra và kết thúc khi ban hành Cáo trạng chuyển

hồ sơ sang Tòa đề xét xử hoặc vụ án do VKS đình chỉ; Giai đoạn xét xử được tính

từ khi Toà án thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi ban hành bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án đình chỉ Trong giai đoạn điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ để buộc tội (bao gồm cả gỡ tội) và phục vụ cho việc giải quyết vụ án; còn ở giai đọan xét xử, cơ quan tiến hành

tố tụng chủ yếu xem xét, đánh giá chứng cứ để giải quyết vụ án Tuy giai đoạn điều

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Dương Ngọc Hải (2016), "Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố", (Tạp chí kiểm sát số 16) 14. Phạm Hồng Hải (1999), "Bàn về quyền công tố" của (Tạp chí Nhà nước và pháp luậtsố 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố", (Tạp chí kiểm sát số 16) 14. Phạm Hồng Hải (1999), "Bàn về quyền công tố
Tác giả: Dương Ngọc Hải (2016), "Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố", (Tạp chí kiểm sát số 16) 14. Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
18. Võ Quang Nhạn (1984), "Bàn về quyền công tố", Tạp chí Kiểm sát, (2). (38) 19. Nguyễn Thị Nga (2016), “Những dấu mốc quan trọng hình thành, phát triển chếđịnh Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự”, (Tạp chí kiểm sát, số 06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố", Tạp chí Kiểm sát, (2). (38) 19. Nguyễn Thị Nga (2016), “Những dấu mốc quan trọng hình thành, phát triển chế định Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự
Tác giả: Võ Quang Nhạn (1984), "Bàn về quyền công tố", Tạp chí Kiểm sát, (2). (38) 19. Nguyễn Thị Nga
Năm: 2016
20. Trần Công Phàn (2011), "Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân trong tình hình mới và một số vấn đề về tăng cường sự Lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm", (Tạp chí Kiểm sát số 19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân trong tình hình mới và một số vấn đề về tăng cường sự Lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Tác giả: Trần Công Phàn
Năm: 2011
21. Trần Công Phàn (2012), "Một số vấn đề về chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp", (Tạp chí Kiểm sát số 03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Trần Công Phàn
Năm: 2012
33. Hà Mạnh Trí (2003), "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp" của (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp
Tác giả: Hà Mạnh Trí
Năm: 2003
36. Lại Hợp Việt (2009),“Thực hiện đúng thẩm quyền và trách nhiệm của Viện trưởng, phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án, phê chuẩn và quyết định khởi tố bị can”, (Tạp chí kiểm sát số 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện đúng thẩm quyền và trách nhiệm của Viện trưởng, phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án, phê chuẩn và quyết định khởi tố bị can
Tác giả: Lại Hợp Việt
Năm: 2009
37. Lại Hợp Việt (2016), "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo các quy định mới của pháp luật", (Tạp chí kiểm sát số 17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo các quy định mới của pháp luật
Tác giả: Lại Hợp Việt
Năm: 2016
39. Nguyễn Hồng Vinh (2013), Hoàn thiện pháp luật hiện hành để “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của (Tạp chí kiểm sát số 01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra
Tác giả: Nguyễn Hồng Vinh
Năm: 2013
41. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay” (Số chuyên đề, Thông tin khoa học pháp lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay” (Số chuyên đề, Thông tin khoa học pháp lý
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2002
1. Nguyễn Hòa Bình (chủ biên) (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, NXB chính trị quốc gia – sự thật Khác
2. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Khác
3. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
4. Bộ chính trị (2010), Kết luận số 79-KT/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Đảng cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng( khóa XI)- Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay Khác
9. Đảng cộng sản Việt nam (2016), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2007), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
11. Nguyễn Minh Đoan (2009), Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Văn Động (chủ biên) (2017), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia - sự thật Khác
15. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Viện nhà nước và pháp luật Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w