1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự qua thực tiễn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an

96 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 832,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, so với yêu cầu cải cách tư pháp, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An vẫn còn những hạn chế, thiếu sót, nhất

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Hải

Nghệ An – Năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

ĐỘNG KIỂM SÁT ĐỐI VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng pháp luật trong hoạt

động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện

1.2 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với

giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 30

1.3 Các yếu tố bảo đảm việc áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát

nhân dân trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố các

KIỂM SÁT ĐỐI VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI,

2.1 Những kết quả đạt được về áp dụng pháp luật trong hoạt động

kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát

nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 2013 đến 2018 50

2.2 Những hạn chế về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối

với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thị

xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An từ năm 2013 đến năm 2018 và

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ÁP

DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐỐI

VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ

3.1 Quan điểm và yêu cầu khách quan nâng cao chất lượng áp dụng

pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án

hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

3.2 Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật

trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vô ¸n h×nh sù

cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 90

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL : Áp dụng pháp luật

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự BLHS : Bộ luật hình sự

CQĐT : Cơ quan điều tra ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên

PL : Pháp luật QCT : Quyền công tố THQCT : Thực hành quyền công tố KSHĐTP : Kiểm sát hoạt động tư pháp TNHS : Trách nhiệm hình sự

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKS : Viện kiểm sát

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

XH : Xã hội

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao chất lượng, Cải cách tổ chức mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển hiện nay Nghị quyết Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra", yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức

Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng đầu tiên mà các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có hay không có các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, từ đó ban hành quyết định việc khởi tố, hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó Vì vậy, Kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thể hiện chức năng của VKSND, bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Đây còn là biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Từ đó, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi

tố, khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình" Để đáp ứng yêu cầu này ngành

Trang 5

Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định mới của pháp luật liên quan đến chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát của VKSND

Thực tiễn những năm qua cho thấy, VKSND đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự góp phần có hiệu quả trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKSND vẫn còn có những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình, như: Đang có hồ sơ vụ án phải trả để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người bị bắt, khởi tố, điều tra sai, oan đang còn Những hạn chế đó đã gây ra những hậu quả về danh dự, nhân phẩm cũng như vật chất đối với những người bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai hơn nữa còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của ngành kiểm sát nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung trước quần chúng nhân dân và dư luận xã hội

Thực hiện kế hoạch của ngành, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An và Thị ủy Hoàng Mai trong những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được những kết quả đáng kể trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị địa phương Nhìn chung được cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá tốt, vị thế của ngành kiểm sát ngày càng được nâng lên

Trang 6

Song, so với yêu cầu cải cách tư pháp, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An vẫn còn những hạn chế, thiếu sót, nhất là trong giai đoạn khởi tố, điều tra: Tình trạng bắt giữ người sau đó trả tự do không xử lý được hình sự vẫn còn xảy ra, xâm phạm quyền tự do dân chủ, thân thể của công dân; không ít vụ án bị trả lại để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng vì thiếu chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng dẫn đến vụ án bị kéo dài thời hạn giải quyết; một số Kiểm sát viên không nắm vững những qui định của pháp luật, còn lúng túng trong thao tác chuyên môn, không đưa ra được các yêu cầu điều tra sát thực, không bám sát tiến độ điều tra, trình độ đánh giá chứng cứ còn hạn chế và thiếu toàn diện, tỷ mỷ dẫn đến nhiều vụ án gặp không ít khó khăn cho những người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sau, làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn

Những yếu kém trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong đó chủ yếu là do ý thức pháp luật, bản lĩnh nghề nghiệp và năng lực áp dụng pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra của Điều tra viên, thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên còn nhiều bất cập, yếu kém Đặc biệt nhận thức về công tố, quyền công tố của không ít Kiểm sát viên còn hời hợt, chưa sâu nên trong nhiều trường hợp không phát huy được chức năng, nhiệm

vụ của ngành

Xuất phát từ thực tế nêu trên và từ nhận thức việc áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là một trong những vấn đề quan trọng, cần có sự quan tâm hơn nữa về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn để việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực hành quyền công tố tại VKSND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Vì

những lý do này, học viên chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự qua thực tiễn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, trong các luận văn thạc sỹ,

Trang 7

và kiểm sát các hoạt động tư pháp'', của Lê Hữu Thể chủ biên, năm 2008

Luận án tiến sỹ “Quyền công tố ở Việt Nam”, của nghiên cứu sinh Lê Thị Tuyết Hoa thực hiện năm 2002; luận văn thạc sỹ “Áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn của cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam”, của Nguyễn Đức Thanh, năm 2004; luận văn thạc sỹ “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, của Trịnh Duy Tám, năm 2005; luận văn thạc sỹ “Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma túy theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”, của Bùi Mạnh Cường, năm 2007; luận văn thạc sỹ “Áp dụng pháp luật thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với tội phạm về tham nhũng ở Thanh hóa”, của Lê Xuân Tiến, năm 2008

Bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí có: “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp” của Hà Mạnh Trí, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2003; “Đặc trưng của áp dụng pháp luật hình sự " của Chu Thị Trang Vân đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” của Đỗ Văn Đương, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7/2006; bài “Tổ chức và hoạt động của viện công tố ở Việt Nam trong giai đoạn cải cách

tư pháp” của Nguyễn Đức Mai, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2007; bài “Viện công tố thay thế Viện kiểm sát nhân dân sẽ được tổ chức và hoạt động như thế nào” của Thái Vĩnh Thắng, đăng trên Tạp chí Luật học, số 2/2008; “Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện của nhà nước pháp quyền” của Nguyễn Đăng Dung, đăng trên

Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2008; Trần Công Phàn, "Một số vấn đề về chủ

Trang 8

bổ sung BLTTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", tạp chí Kiểm sát 16/2012 và tạp chí Kiểm sát số 21/2012; Nguyễn Thị Thủy, "Sửa đổi bổ sung Bô luật TTHS nhằm thực hiện chủ trương của Đảng - Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với điều tra”, tạp chí Kiểm sát 21/2012;

Lê Đức Xuân, Phạm Lan Phương, "Vai trò cơ quan công tố các nước trên thế giới trong việc KSĐT các vụ án hình sự", Đào Trí Úc, "Đề xuất đổi mới VKS ở Việt nam

từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới", tạp chí Kiểm sát số 12/2013; tạp chí Kiểm sát số 13/2013; Lê Thị Tuyết Hoa, "Thực trạng và một số kiến nghị nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra", tạp chí Kiểm sát số 08/2014;

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp ở những giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An theo những quy định mới của tố tụng hình sự 2015 Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp

độ luận văn thạc sỹ Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện là nguồn tư liệu phong phú cho học viên thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học của mình

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng

pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về

áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố các vụ án hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An từ năm 2013 đến 2018

4 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn

Trang 9

Nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, nhằm đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

An, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần cùng với các cơ quan tư pháp trong thị

xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của

tổ chức và công dân, tăng cường pháp chế XHCN

- Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân theo qui định của pháp luật Trong đó tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, qui trình và các yếu tố đảm bảo việc áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố các

vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân;

+ Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố của Viện kiểm sát, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lê nin theo quan điểm phát triển toàn diện, lịch sử cụ thể Đồng thời, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và

có hệ thống về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát ở giai đoạn khởi tố vụ án

Trang 10

hình sự theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014,

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Bộ luật hình sự năm 2015 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An nên có một số đóng góp mới sau đây:

- Đánh giá khách quan về thực trạng, làm rõ nguyên nhân, những hạn chế về hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKSND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong THQCT, KSHĐTP đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho Điều tra viên, Kiểm sát viên trong Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, nhất là những Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp để nâng cao trình độ lý luận và thao tác chuyên môn Đồng thời kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy, cho học viên, sinh viên các cơ sở đào tạo luật quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương,

7 tiết

Trang 11

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật và đặc điểm của áp dụng pháp luật

- Khái niệm áp dụng pháp luật:

Pháp luật XHCN Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục

và cưỡng chế; thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây dựng

và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức quan trọng của việc thực hiện pháp luật Đó chính là hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện được quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật Thông qua hoạt động áp dụng pháp luật bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng, thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các quyền của chủ thể được thực hiện và được bảo vệ trên thực tế; các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm được xử lý nghiêm minh, kịp thời để bảo vệ các quan hệ XH được PL bảo vệ trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH Việc áp dụng pháp luật là hoạt động diễn

ra hàng ngày trong các cơ quan nhà nước và chỉ do nhân viên nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện

Tính chất tổ chức thực hiện quyền lực của Nhà nước của áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ hoạt động này chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhân viên nhà nước có thẩm quyền tiến hành, không theo ý chí của các chủ thể mà là theo quy định của pháp luật Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thi hành và được Nhà nước bảo đảm thi hành Chính vì vậy, áp dụng pháp luật còn là một hình thức thực hiện quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 12

* Áp dụng pháp luật được thực hiện trong các trường hợp sau:

Thứ nhất: Trong trường hợp cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà

nước, hoặc áp dụng chế tài xử lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Đây là trường hợp áp dụng pháp luật được áp dụng phổ biến đối với các tội phạm hình sự, các vi phạm hành chính

Thứ hai: Khi quan hệ pháp luật với những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý

cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước

Thứ ba: Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các

bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được Đây là trường hợp quan hệ phát luật đã phát sinh, nhưng quyền nghĩa vụ của các bên không được thực hiện và có tranh chấp, ví dụ như: tranh chấp về hợp đồng thương mại, lao động, thừa kế.v.v

Thứ tư: Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải

tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó; hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại của một số vụ việc, sự kiện thực tế Chẳng hạn như việc Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn, xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp cho công dân theo qui định

Từ những vấn đề phân tích trên, chúng ta có thể nhận thấy: “Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan

có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể PL thực hiện những qui định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật ra các quyết định áp dụng trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội” [11, tr.500]

* Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Thứ nhất: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức thực hiện quyền

lực nhà nước Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành Pháp luật qui định mỗi cơ quan nhà nước hay nhà chức trách khác nhau có thẩm quyền áp dụng pháp luật khác nhau, như Thẩm phán có quyền xét xử ra bản án, Kiểm sát viên có quyền thực hành quyền công tố,

đề ra yêu cầu điều tra hoặc tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp…Trong trường hợp đặc biệt một số tổ chức xã hội được nhà nước uỷ quyền cũng được ADPL Như vậy pháp luật là cơ sở xuất phát điểm để các cơ quan nhà

Trang 13

nước có thẩm quyền ADPL thực hiện chức năng của mình Việc ADPL được xem là

sự tiếp tục thực hiện ý chí của nhà nước được thể hiện trong pháp luật

Thứ hai: Hoạt động ADPL phải được tiến hành theo các thủ tục pháp lý chặt

chẽ Do tầm quan trọng và tính chất phức tạp của ADPL, chủ thể bị ADPL có thể được hưởng những lợi ích rất lớn hoặc chịu những hậu quả bất lợi nghiêm trọng, nên pháp luật luôn xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quá trình ADPL Bởi vậy mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên

có liên quan trong quá trình ADPL phải tuân thủ nghiêm chỉnh các qui định có tính thủ tục đó

Thứ ba: Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với

những quan hệ XH nhất định Đối tượng của hoạt động ADPL là những quan hệ XH cần đến sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong qui phạm pháp luật Bằng hoạt động ADPL những qui phạm pháp luật nhất định được cá biệt hóa vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống

Thứ tư: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo Bởi lẽ những

tình huống dự liệu qui định trong các qui phạm pháp luật chỉ là những dấu hiệu chung nhất, có tính khái quát cao, trong khi đó những tình huống, sự kiện pháp lý diễn ra trong thực tế lại hết sức phong phú, đa dạng nên hoạt động ADPL có tính thực tiễn cao và đòi hỏi tính sáng tạo Các trường hợp pháp luật chưa qui định hoặc qui định chưa rõ thì có thể vận dụng sáng tạo bằng cách ADPL tương tự để giải quyết, việc vận dụng phải phù hợp với qui định chung của pháp luật Để làm được điều đó người ADPL không thể máy móc, rập khuôn mà đòi hỏi phải có ý thức pháp

luật cao, có kiến thức tổng hợp, có kinh nghiệm cuộc sống Do đó: “ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức XH khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những qui phạm PL vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể” [11, tr.503]

* Hình thức thể hiện của ADPL: Hình thức thể hiện chính thức và chủ yếu

của hoạt động ADPL là văn bản ADPL Văn bản ADPL được thể hiện trong những hình thức xác định như: Bản án, quyết định, lệnh Căn cứ vào nội dung nhiệm vụ của văn bản ADPL, có thể chia thành hai loại: Văn bản xác định quyền, nghĩa vụ và văn bản bảo vệ pháp luật chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật

Trang 14

Với tính cách là một mắt xích của cơ chế điều chỉnh PL, văn bản ADPL là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức XH được nhà nước trao quyền ban hành trên

cơ sở những qui phạm PL, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của

cá nhân, tổ chức hoặc xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật [11, tr.505]

1.1.2 Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và các đặc điểm của nó

1.1.2.1.Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Kiểm sát việc tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Đây là một trong những nguồn thông tin về tội phạm, là các tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước và mọi công dân Nguồn tin về tội phạm là một dự kiện không thể thiếu được cho việc phát hiện, khám phá tội phạm, do đó nguồn tố giác và tin báo về tội phạm đóng góp một phần rất quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của Nhà nước Cho dù cơ quan bảo vệ pháp luật có lực lượng mạnh và có các phương tiện kỹ thuật hiện đại đến đâu đi chăng nữa mà thiếu sự phối hợp cung cấp thông tin về tội phạm của các cơ quan nhà nước, của quần chúng nhân dân và các tổ chức xã hội thì việc phát hiện và xử lý tội phạm khó đạt được kết quả cao

BLTTHS năm 2015 quy định khá cụ thể và chặt chẽ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bởi vì thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý Nhà nước có thể phát hiện hành vi phạm tội như tham ô, đưa và nhận hối lộ hoặc vi phạm nghiêm trọng công tác quản lý Nhà nước về kinh tế v.v Những hành vi phạm tội đó cần phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nhằm chấn chỉnh công tác quản lý Nhà nước về kinh tế, bảo đảm sự ổn định của xã hội, nên tại

điều 5 BLTTHS năm 2015 đã quy định: "Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các

cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với CQĐT, VKS và Tòa án trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và

Trang 15

phải thông báo ngay cho CQĐT, VKS mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; có quyền kiến nghị và gửi các tài liệu có liên quan cho CQĐT, VKS xem xét khởi tố đối với người có hành vi phạm tội" Thủ trưởng cơ

quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc không thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xẩy ra trong cơ quan và trong trong lĩnh vực quản

lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Đối với cơ quan Thanh tra,

kiểm toán nhà nước thì: " Có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm Khi phát hiện có sự việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét khởi tố vụ án hình sự"

Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định trách nhiệm phát hiện tin báo và tố giác tội phạm là của mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và công dân Các nguồn tin về tội phạm phải được gửi ngay tới cơ quan cuối cùng có trách nhiệm

giải quyết đó là CQĐT và VKS, Điều 147 BLTTHS quy định: "Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT,

cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm, kiến nghị khởi tố" Trong suốt quá trình thực hiện quy định trên, đồng

thời trong thực tiễn phát triển của xã hội thì hiện tượng vi phạm, tội phạm đã diễn ra ngày càng phức tạp với số lượng gia tăng nên việc quy định trong phối hợp phát hiện và xử lý các tố giác và tin báo về tội phạm cần cụ thể hơn, nên ngày 02-8-2013 liên ngành Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, VKSND tối cao đã ban hành thông tư liên ngành số 06-TT/LN hướng dẫn thi hành quy định quy định ủa Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Trước ngày BLTTHS 2015

có hiệu lực pháp luật, ngày 29/12/2017 Liên ngành Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, VKSND tối cao đã ban hành thông tư liên ngành số 01/2017/-TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC

đã ban hành Thông tư liên tịch “Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố” có hiệu lực từ ngày

01/3/2018 và thay thế thông tư liên ngành số 06/2013 trong đó quy định rất rõ về

Trang 16

nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền, tổ chức, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đối với Cơ quan điều tra; Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát; Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b, khoản 2 điều 145 BLTTHS năm 2015

Kiểm sát việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ở CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên ngành số 01/2017-TTLT, VKSND có nhiệm vụ kiểm sát việc CQĐT đã phát hiện và thụ lý đầy đủ các vi phạm và tội phạm xảy ra trên địa bàn mình quản lý hay chưa, có trường hợp nào CQĐT không thụ lý hay không? Lý

do không thụ lý Trong trường hợp VKS nhận được tố giác và tin báo về tội phạm nhưng CQĐT chưa nhận được thì VKS chuyển đến cho CQĐT để tiến hành xác minh

Đối với hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm của VKS thì đây là một công việc có tính chất phức tạp, bởi quy định về thụ lý các thông tin về tội phạm của CQĐT cũng như cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hiện nay thường do ngành dọc quy định, nên đòi hỏi người cán bộ kiểm sát bên cạnh việc nắm rõ quy định chung của BLTTHS, còn phải nắm được quy định của CQĐT về việc thụ lý, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Mặt khác còn phải nắm được phương pháp nghiệp vụ về điều tra

án hình sự thì mới có thể phát hiện được các vi phạm của CQĐT Vấn đề kiểm sát việc thụ lý các tố giác và tin báo về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền điều tra hiện đang gặp nhiều khó khăn do nhận thức và phương pháp phối hợp giữa hai ngành Công an và VKS chưa có sự thống nhất Để giải quyết bất cập trên, trong BLTTHS năm 2015 nhà làm luật đã quy định cụ thể chi tiết của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra về việc tiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm, kiếm nghị khởi tố từ điều

144 đến điều 151

Như vậy, kể từ ngày 01/1/2018 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành thì: Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp phát hiện

Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng

Trang 17

văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục Viện kiểm sát giải quyết kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh kiến nghị khởi tố hoặc

có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau

15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết kiến nghị khởi tố nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục [01, Tr 03.TT] Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra

có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết [Tr04.TT]

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khi nhận được tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố không đến CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra để nắm và kiểm sát thụ lý tin báo, tố giác về tội phạm, mà chỉ có trách nhiệm kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT

Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Trong nội dung này VKS tập trung kiểm sát về tổ chức tiếp nhận, phân loại và thời hạn giải quyết cũng như các biện pháp mà CQĐT áp dụng khi tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin có đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay không Cụ thể, về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Điều 147 BLTTHS, điều 9 Thông tư liên tịch số 01/2017 Để kiểm sát được chặt chẽ thời hạn giải quyết thông tin về tội phạm của CQĐT thì VKS phải nắm được cụ thể nội dung của thông tin đó nhằm phân loại và xử lý, nếu thông tin về tội phạm có nội dung rõ ràng, xác thực và xét thấy hành vi mà đơn thư tố giác hay tin báo phản ánh có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì không cần thiết phải chờ hết 20 ngày mới ra quyết định xử lý Trong trường hợp nói trên mà CQĐT vẫn để kéo dài thời hạn cho hết hai mươi ngày mới ra quyết định xử lý thì VKS có biện pháp yêu cầu CQĐT quyết định khởi tố vụ án hình

sự để tiến hành hoạt động điều tra

Tuy nhiên trong thực tiễn hiện nay ở nhiều địa phương do sự phối hợp giữa hai ngành Công an và VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Trang 18

chưa được tốt, do nhận thức chưa thống nhất quy định tại Điều 147 BLTTHS CQĐT cho rằng, pháp luật cho phép thời hạn 20 ngày kiểm tra, xác minh thì đến ngày thứ 20 ra quyết định giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là không vi phạm pháp luật Nhận thức đó làm hạn chế tính kịp thời trong phát hiện cũng như trong việc xử lý tội phạm, dẫn đến những hậu quả bất lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật như để thời gian kéo dài đối tượng phạm tội có thể xóa dấu vết phạm tội hay bỏ trốn gây trở ngại cho công tác điều tra, truy tố và xét xử Do đó, VKS phải kiểm sát chặt chẽ thời hạn giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm để từ đó đề ra yêu cầu, biện pháp cho CQĐT tiến hành xử lý, giải quyết nhanh chóng, tránh gây ra những hậu quả như đã nêu trên

Cùng với hoạt động kiểm sát về thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo tội phạm, VKS còn phải tiến hành kiểm sát tính hợp pháp của những biện pháp mà CQĐT áp dụng trong quá trình kiểm tra, xác minh Hoạt động kiểm tra, xác minh các

tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT nhằm để xác định có dấu hiệu của tội phạm đã xảy ra hay không và trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, mà chưa cần phải làm rõ đối tượng phạm tội Nên khi chưa có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì CQĐT không được áp dụng bất kỳ biện pháp tố tụng hình sự nào Nếu CQĐT áp dụng biện pháp tố tụng hình sự để kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, ví dụ như hỏi cung, khám xét, bắt hoặc tạm giữ

…thì vi phạm pháp luật tố tụng hình sự Chỉ sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình

sự của cơ quan có thẩm quyền thì mới cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền

áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự do luật định để thu thập tài liệu, chứng cứ và kiểm tra các chứng cứ nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các tố giác và tin báo về tội phạm, VKS phải kịp thời phát hiện và yêu cầu khắc phục ngay những vi phạm của CQĐT trong quá trình xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nếu có, như thế mới bảo đảm các hoạt động của CQĐT tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật

Trên cơ sở kết quả của quá trình kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm đã thụ lý, CQĐT sẽ đánh giá và xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không để từ đó giải quyết bằng việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết

Trang 19

định không khởi tố vụ án hình sự Với chức năng của mình, VKS tiếp tục kiểm sát việc khởi tố của CQĐT

Kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Việc quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh mối quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

mà cụ thể là giữa CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra với cơ quan VKS Mối quan hệ này được phản ánh thông qua việc thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKS

Có thể nói, kiểm sát việc khởi tố là thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động

tư pháp của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra các vụ án hình sự, thông qua việc thực hiện chức năng này VKS có trách nhiệm bảo đảm quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền phải có căn cứ

và hợp pháp, kịp thời ngăn chặn ngay từ ban đầu các vi phạm pháp luật của CQĐT

Ví dụ, như việc ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ dẫn đến

áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự sai hoặc việc ban hành quyết định không khởi

tố vụ án hình sự trái pháp luật thì sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm

Về nguyên tắc, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tố giác, tin báo

về tội phạm, nếu phát hiện có dấu hiệu của tội phạm hình sự thì CQĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngược lại nếu xác định không có dấu hiệu của tội phạm hình sự hay có dấu hiệu của tội phạm hình sự nhưng có cắn cứ không khởi tố vụ án thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Tất cả các quyết định này của CQĐT phải được gửi cho VKS để tiến hành kiểm sát việc khởi tố Bản chất của hoạt động kiểm sát việc khởi tố bao gồm hai nội dung là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan

có thẩm quyền

Tính có căn cứ là một nội dung cơ bản mà hoạt động kiểm sát khởi tố hướng

vào Điều 143 BLTTHS quy định: "Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm", Theo quy định trên thì căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án hình sự đó

là khi có đủ cơ sở xác định một cách chính xác có dấu hiệu tội phạm đã xảy ra Còn dấu hiệu tội phạm được xác định trên cơ sở nào thì BLTTHS đã liệt kê ra 6 cơ sở tại Điều 143 Vì vậy, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm,

Trang 20

CQĐT xác định chính xác có dấu hiệu tội phạm thì khi đó mới được ra quyết định khởi

tố vụ án hình sự để mở cuộc điều tra Ngược lại khi xác định không có dấu hiệu tội phạm thì CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, trong trường hợp mặc dù xác định có dấu hiệu của tội phạm nhưng có căn cứ không được khởi tố vụ

án hình sự quy định tại Điều 89 BLTTHS thì CQĐT cũng ra quyết định không khởi tố

vụ án hình sự Thông qua hoạt động kiểm sát việc khởi tố xét thấy quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì VKS có quyền ra quyết đinh hủy bỏ các quyết định nói trên

Tính hợp pháp là nội dung quan trọng thứ hai mà VKS cần phải xem xét khi thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ án Nội dung này bao gồm những vấn đề cần xem xét như về thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án; quyết định không khởi tố

vụ án hình sự, nội dung và hình thức của quyết định đó đã đúng theo quy định của BLTTHS năm 2015 chưa, Nếu qua kiểm sát, VKS phát hiện có những vi phạm về thầm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì yêu cầu cơ quan ra quyết định đó có biện pháp khắc phục

Qua nghiên cứu và so sánh quy định về thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 thì nhà làm luật đã có những sửa đổi, bổ sung mới, quy định rộng hơn phạm vi khởi tố vụ án hình sự của VKS tại khoản 3 điều 153, đó là:

a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử

Việc mở rộng như trên là để các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi

tố phải được xử lý triệt để, tránh để lọt tội phạm và làm oan người vô tội

Như vậy, khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, VKS căn cứ vào các quy định của BLTTHS để tiến hành kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định đó một cách chặt chẽ

Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố, VKS phải cùng CQĐT phân loại

Trang 21

và xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và giám sát chặt chẽ việc xác minh của CQĐT Đồng thời phải nắm chắc các cấu thành tội phạm của những hành vi bị coi là tội phạm được quy định trong BLHS, đặc biệt là những vụ án khởi

tố theo yêu cầu của người bị hại thì bảo đảm phải có căn cứ theo quy định của Điều

155 BLTTHS năm 2015 Còn đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự mà CQĐT và các cơ quan khác có thẩm quyền điều tra gửi đến, VKS cũng phải xem xét chặt chẽ căn cứ từ chối không khởi tố, bởi vì quyết định không khởi tố vụ án luôn tiềm ẩn khả năng che giấu tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền dẫn đến bỏ lọt tội phạm Điều 157 BLTTHS đã quy định liệt kê ra 8 căn cứ để không được khởi tố

vụ án hình sự, do đó nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự không có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 thì quyết định đó là vi phạm pháp luật và VKS phải ra quyết định hủy bỏ ngay quyết định trái pháp luật đó của CQĐT và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra vụ án

Đối với quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của "Hội đồng xét xử" hoặc "Yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự" là sự thay đổi cách thức xử lý thông tin

về tội phạm của cơ quan xét xử, điều này thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, là Hội đồng xét xử thông qua việc xét xử mà phát hiện dấu hiệu

tội phạm;

Thứ hai, khi phát hiện dấu hiệu tội phạm tại phiên tòa xét xử, Hội đồng xét xử

có hai cách xử lý hoặc là ra quyết định khởi tố vụ án hình sự rồi gửi tới VKS để xem xét, quyết định giao cho CQĐT tiến hành điều tra; hoặc là yêu cầu VKS khởi tố vụ

án hình sự Đương nhiên việc khởi tố hay không khởi tố vụ án theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử phải được VKS thông báo lại

Về trình tự, thủ tục kiểm sát việc khởi tố, BLTTHS nước ta đã quy định:

"Trong thời hạn 24 giờ quyết định khởi tố của CQĐT và cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố " (Điều 154 BLTTHS năm 2015) Việc quy định như vậy là đảm bảo cho VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố được kịp thời, nhằm hạn chế những vi phạm trong việc khởi tố của CQĐT Mục đích kiểm sát là bảo đảm không một người nào không thực hiện hành vi phạm tội thì họ không thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy

Trang 22

định của luật tố tụng hình sự, như bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam, hạn chế các quyền công dân

Để thực hiện chức năng kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi

tố vụ án hình sự, VKS có thể tiến hành thông qua hai phương pháp sau:

Thứ nhất: Trực tiếp tham gia cùng CQĐT phân loại các tố giác, tin báo về

tội phạm ngay từ đầu để xem xét việc quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự ngay, còn nếu nguồn tin tội phạm nào phải tiến hành kiểm tra xác minh mới xác định có hay không dấu hiệu tội phạm thì yêu cầu CQĐT tiến hành kiểm tra xác minh nguồn tin đó hoặc tự mình kiểm tra xác minh làm căn cứ xử lý nguồn tin

Thứ hai: Gián tiếp thông qua nghiên cứu các tài liệu liên quan kèm theo

quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà CQĐT gửi đến Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu đó VKS có thể xem xét việc khởi tố của CQĐT có đúng hay không

Tóm lại, thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ án có ý nghĩa vô

cùng quan trọng, thông qua đó VKS sẽ loại trừ ngay từ đầu các vi phạm pháp luật của CQĐT và yêu cầu CQĐT sớm có biện pháp khắc phục kịp thời để hạn chế việc khởi tố tràn lan không có căn cứ rồi sau đó phải đình chỉ điều tra hoặc không khởi tố

vụ án không có căn cứ dẫn đến bỏ lọt tội phạm

1.1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Thứ nhất: ADPL về hoạt động kiểm sát ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chỉ

do VKS tiến hành

Nghĩa là VKS là cơ quan duy nhất, độc lập, quyết định trong việc khởi tố vụ

án Tuy trên thực tế rất ít khi VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố, song các quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra đều đặt dưới sự kiểm sát, chấp nhận hoặc không chấp nhận của VKS Với chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS

có quyền và trách nhiệm hủy bỏ các lệnh, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, nếu các lệnh, quyết định đó không có căn cứ và trái PL Thay vào đó, VKS có quyền

ra các lệnh, quyết định tố tụng và giao cho Cơ quan điều tra thực hiện "PL qui định thẩm quyền phê chuẩn của VKS đối với các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra không có nghĩa là để VKS "chứng thực" các lệnh, quyết định tố tụng của Cơ quan

Trang 23

điều tra, mà PL đã chuyển vai trò quyết định, chuyển trách nhiệm từ Cơ quan điều tra sang VKS" [45].

Thứ hai: ADPL về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

của VKS được tiến hành theo thủ tục tố tụng chặt chẽ nhằm cá biệt hóa các qui phạm PL hình sự và tố tụng hình sự vào các trường hợp cụ thể Mục đích của hoạt động này là truy cứu TNHS đối với người phạm tội, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do các chế tài PL hình sự gây ra Đây là chế tài nghiêm khắc nhất trong hệ thống các chế tài của PL, nó tước bỏ hoặc hạn chế các quyền nhân thân và quyền tài sản của người bị áp dụng Trên thực tế việc tuân thủ các qui định của BLTTHS cũng chính là quá trình ADPL, nhưng là quá trình áp dụng các quy phạm hình thức Đối với ADPL trong thực hành QCT ở giai đoạn khởi tố, điều tra của VKSND, loại quy phạm được áp dụng tuy chủ yếu là quy phạm hình thức bằng các thao tác, hành vi cụ thể của Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên, nhưng những quy phạm tố tụng này lại luôn bị ràng buộc bởi quy phạm pháp luật nội dung, đó là các qui phạm trong BLHS, chẳng hạn như Điều 119 BLTTHS qui định: Tạm giam có thể áp được dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS qui định hình phạt

tù trên hai năm Vậy muốn biết thế nào là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hình phạt của hành vi bị khởi tố với tư cách bị can thì phải căn cứ vào BLHS Do đó để tránh những sai lầm hoặc vi phạm các quyền công dân, Kiểm sát viên không những phải nắm chắc những qui định của BLHS, BLTTHS, quan điểm chỉ đạo của Đảng về đấu tranh với từng loại tội phạm trong từng thời kỳ, mà còn phải không ngừng cập nhật những thông tin khoa học pháp lý mới, bài nghiên cứu, những văn bản hướng dẫn của liên ngành Trung ương và PL có liên quan

Thứ ba: ADPL về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố của VKS

không ngừng đòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt của Kiểm sát viên Như chúng ta đều biết thủ tục tố tụng hình sự là một loại thủ tục hết sức phức tạp và chặt chẽ, vì nó liên quan đến sinh mạng chính trị của công dân, do vậy những người và Cơ quan tiến hành

tố tụng không được để xảy ra sai lầm Nhưng bên cạnh đó thì yêu cầu bảo vệ trật tự trị

an, đấu tranh tấn công tội phạm nhất là những loại tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như giết người bằng những hình thức man rợ, thú tính, giết trẻ em, giết người già, hiếp dâm trẻ em, tham ô, lừa đảo xuyên quốc gia, gây căm phẫn bất bình lớn trong quần chúng nhân dân, đòi lại công lý cho phía bị hại cũng không được lơ là Trong khi

Trang 24

đó hành vi tội phạm xảy ra trên thực tế không ngừng phát triển, đa dạng và phức tạp,

mà pháp luật hình sự nói chung chưa kịp pháp điển hóa, chưa kịp bao quát hết mọi bước, mọi thủ tục tiến hành Do đó trên thực tế, nếu Kiểm sát viên thực hành quyền công tố quá máy móc thì sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội tấn công tội phạm, thậm chí là bỏ lọt tội phạm, đặc biệt là các trường hợp bắt khẩn cấp, phê chuẩn gia hạn tạm giữ và trong một

số trường hợp phê chuẩn tạm giam, do tính chất cấp bách của vụ việc, địa điểm thực hiện tội phạm mà Cơ quan điều tra trong một thời gian ngắn không thể kịp thu thập được hết mọi biên bản tài liệu cần thiết, song nếu Kiểm sát viên linh hoạt xem xét thấy những tài liệu thiếu đó không phải là cơ bản, khó có thể làm thay đổi bản chất vụ án và

có thể bổ sung sau thì cần chấp phận phê chuẩn

Ví dụ, Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố đối với một bị

can nhưng còn thiếu tài liệu lý lịch bị can, đối tượng chỉ có chứng minh thư nhân

dân Do thời hạn tạm giữ sắp hết, chứng cứ phạm tội rõ ràng nên phải khởi tố bị can

để áp dụng các biện pháp ngăn chặn tố tụng khác phục vụ điều tra, trong khi đó nơi

cư trú của bị can cách xa hàng nghìn km lại ở vùng cao, vùng sâu nên trong thời

gian tạm giữ không thể kịp xác minh lấy được lý lịch bị can Trường hợp này Kiểm

sát viên phải linh hoạt ra quyết định phê chuẩn theo đề nghị của Cơ quan điều tra và

yêu cầu nhanh chóng xác minh thu thập lý lịch bị can Có như vậy mới đảm bảo

việc đấu tranh chống tội phạm, tránh để bị can bỏ trốn

Thứ tư: Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các văn bản ADPL của

VKS trong quá trình hoạt động kiểm sát ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Theo qui định của luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra dù không nhất trí với các yêu cầu, quyết định của VKS nhưng vẫn phải chấp hành và có quyền kiến nghị lên VKS cấp trên trực tiếp Ví dụ, Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Cơ quan điều tra cho rằng việc hủy bỏ của VKS là không đúng, nhưng vẫn phải chấp hành quyết định hủy bỏ đó Sau đó Cơ quan điều tra có quyền làm văn bản kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để xem xét lại quyết định hủy bỏ của Viện kiểm sát cấp dưới

1.1.3 Vai trò áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

- Áp dụng PL về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ XHCN, chế độ chính trị, chế độ kinh tế,

Trang 25

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản và các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn XH Đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện xử lý nhanh chóng nghiêm minh kịp thời; không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội

- Viện kiểm sát là một trong những Cơ quan tiến hành tố tụng với phạm vi của quyền công tố và THQCT từ khi phát hiện tội phạm đến khi bản án có hiệu lực

PL Hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đều có sự đan xen, ràng buộc nhau Vì có VKS nên Cơ quan điều tra không thể thích bắt ai, khởi tố ai, bỏ qua cho trường hợp nào cũng được; tương tự như vậy, Tòa án không thể thích xử thế nào, thích tuyên, thích chọn loại, mức hình phạt nào cũng được Họ có thể bị VKS can thiệp bằng các quyền năng tố tụng ngay lập tức, nếu họ ra các văn bản ADPL sai trái Điều đó cho thấy VKS có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ công lý, công bằng, dân chủ trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử

- Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, những Kiểm sát viên là những người trực tiếp kiểm nghiệm tính phù hợp hay không phù hợp, có căn cứ hay không có căn cứ của các văn bản qui phạm PL, nhất

là BLHS và BLTTHS Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi cơ chế quản lý kinh tế của chúng ta chưa hoàn thiện còn nhiều vấn đề bất cập, một số quan hệ thuộc lĩnh vực mới nhưng BLHS chưa kịp pháp điển hóa để bảo vệ, nhiều qui phạm đã lạc hậu chồng chéo, nên bọn tội phạm thường lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội, nhất là nhóm tội phạm về tham ô, cố ý làm trái các qui định của nhà nước về quản lý kinh

tế gây hậu quả nghiêm trọng, nhận hối lộ Chẳng hạn rất nhiều trường hợp người bị

ép đưa hối lộ không dám tố cáo vì họ biết rằng nếu tố cáo thì có thể cả người nhận

và người đưa đều bị vào tù hoặc người nhận thì không sao còn người đưa hối lộ bị

xử lý về tội vu khống Thực tế cho thấy nhiều vụ án oan mà báo chí và dư luận đưa tin, nhưng bản chất thật không phải là oan mà người thực hiện hành vi phạm tội đã kịp thời xóa dấu vết, vật chứng nên Cơ quan điều tra không thể thu thập đủ hoặc do những qui định của PL thiếu chặt chẽ nên họ đã lợi dụng để bào chữa cho tội lỗi của mình Từ đó các cơ quan tiến hành tố tụng đã phải chịu thua và tuyên bố họ không phạm tội Vậy làm sao để khắc phục những điều này, thì câu trả lời đầu tiên là chúng ta phải hoàn thiện hệ thống thể chế - tức là phải xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ, có tính dự báo trên tất cả các lĩnh vực của quản lý nhà nước

Trang 26

- ADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trò hướng các chủ thể của quan hệ pháp luật thực hiện đúng, đầy đủ chức trách nhiệm vụ của mình khi tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giữ, bị can, người bị hại; ngăn ngừa việc lạm quyền của những người tiến hành tố tụng

- Qua truy tố người phạm tội, thực hành quyền công tố đã góp phần giáo dục riêng đối với người phạm tội, răn đe phòng ngừa chung đối với người đã và đang có

ý định phạm tội; góp phần phổ biến tuyên truyền pháp luật; kiến nghị các cơ quan tổ chức có biện pháp phòng ngừa vi phạm và tội phạm trên địa bàn

1.2 CÁC GIAI ĐOẠN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐỐI VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Áp dụng pháp luật là hoạt động phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau được pháp luật qui định chặt chẽ Thường thì các giai đoạn ADPL diễn ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, trong đó giai đoạn trước là tiền đề cơ sở của giai đoạn sau

Để ADPL chính xác và đạt hiệu quả cao, theo lý luận chung phải tiến hành theo các bước như: "Phân tích đánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết, hoàn cảnh điều kiện của sự việc thực tế đã xảy ra; Lựa chọn qui phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của qui phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng; ra văn bản ADPL; tổ chức thực hiện văn bản áp dụng đã ban hành" [28, tr.507] ADPL

là hoạt động mang tính cá biệt, luôn có đối tượng xác định Tùy thuộc vào tính chất của

vụ việc được xem xét, pháp luật qui định trình tự thủ tục áp dụng khác nhau Có những việc pháp luật qui định trình tự thủ tục áp dụng rất đơn giản, như thủ thục xử phạt hành chính tại chỗ, nhưng cũng có những vụ việc trình tự, thủ tục áp dụng rất chặt chẽ, được thực hiện bởi một hệ thống các cơ quan có thẩm quyền khác nhau, chẳng hạn như việc ADPL hình sự để xử lý người phạm tội Kết quả của hoạt động ADPL là việc ban hành các văn bản ADPL nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể có hành vi

vi phạm pháp luật Bởi thế tuân thủ nghiêm các qui định về trình tự, thủ tục là một trong những yếu tố đảm bảo hiệu quả hoạt động ADPL của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được trao quyền ADPL

Như vậy: Qui trình áp dụng pháp luật là trình tự, thủ tục do pháp luật qui định, buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân thủ trong quá trình áp dụng pháp luật

Trang 27

Qui trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát là một hệ thống các qui định về trình tự, thủ tục cho mỗi hoạt động khác nhau mà Viện kiểm sát phải tuân thủ nhằm đảm bảo cho quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hiện hành

Các giai đoạn của qui trình ADPL về hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân như sau:

1.2.1 Giai đoạn thứ nhất

Ngay sau khi nhận được hồ sơ đề nghị do Cơ quan điều tra chuyển đến, Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo đơn vị, vào sổ thụ lý, đồng thời nghiên cứu toàn diện các tài liệu chứng cứ, đối chiếu với từng tài liệu để xem độ chính xác khách quan của các tài liệu đó Đặc biệt đối với một số hoạt động điều tra ở giai đoạn tiền khởi

tố như khám nghiện hiện trường, khám nghiệm tử thi, kiểm tra xá minh thu thập nguồn tin thì phải nghiên cứu ngay tính có căn cứ và hợp pháp của các tài liệu này, so sánh với các lời khai và tài liệu khác, từ đó lập luận đánh giá từng chứng cứ

kể cả buộc tội lẫn gỡ tội không được bỏ sót một tình tiết nào Song song với việc nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên phải đồng thời lập hồ sơ kiểm sát hình sự theo đúng Quyết định số 24/QĐ ngày 06/8/1993, Quyết định số 07/ QĐ-VKSTC-V3 ngày 12/01/2006 trước đây, nay là Quyết định 590/QĐ-VKSTC-V3 ngày 05/12/2014 của VKSND Tối cao để lưu giữ những tài liệu quan trọng về vụ án Chẳng hạn trong

một số trường hợp cụ thể như sau:

- Khi xem xét hồ sơ khởi tố vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc gửi kịp thời quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra Căn cứ khởi tố vụ án là thông qua đơn thư tố giác của công dân về sự kiện phạm tội, Cơ quan điều tra xác minh thấy "có dấu hiệu tội phạm" đúng như trong đơn thư tố giác, sự kiện đó nghi ngờ là do hành vi nguy hiểm của con người gây ra và được qui định trong BLTTHS Việc xác định "dấu hiệu tội phạm" ở đây không bắt buộc phải có đủ ngay các yếu tố cấu thành tội phạm như qui định tại Điều

8 BLHS Ví dụ, có tin báo về một xác chết ở ngoài đồng lúa, qua khám nghiệm tử thi thấy trên thi thể nạn nhân có nhiều vết bầm tím, nhiều nghi vấn cho rằng nạn nhân chết do ngoại lực tác động…là đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự Nếu Kiểm sát viên phát hiện thấy có căn cứ cho rằng tội phạm đã được khởi tố không đúng với

Trang 28

hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác thì Kiểm sát viên phải báo cáo với lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan điều tra hoặc VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và Kiểm sát viên có trách nhiệm theo dõi đôn đốc việc chấp hành của Cơ quan điều tra đối với các yêu cầu, quyết định đó của VKS Đối với những vụ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trong hồ sơ nhất thiết phải có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại

1.2.2 Giai đoạn thứ hai

của nó Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết kiến thức pháp luật của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND, mà trực tiếp là Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng, việc lựa chọn quy phạm một cách chính xác sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật Do vậy, kiểm sát viên cần phải xem xét, đánh giá đầy đủ sự kiện pháp lý đã xảy ra, những công việc đã xử lý của Cơ quan điều tra, yêu cầu và đề nghị của Cơ quan điều tra đối với việc giải quyết vụ án hình sự

Trên thực tế việc lựa chọn quy pháp luật được thực hiện đồng thời với với quá trình xác minh thu thập tài liệu, nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ của vụ án Nếu làm tốt việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ sẽ có thể lựa chọn được chính xác quy phạm cần phải áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể Quy phạm được lựa chọn áp dụng phải là những quy phạm đang có hiệu lực pháp luật và không được trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không được trái với những văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

Áp dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKS thường liên quan đến nhiều loại quy phạm khác nhau mà trọng tâm là BLHS và BLTTHS Đối với các quy phạm luật tố tụng, việc lựa chọn thường dễ dàng hơn so với việc lựa chọn các quy phạm luật hình sự Chẳng hạn, khi kiểm sát việc khởi tố của cơ quan điều tra chỉ cần phân tích đối chiếu với các quy định đã nêu tại Điều

143 BLTTHS năm 2015 Nhưng đối với việc áp dụng quy phạm luật hình sự, việc lựa chọn có phần phức tạp hơn Trong những trường hợp này, để lựa chọn chính xác quy phạm luật hình sự, KSV phải có trình độ nghiệp vụ và ý thức pháp luật cao, có nhiều kinh nghiệm trong công tác chuyên môn Đồng thời, phải hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống XH Thực tế hiện nay có khá nhiều hành vi phạm tội,

Trang 29

nếu chỉ căn cứ vào các điều luật trong BLHS, khó có thể lựa chọn được chính xác quy phạm cần phải áp dụng, bởi có không ít điều luật quy định còn chung chung, hoặc quy định có tính chất viện dẫn ở một ngành luật khác Đối với những quy định loại này, để hiểu được nội dung, tư tưởng của nó phải dựa vào văn bản hướng dẫn ADPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trên cơ sở đó mới có thể lựa chọn quy phạm phù hợp để áp dụng Bên cạnh các văn bản hướng dẫn ADPL và văn bản pháp luật chuyên ngành, còn nhiều tài liệu khác cũng có giá trị tham khảo rất bổ ích cho việc lựa chọn quy phạm như: Bình luận khoa học BLHS và BLTTHS; các sách chuyên khảo về luật hình sự và tố tụng hình sự; các bài viết, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học pháp lý có uy tín và có nhiều kinh nghiệm trong công tác thực tiễn

Nhìn chung, lựa chọn và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của quy phạm được áp

dụng là một thao tác nghiệp vụ có ý nghĩa quan trọng, không tìm ra quy phạm pháp luật hiện hành phù hợp, không hiểu đúng nội dung tư tưởng của quy phạm pháp luật được

áp dụng tất yếu dẫn đến việc ban hành văn bản ADPL không chính xác, trong nhiều trường hợp còn có thể dẫn đến oan, sai Bởi vậy, trong mọi trường hợp, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật mà trước tiên là Viện trưởng, phó Viện trưởng, Kiểm sát viên phải khách quan, thận trọng đồng thời phải xem xét, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng Chỉ có như vậy, mới bảo đảm được sự phù hợp giữa quy phạm pháp luật được lựa chọn với các tình tiết khách quan của vụ việc được xem xét

1.2.3 Giai đoạn thứ ba

Ban hành văn bản áp dụng pháp luật Đây là kết quả của hai giai đoạn trước Văn bản ADPL về kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là những văn bản ứng với những quyền năng thuộc nội dung và phạm vi quyền công tố, như quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định gia hạn điều tra, quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam, quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử, quyết định đình chỉ vụ án…Những văn bản ADPL này của VKS có giá trị pháp lý bắt buộc thi hành đối với những đối tượng bị áp dụng, nó tác động đến các quyền và lợi ích cơ bản của đối tượng bị áp dụng dưới hình thức này hay hình thức khác, trong

đó có nhiều văn bản tước bỏ hoặc hạn chế các quyền nhân thân và quyền tài sản của đối tượng bị áp dụng Bởi vậy, việc ban hành các quyết định nêu trên phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự qui định, như ban hành

Trang 30

phải đúng thẩm quyền, đúng mẫu hướng dẫn thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nội dung văn bản phải cụ thể rõ ràng và chứa đựng đầy đủ những thông tin cần thiết như ngày tháng địa điểm ban hành, số văn bản, con dấu, chữ ký, căn cứ pháp lý áp dụng

Đối với bản cáo trạng, khi soạn thảo Kiểm sát viên phải có tư duy tổng hợp, nắm chắc toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thu thập trong quá trình điều tra Nếu có đầy đủ các yếu tố để truy tố bị can trước Tòa thì Kiểm sát viên lập cáo trạng truy tố bị can theo mẫu hướng dẫn của VKSND Tối cao và theo qui định tại Điều 243 BLTTHS năm 2015 Khi soạn thảo bản cáo trạng, Kiểm sát viên phải lưu

ý những nội dung cơ bản như: Phải phản ánh rõ giờ, ngày, tháng, năm xảy ra tội phạm

và địa điểm phạm tội được thực hiện; thủ đoạn của người phạm tội, cũng như mục đích động cơ phạm tội của họ; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và những tình tiết quan trọng khác liên quan tới hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định có tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can; nhân thân bị can và những tình tiết khác có

ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án; phần kết luận phải nêu rõ tội danh của hành vi phạm tội và điều khoản của BLHS được áp dụng đối với hành vi phạm tội đó

1.2.4 Giai đoạn thứ tƣ

Tổ chức thực hiện văn bản ADPL Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình ADPL Các quyết định, yêu cầu của VKS là những văn bản áp dụng cá biệt có đối tượng xác định và có giá trị bắt buộc thi hành Văn bản đó có thể là căn cứ chấm dứt toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự như quyết định đình chỉ vụ án, hoặc có thể là căn cứ

để Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử như quyết định truy tố bị can, hay cũng có thể

là chuyển toàn bộ hoạt động tố tụng cho một địa phương khác có thẩm quyền như quyết định chuyển vụ án, hoặc có thể nhằm khôi phục quyền lợi cho một công dân như quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can…Thông thường VKS không trực tiếp tổ chức thi hành các quyết định, yêu cầu của mình mà Cơ quan điều tra phải có trách nhiệm tổ chức thi hành theo qui định của pháp luật Viện kiểm sát phải giám sát đôn đốc việc tổ chức thi hành, đó vừa là chức năng, nhiệm vụ vừa là một trong những đảm bảo quan trọng cho văn bản áp dụng pháp luật của VKS được thực hiện nghiêm chỉnh

1.3 CÁC YẾU TỐ BẢO ĐẢM VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT ĐỐI VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Các yếu tố bảo đảm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong công tác kiểm sát khởi tố vụ án hình sự của VKSND là những yếu tố mà nếu thiếu đi một

Trang 31

- Yếu tố pháp luật

Hoạt động ADPL trong khởi tố các vụ án hình sự được tiến hành trên cơ sở những qui phạm pháp luật của BLTTHS, BLHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến từng nhóm tội hoặc từng chương của BLHS

BLTTHS là luật hình thức qui định mọi vấn đề liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục ADPL hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành

tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự Cũng như BLHS, BLTTHS luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng và hoàn thiện Với tinh thần, đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp trong tố tụng hình sự là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại kỳ họp thứ 10, ngày 27/11/2015 Quốc hội khoá XIII đã thông qua BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật từ 01/1/2018 Bộ luật này đã và đang đáp ứng được yêu cầu về đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng tinh giản bộ máy, thống nhất đầu mối, nâng cao chất lượng của các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, nêu cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công dân, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của công dân; các qui định về trình tự, thủ tục tố tụng được minh bạch, rõ ràng, cụ thể,

dễ hiểu và có tính khả thi hơn, tạo điều kiện cho những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình trước pháp luật

Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017), là văn bản pháp luật duy nhất qui định về tội phạm và hình phạt đối với các loại tội phạm, tiếp tục cá thể hóa trách nhiệm hình sự bằng việc phân loại tội phạm theo mức độ của tính nguy hiểm cho XH của hành vi, đó là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng; tách tội danh từ một tội thành nhiều tội khác nhau, thêm vào đó là tội phạm mới quy định về pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự,

Trang 32

tách một số tình tiết định khung tăng nặng thành tội danh độc lập Là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng, do vậy tính biện chứng của vấn đề

là không thể có bất kì một bộ luật nào qui định một lần cho mãi mãi Với qui luật

đó, đòi hỏi BLHS không ngừng được hoàn thiện, ngoài phản ánh đúng hiện thực khách quan còn phải đáp ứng được tính dự báo chính xác, phù hợp với xu thế chung trong khu vực và quốc tế

Bên cạnh BLTTHS và BLHS là những văn bản pháp lý quan trọng nhất trong quá trình ADPL vào hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án hình sự thì cũng cần phải hoàn thiện các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật phòng chống

ma túy, Luật phòng chống tham nhũng, Luật bảo vệ môi trường, Luật đất đai, Luật thương mại…và đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành việc áp dụng các qui định của BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS Tuy nhiên, chúng ta phải phấn đấu khắc phục tình trạng khi Bộ luật hoặc Luật đã có hiệu PL nhưng những người có thẩm quyền ADPL có tâm lý ngồi chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành trung ương, mặc dù nhiều qui phạm đã rất cụ thể rõ ràng

Trong công tác lập pháp, Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ đạo "Hoàn thiện hệ thống

PL, tăng tính cụ thể khả thi của các qui định trong văn bản pháp luật" [10, tr.126], điều

đó có nghĩa khi Bộ luật đã có hiệu lực đi vào cuộc sống thì càng ít văn bản hướng dẫn càng tốt, vì các qui phạm của luật đã đạt đến mức cụ thể hóa cao, đó mới là cái đích lâu dài đặt ra, hướng dẫn chỉ mang tính chất tạm thời

- Yếu tố tổ chức bộ máy, công tác cán bộ

Hoạt động ADPL trong khởi tố các vụ án hình sự là hoạt động do CQĐT, VKS và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện

Tổ chức cũng như nhân sự ở các cơ quan này là yếu tố rất quan trọng để nâng cao chất lượng ADPL; bởi lẽ chất lượng ADPL suy cho cùng là do con người và phụ thuộc vào khả năng chuyên môn của những người trực tiếp làm công tác ADPL như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS, KSV

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong thực tiễn chỉ đạo điều hành đã luôn chú

ý xây dựng và hoàn thiện bộ máy trong đó xác định rõ, cụ thể cơ cấu chức năng nhiệm vụ của Cục điều tra, các Vụ nghiệp vụ, các Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm, Văn phòng, Trường Đại học kiểm sát thích ứng với từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 Xây dựng đội ngũ cán

bộ, Kiểm sát viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, thường xuyên chỉ đạo

Trang 33

cơ cấu tổ chức, trong đó có vai trò của Lãnh đạo viện, các phòng nghiệp vụ và đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên

VKS cấp huyện được coi là cấp cơ sở trong cơ cấu tổ chức của VKSND Đặc biệt là với chủ trương tăng thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện theo qui định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015, theo đó VKS cấp huyện cũng có quyền THQCT đối với cả những tội phạm rất nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất đến 15 năm

tù, vì thế tổ chức VKSND cấp huyện chặt chẽ, trình độ chuyên môn và chính trị của đội ngũ Kiểm sát viên cấp huyện phải được nâng cao cả bằng hình thức đào tạo và bằng biện pháp luân chuyển cán bộ từ cấp tỉnh xuống mới đáp ứng được yêu cầu Về mặt tổ chức, theo Nghị quyết 08-NQ/TW năm 2002 của Bộ chính trị, CQĐT phải sắp xếp lại theo hướng thu gọn đầu mối, tiến tới sát nhập CQĐT là một, phân định giữa thẩm quyền hành chính với tư pháp

Tuy nhiên trên thực tế, Nghị quyết 08/NQTW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết 49/NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, của Bộ chính trị đã nhận định:

Chất lượng công tác tư pháp nhìn chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp

- Yếu tố nhận thức, trách nhiệm, trình độ, năng lực chuyên môn, đạo đức nghệ nghiệp của cán bộ kiểm sát

Đối với đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra, THQCT cần phải được nâng cao trình độ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Hiện nay, trình độ năng lực chuyên môn của không nhỏ đội ngũ cán bộ, KSV chưa đáp ứng được yêu cầu;

Trang 34

bản lĩnh của không ít những Kiểm sát viên còn kém, không dám đối diện với những khó khăn khi thực hành quyền công tố Số người có năng lực, có kinh nghiệm nghiên cứu tổng hợp đề xuất những vấn đề có tầm chiến lược hoặc những chuyên gia giỏi trên từng lĩnh vực còn ít Một số cán bộ, Điều tra viên, Kiểm sát viên giảm sút ý chí phấn đấu, vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở CQĐT và VKS nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố vụ án, THQCT ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cần phải đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác

và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, Điều tra viên, Kiểm Sát Viên Như vậy với một cơ cấu tổ chức hợp lý, một đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên có phẩm chất chính trị vững vàng, giỏi về chuyên môn, trong sáng về đạo đức thì VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành trong điều kiện đổi mới hiện nay Mà cụ thể là sẽ phát huy được chức năng quan trọng: Bảo đảm ADPL trong THQCT, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố để điều tra đối với tất cả các loại tội phạm

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự còn có sự tham gia của

những cơ quan bổ trợ tư pháp như cơ quan giám định, tổ chức luật sư; "Cơ quan thanh tra có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra, Viện khiểm sát, Tòa án trong việc phát hiện và xử lý tội phạm Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện khiểm sát xem xét khởi tố vụ án hình sự" Hoạt động của các cơ quan này cũng có ảnh hưởng rất lớn tới

hiệu quả hoạt động điều tra của CQĐT, truy tố của VKS Vì vậy, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc ADPL trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án hình sự của CQĐT, VKS được khách quan, chính xác, đúng pháp luật

- Yếu tố cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát và hoàn thiện chế độ chính sách đối với cán bộ Kiểm sát viên

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng mới nhiều trụ sở làm việc, trang thiết bị làm việc ngày càng hiện đại và tiện nghi hơn; thực hiện nhiều chế độ chính sách đối với cán bộ Kiểm sát viên Tuy nhiên

để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ theo qui định của Hiến pháp và BLTTHS thì vẫn còn nhiều thiếu thốn, nhất là phương tiện đi lại, các phương tiện kỹ thuật công nghệ cao

Trang 35

như máy ảnh, máy ghi hình, ghi âm, va li dự thẩm phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ thì hầu như không đơn vị nào được trang bị Bên cạnh đó đời sống của cán bộ Kiểm sát viên còn gặp nhiều khó khăn, chế độ lương bổng, phụ cấp đối với cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật còn quá thấp, không đảm bảo được cuộc sống, không thu hút được người tài Những cám dỗ vật chất trong hoàn cảnh khó khăn cũng có thể làm biến đổi phẩm hạnh vô tư của một số cán bộ thiếu vững vàng, gây nên những vụ việc vi phạm rất đáng tiếc

Áp dụng tin học hóa đối với tất cả các đơn vị trong công tác sử dụng, lưu trữ, chuyển báo cáo thống kê trong ngành Để bảo đảm nguyên tắc quyền hạn gắn liền với trách nhiệm và bảo đảm nguyên tắc chung của Đảng, Nhà nước về trả lương theo lao động và sự phức tạp của công việc, đề nghị Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến chế độ chính sách đối với KSV, cán bộ VKSND nhằm động viên, thu hút những người có đức, có tài và giữ chân những chuyên gia giỏi nếu không sẽ dẫn đến việc cán bộ, KSV có năng lực chuyển dịch ra bên ngoài làm việc như hiện nay ở một số cơ quan Nhà nước

- Yếu tố về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm

Trong bất cứ giai đoạn nào, việc tăng cường phối kết hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án) trong việc giải quyết các vụ án hình là việc làm cần thiết Phối hợp không có nghĩa là luôn luôn đồng tình, mà là phối hợp trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mỗi ngành theo qui định của PL để cùng bàn bạc tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tránh xảy ra những bất đồng không đáng có và tình trạng "quyền anh, quyền tôi" trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự

Để làm tốt công tác phối hợp, giữa Cơ quan điều tra và VKSND thường xây dựng bản qui chế phối hợp, dựa trên những qui định của BLTTHS, các thông tư hướng dẫn và tình hình thực tế địa phương, qui định chi tiết, cụ thể các tình huống, các bước xử lý trong quá trình khởi tố, điều tra, THQCT ở giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Về nguyên tắc, trong quan hệ giữa Cơ quan điều tra và VKS thì Điều tra viên là đối tượng phải chấp hành các yêu cầu của Kiểm sát viên Tuy nhiên, để đi đến kết quả là điều tra làm rõ và xử lý kịp thời chính xác các thao tác nghiệp vụ của vụ án hình sự thì giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên phải có sự phối kết hợp chặt chẽ; các yêu cầu của Kiểm sát viên

Trang 36

phải được điều tra viên chấp hành triệt để Ngược lại, các yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên cũng phải có căn cứ chính xác và xét thấy cần thiết, không nên yêu cầu cả những việc vụn vặt không cần thiết, thiếu căn cứ dẫn đến Điều tra viên phản ứng không thực hiện

Các cơ quan tiến hành tố tụng phải duy trì họp liên ngành với các cơ quan tư pháp để tìm biện pháp thúc đẩy tiến độ giải quyết án hình sự; giải quyết những vướng mắc, những đề xuất kiến nghị của từng ngành; xác định những vụ án trọng điểm nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị chuyên đề về lĩnh vực điều tra và THQCT ở giai đoạn điều tra tội phạm để các Điều tra viên, Kiểm sát viên nắm chắc các thao tác nghiệp vụ, trau dồi kiến thức pháp lý, kỹ năng điều tra, THQCT và phát huy được khả năng, năng lực của mình VKS phối hợp với Tòa án đưa ra xét xử các phiên tòa mẫu theo tinh thần cải cách tư pháp để tất cả các Thẩm phán, Kiểm sát viên tham dự, sau khi bế mạc phiên tòa mọi người tham gia góp ý và rút kinh nghiệm chung

- Bảo đảm sự giám sát của các cơ quan, đại biểu dân cử, Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam với hoạt động ADPL của Cơ quan điều tra, VKS trong điều tra, thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ hình sự

Bảo đảm sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động ADPL trong việc giải quyết án hình sự của CQĐT, VKS trong điều tra, THQCT

ở giai đoạn điều tra nhằm đảm bảo tính công khai, rõ ràng, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan này, đồng thời phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân thông qua cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu dân cử Qua đó góp phần bảo đảm cho hoạt động ADPL của các cơ quan này được chính xác, đúng pháp luật, phát huy dân chủ, tránh bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Theo tinh thần Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về

một số trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới cần "Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác tư pháp" Thể chế hóa Nghị quyết 08 của Bộ chính trị, BLTTHS đã qui

định bảo đảm hoạt động giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thành một nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự tại Điều 33 BLTTHS năm 2015 Chủ thể có quyền giám sát theo qui định này là: Cơ quan Nhà nước, ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử; đối tượng giám sát là cơ quan tiến hành tố

Trang 37

- Yếu tố về công tác thanh tra, kiểm tra của ngành Công an, Kiểm sát nói chung và của VKSND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An nói riêng đối với hoạt động điều tra, thực hành quyền công tố các vụ án hình sự ở giai đoạn khởi tố

Ngoài hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tổ chức xã hội, cần phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, công tác thanh tra, kiểm tra của ngành Công an, Kiểm sát cấp trên đối với hoạt động của CQĐT, VKS cấp dưới Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tổ chức xã hội là những hình thức giám sát từ bên ngoài Về mặt lý luận, đây là những hình thức giám sát luôn đem lại hiệu quả rất lớn Song trên thực tế hiệu quả của những hình thức giám sát này chưa cao bởi vì chất lượng hoạt động giám sát của các cơ quan và đại biểu dân cử chưa đáp ứng được yêu cầu, do họ không có chuyên môn sâu lại phải giám sát nhiều lĩnh vực khác nhau Quốc hội và Hội đồng nhân dân chủ yếu thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của các cơ quan tư pháp, thông qua hoạt động chất vấn của Đại biểu Quốc hội, Đại biểu của Hội đồng nhân dân đối với người đứng đầu các cơ quan tư pháp Trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật của nhiều đại biểu dân cử chưa cao, còn nặng về cơ cấu thành phần thì hoạt động giám sát của các cơ quan này chưa thực sự bảo đảm, chủ yếu là nghe báo cáo và nhất trí, hoặc góp ý về câu từ không quan trọng, chưa hiểu được bản chất những tồn tại bất cập trong hoạt động của các cơ quan tư pháp, không chỉ ra được những gì mà

cơ quan tư pháp chưa làm được so với yêu cầu Mặt khác, do đời sống vật chất còn khó khăn, nên trình độ dân trí của nhân dân hiện nay nhìn chung còn thấp, ý thức trách nhiệm của công dân đối với xã hội chưa cao, hoạt động giám sát của các tổ

Trang 38

chức xã hội và nhân dân vẫn giường như không gây chú ý lớn đối với các cơ quan tư pháp Do đó, tăng cường hoạt động từ bên trong tức là tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, công tác kiểm tra của ngành Công an, Kiểm sát đối với hoạt động điều tra của CQĐT, THQCT của VKS là một yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho hoạt động ADPL trong khởi tố vụ án hình sự được đảm bảo đúng pháp luật

Kết luận chương 1

Toàn bộ chương 1, Luận văn tập trung phân tích một số vấn đề cơ bản về lý luận áp dụng pháp luật, trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm chung của ADPL Từ

lý luận chung, đi đến phân tích khái niệm ADPL về kiểm sát trong giai đoạn khởi tố

vụ án hình sự của Viện kiểm sát và các đặc điểm của nó Trong đó có trình bày về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo qui định của PL tố tụng hình sự, khái niệm, nội dung, phạm vi của QCT và THQCT, mối quan hệ giữa QCT và THQCT; vai trò của ADPL trong THQCT và KSHĐTP đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKSND Luận văn còn làm sáng tỏ nội dung: Quá trình THQCT, KSHĐTP đối với giai đoạn khởi tố phải tuân theo những qui trình như thế nào để đạt hiệu quả cao trong công tác và tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra Mặt khác cũng

đi sâu phân tích về các yếu tố bảo đảm việc ADPL trong kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKSND, trong đó nhấn mạnh là các bảo đảm về cơ chế pháp lý và đảm bảo về mặt tổ chức Đây là những yếu tố hết sức quan trọng nhằm nâng cao chất lượng ADPL về hoạt động kiểm sát đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKSND

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐỐI VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐỐI VỚI GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN TỪ NĂM 2013 ĐẾN NĂM 2018

2.1.1 Khái quát tình hình, đặc điểm kinh tế xã hội và một số nét về tổ chức bộ máy hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An là đơn vị hành chính được thành lập từ ngày 03/4/2013 đến nay Diện tích tự nhiên là 169,75 km2, dân số khoảng 105.105 người ( năm 2013) Phía Đông của thị xã là biển Đông, phía Tây và Nam tiếp giáp các huyện Quỳnh lưu, phía Bắc tiếp giáp huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa Thị xã có 5

xã, 5 phường, nhân dân trong xã chủ yếu làm nghề nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm và đánh bắt thủy hải sản Trong những năm gần đây tỷ trọng giữa cơ cấu kinh tế nông nghiệp và công nghiệp đang có sự dịch chuyển dần sang hướng công nghiệp và dịch vụ, một số khu công nghiệp và khu du lịch biển đã

và đang được hình thành, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi thay Tuy Thị xã vẫn là một đơn vị hành chính còn nhiều khó khắn nhưng nhân dân trong thị xã có truyền thống hiếu học, nền giáo dục của thị xã được Sở giáo dục tỉnh đánh giá là một trong những đơn

vị hành chính cấp huyện phát triển so với cả tỉnh Về xã hội, với lợi thế về các mỏ đá,

mỏ đất sét Thị xã Hoàng Mai có thế mạnh lớn về ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, hiện trên địa bàn có Nhà máy xi măng Hoàng Mai 1 công suất 1,2 triệu tấn/năm, mỏ đá ở đây con cung cấp cho nhà máy xi măng Nghi Sơn, Thanh Hóa Ngoài xi măng còn có các nhà máy sản xuất bột đá trắng, gạch Tuynen, nhà máy Tôn Hoa sen tại khu công nghiệp Đông Hồi Tuy nhiên, đất nông nghiệp của nhân dân, nhất là khu vực phường Quỳnh Thiện, Quỳnh Dị, xã Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho các khu công nghiệp và khu đô thị mới, dẫn đến thực trạng là một bộ phận nông dân không còn ruộng canh tác phải đi ra các

Trang 40

vệ mội trường sinh thái, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại công cuộc đổi mới xảy ra trên địa bàn Để làm được điều này không thể không kể đến vai trò của hệ thống các cơ quan tư pháp trong đó có VKSND

Ngày 15/7/2013, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ được thành lập và đi vào hoạt động Từ những ngày đầu mới thành lập, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã gặp không ít khó khăn cả về con người lẫn cơ sở vật chất, nhưng với lòng quyết tâm và tinh thần đoàn kết nhất trí cao của tập thể lãnh đạo, cán bộ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã nhanh chóng ổn định tổ chức, kịp thời hướng mọi hoạt động vào phục vụ nhiệm vụ đổi mới kinh tế XH của tỉnh nhà cũng như của thị xã Bám sát các Nghị quyết của Đảng, chỉ tiêu của ngành và tình hình thực tiễn của địa phương, Viện kiểm sát Thị xã Hoàng Mai xác định trọng tâm công tác trong giai đoạn này là: Đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng sự nghiệp đổi mới để vi phạm pháp luật, tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với việc thực hiện các dự án, công trình xây dựng, giao thông, y tế, đồng thời tập trung làm tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII và Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo

vệ pháp luật để phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm về ma túy, tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, tội phạm về kinh tế, về trật tự an toàn xã hội Hội nghị

lần thứ tư Ban Chấp hành Trung uơng khoá IX chỉ rõ: “Cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2006), Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2010), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2010)
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp
Năm: 2006
5. Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự", Tạp chí Kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
6. Nguyễn Đăng Dung (2008), “Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện của nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện của nhà nước pháp quyền”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2008
7. Nguyễn Tấn Dũng (2003), "Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm sát 2002 và triển khai công tác 2003 của ngành kiểm sát nhân dân", Tạp chí Kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm sát 2002 và triển khai công tác 2003 của ngành kiểm sát nhân dân
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2003
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2007), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
13. Trần Thị Đông (2007), Chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Hà Nam
Tác giả: Trần Thị Đông
Năm: 2007
14. Đỗ Văn Đương (1999), Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 1999
15. Đỗ Văn Đương (2006), "Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 2006
16. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền công tố ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2002
17. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 32, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
18. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
19. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
20. C.Mác- Ph.Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác- Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. Hồ Chí Minh (1974), Bàn về cán bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cán bộ
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1974
22. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
23. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
24. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w