Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số vụ án chất lượng giải quyết chưa cao, nhất là các vụ án dân sự do TAND cấp huyện giải quyết, xét xử như: Có không ít vụ án tồn đọng, bị ké
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LUẬT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
13
1.1 Một số khái niệm liên quan đến áp dụng pháp luật của Tòa án nhân
dân cấp huyện
13
1.2 Các giai đoạn áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện trong
việc giải quyết các vụ án dân sự
27
1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân
dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự
42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC
VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH ĐỒNG NAI
49
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Nai – những yếu tố
tác động đến việc áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện trong
việc giải quyết các vụ án dân sự
2.4 Đánh giá chung về áp dụng pháp luật của TAND cấp huyện trong việc
giải quyết các vụ án dân sự ở tỉnh Đồng Nai
67
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
79
Trang 4TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH ĐỒNG
NAI
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc bảo đảm hiệu quả áp dụng
pháp luật của TAND cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự
79
3.2 Một số giải pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng pháp luật của TAND cấp
huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở tỉnh Đồng Nai
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Võ Thị Thanh Phƣợng
Trang 6BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHCN Xã hội chủ nghĩa ADPL Áp dụng pháp luật
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
BLDS Bộ luật dân sự BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự HN&GĐ Hôn nhân và gia đình NCQLNVLQ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Số liệu giải quyết, xét xử các loại vụ án của toàn ngành
TAND tỉnh Đồng Nai từ năm 2013 đến năm 2017
Bảng 2.2: Số liệu giải quyết, xét xử các loại vụ án của TAND cấp
huyện ở tỉnh Đồng Nai từ năm 2013 đến năm 2017
Bảng 2.3: Phân tích số liệu giải quyết, xét xử các vụ án dân sự của
TAND cấp huyện ở tỉnh Đồng Nai từ năm 2013 đến 2017
Bảng 2.4: Kết quả giải quyết, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm của
TAND tỉnh đối với các bản án, quyết định của TAND cấp huyện có kháng cáo, kháng nghị từ năm 2013 đến 2017
54
54
60
61
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự ra đời của Nhà nước, pháp luật của Nhà nước ta là pháp luật
xã hội chủ nghĩa, là phương tiện để thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn
xã hội; là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội, nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, pháp luật chỉ có thể phát huy vai trò và những giá trị của mình khi nó được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống
Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là các hình thức thực hiện pháp luật Trong đó, áp dụng pháp luật (ADPL) là một hình thức quan trọng của thực hiện pháp luật chỉ do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước thực hiện Hoạt động xét xử của Toà án thực chất là hoạt động ADPL, thể hiện quyền lực nhà nước thông qua một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể Do đó, chất lượng ADPL là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng hoạt động xét xử của Toà án
Theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014, hiện nay hệ thống toà án ở nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ bao gồm: Toà án nhân dân (TAND) tối cao; các TAND cấp cao; các TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các TAND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương và các toà án quân sự Trong đó chỉ có TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh là có thẩm quyền giải quyết, xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của toà án (trừ một số vụ việc phức tạp hoặc có nhân tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh)
Trang 9Là một Thẩm phán của TAND cấp huyện trực tiếp giải quyết, xét xử sơ thẩm các loại vụ án và qua theo dõi, nắm bắt công tác tổng kết kinh nghiệm xét
xử của ngành, tác giả nhận thấy: Trong những năm gần đây, các vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động do toàn ngành Toà án trong cả nước nói chung và ngành TAND tỉnh Đồng Nai nói riêng giải quyết, xét xử có chiều hướng gia tăng với tính chất, mức độ ngày càng phức tạp, đa dạng và nghiêm trọng Tuy vậy, các đơn vị TAND trong toàn ngành nói chung và ở tỉnh Đồng Nai nói riêng đã có nhiều cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Hầu hết các vụ án đều được giải quyết, xét xử đúng pháp luật, công bằng, khách quan, dân chủ đã góp phần tích cực bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN); tăng cường pháp chế XHCN; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; tạo điều kiện vững chắc cho ổn định trật tự
và sự phát triển chung của toàn xã hội
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số vụ án chất lượng giải quyết chưa cao, nhất là các vụ án dân sự do TAND cấp huyện giải quyết, xét xử như: Có không ít vụ án tồn đọng, bị kéo dài thời hạn giải quyết, hoặc đã giải quyết nhưng không thi hành án được; có không ít vụ án bị sửa, huỷ theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm do có sai lầm nghiêm trọng trong ADPL, trong
đó có một số vụ bị hủy nhiều lần, qua nhiều cấp xét xử, kéo dài trong nhiều năm
do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và niềm tin của nhân dân vào pháp luật, vào công lý Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ “Cải cách
tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác, án tồn đọng, án bị huỷ, bị cải sửa còn nhiều” [13, tr.172]
Trang 10Trước yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và XII; tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” với
yêu cầu “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức,
bộ máy các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [3] Bên cạnh đó, trong lộ trình cải cách tư pháp,
ngày 24/11/2014 Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13; ngày 25/11/2015, Quốc hội khoá XIII đã ban hành Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây viết tắt là BLTTDS) có rất nhiều vấn đề mới cần phải được nghiên cứu, triển khai trong thực tiễn Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự này thì hầu hết các vụ việc dân sự đều do TAND cấp huyện giải quyết, trừ những vụ việc có liên quan đến nhân tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh Do vậy, nhiệm vụ của TAND cấp huyện ngày càng thêm nặng nề hơn
Từ thực trạng, nguyên nhân và những yêu cầu nêu trên, cùng với những kinh nghiệm thực tiễn tích luỹ được trong thời gian làm Thẩm phán TAND cấp
huyện Tác giả chọn đề tài “Áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân cấp
huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở tỉnh Đồng Nai” làm luận văn
thạc sĩ luật học với hy vọng góp phần đáp ứng được tính cấp thiết và có giá trị
về lý luận cũng như thực tiễn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 11Nghiên cứu áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giải quyết vụ án dân sự là vấn
đề hết sức phức tạp nên trong thực tiễn những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này không nhiều và thiếu tính toàn diện Trong khoảng thời gian sau khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành, có một số công trình đã nghiên cứu có liên quan như: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Hoàng Văn Hạnh năm 2006
về “Áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN&GĐ của Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Giang
năm 2009 về “Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự của
Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”; Luận văn thạc sĩ luật học
của tác giả Lê Anh Vũ năm 2010 về “Áp dụng pháp luật trong giải quyết các
tranh chấp kinh tế của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc”
Một số cuốn sách chuyên khảo có liên quan như: “Pháp luật tố tụng dân sự
và thực tiễn xét xử”, cuốn sách chuyên khảo của tác giả Tưởng Duy Lượng, Nxb
Chính trị quốc gia năm 2009; “Giao dịch về quyền sử dụng đất vô hiệu - Pháp
luật & thực tiễn xét xử”, cuốn sách chuyên khảo của TS Thẩm phán Nguyễn
Văn Cường và TS Nguyễn Minh Hằng, Nxb thông tin và truyền thông năm 2011 và nhiều công trình nghiên cứu có liên quan khác
Các công trình nói trên đã nghiên cứu, đề cập đến vấn đề ADPL nói chung
và ADPL tố tụng dân sự trong một số lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống đến ADPL của TAND cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự ở tỉnh Đồng Nai Dù vậy, những tài liệu đã được công bố nêu trên là nguồn tài liệu có giá trị cho tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trang 12giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết vụ án dân sự ở tỉnh Đồng Nai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm, phân tích các đặc điểm, vai trò, các giai đoạn và các tiêu chí đánh giá việc ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự;
- Phân tích, đánh giá kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập của việc ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó;
- Đề xuất và luận chứng những quan điểm, các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân
sự ở tỉnh Đồng Nai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống những quy định về ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự ở tỉnh Đồng Nai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu toàn diện về ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết
vụ án dân sự là rất rộng Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất về lý luận ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự và áp dụng cơ sở lý luận đó vào thực tiễn giải quyết vụ án dân sự của các đơn vị TAND cấp huyện ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, pháp chế xã hội chủ
Trang 13nghĩa và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật, về công tác xét xử nói chung và giải quyết, xét xử các vụ án dân sự nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện luận văn, tác giả tuân thủ việc vận dụng cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và những nguyên tắc của phép biện chứng lôgic như: tính khách quan, tính toàn diện, tính lịch sử cụ thể
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một số phương pháp cụ thể để nghiên cứu thực hiện luận văn như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp trừu tượng khoa học; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống Ngoài ra, tác giả còn lựa chọn,
sử dụng một số vụ án đã được TAND cấp huyện ở tỉnh Đồng Nai giải quyết để minh hoạ và tham khảo số liệu thống kê của ngành để phản ánh đúng thực trạng cũng như việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn
6 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn
- Trên cơ sở các khái niệm khoa học, quy định của pháp luật hiện hành, các Nghị quyết của Đảng và yêu cầu chung của xã hội Tác giả đã tổng hợp và phân tích các tiêu chí đánh giá chất lượng ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự; đồng thời tìm ra nguyên nhân những hạn chế, bất cập về ADPL của TAND cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Thông qua luận văn, tác giả phân tích một số quy định mới của BLTTDS năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động giải quyết vụ án của TAND cấp huyện; mặt khác nêu rõ những quy định của pháp luật dân sự nước ta còn có những ý hiểu khác nhau, cần có hướng dẫn của cấp có thẩm quyền để áp dụng thống nhất và đề xuất hướng bổ sung, sửa đổi những quy định còn thiếu hoặc không phù hợp với thực tiễn trong việc giải quyết vụ án dân sự tại TAND cấp huyện
7 Kết cấu của luận văn
Trang 14Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết và các tiểu mục nhỏ
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ
ÁN DÂN SỰ 1.1 Một số khái niệm liên quan đến áp dụng pháp luật của toà án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, pháp luật XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước XHCN ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện [30,tr.336]
Pháp luật XHCN có hình thức thể hiện là những quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành với các loại văn bản có tên gọi và hiệu lực pháp
lý khác nhau Các quy phạm pháp luật sau khi được ban hành đòi hỏi phải được tôn trọng, tuân thủ và thi hành trong đời sống xã hội Cho nên, thực hiện pháp luật không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm đạo đức của tất cả các
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và mọi công dân Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Các quy phạm pháp luật rất phong phú cho nên cách thức thực hiện chúng cũng rất phong phú và khác nhau, cách thức thực hiện pháp luật của mỗi loại chủ thể pháp luật khác nhau thì cũng khác nhau Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thực hiện pháp luật thành những hình thức cụ thể, đó là: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật [30,tr.468] Trong đó:
- Tuân thủ pháp luật (hay tuân theo pháp luật) là hình thức các chủ thể
pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm
Trang 16- Thi hành pháp luật (hay chấp hành pháp luật)là hình thức các chủ thể
quan hệ pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực
- Sử dụng pháp luật là hình thức trong đó các chủ thể pháp luật sử dụng
quyền chủ thể của mình (thực hiện các hành vi mà pháp luật cho phép) Do vậy, chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyền, tự do đó theo ý chí của mình chứ không bắt buộc phải thực hiện
Chủ thể thực hiện hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức,
cá nhân và mọi công dân trong xã hội
- Áp dụng pháp luật (ADPL) là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà
nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Trường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước Như vậy, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện, kết quả thực hiện chính là mong muốn, là ý chí của chủ thể thực hiện thì ADPL là hình thức luôn có sự tham gia của Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền và kết quả của hình thức ADPL là hoàn toàn theo ý chí của Nhà nước
Pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất khi tất cả những quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để Nhưng nếu chỉ thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và
sử dụng pháp luật thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện
Lý do có thể là các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do đó, hoạt động ADPL cần phải được tiến hành trong các trường hợp sau:
Trang 17Thứ nhất là, khi cần các biện pháp cưỡng chế Nhà nước, hoặc áp dụng các
chế tài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
Thứ hai là, khi các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước
Thứ ba là, khi xảy ra tranh chấp về quyền của chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được Trong trường hợp này, quan hệ pháp luật đã phát sinh nhưng quyền và nghĩa vụ của các bên không được thực hiện và có sự tranh chấp
Thứ tư là, trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế
ADPL là một trong những hình thức quan trọng của thực hiện pháp luật
Đó chính là hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể pháp luật thực hiện được quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật Thông qua đó, hoạt động ADPL bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng, thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các quyền của chủ thể được thực hiện và được bảo
vệ trên thực tế; các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm được xử lý nghiêm minh, kịp thời để bảo vệ các quan hệ xã hội XHCN đã và đang được thiết lập
Có thể nói, hoạt động ADPL gắn liền với quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp nên nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực thi quyền lực nhà nước Trong lĩnh vực hành pháp, việc ADPL thường do cơ quan được giao quyền hoặc người có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục hành chính như: cấp giấy phép đăng ký kinh doanh; ban hành quyết định giao đất hoặc thu hồi đất; cấp giấy đăng ký kết hôn; ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Trong hoạt động tư pháp, ADPL thường được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tiến hành theo một thủ tục nhất định để
Trang 18thu thập chứng cứ, xác minh, điều tra làm rõ các tình tiết của vụ án nhằm xác định sự thật khách quan của sự việc; truy cứu trách nhiệm pháp lý; xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật
Như vậy, áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó
Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [17,tr.500]
1.1.2 Khái niệm vụ án dân sự
Nhu cầu sinh tồn và phát triển đã buộc con người trong cuộc sống phải tham gia vào rất nhiều các mối quan hệ xã hội khác nhau để đáp ứng những nhu cầu vật chất, văn hoá, tinh thần của mỗi người, nhóm người, cộng đồng và xã hội Trong các mối quan hệ xã hội thì quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động luôn diễn ra sôi động, đa dạng, phong phú, ở mọi nơi, mọi lúc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gắn liền với bất cứ chủ thể nào Các chủ thể tham gia quan hệ dân sự bao giờ cũng hướng tới những mục tiêu, lợi ích nhất định về mặt vật chất hoặc tinh thần Các hoạt động xã hội ngày càng mở rộng cùng với sự đan xen về mặt lợi ích cũng như tính muôn màu muôn vẻ của các quan hệ dân sự làm phát sinh các tranh chấp dân sự là điều không thể tránh khỏi Khi xảy ra tranh chấp dân sự, các chủ thể có thể chọn lựa việc đàm phán, tự thỏa thuận với nhau để tìm ra phương án giải quyết hợp lý giải quyết tranh chấp Trường hợp các chủ thể không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì tranh chấp đó được giải quyết thông qua Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hoạt động của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự được gọi là
vụ án dân sự
Trang 19Thuật ngữ “vụ án dân sự” là một thuật ngữ pháp lý chuyên ngành, được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành nhưng chưa có khái niệm khoa học thống nhất Hiện nay, trong các cuốn từ điển của Việt Nam đang lưu hành cũng không đề cập đến thuật ngữ “vụ án dân sự”, mà chỉ đưa ra khái niệm
“vụ án” như: “Vụ án là vụ phạm pháp hoặc tranh chấp cần được đưa ra xét xử
trước Toà án” (Từ điển tiếng Việt) [42,tr.5]; hoặc “Vụ án - Một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra toà án hoặc cơ quan trọng tài thương mại giải quyết ”
(Từ điển luật học) [4,tr.860] Duy nhất chỉ có cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học do Trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn có đưa ra giải thích về thuật
ngữ “vụ án dân sự” như sau: “Vụ án dân sự là việc phát sinh tại Toà án, thuộc
thẩm quyền xét xử về dân sự của Toà án, do cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức xã hội khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, của tập thể hay của người khác Các vụ án dân sự có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các đương sự gọi là việc kiện dân sự Các vụ án dân sự không có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các đương sự, trong đó người khởi kiện chỉ yêu cầu Toà
án xác định sự kiện pháp lý thông qua đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ giữa các đương sự được gọi là việc dân sự Các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Một số vụ án dân sự có thể phát sinh từ quan hệ pháp luật hành chính hoặc quan hệ pháp luật khác” [31]
Trong lịch sử Nhà nước và pháp luật ở nước ta, mặc dù vấn đề bảo vệ quyền, lợi ích cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự đã được quan tâm
từ rất sớm nhưng do hoàn cảnh lịch sử nên pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự chậm được hoàn thiện, nhất là trong một giai đoạn dài sau khi đất nước mới giành độc lập, pháp luật dân sự nước ta còn bị ảnh hưởng của pháp luật chính quyền cũ, tản mạn, thiếu đồng bộ, hiệu lực thấp Cho đến khi đất nước bước vào
Trang 20thời kỳ đổi mới, năm 1989 Nhà nước ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự thì thuật ngữ “vụ án dân sự” mới chính thức được sử dụng một cách tương đối thống nhất ở nước ta trong một văn bản pháp luật có hiệu lực cao Tuy vậy, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng không đưa ra khái niệm “vụ án dân sự”; đồng thời, nội dung của Pháp lệnh cũng chỉ quy định Toà án có thẩm quyền giải quyết một số loại tranh chấp, yêu cầu về dân sự, HN&GĐ và gọi chung đó là “vụ án dân sự” Cho nên, những tranh chấp và yêu cầu về kinh doanh, thương mại và lao động sau này tiếp tục được điều chỉnh bằng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996
Theo Điều 1 của BLTTDS năm 2015 quy định phạm vi điều chỉnh và
nhiệm vụ của BLTTDS thì: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc
cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự);….” [25, tr.7]
Như vậy, mặc dù BLTTDS cũng không chính thức đưa ra khái niệm “vụ án dân sự” nhưng đã phân biệt một cách khá đầy đủ về “vụ án dân sự” và “việc dân sự” Theo đó, “vụ án dân sự” phải là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự, còn những yêu cầu của đương sự chỉ nhằm xác nhận một
sự kiện pháp lý mà không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ thì là “việc dân sự” Đồng thời, BLTTDS cũng đã quy định khá đầy đủ “vụ án dân sự” bao gồm những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng, tức là
nó không chỉ bao gồm những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, HN&GĐ mà còn bao gồm cả những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật kinh doanh thương mại và lao động
Trang 21Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm vụ án dân sự như sau: Vụ án dân
sự là việc đương sự khởi kiện để Toà án giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự
1.1.3.1 Khái niệm áp dụng pháp luật Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự
Áp dụng pháp luật trong giải quyết các loại vụ án của Toà án là một nội dung cụ thể, đặc biệt và quan trọng của hình thức ADPL nói chung Điều 102 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”[15] Như vậy, ở nước ta TAND là cơ quan duy
nhất được giao quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính Hoạt động xét xử của TAND chính là hoạt động ADPL trong lĩnh vực giải quyết các loại
vụ án hình sự, dân sự, hành chính khi TAND tiến hành thụ lý theo quy định của pháp luật Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những chức danh quan trọng nhất hợp thành Hội đồng xét xử của Toà án, có quyền nhân danh nước Cộng hoà XHCN Việt Nam để ra những phán quyết thực hiện công lý XHCN theo những nguyên tắc và trình tự nhất định Theo quy định tại Điều 44 Luật Tổ chức Toà
án nhân dân năm 2014 thì:
“Điều 44 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương
1 Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.… ”[28]
Do đó, TAND cấp huyện chỉ thụ lý và giải quyết sơ thẩm các loại vụ án, trong đó có vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng theo nguyên tắc hai cấp xét xử (cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm) Do
đó, việc ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự cần được tiếp cận dưới các góc độ sau đây:
Trang 22- Với tính chất là một giai đoạn tố tụng, ADPL trong giải quyết các vụ án
dân sự của TAND cấp huyện bắt đầu từ khi Toà án thụ lý sơ thẩm vụ án và kết thúc bằng bản án hay quyết định sơ thẩm của Toà án Việc thụ lý vụ án dân sự
do Toà án có thẩm quyền thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện thụ lý (khác với việc thụ lý vụ án hình sự là hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang) Thời điểm kết thúc giai đoạn sơ thẩm vụ án dân sự thông thường được xác định từ thời điểm Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên xong bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án, quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên tòa Tuy nhiên, thời điểm kết thúc giai đoạn sơ thẩm vụ án dân sự cũng có thể sớm hơn khi trong thời gian chuẩn bị xét xử hoặc quá trình hoà giải, nguyên đơn rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận; các đương sự đã thoả thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Khi đó, Toà án ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự
- Với tính chất là các hoạt động tố tụng, ADPL của TAND cấp huyện trong
giải quyết các vụ án dân sự được thực hiện trong các hoạt động tố tụng như: nhận đơn khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, hoà giải và chuẩn bị xét xử vụ án dân
sự và các hoạt động tố tụng tại phiên toà sơ thẩm
- Với tính chất là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự, ADPL của
TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự bao gồm hoạt động ADPL
để xác định nhiều vấn đề như: thẩm quyền giải quyết của Toà án; các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; đương sự tham gia tố tụng; năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật tố tụng dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân
sự của đương sự; các chủ thể khác khi tham gia tố tụng
Từ những phân tích trên, có thể rút ra: Áp dụng pháp luật của Tòa án nhân
dân cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự là hoạt động mang tính quyền lực của Nhà nước, được thực hiện bởi Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà và Hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự quy định, nhằm áp dụng các quy định của pháp luật
Trang 23dân sự vào trong quá trình giải quyết vụ án dân sự để ra các phán quyết xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ cho các đương sự trong vụ án
1.1.3.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự
Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự là một hình thức cụ thể của ADPL nói chung nên trong khi thực hiện, người ADPL phải tuân theo những nguyên tắc chung và quy trình chung Bên cạnh đó, hoạt động ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự có những đặc điểm riêng biệt Có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước, do Tòa án nhân dân cấp huyện tiến hành, được thực hiện thông qua Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được phân công giải quyết vụ án
Theo quy định của Hiến pháp, ở nước ta TAND là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết, xét xử các loại vụ án; chỉ có Toà án mới có quyền ADPL
để ban hành các bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp, xác định rõ quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự
Do các bản án, quyết định được ban hành có liên quan trực tiếp đến danh
dự, tài sản của công dân; đến quyền, nghĩa vụ của các đương sự nói riêng; đến
uy tín và lợi ích của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nói chung; đồng thời, còn có ý nghĩa thể hiện và minh chứng tính ưu việt của chế độ chính trị, về bản chất của Nhà nước XHCN và vì lợi ích chung của quốc gia, lợi ích chung của dân tộc nên bản án không nhân danh người tiến hành tố tụng, cơ quan tố tụng; không nhân danh HĐXX mà nhân danh Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam
để phân xử và phán quyết Tính quyền lực của Nhà nước còn được thể hiện ở chỗ bản án, quyết định do Toà án ban hành có hiệu lực pháp luật phải được các
tổ chức, cá nhân tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành, trong trường hợp cần thiết
sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Trang 24Chủ thể trực tiếp ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự của TAND cấp huyện là Thẩm phán và HTND Trước khi đưa vụ án dân sự ra xét xử, vụ án do
Thẩm phán tiến hành và tại phiên toà là HĐXX: “ Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử
sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”(Điều 63
BLTTDS năm 2015) [25.tr.58] Đối với sự tham gia của VKSND, theo quy định của BLTTDS thì mặc dù tại phiên toà, Kiểm sát viên có quyền đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án nhưng hoạt động của VKSND cũng chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp chứ không được trực tiếp tham gia việc ADPL hoặc ra các phán quyết để giải quyết vụ án
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự là hoạt động điều chỉnh
có tính cá biệt, cụ thể hoá những quy phạm pháp luật dân sự vào một vụ án cụ thể, đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự
Xuất phát từ đặc điểm đặc thù của vụ án dân sự là Nhà nước tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Khi có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể, mặc dù Toà án có thể hoàn toàn biết và nắm bắt đầy
đủ nội dung tranh chấp thì Toà án cũng không thể tự mình ban hành văn bản để điều chỉnh mối quan hệ đó Toà án chỉ thụ lý và giải quyết vụ án khi đương sự
có đơn khởi kiện, có đầy đủ các điều kiện khởi kiện và có các chứng cứ, tài liệu
để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Cũng xuất phát từ đặc điểm trên, trong toàn bộ hoạt động giải quyết vụ án của Toà án từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên toà, song song với việc thu thập chứng cứ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án thì Toà án luôn áp dụng các biện pháp như hoà giải, tạo điều kiện để các đương sự nắm bắt đầy đủ các yêu cầu, các chứng cứ đã cung cấp của nhau… để các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Toà án chỉ chính thức nhân danh Nhà nước ban hành bản án trên cơ sở thực hiện đầy đủ
Trang 25các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng, trong đó áp dụng các quy phạm pháp luật cụ thể để giải quyết vụ án đó khi các đương sự không thể tự mình thoả thuận được với nhau Như vậy, hoạt động của Tòa án trong việc giải quyết, xét xử vụ án dân sự là một dạng của điều chỉnh xã hội có tổ chức, có mục đích Đó là một quá trình thực hiện sự tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội thông qua một hệ thống quy trình pháp lý của Nhà nước, nhằm thực hiện những nhiệm vụ và mục đích của Nhà nước đặt ra Bản án của Toà án là văn bản ADPL mang tính quyền lực Nhà nước cá biệt hoá các quyền, nghĩa vụ cho các đương sự cụ thể trong vụ án Các quyền và nghĩa vụ mà bản án ghi nhận, có giá trị bắt buộc để các đương sự thực hiện không thể khác biệt về nội dung so với những quy định trong các quy phạm pháp luật
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện phải tuân theo những quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTDS quy định
Điều 3 của BLTTDS năm 2015 quy định “Mọi hoạt động tố tụng dân sự
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này”[25.tr.9] Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng bảo đảm pháp
chế XHCN trong tố tụng dân sự Để giải quyết một vụ án dân sự cụ thể, TAND cấp huyện phải tuân theo những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTDS Đây là điều kiện bắt buộc bảo đảm cho các bước tiến hành tố tụng được chính xác, khách quan làm tiền đề cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung để ra phán quyết cuối cùng là bản án, quyết định đúng pháp luật
Thông thường, khi giải quyết một vụ án dân sự, TAND cấp huyện phải thực hiện các thủ tục theo trình tự: Nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự, hoà giải và chuẩn bị xét xử, mở phiên toà xét xử vụ án dân sự và kết quả cuối cùng
là ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm Trong mỗi thủ tục nêu trên, Toà án phải
Trang 26thực hiện rất nhiều công việc, nhưng các thủ tục đó nhất thiết phải tuân theo một trình tự được quy định trong BLTTDS Trường hợp thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các thủ tục quy định tại BLTTDS thì có thể sẽ bị coi như là vi phạm thủ tục tố tụng, khi đó bản án, quyết định đã ban hành có thể phải được xem xét lại theo thủ tục tố tụng khác như phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện được tiến hành chủ yếu tại phiên toà
Trong giai đoạn từ khi nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, hoạt động ADPL của TAND chủ yếu là để xác định chính xác, đầy đủ mối quan
hệ pháp luật tranh chấp và thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để làm cơ sở, căn cứ cho việc giải quyết vụ án chứ chưa chính thức ban hành các phán quyết Phiên toà dân sự sơ thẩm được tổ chức công khai, là nơi biểu hiện tập trung cao nhất hoạt động ADPL của TAND để giải quyết một vụ án dân sự Tại phiên toà, HĐXX áp dụng các quy định của BLTTDS để điều hành các thủ tục tại phiên toà; trên cơ sở toàn bộ các chứng
cứ, tài liệu đã được kiểm tra tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên toà, tiến hành lựa chọn các quy định của pháp luật phù hợp với nội dung của vụ án để áp dụng, ban hành các phán quyết giải quyết toàn bộ các tranh chấp, xác định quyền, nghĩa vụ cụ thể cho các đương sự trong vụ án
Áp dụng pháp luật tại phiên toà hoàn toàn khác với việc ADPL của các cơ quan hành chính khác Bởi tại phiên toà, mọi hoạt động ADPL của Toà án mà trực tiếp là Thẩm phán chủ toạ phiên toà và HTND trong HĐXX đều được sự theo dõi, nhận xét, giám sát của công luận và đông đảo quần chúng nhân dân
Có thể nói rằng, để giải quyết xong một vụ án, có nghĩa là để ban hành được một bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự, người Thẩm phán và HTND phải tuân theo những thủ tục nghiêm ngặt, đồng thời phải luôn lao động một cách sáng tạo, dự liệu và xử lý các tình huống trong một điều kiện đặc biệt riêng
Trang 27có của phiên toà Chính vì vậy, để hoàn thành tốt công tác xét xử đòi hỏi người Thẩm phán và HTND phải có tinh thần tích cực, nghiêm túc trong lao động, bản lĩnh vững vàng, tinh thông nghề nghiệp, sự hiểu biết xã hội sâu sắc và đặc biệt là phải có đạo đức nghề nghiệp; đồng thời phải tích cực học tập, tu dưỡng, trau dồi nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
1.1.3.3 Vai trò của áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự
Pháp luật của Nhà nước ta là pháp luật XHCN, là phương tiện để thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện để Nhà nước quản
lý mọi mặt đời sống xã hội; là phương tiện để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình [30] ADPL nói chung và ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự của TAND cấp huyện nói riêng chính là quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống Vì vậy, ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự có vai trò đặc biệt quan trọng, được thể hiện rõ nét ở một số lĩnh vực sau:
Thứ nhất, vai trò của ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự được thể
hiện trong việc góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh trong trong các tổ chức, trong gia đình, trong cộng đồng dân cư mà họ không thể tự giải quyết được nên họ phải khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết Việc Toà án giải quyết nhanh, chính xác, bảo vệ được quyền, lợi ích cho
họ sẽ có tác dụng thiết thực làm giảm dẫn đến xoá đi những mâu thuẫn giữa các đương sự; uy tín của Toà án, của Nhà nước được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; xã hội ngày càng dân chủ, văn minh Ngược lại, nếu như Toà án giải quyết không kịp thời hoặc ADPL không chính xác sẽ dẫn đến mâu thuẫn giữa các đương sự kéo dài, ngày thêm trầm trọng gây bức xúc cho những người có liên quan trong vụ án Chính từ sự bức xúc đó có
Trang 28thể dẫn đến việc các đương sự không kiềm chế được, có những hành động bộc phát như khiếu nại lên các cơ quan cấp trên, các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước; xô xát, gây gỗ, đâm chém nhau gây mất trật tự an ninh khu vực, thậm chí dẫn đến hành vi phạm tội
Thứ hai, áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự góp phần xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật dân
sự nói riêng Thông qua thực tiễn giải quyết vụ án dân sự, các quy phạm pháp luật hiện hành được kiểm nghiệm về tính đúng đắn, phù hợp hay chưa phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, tính đồng bộ, tính toàn diện hay còn phiến diện, chưa đầy đủ hoặc phát hiện ra những quy phạm còn chung chung, khái quát nên cách hiểu để áp dụng khác nhau dễ tạo ra sự tuỳ tiện trong áp dụng pháp luật Cũng qua hoạt động ADPL, Toà án còn phát hiện ra những quy phạm pháp luật đã quá lỗi thời, không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại cần loại bỏ, hoặc phát hiện ra những tình huống mới trong quan hệ xã hội cần phải có pháp luật để điều chỉnh… Như vậy, ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự có vai trò tích cực trong việc phát hiện, đề nghị loại bỏ những quy phạm pháp luật trùng lặp, mâu thuẫn, lạc hậu hoặc sửa đổi, bổ sung những quy phạm pháp luật mới để phù hợp
và đáp ứng với thực tiễn cuộc sống
Thứ ba, áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự góp phần
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân Thông qua việc xét
xử công khai, HĐXX trực tiếp giải thích pháp luật không chỉ cho các đương sự
mà còn cả những người dân đến theo dõi phiên toà hiểu rõ các quy định của pháp luật đối với vụ án đang giải quyết, cũng như đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Bằng sự việc cụ thể, con người cụ thể nên việc giải thích pháp luật của Toà án tại phiên toà rất sinh động, tác động trực tiếp vào tâm trí, nhận thức của những người tham dự, từ đó giúp họ tránh xa những hành động xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác hoặc tự giải quyết đối với những sự việc tương tự, sống và làm việc theo pháp luật
Trang 29Tóm lại, áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án
nhân dân có vai trò rất quan trọng trong xã hội, nó không chỉ trực tiếp giải quyết những tranh chấp trong nội bộ quần chúng nhân dân mà còn bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước, thể hiện bản chất, ý chí của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam được cụ thể hoá vào pháp luật; bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh, thống nhất; thiết thực xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, nghiêm minh; góp phần xây dựng và bảo vệ nền pháp chế XHCN
và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
1.2 Các giai đoạn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án dân sự
Về phương diện lý luận, ADPL gồm có các giai đoạn: (1) Phân tích, đánh giá đúng, chính xác các tình tiết hoàn cảnh, điều kiện thực tế của sự việc xảy ra; (2) Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng; (3) Ban hành văn bản ADPL; (4) Tổ chức thực hiện văn bản ADPL
Tuy nhiên, cùng với đặc thù của việc giải quyết vụ án dân sự, các giai đoạn ADPL của TAND cấp huyện trong giải quyết các vụ án dân sự cần được thực hiện thông qua các thủ tục theo trình tự như sau:
1.2.1 Áp dụng pháp luật trong thụ lý vụ án dân sự
Hoạt động thụ lý vụ án dân sự bắt đầu bằng việc Toà án nhận đơn khởi kiện Theo quy định tại Điều 191 BLTTDS thì trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định: Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án; Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền; Trả lại đơn khởi kiện Như vậy, ngay sau khi vào sổ nhận đơn và cấp giấy báo nhận khởi kiện, Toà án phải tiến hành
Trang 30kiểm tra toàn bộ điều kiện khởi kiện bao gồm hình thức, nội dung của đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo Trường hợp đơn khởi kiện chưa bảo đảm đúng hình thức và nội dung thì Toà án thông báo để yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; nếu tài liệu, chứng cứ còn chưa đầy đủ thì Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung trong một thời hạn nhất định theo quy định của BLTTDS
Sau khi kiểm tra toàn bộ hình thức, nội dung của đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo Toà án phải xác định được các vấn đề sau:
Thứ nhất, xác định người khởi kiện có quyền khởi kiện không và năng lực
hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện
Thứ hai, xác định người khởi kiện có đủ các điều kiện khởi kiện theo quy
định của pháp luật hay chưa
Thứ ba, sự việc mà người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết phải chưa
được Tòa án nào giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, cũng như chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực pháp luật [25.tr.152]
Thứ tư, vụ án có thuộc thẩm quyền của Toà án không Thẩm quyền giải
quyết của Toà án cần được xem xét dưới góc độ thẩm quyền chung (loại việc), thẩm quyền theo cấp Toà án và thẩm quyền theo lãnh thổ Khi xác định thẩm quyền chung, Toà án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định rõ tranh chấp mà người khởi kiện yêu cầu giải quyết là tranh chấp về dân sự, tranh chấp về HN&GĐ, tranh chấp về kinh doanh thương mại hay tranh chấp về lao động Tương ứng với loại tranh chấp đó là loại việc cụ thể nào người khởi kiện yêu cầu giải quyết
Thứ năm, vụ án không bị hạn chế khởi kiện
Điều cần chú ý khi xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo là Toà án phải kiểm tra kỹ thủ tục tiền tố tụng đối với những vụ án bắt buộc phải có thủ tục này Ví dụ như vụ án có liên quan đến tranh chấp về quyền sử
Trang 31dụng đất thì nhất thiết phải có thủ tục hoà giải tại cơ sở; hoặc một số loại việc trong tranh chấp về lao động phải có thủ tục hoà giải ở cơ sở Trường hợp chưa
có thủ tục này hoặc tuy đã có nhưng không hợp pháp thì Toà án không thụ lý vụ
án Toà án chỉ chấp nhận khi thủ tục tiền tố tụng đã được thực hiện và bảo đảm đúng pháp luật
Hết thời hạn xem xét đơn khởi kiện nêu trên hoặc thời hạn được gia hạn để sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nếu yêu cầu khởi kiện không đủ điều kiện khởi kiện thì Toà án quyết định không thụ lý và ra thông báo trả lại đơn khởi kiện; nếu yêu cầu khởi kiện thuộc thẩm quyền của Toà án khác thì Toà án chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện biết Trường hợp đủ điều kiện để thụ lý vụ án thì Toà án thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí (trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí), mức tiền tạm ứng án phí theo quy định của Luật phí và lệ phí số 97/2015 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nếu đương sự không nộp khoản tiền này thì Toà án không thụ lý vụ án Toà án chỉ tiến hành thụ lý để giải quyết
vụ án khi người khởi kiện xuất trình phiếu thu tiền tạm ứng án phí của Chi cục thi hành án dân sự cấp cho đương sự hoặc đối với trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí
Sau khi thụ lý vụ án, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra thông báo, Toà án phải gửi văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (NCQLNVLQ) và VKSND cùng cấp Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý vụ án, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) Bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, NCQLNVLQ có quyền yêu cầu độc lập khi việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và yêu
Trang 32cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết [25.tr.160,161,162]
Trong trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập thì Toà án phải xem xét tương tự như việc nhận đơn khởi kiện Như vậy, quyền khởi kiện và phạm vi khởi kiện đã nêu ở trên phải được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm toàn bộ các yêu cầu của các đương sự trong vụ án (nguyên đơn, bị đơn, NCQLNVLQ) Theo đó, Toà án phải xem xét, giải quyết toàn bộ các yêu cầu này của các đương sự trong cùng một vụ án
Trường hợp đương sự có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án phải xem xét để giải quyết theo quy định của BLTTDS
Việc thực hiện đúng các quy định về thụ lý vụ án dân sự là rất quan trọng,
sẽ loại trừ tối đa việc thụ lý nhầm vụ án, như vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà ánhoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện Điều này sẽ giúp Toà án giảm tải những việc không cần thiết, nhất là không phải xử lý những hậu quả của việc thụ lý không đúng quy định của pháp luật Việc thực hiện đầy đủ và đúng các quy định về thụ lý vụ án sẽ giúp Toà án có một hồ sơ khởi kiện ban đầu đầy đủ, tạo điều kiện để giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ
án và giảm phiền hà cho đương sự
1.2.2 Áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử được bắt đầu từ khi Toà án thụ lý vụ án dân sự
và kết thúc khi Toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự, Toà án tiến hành các hoạt động tố tụng, các biện pháp thu thập chứng cứ, tài liệu theo quy định của pháp luật để làm cơ sở giải quyết vụ án và tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, cũng như chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2.2.1 Thu thập chứng cứ
Trang 33Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự và việc thu thập chứng cứ của Toà án phải bảo đảm đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS năm 2015 Về nguyên tắc, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình [25.tr.83] Toà án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chứng cứ do các đương sự giao nộp và tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi thấy cần thiết để làm căn cứ giải quyết yêu cầu của đương sự
Từ quy định của Điều 96 và Điều 97 BLTTDS cho thấy Thẩm phán chỉ có thể tiến hành thu thập chứng cứ khi:
- Hồ sơ còn thiếu những chứng cứ cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết
vụ án;
- Đã yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ;
- Đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Toà
án thu thập chứng cứ mà họ cho rằng cần thiết để giải quyết vụ án
Để có cơ sở kết luận là hồ sơ còn thiếu chứng cứ, Thẩm phán phải căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các đương sự đã giao nộp Nếu chứng cứ mà các đương sự giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc, Thẩm phán ra thông báo yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Sau khi nhận được yêu cầu của Thẩm phán về việc bổ sung chứng cứ thì các đương sự phải tự mình thu thập chứng cứ để giao nộp Trường hợp các đương sự chứng minh việc không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có văn bản yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 97 BLTTDS
Ngoài việc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, trong một số trường hợp, Thẩm phán cũng có thể tự mình thu thập chứng cứ như lấy lời khai của đương sự; lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết; đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng; xem xét, thẩm định tại chỗ khi xét thấy cần thiết; trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết; trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo; định giá tài
Trang 34sản, thẩm định giá tài sản trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản; hoặc các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá; ủy thác thu thập chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ
Sau khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải làm rõ được các nội dung sau:
- Xác định chính xác, đầy đủ yêu cầu của các đương sự Trong vụ án dân
sự, có thể chỉ có một hoặc một số yêu cầu Những vấn đề đương sự không yêu cầu thì Toà án không được giải quyết, Toà án chỉ giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu của đương sự Do vậy trong giai đoạn này, Thẩm phán phải xác định được chính xác các yêu cầu của đương sự, phạm vi các vấn đề đương sự yêu cầu Toà án giải quyết Đây là cơ sở pháp lý để Tòa án xác định phạm vi giải quyết của mình trong vụ án Từ các yêu cầu của đương sự, Thẩm phán sẽ căn cứ vào pháp luật nội dung để xác định đúng các quan hệ pháp luật phải giải quyết Từ các quan hệ pháp luật phải giải quyết, Thẩm phán xác định thành phần đương sự trong vụ án, các chứng cứ, tài liệu cần thiết làm sáng tỏ quan hệ đó và căn cứ pháp luật để giải quyết toàn bộ vụ án
- Xác định đầy đủ thành phần và vị trí tố tụng của các đương sự: Việc xác
định đầy đủ và đúng thành phần các đương sự trong vụ án bao gồm nguyên đơn,
bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sẽ giúp Toà án triệu tập đầy đủ các đương sự đến tham gia tố tụng để họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và cũng giúp quá trình giải quyết vụ án nhanh chóng hơn Vì vậy, quá trình thụ lý và thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, Toà án phải làm rõ thành phần và vị trí tố tụng của đương sự Nếu việc xác định trước đó chưa đúng hoặc
Trang 35không đầy đủ thì Toà án phải xác định lại hoặc bổ sung Trên cơ sở đó, Toà án
có kế hoạch thông báo và triệu tập họ đến trình bày ý kiến, nếu thấy cần thiết thì
có thể lấy lời khai bổ sung để làm căn cứ giải quyết vụ án
- Xác định các chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án Khi tiến hành các
biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải luôn kiểm tra xem các chứng cứ, tài liệu cần thiết để giải quyết vụ án có bảo đảm tính hợp pháp và đầy đủ chưa Nếu thấy chưa đầy đủ thì cần phải có kế hoạch thu thập thêm; nếu thấy cần thiết phải có ý kiến của các nhà chuyên môn thì Thẩm phán phải trưng cầu giám định theo quy định của BLTTDS
- Xác định những vấn đề trọng tâm cần chứng minh trong vụ án Việc xác
định đúng sẽ giúp Thẩm phán dự liệu và chủ động xử lý tốt các tình huống phát sinh, đồng thời cũng là vấn đề then chốt để Thẩm phán chuẩn bị kỹ lưỡng các chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án trong giai đoạn sau này
Để thực hiện được vấn đề này, Thẩm phán cần phải nắm bắt một cách toàn diện, đầy đủ nội dung và các tình tiết của vụ án Trên cơ sở đó, phải xác định rõ những vấn đề nào các đương sự đã thống nhất, những vấn đề nào còn mâu thuẫn Những vấn đề các đương sự còn chưa thống nhất, mâu thuẫn đó chính là những vấn đề trọng tâm cần chứng minh trong vụ án dân sự
1.2.2.2 Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Việc tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (gọi tắt là phiên họp kiểm tra) là một trong những quy định mới của BLTTDS năm 2015 Mục đích của phiên họp kiểm tra là nhằm bảo đảm mọi chứng cứ đều được công khai (trừ trường hợp không được phép công khai) trong quá trình tố tụng Còn hoà giải vụ án dân sự là trách nhiệm của Toà án nhằm tạo điều kiện cho các đương sự có thể thoả thuận, thương lượng với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Nếu các đương sự hoà giải thành,
vụ án kết thúc không phải bằng phán quyết của Toà án mà bằng chính sự thoả thuận của các đương sự Toà án sẽ tiết kiệm được thời gian, kinh phí; việc thi
Trang 36hành án sẽ có cơ sở để thực hiện thuận lợi hơn; những mối quan hệ tình cảm giữa các đương sự cũng được hàn gắn trong những mức độ nhất định
Theo quy định của BLTTDS thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án có nhiệm vụ và quyền hạn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Khoản 7 Điều 48 BLTTDS) trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Khi các bên không hòa giải được thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử, đây có thể coi là bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án
Vì vậy trước khi tiến hành mở phiên họp kiểm tra và phiên hòa giải, Thẩm phán cần phải hoàn tất các nhiệm vụ của mình để làm sáng tỏ nội dung vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải là bắt buộc tuy nhiên trong một số trường hợp Thẩm phán không tiến hành mở phiên hòa giải đối với những yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản nhà nước hoặcnhững vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái với đạo đức xã hội (Điều 206 BLTTDS) [25.tr.165], hoặc những vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải (Điều 207 BLTTDS) [25.tr.166] Phiên hòa giải giữa các đương sự có thể sẽ không được diễn ra nhưng phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải được Thẩm phán tổ chức
Trước khi mở phiên họp kiểm tra và phiên hòa giải, Thẩm phán phảiThông báo về phiên họp kiểm tra theo quy định tại Điều 208 BLTTDS cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp Tuy nhiên, BLTTDS không quy định cụ thể thời gian, địa điểm để tiến hành mở phiên họp,
Trang 37số lượng phiên họp vì vậy Thẩm phán có thể tổ chức phiên họp vào bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sau khi Thẩm phán cho rằng tài liệu chứng cứ đã đầy đủ, nội dung quan hệ tranh chấp đã được xác định rõ… Về địa điểm tiến hành mở phiên họp sẽ được tổ chức tại trụ sở Tòa án nơi giải quyết vụ
án Trong một số trường hợp cần thiết hoặc để tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự Thẩm phán có thể tổ chức phiên họp ngoài trụ sở Tòa án, cũng giống với việc thu thập lấy lời khai ngoài trụ sở thì phiên họp cần phải có sự chứng kiến và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Nội dung biên bản phiên họp được thực hiện theo Điều 211 BLTTDS Thẩm phán có thể mở một phiên họp duy nhất (khi có đủ điều kiện theo quy định), hoặc mở nhiều phiên họp (khi xét thấy các bên có thể hòa giải được) tuy nhiên số lượng phiên họp cần được tổ chức hợp lý
để không làm mất nhiều thời gian công sức của đương sự Chủ trì phiên họp là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Toà án làm nhiệm vụ ghi biên bản phiên họp Khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án
để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp
lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án [25.tr.170]
- Thông báo về nội dung phiên họp kiểm tra: Thẩm phán thông báo tới đương sự các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phạm vi yêu cầu của các đương sự…
để đương sự chủ động hơn trong việc tự mình thu thập tài liệu, giao nộp bổ sung chứng cứ, đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập thêm chứng cứ hoặc sửa đổi bổ sung, rút yêu của mình tại phiên họp
- Thông báo về nội dung phiên hòa giải: Thẩm phán nêu cụ thể nội dung các vấn đề cần hòa giải giữa các đương sự Nội dung này phải đầy đủ rõ ràng những vấn đề mà các bên đã thống nhất, vấn đề các bên chưa thống nhất được xác định trong quá trình lấy lời khai và nghiên cứu hồ sơ tài liệu của Thẩm phán
Trang 38Sau khi phiên họp kiểm tra và hoà giải kết thúc, Thẩm phán căn cứ vào kết quả của phiên hoà giải để có một trong các quyết định sau:
- Nếu các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, NCQLNVLQ) đều rút yêu cầu thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
- Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện mà bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, hoặc NCQLNVLQ vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện, Toà án tiếp tục giải quyết vụ án với các yêu cầu còn lại và căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định lại địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của khoản 2 Điều 217 BLTTDS
- Trường hợp các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu và trong phiên hoà giải, các đương sự đã tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ
vụ án (sự thỏa thuận đó phải không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội) thì Thẩm phán lập biên bản hoà giải thành và gửi ngay biên bản này cho các đương sự tham gia hoà giải
Theo quy định tại khoản 1 Điều 212 BLTTDS, trong thời hạn 07 ngày, kể
từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến
về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành [25.tr.172]
- Trường hợp các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu và trong phiên hoà giải các đương sự không thoả thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hoặc chỉ thoả thuận được một phần tranh chấp thì Thẩm phán kiểm tra lại toàn bộ hồ
sơ vụ án, nếu hồ sơ vụ án đã đầy đủ các chứng cứ và những người tham gia tố tụng thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; nếu thông qua phiên hoà giải mà vụ án phát sinh thêm tình tiết mới cần bổ sung chứng cứ mới hoặc bổ
Trang 39sung thêm người tham gia tố tụng thì Thẩm phán tiếp tục hoàn thiện sau đó mới
ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Nhìn chung, toàn bộ hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là vô cùng quan trọng, đó là tiền đề, là cơ sở pháp lý vững chắc để HĐXX áp dụng pháp luật, ra các phán quyết giải quyết vụ án tại phiên toà.Việc chuẩn bị xét xử có liên quan mật thiết đến phiên toà sơ thẩm và hoạt động tố tụng của toà án sau này Nếu việc chuẩn bị xét xử mà tốt thì phiên toà sơ thẩm diễn ra mới được thuận lợi, hạn chế tình trạng hoãn phiên toà do các yếu tố chủ quan cũng như hạn chế tình trạng xét lại bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết
vụ án Bên cạnh đó, chuẩn bị xét xử một cách đầy đủ cũng giúp cho Toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị nhanh chóng, thuận lợi
1.2.3 Áp dụng pháp luật tại phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự
Theo quy định tại khoản 4 Điều 203 BLTTDS thì trong thời hạn 01 tháng
kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng Đây là thời gian để Thẩm phán nghiên cứu, sắp xếp lại toàn bộ hồ sơ vụ án, xây dựng kế hoạch điều hành phiên toà; các HTND được phân công trong HĐXX, kiểm sát viên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự (nếu có) nghiên cứu hồ sơ vụ án; đồng thời cũng là khoảng thời gian các đương sự nhận được giấy triệu tập bố trí công việc, thời gian đến tham dự phiên toà
Trừ trường hợp phải hoãn phiên toà, phiên toà dân sự sơ thẩm được tiến hành từ khi HĐXX vào phòng xử án, Thẩm phán chủ toạ phiên toà tuyên bố khai mạc phiên toà cho đến khi tuyên xong bản án, quyết định và chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phiên toà Trong quá trình xét xử vụ án, dưới sự điều khiển của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, phiên toà phải được thực hiện theo đúng nghi thức, trình tự các thủ tục theo quy định của BLTTDS
Trang 40Một phiên toà diễn ra đúng pháp luật là phiên toà được tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử; đồng thời phải thực hiện đầy đủ, chính xác các thủ tục theo trình tự như sau:
- Thủ tục bắt đầu phiên toà: Thủ tục này nhằm kiểm tra và xác định đầy đủ,
chính xác tư cách những người tham gia tố tụng và sự vô tư, khách quan của những người tiến hành tố tụng; phổ biến cho những người tham gia tố tụng biết quyền, nghĩa vụ của họ tại phiên toà Trong thủ tục này, HĐXX tiến hành các bước: Khai mạc phiên toà; kiểm tra lý lịch của đương sự; phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác; giới thiệu
họ tên của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; hỏi và giải quyết yêu cầu của những người có quyền yêu cầu thay đổi những tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; xem xét, quyết định hoãn phiên toà khi có người vắng mặt; xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án (sự thỏa thuận đó phải không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội)
- Tranh tụng tại phiên tòa: Đây cũng là điểm mới của BLTTDS năm 2015
khi nhập phần thủ tục hỏi tại phiên tòa và phần Tranh luận tại phiên tòa thành một phần chung là Tranh tụng tại phiên tòa Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết các yêu cầu của đương sự trong vụ án [25.tr.198]
Phần tranh tụng được thực hiện theo trình tự sau:
+ Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày trước tiên (Điều 248 BLTTDS)
+ Sau phần trình bày sẽ đến phần hỏi tại phiên tòa: Trước đây, trong phiên tòa dân sự, việc hỏi chủ yếu do Hội đồng xét xử tiến hành Đương sự cũng có