1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nhân dân huyện long thành, tỉnh đông nai

113 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn cho thấy, cần nhiều hơn vai trò của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai, đặt biệt trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp, hoàn thiện thể chế và xâ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý Luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 83.80.106

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quân

Nghệ An, 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu nêu trong luận văn và các ví dụ điển hình là những số liệu, vụ án thực tế của địa phương, đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Những kiến nghị, đề xuất trong luận văn không sao chép của tác giả nào khác

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa luật, Trường Đại học Vinh xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành biết ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Tấn Mỹ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là công trình nghiên cứu từ hoạt động thực tiễn của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Để hoàn thành luận văn này, trước tiên, em xin tỏ lòng liết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Văn Quân – Giảng viên Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình viết Luận văn tốt nghiệp

Cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quý Thầy, Cô trong khóa học Cao học Luật K24 Trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt kiến thức Đây, không chỉ là kiến thức để em hoàn thành khóa học, mà còn là kiến thức giup em nâng cao nhận thức để hoàn thiện bản thân và tiếp tục thực hiện nhiệm

vụ Đảng, Nhà nước phân công

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, công chức Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã tạo mọi điều kiện để tôi tiếp cận, tìm hiểu, thu thập tài liệu một cách nhanh chóng, kịp thời, là cơ sở để hoàn thành luận văn về mặt thực tế

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Tấn Mỹ

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp mới của đề tài 6

7 Cấu trúc của luận văn 7

NỘI DUNG 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 9

1.1 Một số khái niệm liên quan đến áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật 9

1.1.2 Các giai đoạn của áp dụng pháp luật 13

1.1.3 Hoạt động áp dụng pháp luật trong gải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân 16

1.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân cấp huyện 19

1.2.1 Đặc điểm, mục đích của giải quyết tranh chấp đất đai 19

1.2.2 Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay 20

1.2.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chất đất đai của Tòa án nhân dân cấp huyện .23

1.2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân cấp huyện 28

Trang 6

đai tại Tòa án nhân dân cấp huyện 40

1.3.1 Yếu tố pháp luật 40

1.3.2 Yếu tố chính sách cán bộ 42

1.3.3 Yếu tố tâm lý, tập quán 44

Tiểu kết luận chương 1 46

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI 48

2.1 Điều kiện kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến tới áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai .48

2.1.1 Khái quát về điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 48

2.1.2 Tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai .49

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Error! Bookmark not defined. 2.2.1 Tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 51

2.2.2 Kết quả áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 56

2.2.3 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai .73

Tiểu kết chương 2 77

Trang 7

DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 79

3.1 Quan điểm của Đảng trong việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật về về giải quyết tranh chấp đất đai của hệ thống Tòa án nhân dân và Tòa án nhân dân cấp huyện 79

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân nói chung 85

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân cấp huyện 90

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

XÁC NHẬN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 105

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất QSDĐ: Quyền sử dụng đất

TAND: Tòa án nhân dân

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa - Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân là một trong những chủ trương lớn và nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay Trong mọi Nhà nước, quyền tư pháp luôn luôn là một bộ phận của quyền lực nhà nước đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời với quyền lập pháp và hành pháp Quyền tư pháp được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp mà thể hiện đặc trưng và rõ nét nhất là thông qua hoạt động xét xử của hệ thống Tòa

án các cấp

Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét

xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, lần đầu tiên được Hiến pháp ghi nhận Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao vị trí, vai trò của hệ thống Tòa án nhân dân trong quá trình xét xử, bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý,

mở rộng thẩm quyền xét xử các loại án

Theo quy định của Hiến Pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, nhiệm

vụ trọng tâm của Tòa án là xét xử các loại án và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật Trên thực tế, hoạt động trọng tâm của Tòa án là một hoạt động áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án và được tiến hành theo một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau Các giai đoạn của áp dụng pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau, kết quả của giai đoạn này làm tiền

đề cho giai đoạn tiếp theo với mục đích là giải quyết một vụ án được chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Vì vậy, sai lầm trong bất cứ giai đoạn nào cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả chung của việc giải quyết

vụ án Hiện nay, hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án nói chung luôn là vấn đề phức tạp, sự phức tạp được thể hiện rõ

Trang 10

nhất trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự mà đặc trưng của nó là các vụ

án liên quan đến lĩnh vực đất đai

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật Đất đai, nó không chỉ đơn thuần có

ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia, dân tộc Tranh chấp đất đai từ trước đến nay, luôn là những vấn đề rất phức tạp và khó khăn trong quá trình giải quyết Hiện nay, văn bản pháp luật về đất đai luôn được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo được sự thống nhất, đáp ứng được yêu cầu thực tế Đều này đã làm cho thực tiễn áp dụng pháp luật đất đai, đặt biệt là giải quyết những tranh chấp đất đai về cơ bản chưa được thống nhất, hiệu quả ở từng vùng, từng địa phương và nội bộ ngành Tòa án Từ thực tiễn cho thấy, cần nhiều hơn vai trò của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai, đặt biệt trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp, hoàn thiện thể chế và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt nam hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong

đó “xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”

Trong những năm qua, hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua việc giải quyết tranh chất đất đai vẫn còn xảy ra sai sót, xét xử thiếu thống nhất giữa các địa phương, giữa Tòa án các cấp hoặc lúng túng khi vận dụng pháp luật; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai (nhất là Thẩm phán), ở một gốc độ nào đó còn yếu so với trình độ chung; bản lĩnh nghề chưa vững vàng, chưa thật sự “chí công vô tư”; Bên cạnh đó, công tác quản lý về đất đai của những cơ quan hành chính còn bất cập, việc áp dụng và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai chưa đúng quy định của pháp luật Từ những hạn chế và khó khăn này, dẫn đến việc giải quyết các vụ án gặp nhiều khó khăn, kéo dài, để án quá hạn, ban hành bản

Trang 11

án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thiếu căn cứ pháp luật hoặc chưa đảm bảo công bằng, dẫn đến bị Tòa án cấp trên hủy, sữa án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án

Huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, là địa bàn đông dân cư, có nhiều khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhiều dự án phục vụ cho phát triển thương mại, dịch vụ và dân sinh đã, đang dần hình thành (Chợ, Trung tâm thương mại, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, khu du lịch …) ngày càng đa dạng và phát triển…từ đó, kéo theo sự biến động về đất đai như: Quản lý, lập quy hoạch

kế hoạch sử dụng đất, giải tỏa, thu hồi đất, nhu cầu về chỗ ở ngày càng tăng cao; việc sang nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản chung, riêng, thừa kế, tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền khác đối với bất động sản ngày càng đa dạng và phức tạp…

Từ thực tiễn xét xử các vụ án lên quan tranh chấp đất đai (dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại), có thể khẳng định rằng, việc

áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là vấn đề khó và phức tạp Do đó, việc nghiên cứu quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở một Tòa án cấp huyện, nhất là ở Tòa án có số lượng án thụ lý, giải quyết nhiều có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính khả thi của luật, phát hiện những thiếu sót, bất cập và đề ra những giải pháp để hoàn thiện luật, đây là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó có những đóng góp để Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xem xét ban hành các Nghị quyết hướng dẫn để áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật trong giải quyết

tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai” để

làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 12

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung

và áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý.Việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử và giải quyết tranh chấp đất đai đã được một số nhà khoa học, các bộ, thực tiễn ngành Tòa án thực hiện và đã được công bố điển hình là:

Luận văn thạc sĩ của tác giả Châu Huế “Tranh chấp đất đai và thẩm

quyền giải quyết của tòa án” năm 2003, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội;

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh “Áp dụng pháp luật

trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân qua thực tiễn của Tòa

án nhân Tối cao”, năm 2014, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội;

Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Liên Sơn “ Hoạt động áp dụng pháp

luật trong giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn Hà Nội”, năm 2015, Khoa

Luật, Đại học quốc gia Hà Nội;

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Hương Lan (2009), Viện

Nhà Nước và Pháp luật “Giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật đất đai 2003”;

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Mai Thị Tú Oanh (2013), Viện Nhà

nước và pháp luật “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng

Tòa án ở nước ta”;

Báo cáo tham luận “Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

nhân dân – Kiến nghị và giải pháp” của TS Nguyễn Văn Cường và cử nhân

Trần Văn Tăng, Viện khoa học xét xử, Tòa án nhân dân Tối cao tại hội thảo

“Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thực trạng và giải pháp”, ngày 08-9-2008 tại Buôn Mê Thuột – Đắk Lắk;

Ngoài ra, trên các tạp chí khác như: Tạp chí Tòa án, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật cũng có những bài viết nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai Tuy nhiên, các công trình nêu

Trang 13

trên chỉ đề cập đến những vấn đề chung về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai qua hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam

Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và Pháp luật vấn đề áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân cấp huyện qua thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng

pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân

dân cấp huyện qua thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai từ ngày 01/10/2012 đến ngày 30/9/2017

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong giải quyết

tranh chấp đất đai

+ Phạm vi về thời gian: Về thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết

tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giai

đoạn từ ngày 01/10/2012 đến ngày 30/9/2017;

+ Phạm vi về không gian: huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận

và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại

Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; thông qua thực tiễn công tác, tác giả đưa ra một cách khái quát về những ưu điểm, hạn chế của hoạt động

áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân cấp

huyện, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các

Trang 14

loại án liên quan đến tranh chấp đất đai và kiến nghị hoàn thiện cơ chế áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân cấp huyện;

Thực tiễn áp dụng dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ ngày 01/10/2012 đến ngày 30/9/2017;

Kiến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết các loại án liên quan đến tranh chấp đất đai và hoàn thiện các quy định của pháp luật về pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đổi mới, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Quá trình nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp logic, phương pháp thống kê; ứng dụng thành tựu của khoa học luật: Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Đất đai… trong các công trình của các nhà Khoa học, Luật gia Ngoài ra đề tài còn

sử dụng trung thực các số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, các sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành để làm rõ những tri thức khoa học liên quan đến đề tài

6 Những đóng góp mới của đề tài

Trang 15

Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, những nội dung sau đây là những đóng góp mới của đề tài:

Luận văn phân tích khái niệm, đặc điểm, quy trình áp dụng pháp luật, xác định tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng áp dụng pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện nói chung và trong việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành nói riêng

Đánh giá toàn diện về hoạt động giải quyết các tranh chấp đất đai tại Tòa

án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai từ ngày 01/10/2012 đến ngày 30/9/2017; đồng thời đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân

Một số kiến nghị nhằm hạn chế giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân, giảm án quá hạn, án kéo dài và tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong giải quyết án dân sự nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng

Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng

áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh

tư pháp nói riêng Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với các Thẩm phán dân sự giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh

chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai

Trang 16

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

Nghiên cứu đề tài luận văn yêu cầu khối lượng lớn thời gian, công sức nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của tình hình thực hiện và áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân qua thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Do chưa thể đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi đó nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được và xin chân thành cảm ơn các ý kiến phê bình, đóng góp của mọi độc giả quan tâm đến luận văn!

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

1.1 Một số khái niệm liên quan đến áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật

Khái niệm

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ

xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Trong khoa học pháp lý, áp dụng pháp luật được hiểu là những hoạt động, những phương cách, những quá trình làm cho những quy tắc xử sự chung chứa đựng trong các quy phạm pháp luật trở thành hành vi, cách xử sự thực tế của các chủ thể pháp luật Khi các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thì các quan hệ xã hội trở thành các quan hệ pháp luật với các chủ thể mang quyền

và nghĩa vụ pháp lý tương ứng Làm thế nào để pháp luật đi vào cuộc sống, làm thế nào để pháp luật được thực hiện một cách có hiệu quả nhất đó là những đòi hỏi luôn đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý phân thành các hình thức thực hiện pháp luật sau: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan niệm khác nhau về áp

dụng pháp luật, tuy nhiên tựu chung lại: Áp dụng pháp luật là một hình thức

hoạt động mang tính tổ chức – quyền lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định, nhằm

cá biệt quy phạm pháp luật hiện hành đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể

Trang 18

trong trường hợp cụ thể.[11] Như vậy, áp dụng pháp luật là một trong những

hình thức thực hiện pháp luật có những đặc điểm riêng, bao giờ cũng có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong hoạt động tư pháp, áp dụng pháp luật thường được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tiến hành theo một thủ tục tố tụng nhất định để thu thập chứng cứ, xác minh, điều tra làm rõ các tình tiết vụ án nhằm xác định sự thật khách quan; truy cứu trách nhiệm pháp lý; xác định quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật

Việc ban hành một quyết định áp dụng quy phạm pháp luật phải được thực hiện thông qua các thủ tục nhất định Các thủ tục để ban hành quyết định áp dụng pháp luật được pháp luật quy định rất chặt chẽ và đòi hỏi phải được các chủ thể tuân thủ nghiêm chỉnh Các thủ tục giúp cho chủ thể áp dụng pháp luật

có điều kiện xem xét, đánh giá kỹ, cân nhắc kỹ các tình tiết sự việc trước khi ra quyết định Các thủ tục cũng giúp cho chủ thể được áp dụng pháp luật trình bày nguyện vọng, mong muốn của mình một cách dân chủ, khách quan trong quá trình áp dụng pháp luật

Theo quy định tại Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì “tranh

chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”

Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật không phải lúc nào cũng

có cùng chung quan điểm hay cùng một cách tiếp cận về các vấn đề trong quan

hệ pháp luật, vì thế sẽ dẫn đến những bất đồng, xung đột hay những mâu thuẫn nhất định Hiện tượng đó lý luận và thực tiễn pháp lý gọi là sự tranh chấp pháp

lý Tính phức tạp, gay gắt của tranh chấp đất đai không chỉ dừng lại ở tranh chấp dân sự mà còn có thể dẫn đến các vụ án hình sự, thậm chí mang tính chính chị, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn cho xã hội Vì vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung rất quan trọng và không thể thiếu của pháp luật đất đai

Trang 19

Tùy vào từng lĩnh vực, loại quan hệ có thể có nhiều loại tranh chấp khác nhau, như: tranh chấp dân sự, tranh chấp trong kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình….trong đó có tranh chấp đất đai

Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai

Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật

Nếu chỉ có tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật thôi thì còn nhiều quy phạm pháp luật chưa được thực hiện vì không có sự tham gia của Nhà nước – chủ thể rất quan trọng trong việc ban hành và đảm bảo các quy phạm pháp luật thi hành Khi nghiên cứu các vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật, có thể nhận thấy, áp dụng pháp luật như là hình thức đặc biệt của thực hiện pháp luật có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc

cá nhân có thẩm quyền Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà

nước hay những người có thẩm quyền tiến hành và mỗi cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được giao một số hoạt động áp dụng pháp luật nhất định trong phạm vi thẩm quyền của mình Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của những chủ thể có liên quan Trường hợp cần thiết, áp dụng pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền phải xem xét, cân nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm pháp luật đã được xác định để ra văn bản áp dụng pháp luật cụ thể Đây là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xây dựng, được Nhà nước trao quyền ban hành

Trang 20

trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp, trách nhiệm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật

Thứ hai, được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, mang tính quyền lực nhà nước Pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện,

trình tự, thủ tục, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình áp dụng pháp luật Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định

có tính thủ tục đó, để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác

Hình thức thể hiện của hoạt động áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền ban hành có tính chất cá biệt, một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định, phải phù hợp với pháp luật và dựa trên những quy phạm pháp luật

cụ thể; được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định như bản án, quyết định, lệnh Văn bản áp dụng pháp luật có hai loại: văn bản xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể và văn bản bảo vệ pháp luật chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật

Thứ ba, là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định Cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng quy phạm

pháp luật hiện hành cho từng trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể Trên cơ sở những quy tắc xử sự chung trong quy phạm pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật cá biệt hóa một cách cụ thể và chính xác những quy phạm pháp luật nhất định

Thứ tư, là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo, mang tính tư duy cao Các cơ

quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật phải nghiên cứu kỹ

vụ việc vi phạm, cơ sở pháp lý, quy phạm pháp luật bị vi phạm, phân tích làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó; trong trường hợp pháp luật chưa quy định

Trang 21

hoặc quy định chưa rõ thì phải áp dụng tương tự, để từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành Để quá trình áp dụng pháp luật được đắn và chính xác, đòi hỏi người có thẩm quyền phải có ý thức pháp luật cao, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng

và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Mặt khác, các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế lại

đa dạng, phong phú nên muốn đưa ra một quyết định đúng đắn, chính xác vừa thấu tình, đạt lý thì đòi hỏi phải có tính sáng tạo, tư duy của người được trao quyền áp dụng

Tóm lại, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực

nhà nước, được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể

1.1.2 Các giai đoạn của áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là một dạng hoạt động hết sức phức tạp mà nếu không cẩn trọng sẽ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tập thể và cá nhân Để hoạt động áp dụng pháp luật được chính xác, đạt chất lượng, hiệu quả cao cần tiến hành theo bước sau dây sau đây:

Bước 1: Xác định cơ sở thực tiễn

Đây là giai đoạn khởi đầu của quy trình áp dụng pháp luật Trước tiên cần phân tích kỹ mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống xảy ra, xác định đúng đắn nội dung, đối tượng, bản chất pháp lý của sự kiện thực tế đó Trước khi quyết định

áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải điều tra, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật; xem xét, kể cả các biện pháp chuyên môn đặc biệt như xem xét thẩm định tại chỗ, lập biên bản hiện trường,

vẽ sơ đồ hiện trường, trưng cầu giám định, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để làm sáng tỏ những sự việc có liên quan Khi điều tra, xem xét phải đảm

Trang 22

bảo sự khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của vụ việc, vì trên thực

tế có nhiều vụ việc xảy ra nhưng không có ý nghĩa pháp lý Do đó, đòi hỏi các

cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải nghiên cứu, xác định vụ việc đó thực sự có ý nghĩa pháp lý hay không, đánh giá được tầm quan trọng về mặt pháp lý của nó; tuân thủ các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc Nếu xác định được tính chất pháp lý của nó thì trên cơ sở đó xem xét có cần phải áp dụng pháp luật đối với vụ việc cụ thể hay không? Nếu cần thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo

Bước 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật hiện hành phù hợp để giải quyết vụ việc

Yêu cầu ở đây là lựa chọn đúng quy phạm pháp luật và hiểu được nội dung, ý nghĩa, mục đích của quy phạm pháp luật được lựa chọn Đây là giai đoạn quan trọng trong quy trình áp dụng pháp luật vì nếu không đưa ra cơ sở pháp lý có sức thuyết phục, phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sau và đến kết quả của quá trình áp dụng Muốn vậy, trước hết, phải xác định vụ việc vừa xảy ra thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật nào để lựa chọn quy phạm pháp luật của ngành luật ấy, cho thích ứng và phù hợp với vụ việc Khi đã lựa chọn được quy phạm pháp luật cụ thể, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải tư duy khoa học, logic, biện chứng làm sáng tỏ, nhận thức đúng đắn nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo

Bước 3: Ban hành văn bản áp dụng pháp luật

Giai đoạn này là quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định của quá trình

áp dụng pháp luật Yêu cầu đối với giai đoạn này là văn bản áp dụng pháp luật được ban hành phải đúng thẩm quyền, trình tự, hình thức mà pháp luật quy định Nội dung văn bản phải rõ ràng, cụ thể, cá biệt hóa, cụ thể hóa những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp, trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm Văn bản áp dụng pháp luật phải phù hợp với lợi ích và mệnh lệnh của Nhà nước được thể hiện trong các đạo luật

Trang 23

và văn bản quy phạm pháp luật khác Văn bản áp dụng pháp luật phải đáp ứng những yêu cầu sau:

- Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; nội dung văn bản phải rõ ràng, chính xác, đầy đủ, hình thức văn bản phải đảm bảo các quy định của pháp luật

- Văn bản áp dụng pháp luật phải đựợc ban hành có cơ sở pháp lý, chỉ rõ chi tiết cụ thể tới điểm, khoản, điều của văn bản pháp luật áp dụng Nếu văn bản

áp dụng pháp luật được ban hành trong trường hợp áp dụng pháp luật tương tự hoặc án lệ thì phải có sự viện dẫn, lý giải kỹ càng về tính hợp pháp, hợp lý của việc áp dụng pháp luật tương tự đó, đồng thời cũng phải ghi rõ đã áp dụng tương

tự quy phạm pháp luật nào hoặc nguyên tắc pháp luật nào

- Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở thực tế, căn cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và có thật thì mới đảm bảo áp dụng pháp luật chính xác, có tính thuyết phục

- Văn bản áp dụng pháp luật được ban hành đảm bảo có tính hiện thực phải phù hợp với nhu cầu thực tế của cuộc sống Nếu văn bản áp dụng pháp luật không phù hợp với thực tế thì khó được thi hành nghiêm chỉnh, thi hành kém hiệu quả, thậm chí không thể thi hành được

Bước 4: Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật, tiến hành những hoạt động tổ chức nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật như việc tổ chức thi hành bản án, quyết định v.v Trong quá trình tổ chức thực hiện văn bản cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định áp dụng pháp luật nhằm đảm bảo để quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật Cơ quan ban hành văn bản áp dụng pháp luật phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để cá nhân, tổ chức có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ văn bản đã ban hành Trong văn bản áp dụng pháp

Trang 24

luật cũng phải xác định rõ và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, hậu quả pháp lý mà

cá nhân, tổ chức vi phạm nếu không chấp hành hoặc chấp hành không đúng

Ví dụ: Bản án của Tòa B, tuyên A có tội và xử phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai năm) Trong phần quyết định của bản án thì giao A cho Ủy ban nhân cấp xã nới A cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, đồng thời nêu hậu quả pháp lý mà A phải chịu nếu thay đổi nơi cư trú hoặc vi phạm pháp luật mới

1.1.3 Hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền

tư pháp” Tại Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định: “ Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”

Như vậy, trong văn bản pháp lý cao nhất ở nước ta đã khẳng định, xét xử

là hoạt động đặc trưng, là chức năng riêng của Tòa án nhân dân (gọi tắt là TAND) Hoạt động xét xử của TAND là hoạt động trung tâm và chủ yếu của hoạt động tư pháp nhằm giữ gìn và bảo vệ pháp luật, hoạt động trọng tâm của Tòa án là một hoạt động áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án và được tiến hành theo một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau Nếu căn cứ vào nội dung các vụ án thì hoạt động xét xử của TAND nước ta hiện nay có thể chia ra thành các loại: xét xử án hình sự; xét xử án dân sự (bao gồm cả xét xử án dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại) và xét xử án hành chính Nếu căn cứ vào cấp xét xử thì xét xử có thể chia thành xét xử sơ thẩm, xét

xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm, trong đó nguyên tắc hai cấp xét xử (xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm) được thực hiện một cách triệt

để và thống nhất Nếu căn cứ vào thời hạn và các bước tiến hành tố tụng thì xét

Trang 25

xử có thể chia thành hai loại: xét xử theo thủ tục thông thường và xét xử theo thủ tục rút gọn

Việc xét xử của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng và phải trải qua các giai đoạn cụ thể như chuẩn bị xét xử, nghiên cứu

hồ sơ, tổ chức phiên tòa xét hỏi, tổ chức và điều khiển việc tranh tụng, việc nghị

án và ban hành bản án, quyết định của Tòa án Việc xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản mà pháp luật tố tụng đã quy định Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án là một nội dung cụ thể, đặc biệt và quan trọng của hình thức áp dụng pháp luật nói chung Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét

xử của TAND là việc thực hiện pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án để ban hành các bản án, các quyết định nhân danh Nhà nước phán xét một hành vi là tội phạm, phải chịu hình phạt hoặc tuyên bố một hành vi không phải là tội phạm; phân xử đúng, sai, xác định tính có căn cứ hay không có căn cứ, tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

Qua phân tích, tổng hợp các hành vi phạm tội đã xét xử trong hệ thống Tòa án, chúng ta có thể tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có những biện pháp phòng ngừa tội phạm có hiệu quả Qua xem xét đánh giá các hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp trong các quan hệ dân sự, thương mại, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, chúng ta có thể nhận định, đánh giá được trình độ,

ý thức pháp luật của công dân để từ đó có những biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật phù hợp Qua công tác xét xử của Tòa án về các quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan hành chính bị khiếu kiện, chúng ta có thể phần nào có nhận xét về tính hiệu quả, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật về hoạt động của cơ quan hành pháp để đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để nói rằng qua nghiên cứu, phân tích tình hình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của TAND, có thể xác định

Trang 26

được mức độ của việc tôn trọng và tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để từ đó đề ra các giải pháp mang tính thiết thực và khả thi nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong đời sống xã hội

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của TAND là một trong những phương tiện pháp lý trực tiếp và hữu hiệu để giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao

ý thức tuân thủ pháp luật và xây dựng thói quen sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền, thực thi các nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội Với cơ chế xét xử công khai có tranh tụng với một thủ tục chặt chẽ, hoạt động áp dụng pháp luật của TAND có thể nói là một điển hình của việc thực hiện dân chủ và giữ gìn pháp chế trong đời sống xã hội Chất lượng áp dụng pháp luật của TAND ở nước ta phản ánh việc thực hiện công lý, công bằng xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Do đó, nhiệm vụ của TAND các cấp không chỉ lo hoàn thành việc xét xử các vụ án đúng hạn luật định mà quan trọng hơn là phải thực hiện cho được công

lý xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội, phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân và hướng vào việc thực hiện mục tiêu chung của toàn dân tộc là bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đúng theo đường lối, cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.[14]

Như vậy, có thể hiểu: Hoạt động áp dụng pháp luật trong việc giải quyết

tranh chấp đất đai của TAND là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực của nhà nước được thực hiện thông qua Hội đồng xét xử, do người Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xác định sự thật khách quan, phân xử đúng, sai, xác định tính

có căn cứ hay không có căn cứ, tính hợp pháp hay không hợp pháp nhằm cụ thể hóa những quy phạm pháp luật về đất đai vào các tranh chấp đất đai cụ thể bằng các bản án, các quyết định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự góp phần làm ổn định trật tự xã hội và củng cố mối đoàn kết trong

Trang 27

nội bộ nhân dân bằng việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND thông qua hình thức giải quyết tranh chấp đất đai

1.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân cấp huyện

1.2.1 Đặc điểm, mục đích của giải quyết tranh chấp đất đai

Đặc điểm của tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai thể hiện dấu ấn mạnh mẽ trong các thời kỳ lịch sử khác nhau của quan hệ pháp luật đất đai Trước đây, Nhà nước chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu trong quan hệ đất đai: sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể Nước ta đang xây dựng, phát triển và hình thành cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013

quy định: “1 Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo 2 Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.” Điều đó thể hiện rõ quan

điểm của Đảng và Nhà nước về các thành phần kinh tế - là chủ thể của nền kinh

tế đều bình đẳng trước pháp luật, tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật, chứ không có sự phân biệt, đối xử giữa các chủ thể kinh

tế khác nhau, qua đó nhằm huy động toàn diện, đồng bộ tất cả các nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất-kinh doanh mà thực hiện quản lý thông qua hệ thống pháp luật, chính sách thuế, đất đai được thừa nhận có giá trị quyền sử dụng đất (gọi tắt là QSDĐ) được tham gia các giao dịch trên thị trường làm quan hệ đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liên quan đến chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn, quyền về tài sản được hình thành trong tương lai điều này, làm gia tăng tranh chấp, mâu thuẫn đất đai ngày càng phức tạp

Trang 28

Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai là tranh chấp đất đai, mà tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất đai, trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ quyền và nghĩa vụ các bên đối với QSDĐ đang tranh chấp

Các chủ thể tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai

Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước và làm cho những quy định của pháp luật đất đai và chính sách của nhà nước không được thực hiện một cách triệt để

Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án

Giải quyết tranh chấp đất đai đề cao tính hòa giải, huy động đoàn thể địa phương tham gia, cần phải hiểu phong tục tập quan địa phương để có cách giải quyết thỏa đáng

Mục đích của giải quyết tranh chấp đất đai

- Giải quyết bất đồng, bảo vệ quyền cho các chủ thể sử dụng đất hợp pháp

- Duy trì ổn định trật tự xã hội

- Thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai

1.2.2 Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay

Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên

trong quan hệ đất đai” Theo khái niệm này thì đối tượng của tranh chấp đất đai

không phải là quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất, vì Điều 53 Hiến pháp 2013 hay Điều 4

Trang 29

Luật Đất đai năm 2013 quy định rất rõ: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà

nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

Trên thực tế, tranh chấp đất đai không chỉ là hiện tượng phổ biến mà còn rất đa dạng về chủ thể và nội dung tranh chấp Về cơ bản, tranh chấp đất đai được chia thành các dạng sau:

Tranh chấp về quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp giữa các bên với

nhau về việc ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất nào đó

Có các loại tranh chấp sau:

Tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi hoặc do hai bên không thống nhất xác định với nhau về ranh giới sử dụng đất, về lối đi chung

Tranh chấp về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế, ly hôn giữa vợ và chồng

Đòi lại đất, tài sản gắn liền với đất trong những giai đoạn trước đây mà qua các cuộc điều chỉnh ruộng đất đã được cấp cho người khác

Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc địa phương với đồng bào đi xây vùng kinh tế mới, với các lâm trường, nông trường và các tổ chức sử dụng đất khác

Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất:

dạng tranh chấp này thường xảy ra khi xác lập giao dịch dân sự về QSDĐ, việc một bên vi phạm nghĩa vụ hoặc cản trở việc thực hiện quyền của bên kia cũng phát sinh tranh chấp, thường được thể hiện ở các hình thức: Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ; Tranh chấp về việc bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích cộng đồng

Tranh chấp về mục đích sử dụng đất

Nhiều sự tranh chấp về QSDĐ dẫn đến những tranh chấp về địa giới hành chính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa hai cơ quan hành chính cùng cấp với nhau, tập trung ở những nơi có nguồn khai thác kinh tế trọng yếu, những

Trang 30

vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng có vị trí quan trọng Đây là dạng tranh chấp ít xảy ra, những tranh chấp này liên quan việc xác định mục đích sử dụng đất là gì, chủ yếu người sử dụng đất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất

Tranh chấp về quyền đối với bất động sản liền kề (giới hạn bất động sản

là đất đai)

Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền).[16, tr.115]

Quyền đối với bất động sản liền kề được xác lập theo địa thế tự nhiên, theo quy định của pháp luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc Dạng tranh chấp này hiện nay xảy ra ngày càng nhiều, có các loại tranh chấp sau:

Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề: tranh chấp này xảy ra khi chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các bất động sản khác

mà không có hoặc không đủ lối đi qua đường công cộng

Quyền về cấp thoát nước qua bất động sản liền kề: tranh chấp này xảy ra khi chủ sở hữu có bất động sản có nước chảy qua không dành một lối cấp, thoát nước thích hợp hoặc cản trở, ngăn chặn dòng nước chảy do vị thế tự nhiên của bất động sản được hưởng quyền

Quyền về tưới nước, tiêu nưới trong canh tác: tranh chấp này xảy ra khi chủ sở hữu có bất động sản có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước yêu cầu những chủ sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận lợi cho việc tưới, tiêu mà không được thực hiện

Quyền được mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác: tranh chấp này xảy ra khi chủ sở hữu bất động sản có quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên qua bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không

được thực hiện

Trang 31

1.2.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân cấp huyện

Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật hiện hành công nhận các phuơng thức giải quyết tranh chấp trong sau: Thương luợng, hòa giải và Tòa án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải hoặc Tòa án

Hòa giải

Hòa giải là một biện pháp giúp các bên tìm ra tiếng nói chung để tháo gỡ những vấn đề mâu thuẫn, bất đồng trên cơ sở tự thỏa thuận Nếu hòa giải thành, tranh chấp sẽ kết thúc Trường hợp các bên không thể tự thương lượng hòa giải được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ được thông qua tổ hòa giải cơ

sở Nếu hòa giải cơ sở vẫn không thống nhất thì các bên có quyền gửi đơn đến

Ủy ban nhân dân (gọi tắt là UBND) cấp xã nơi có tranh chấp xảy ra để yêu cầu hòa giải Thời hạn hòa giải là 45 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn Kết quả phải được lập thành biên bản có sự xác nhận của UBND cấp xã và có chữ ký của các bên.Trường hợp kết quả hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp khác Các cơ quan này trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi đó và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.[23, tr.222]

Giải quyết tranh chấp bằng việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm

2013

Trang 32

TAND có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự đã

có GCNQSDĐ hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 [23] và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

Các tranh chấp đất đai mà đương sự không có GCNQSDĐ hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp sau:

- Khởi kiện tại TAND có thẩm quyền theo quy định về pháp luật tố tụng dân sự

- Giải quyết tranh chấp bằng con đường hành chính:

Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết các tranh chấp lần đầu giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau Nếu không đồng ý thì đương sự được quyền gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định pháp luật tố tụng hành chính

Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp lần đầu giữa tổ chức,

cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhau Nếu không đồng ý thì đương sự được quyền gửi đơn khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định pháp luật tố tụng hành chính

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của TAND cấp huyện

TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự theo quy định tại các Khoản 1, 2, 4 Điều 35, Điều 39, Điều 40 BLTTDS năm 2015.[19]

Có thể phân loại thẩm quyền của TAND cấp huyện như sau:

Thẩm quyền theo loại vụ việc

Khoản 9, Điều 26 BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ tranh chấp về quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp sau đây:

Trang 33

Tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đối với trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCNQSDĐ) theo Luật Đất đai năm 1987; Luật Đất đai năm 1993; Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm

2013 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Đối với các trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất hoặc quyền sử dụng đất trước khi có Luật Đất đai 1987 sẽ thuộc trường hợp tại Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013

Các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó có một trong các giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2013

Đối với các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó có một trong các giấy

tờ được nêu dưới đây thì cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

- Những giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan

có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- GCNQSDĐ tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, địa chính

- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất

- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã phường thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993

- Giấy tờ về thanh lý hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật

- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của chế độ cũ cấp cho người sử dụng

Các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó đã có các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai 2013

Trang 34

Khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất”

Đối với các tranh chấp mà đất đó đã có các giấy tờ sau

Các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó có các giấy tờ khác bao gồm bản án hoặc quyết định của TAND, quyết định thi hành bản án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

đã được thi hành Trường hợp chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật

Khi giải quyết các tranh chấp mà một bên xuất trình một trong các giấy tờ được nêu ở Khoản 1, Khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì cần phải xem xét bản chất của sự việc, do đó không phải ai đứng tên trong các giấy tờ đó thì đều được công nhận quyền sử dụng đất cho họ theo các giấy tờ mà họ xuất trình, Tòa án phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể, tuỳ theo tính chất của quan

hệ pháp luật có tranh chấp để quyết định cho chính xác

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo cấp Tòa án

Theo quy định của BLTTDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 thì những tranh chấp về đất đai mà có đầy đủ một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2013 thì sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa

án Về nguyên tắc, TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết các vụ việc tranh chấp về đất đai, trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh theo quy định tại Khoản 3 Điều 35, 37 BLTTDS năm

2015

Trang 35

Những tranh chấp đất đai mà không có một trong các loại giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật thì theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 cơ quan quản lý đất đai sẽ có trách nhiệm hòa giải Thẩm quyền của Tòa án được thể hiện ở việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bị hại Trong trường hợp việc thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại không thành thì đương

sự có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại tại TAND cấp huyện để được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

Ngoài ra, nếu hết thời hạn theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 UBND cấp xã không tiến hành hòa giải hoặc không có điều kiện hòa giải (bên bị kiện không có thiện chí nên không có mặt hoặc không thể có mặt ) thì đương

sự có quyền khởi kiện ra Tòa án Thời gian từ ngày đương sự nộp đơn yêu cầu hòa giải tại UBND cho tới khi khởi kiện ra Tòa án không được tính vào thời hiệu khởi kiện

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án theo lãnh thổ

Về thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản

Theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thì: Tòa án nơi có bất

động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản

Quy định này được xây dựng dựa trên quan niệm là toà án nơi có bất động sản là toà án có điều kiện tốt nhất cho việc giải quyết tranh chấp Bởi lẽ, tất cả các hồ sơ, giấy tờ về bất động sản do cơ quan quản lý bất động sản nắm giữ, cơ quan này nắm vững thực trạng, nguồn gốc của bất động sản Do vậy, Tòa án nơi

có bất động sản có điều kiện xác minh để giải quyết sát với thực tế: xem xét, thẩm định tại chỗ (xác minh thực địa); cho định giá tài sản; thu thập tài liệu từ

cơ quan nhà đất

Về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất

Trong thực tiễn, việc vận dụng quy định tại Điều 35 BLTTDS năm 2015

để xác định thẩm quyền của tòa án đối với các tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc

Trang 36

quyền sử dụng đất, cũng có những ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất không phải là tranh chấp về bất động sản, do vậy, trong những trường hợp này Tòa án có thẩm quyền phải là Tòa án nơi bị đơn giải quyết Quan điểm này dựa trên lập luận rằng, đối với tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất thì trước hết phải xác định xem ai là người có quyền thừa kế rồi mới chia, trong số các đương sự thì có đương sự chỉ yêu cầu hưởng giá trị chứ không yêu cầu chia hiện vật Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, tranh chấp thừa kế thì di sản có thể bao gồm cả động sản, bất động sản cho nên không thể áp dụng nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án theo nơi có bất động sản tọa lạc Thiết nghĩ, việc ban hành một văn bản pháp lý để hướng dẫn cụ thể về vấn đề này là hết sức cần thiết

Việc nghiên cứu pháp luật một số nước và pháp luật chế độ cũ về tố tụng dân sự cho thấy, nguyên tắc nơi phát sinh sự kiện mở thừa kế sẽ được áp dụng

để xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc yêu cầu chia thừa kế Tức là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ là Tòa án nơi mở thừa kế hay tòa án nơi khai phát di sản Thế nhưng, luật thực định của chúng ta hiện nay không đề cập đến nguyên tắc này Do vậy, chúng tôi cho rằng, trong khi nhà lập pháp chưa có những quy định khác thì việc xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ tạm thời vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, trên nguyên tắc ưu tiên thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi có bất động sản [14]

1.2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân cấp huyện

Quá trình giải quyết sơ thẩm các vụ án dân sự nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng của TAND cấp huyện thường được chia thành 03 phần:

Phần thứ nhất: Khởi kiện và thụ lý vụ án

Trang 37

Được quy định tại Chương XII Phần thứ hai BLTTDS năm 2014, Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và Nghị quyết số: 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao

Thủ tục thụ lý vụ án là việc Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, giấy tờ tài liệu kèm theo đơn khởi kiện và xem xét các điều kiện khởi kiện Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án sẽ tiến hành các thủ tục vào

sổ thụ lý đơn và phân công Thẩm phán giải quyết

Người khởi kiện được quyền lựa chon nộp đơn cho Tòa án bằng các phương thức: Nộp trực tiếp, gửi qua bưu điện, hoặc gửi trực tuyến (Tòa án phải

in ra bản giấy) Các phương thức nộp đơn khởi kiện, đều được Bộ phận tiếp nhận đơn của Tòa án tiếp nhận và ghi vào số nhận đơn

Thủ tục thụ lý vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp đất đai được tiến hành như sau:

Nhận và xử lý đơn khởi kiện:

Trường hợp nhận đơn trực tiếp thì cấp giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện, trường hợp nhận đơn qua đương bưu điện thì trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi giấy báo nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp nhận đơn bằng phương thức gửi trực tuyến thì tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện qua Cổng thông tin của tòa án (nếu có)

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án tòa án phân công cho một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để ban hành một trong các quyết định sau đây:

+ Nếu đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại Điều 189 của BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để

họ sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo

Trang 38

+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và

có đủ các điều kiện để thụ lý Có hai hình thức thụ lý: Theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để thụ lý theo thủ tục rút gọn được quy định tại Khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2015;

+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 192 của BLTTDS năm 2015

Thụ lý vụ án

Nếu việc khởi kiện đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện và người khởi kiện thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp lại biên lai cho Tòa án Tòa

án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ

lý vụ án và công bố trên cổng thông tin điện tử (nếu có)

Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với người khởi kiện hoặc với người bị kiện thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:

+ Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

+ Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; + Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Thủ tục yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của BLTTDS năm

2015 về thủ tục khởi kiện của người khởi kiện

Trang 39

Phần thứ hai: Xây dựng hồ sơ vụ án

Để giải quyết vụ dân sự liên quan tranh chấp đất đai được đúng pháp luật thì hồ sơ vụ án phải đảm bảo có đầy đủ tài liệu, chứng cứ Các tài liệu, chứng cứ này phải được đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định và phải được hệ thống hóa, được sắp xếp trật tự để phục vụ cho việc nghiên cứu và giải quyết vụ án

Kiểm tra tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ

Việc cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là

có căn cứ và hợp pháp vừa là quyền nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ của

đương sự Do đó, Điều 96 BLTTDS năm 2015: “Trong quá trình Tòa án giải

quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho tòa án”

Đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh như đương sự Các đương sự được giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào

mà họ muốn sử dụng như là chứng cứ của vụ án để chứng minh cho yêu cầu của

họ là có căn cứ và hợp pháp Nếu đương sự nào đang quản lý, lưu giữ chứng cứ

mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ đó Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ phải được lập biên bản giao nhận

Cụ thể, đương sự có nghĩa vụ cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau:

+ Cùng với việc nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp bản sao hoặc bản chính các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trường hợp người khởi kiện không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do Đồng thời

Trang 40

người khởi kiện phải sao gửi cho người bị kiện đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ nộp theo đơn khởi kiện

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý vụ án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng từ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) Trường hợp cần gia hạn, thì phải có đơn xin gia hạn gửi cho tòa án nêu rõ lý do để tòa án xem xét Hết thời hạn này mà người được thông báo không nộp cho tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện thì tòa án căn cứ vào các tài liệu, án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật

- Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa

án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện

Thẩm phán phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, nếu xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà đương sự giao nộp chưa đủ cơ sở

để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng

cứ Việc yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ phải được thực hiện bằng hình thức văn bản

Xác minh, thu thập chứng cứ: được quy định tại Điều 97 BLTTDS năm

2015

Việc thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án không chỉ

là nghĩa vụ của đương sự mà còn là trách nhiệm của Tòa án Trước tiên, đương

sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Đối với đương sư:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình mình thu thập thu thập tài liệu, chứng cứ bằng các biện pháp sau đây:

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về “chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về" “"chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
4. Ban Chấp hành Trung ương (2010), “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện Kiểm sát và cơ quan điều tra theo nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", Kết luận của Bộ Chính trị số 79-KL/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện Kiểm sát và cơ quan điều tra theo nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2010
8. Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
9. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
10. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn thi hành một số quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13
11. Nguyễn Văn Động (2017), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2017
12. Nguyễn Văn Hiện (2001), Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường năng lực xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường năng lực xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện
Tác giả: Nguyễn Văn Hiện
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Thu Hương (2009), Đào tạo Thẩm phán của Học viện Tư pháp theo yêu cầu của cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo Thẩm phán của Học viện Tư pháp theo yêu cầu của cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2009
14. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân qua thực tiễn của Tòa án nhân dân Tối cao, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân qua thực tiễn của Tòa án nhân dân Tối cao
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
25. Quốc Hội, Nghị quyết số 103/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 103/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự số
26. Trường Đại học luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
28. Tòa án nhân dân Tối cao (2014), Báo cáo tổng kết năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2013
Tác giả: Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2014
29. Tòa án nhân dân Tối cao (2015), Báo cáo tổng kết năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2014
Tác giả: Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2015
30. Tòa án nhân dân Tối cao (2016), Báo cáo tổng kết năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2015
Tác giả: Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2016
31. Tòa án nhân dân Tối cao (2017), Báo cáo tổng kết năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2016
Tác giả: Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2017
33. Tòa án nhân dân Tối cao (2017), Quyết định số 120/QĐ-TATC ngày 19/6/2017 về việc ban hành quy định xử lý trách nhiệm đối với người giữ chức danh tư pháp trong ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 120/QĐ-TATC ngày 19/6/2017 về việc ban hành quy định xử lý trách nhiệm đối với người giữ chức danh tư pháp trong ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2017
34. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Báo cáo tổng kết công tác các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017
35. Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (2013), Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014
Tác giả: Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
Năm: 2013
36. Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (2015), Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
Năm: 2015
37. Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (2016), Báo cáo tổng kết công tác năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w