Bên cạnh đó, Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định những yêu cầu về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm: Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đ
Trang 1- -
NGUYỄN QUỐC KỲ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ,
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGHỆ AN, NĂM 2018
Trang 2NGUYỄN QUỐC KỲ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ,
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 83.80.10.6
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Phạm Thị Huyền Sang
NGHỆ AN, NĂM 2018
Trang 3Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Vinh đã truyền đạt kiến thức cho tác giả trong suốt thời gian học tập Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn
chân thành nhất đến Tiến sĩ Phạm Thị Huyền Sang đã nhiệt
tình giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Chân thành gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai, Phòng Đăng ký kinh doanh -
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cũng như các cơ quan
có thẩm quyền liên quan trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện cho tác giả thu thập số liệu và kiến thức thực tiễn để phục vụ cho bài viết của mình
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị, bạn
bè, đồng nghiệp đã tích cực hỗ trợ tác giả hoàn thành đề tài
Trân trọng!
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu, các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Nghệ An, ngày 30 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Kỳ
Trang 5Trang LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm và ý nghĩa 13
1.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại 16
1.2.1 Đối tượng thi hành các bản án kinh doanh thương mại 16
1.2.2 Ra quyết định thi hành các bản án kinh doanh thương mại 17
1.2.3 Ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại 23
1.2.4 Thủ tục thi hành các bản án kinh doanh thương mại 27
1.2.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo thi hành bản án kinh doanh thương mại 36
1.3 Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại 38
1.3.1 Bảo đảm về pháp lý 39
1.3.2 Bảo đảm về chính trị 40
1.3.3 Bảo đảm về kinh tế - xã hội 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
Trang 6DÂN SỰ TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Những đặc điểm về kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Nai tác động trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật trong thi hành bản án kinh doanh thương mại 46 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thi hành bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự tại tỉnh Đồng Nai 52
2.2.1 Những thành tựu đạt được 52
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong thi hành các
án kinh doanh thương mại tại tỉnh Đồng Nai 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA
CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
3.1 Định hướng đổi mới pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại của các cơ quan thi hành án dân sự 80 3.2 Một số giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự 82
3.2.1 Đảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình thi hành án 82 3.2.2 Hoàn thiện các điều kiện luật định về thi hành án 84 3.2.3 Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho các chủ thể có liên quan đến thi hành án 92 3.2.4 Phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97 KẾT LUẬN 98 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7STT TÊN BẢNG NỘI DUNG
1 Bảng 2.1 Số đơn vị hành chính của tỉnh Đồng Nai
2 Bảng 2.2
Bảng số liệu tổng số vụ thi hành án kinh doanh thương mại so với tổng số vụ thi hành án dân sự và tỷ lệ thi hành án, giai đoạn năm 2013 - 2016 tại Đồng Nai
3 Bảng 2.3
Bảng số liệu về tổng số tiền thi hành án kinh doanh thương mại so với tổng số tiền thi hành án dân sự, giai đoạn năm 2013 - 2016 tại Đồng Nai
4 Bảng 2.4
Bảng số liệu về tổng số tiền án kinh doanh thương mại
đã thi hành so với tổng số tiền án kinh doanh thương mại cần thi hành án, giai đoạn năm 2013 - 2016 tại Đồng Nai
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi hành án dân sự là hoạt động nhằm thực thi các bản án và các quyết định đã
có hiệu lực pháp luật Các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nhân danh nhà nước
đã có hiệu lực pháp luật khi được thực thi, chấp hành nghiêm chỉnh sẽ có tác động tích cực và trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Vì vậy, hoạt động thi hành án dân sự có một ý nghĩa vô cùng to lớn và quan trọng trong việc giữ gìn kỷ cương phép nước, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác thi hành án, kể từ năm 1993 đến nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng
về công tác thi hành án dân sự (trong đó có công tác thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại), tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành, phát triển tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự
Mặc dù, công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, công tác thi hành án dân sự có tăng lên nhưng chưa thực sự bền vững, án dân sự vẫn còn tồn đọng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sự quan tâm, mong mỏi của Đảng, nhà nước và nhân dân, hoạt động thi hành án chưa thật sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật Đây là vấn đề rất quan trọng được đặt ra trong công tác thi hành
án dân sự hiện nay của cả nước nói chung cũng như của tỉnh Đồng Nai nói riêng Thực trạng nêu trên, có một phần xuất phát từ nguyên nhân: Trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở nước ta đã có sự cắt khúc, tách rời hầu như hoàn toàn giữa cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án, trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thi hành án bị chậm, tồn đọng, nhiều vụ việc gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài; quá trình tổ chức thi hành án vẫn còn một số khó khăn vướng mắc do thi hành án dân sự là lĩnh vực có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác, liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau; chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất
Trang 9giữa cơ quan pháp luật trong việc xử lý các hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở thi hành án 1
Một trong những tồn tại lớn nhất trong công tác thi hành án dân sự những năm qua là tình trạng án tồn đọng kéo dài, số lượng ngày càng tăng song chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết, nhất là đối với thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Bởi lẽ, tính chất của công tác thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại rất phức tạp; nhận thức về công tác thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại của các cấp, các ngành còn hạn chế; tại một số địa phương, các cấp chính quyền chưa thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác này; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự chưa được kiện toàn, đào tạo và bồi dưỡng kịp thời, cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc chưa được đầu tư tương xứng với nhiệm vụ mới được giao
Chính vì vậy, để giải quyết tình trạng án tồn đọng, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự nói chung và thi hành án dân sự trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói riêng cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tế Cần nghiên cứu tình hình này trên địa bàn phức tạp, sẽ cho thấy toàn cảnh bức tranh về thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Có thể thấy một trong những địa bàn phù hợp đó là tỉnh Đồng Nai, vì đây là địa phương nơi tác giả hiện đang sinh sống, công tác đồng thời cũng là địa phương có số lượng các vụ việc phải thi hành án tương đối lớn, tính chất các vụ việc khá khó khăn phức tạp
Từ những phân tích trên, đứng dưới góc độ của người được thi hành án, tác giả
chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự, từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Vinh Đây
là đề tài mà trong quá trình hoạt động công tác pháp chế tại doanh nghiệp, tác giả nhận thấy pháp luật hiện hành vẫn còn có nhiều điểm bất cập dẫn đến nhiều bản án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại đã được tuyên và có hiệu lực pháp luật nhưng không
1 Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo kết quả tổng kết công tác thi hành án dân sự giai đoạn 1993 - 2012 và công tác
thi hành án hành chính giai đoạn 1996 - 2012 thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp [6]
Trang 10thể thi hành án, dẫn đến không thể đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, do đó đề tài này có tính cấp thiết và ý nghĩa trong thực tiễn hiện nay
Liên quan đến đề tài này, tác giả có thể tổng quan tình hình nghiên cứu như sau:
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã và đang có những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài những năm gần đây Nhận thấy công tác thi hành án dân sự vẫn còn có những bất cập nhất định nên đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về
vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là: Đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do TS
Nguyễn Đình Lộc làm chủ nhiệm; Đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Bộ Tư
pháp chủ trì; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành
án”, mã số 96-98-027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện;
Đề tài “Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001”
do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện
Bên cạnh đó cũng còn có một số các luận án và công trình nghiên cứu khác như:
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sỹ “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân
sự ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Thái; Luận án tiến sỹ “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn
Quang Thái; Luận án tiến sỹ “Hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự
Việt Nam” của tác giả Đặng Đình Quyền; Luận văn thạc sỹ “Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam” của tác giả Lê Xuân Hồng; Luận văn thạc sỹ “Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn; Luận văn thạc sỹ “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác
giả Nguyễn Công Long
Về cơ bản, các luận án, công trình nghiên cứu nói trên đã nêu ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về khái niệm thi hành án và thi hành án dân sự, qua đó tìm hiểu các đặc điểm, bản chất của thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học
Trang 11về pháp luật trong thi hành án Thông qua việc đánh giá về thực trạng của pháp luật trong thi hành án dân sự, các tác giả đã nêu ra những điểm bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung để nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thi hành án dân sự Như vậy, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu các vấn đề lý luận về thi hành án dân sự tại Việt Nam và các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự nói chung
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và các luận án tiến sỹ chuyên sâu về khoa học lý luận còn một số các bài viết nghiên cứu liên quan đến công tác thi hành án dân sự được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Đỗ
Xuân Lợi “Vai trò của công tác hòa giải trong thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ
và pháp luật số 01/2005; Phạm Quang Dũng “Biện pháp tự nguyện trong thi hành án
dân sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 4/2005; Trương Vĩnh Trọng “Thi hành án dân sự phải là công việc, nhiệm vụ của cấp uỷ, chính quyền đoàn thể nhân dân”, Tạp
chí Dân chủ và pháp luật số 8/2005; Phạm Quốc Toản “Hòa giải - biện pháp nâng cao
hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật số chuyên đề tháng 7/2006; Nguyễn Ngọc Kiên “Một số kiến nghị từ thực
tiễn hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự ở xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Kiểm sát
số 19/2006; Trần Phương Thảo “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí Luật học số 7/2007; Nguyễn Văn Luyện “Tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự
trong cải cách tư pháp”,
Các bài viết chủ yếu nêu lên một số vấn đề riêng lẻ liên quan đến công tác thi hành án nói chung và một số thực tiễn trong hoạt động thi hành án
Như vậy có thể thấy, các công trình nghiên cứu nói trên đã có những nội dung nghiên cứu nhất định về công tác thi hành án dân sự được nhìn dưới những góc độ, khía cạnh và ở mức độ khác nhau Ở một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nhưng chưa nghiên cứu vấn đề riêng biệt và chuyên sâu về thi hành án dân sự trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Những đề tài này tập trung nghiên cứu những vấn đề thi hành
án dân sự nói chung và không được thực hiện trên một địa bàn cụ thể Ngoài ra, một số
Trang 12công trình nghiên cứu vẫn dựa trên Pháp lệnh thi hành án dân sự hoặc Luật Thi hành
án dân sự năm 2008
Đề tài “Áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự, từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” nghiên cứu vấn
đề pháp lý của thi hành án nói chung theo Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 64/2014/QH13 (Luật thi hành án dân sự) Đặc biệt là những vấn đề trong thi hành các bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Đề tài này ngoài việc nghiên cứu những đặc điểm của thi hành án, quyết định trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói chung mà còn những đặc điểm đặc thù của việc thi hành các bản án, quyết định kinh doanh thương mại (sau đây gọi tắt là “bản án kinh doanh thương mại”) trên địa bàn có nhiều doanh nghiệp như tỉnh Đồng Nai nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và làm rõ được cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự đối với các bản án kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai; đánh giá được thực trạng và từ đó đề uất được các giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật đ ng đắn trong thi hành án dân sự đối với các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn
hiện nay
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về thi hành án dân sự; thực trạng thi hành án dân sự trong lĩnh vực kinh doanh thương mại;
và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành các bản án kinh doanh thương mại tại tỉnh Đồng Nai Từ đó r t ra những giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói riêng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 13Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm
2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 và những văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn
Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự đối với các bản án kinh doanh thương mại qua thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu những bất cập phát sinh từ việc thi hành các bản án kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong khoảng thời gian từ 2013 (trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 64/2014/QH13 có hiệu lực) đến 2016 (sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 64/2014/QH13 có hiệu lực)
4 Những đóng góp mới của đề tài
Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung và thi hành các bản án kinh doanh thương mại nói riêng của cơ quan Thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu một
số chuyên đề khác liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự nói chung, thi hành án đối với các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan Thi hành ánh dân sự ở tỉnh Đồng Nai nói riêng
Mặt khác, nội dung của luận văn còn có thể góp phần xây dựng, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, thao tác nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thi hành án dân sự trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp như hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra một số nhiệm vụ trong quá trình nghiên cứu đề tài Đó là:
Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong hoạt động thi hành
án dân sự của cơ quan thi hánh án dân sự ở tỉnh Đồng Nai như ây dựng khái niệm,
Trang 14nêu lên các đặc điểm và làm rõ nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự đối với các bản án kinh doanh thương mại;
Thứ hai, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế về áp dụng pháp luật
trong hoạt động thi hành án dân sự đối với các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
Thứ ba, đề uất những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo áp dụng pháp
luật trong hoạt động thi hành án dân sự đối với các bản án kinh doanh thương mại của
cơ quan thi hành án dân sự các cấp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật: các quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về tăng cường pháp chế trong hoạt động thi hành án, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Luận văn sử dụng phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp: thực tiễn, tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích,…
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần: Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục bảng biểu và Danh mục tài liệu tham khảo Nội dung luận văn này gồm có 03 Chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật của cơ quan thi hành
án dân sự trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại
Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai
Chương 3 Định hướng và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án dân sự
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại
1.1.1 Khái niệm
Trong quá trình thực hiện chức năng của nhà nước, để bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhiều quy phạm pháp luật đã được ra đời để điều chỉnh các mối quan hệ nêu trên, trong đó có pháp luật về thi hành án
Thi hành án được hiểu là việc cơ quan thi hành án đưa các bản án, các quyết định đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án một mặt nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, mặt khác còn là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân bị xâm phạm
Để làm rõ khái niệm về thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thì trước hết cần phải hiểu rõ khái niệm về thi hành án dân sự Liên quan đến vấn đề này, hiện nay đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau
về thi hành án dân sự Tuy nhiên, quan điểm phản ánh chính ác và đầy đủ bản chất của hoạt động thi hành án dân sự thì thi hành án dân sự là dạng hoạt động hành chính
- tư pháp 2
Bản chất của thi hành án dân sự đó là vừa mang tính chất của hoạt động hành chính, vừa có những yếu tố của hoạt động tư pháp, bởi lẽ: thi hành án dân sự không phải là một giai đoạn tố tụng, có mục đích khác với mục đích của tố tụng Tố tụng là
2 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh [26, tr 14]
Trang 16quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đ ng các quy định của pháp luật Do đó, toàn bộ quá trình tố tụng phải được diễn ra theo một quy trình hết sức chặt chẽ, đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc như công khai, bình đẳng, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng, và cho đến khi có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng mới được xem kết th c Trong khi đó, công tác thi hành án dân sự là quá trình tiến hành các hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khác với trong thủ tục tố tụng dân sự, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thi hành án dân sự là tổ chức thi hành, có tính hành chính, mệnh lệnh liên quan
Tính hành chính: Thi hành án dân sự là dạng hoạt động chấp hành, quản lý
Thi hành án dân sự được xem là dạng hoạt động chấp hành vì hoạt động thi hành
án chỉ được tiến hành sau khi các bản án hoặc các quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ quy định của pháp luật Toàn bộ quá trình thi hành
án được thực hiện với những hoạt động, các biện pháp và cách thức khác nhau đều nhằm thi hành những nội dung đã được nêu trong các bản án, quyết định của Tòa án Thi hành án dân sự là một giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, nó có mối quan hệ mật thiết, đan en với các giai đoạn tố tụng tại Tòa án trước đó Giai đoạn thi hành án dân sự có thể bắt đầu ngay từ khi việc xét xử vụ án chưa kết th c như việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án (Điều 130 Luật Thi hành án dân sự) hoặc những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay như bản
án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị(khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự) Ngay cả khi việc xét xử chấm dứt, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng mối quan hệ giữa cơ quan ét ử và cơ quan thi hành án dân sự vẫn tồn tại như việc cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định khi phát hiện có sai lầm hoặc án tuyên không khả thi, không thể thi hành
Trang 17được (khoản 2, khoản 3 Điều 179 Luật Thi hành án dân sự) Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn thi hành án (điểm d, khoản 1, Điều 48 Luật Thi hành án dân sự); tạm đình chỉ thi hành án dân sự để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm; tái thẩm hoặc Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án (khoản 1, khoản 2 Điều 49 Luật Thi hành
án dân sự) Các quyết định này có tính bắt buộc phải chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án dân sự đạt hiệu quả
Thi hành án dân sự là dạng hoạt động quản lý vì thi hành án là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan thi hành án tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được ác định trong các bản án, quyết định của Tòa án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục đối tượng phải thi hành án có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tổ chức, cá nhân, tôn trọng pháp luật nhà nước
Tính tư pháp: Căn cứ để thi hành án là các bản án, quyết định của Tòa án và có
sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào trong quá trình thi hành án Xét về mặt hình thức thì bên cạnh các chủ thể như Viện kiểm sát, Tòa án thì các chủ thể khác tham gia vào giai đoạn thi hành án dân sự có sự đa dạng và đông đảo hơn so với các giai đoạn tố tụng trước đó tại Tòa án Ví dụ: tham gia thi hành án dân sự còn có tổ dân phố, Ủy ban nhân dân cấp ã (nơi người phải thi hành án cư tr ), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án làm việc; ngân hàng, tổ chức tín dụng nơi người phải thi hành án mở tài khoản, giao dịch Các chủ thể này
có đặc điểm khác với các chủ thể trong giai đoạn tố tụng trước đó về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, tác giả đồng tình với quan điểm coi thi hành án là một hoạt động quản lý hành chính - tư pháp Do đó, thi hành
án được hiểu “là hoạt động hành chính – tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, do
Trang 18các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định, thông qua đó bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế”
Từ khái niệm về thi hành án dân sự nói chung, phải khẳng định thi hành bản án kinh doanh thương mại là một bộ phận của hoạt động thi hành án dân sự Để có một khái niệm chính xác về thi hành bản án kinh doanh thương mại, ta cần hiểu thế nào là kinh doanh thương mại, hoạt động thương mại, án kinh doanh thương mại từ đó mới
có khái niệm về thi hành án kinh doanh thương mại cụ thể
Trong phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự, yếu tố “kinh doanh thương mại” chưa được thể hiện rõ (ngoài đối tượng là quyết định của trọng tài thương mại) Tuy nhiên, án kinh doanh thương mại là loại án có vị trí quan trọng trong lĩnh vực thi hành án, xuất phát từ tính chất và giá trị cần được thi hành án Vậy, căn cứ nào
để cơ quan thi hành án dân sự thụ lý, tổ chức thi hành các bản án, quyết định có yếu tố
“kinh doanh thương mại”?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì “hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Ngày nay xã hội ngày càng phát triển thì các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi nhuận càng nhiều, các hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng đa dạng
và phong ph , cũng vì vậy các tranh chấp, các vụ viêc liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại xảy ra nhiều hơn
Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án gồm có: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm
Trang 19hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ
phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định những yêu cầu về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm: Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại; Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài; Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Cần hiểu rằng bản án, quyết định dân sự được đề cập trong Luật Thi hành án dân sự là bao hàm cả các bản án, quyết định về kinh doanh thương mại Do tính chất tương đồng giữa vụ án và việc dân sự với vụ án và việc kinh doanh, thương mại nên pháp luật thi hành án dân sự không tách bạch giữa pháp luật thi hành án dân sự với pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại Những quy định của pháp luật thi hành
án dân sự cũng chính là các quy định của pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại, do đó không tồn tại một hệ thống pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại chuyên biệt, độc lập so với hệ thống pháp luật thi hành án dân sự nói chung
Như vậy, thi hành án kinh doanh thương mại là hoạt động hành chính – tư pháp,
Trang 20do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại
Thứ nhất, chủ thể thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại chủ yếu là
các doanh nghiệp
Xuất phát từ quy định của Luật Thương mại, Luật Tố tụng dân sự Theo đó, đặc điểm để ác định các vụ án kinh doanh thương mại là tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh với nhau là vì mục đích lợi nhuận Hiện nay, chủ yếu là tranh chấp giữa các doanh nghiệp với nhau liên quan đến việc ký kết, thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ,… hoặc giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng với doanh nghiệp liên quan đến quan hệ vay vốn tín dụng vấn đề quan trọng là lý do của tranh chấp xuất phát từ hoạt động kinh doanh, mục đích của việc vay vốn nhằm kinh doanh
Thứ hai, tài sản để đưa ra thi hành trong bản án kinh doanh thương mại thường
có giá trị lớn
Tài sản của các chủ thể kinh doanh thương mại tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài khoản tại ngân hàng, sản phẩm hàng hóa, và nhiều tài sản tương đối đặc biệt như: Nhà ưởng, thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ, thương hiệu kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa Đây đều là những tài sản có giá trị lớn
Trong quá trình hoạt động, để có được vốn hoạt động thì các doanh nghiệp phải
Trang 21thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có vay vốn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo
có đủ vốn cho các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư cho doanh nghiệp là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng khá phổ biến Do đó, doanh nghiệp thường
sử dụng chính tài sản sẵn có của mình để đảm bảo các khoản vay có giá trị, các hợp đồng tín dụng trong hoạt động kinh doanh thương mại thường có giá trị lớn Dẫn tới khi đưa ra thi hành án, các tài sản trong thi hành án kinh doanh thương mại cũng là những tài sản “khổng lồ” của doanh nghiệp
1.2.1.2 Ý nghĩa
Áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại là hoạt động thực thi các phán quyết của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền liên quan đến các vấn đề về tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Với đặc thù là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành theo trình
tự, thủ tục do pháp luật thi hành án quy định thì hoạt động thi hành các bản án kinh doanh thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bao gồm ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự nói chung như:
Thông qua hoạt động thi hành án, những phán quyết của Tòa án nhân danh nhà nước, thể hiện ý chí của nhà nước được trở thành hiện thực, công lý và công bằng xã hội được thực hiện trên thực tế Quá trình giải quyết một vụ án chỉ có thể được xem là kết thúc khi các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành đầy đủ và kịp thời Các phán quyết của Tòa án có trở thành hiện thực hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào quá trình thực thi phán quyết đó trong cuộc sống Thông qua giai đoạn tổ chức thi hành án thì các bản án, quyết định của Tòa án mới có hiệu lực trên thực tế và công lý mới được thực hiện Với các ý nghĩa đó, công tác thi hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu của quá trình bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Thông qua công tác thi hành án thì kết quả của hoạt động xét xử mới được củng cố và qua đó, các bản án, quyết định của Tòa án mới được đảm bảo thực thi Khi công tác thi hành án dân sự được thực hiện nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động xét xử; góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan ét ử trước xã
Trang 22hội Không tổ chức tốt và kịp thời công tác thi hành án, thì các phán quyết của tòa án chỉ là công lý trên giấy
Bên cạnh đó, hoạt động thi hành án còn được em như giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn các phán quyết của Tòa án, qua đó sẽ phản ánh một cách trung thực về chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử Thông qua hoạt động thi hành án, các thẩm phán Tòa án nhân dân có thể rút ra cho mình những bài học bổ ích, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử 3
Ngoài ra, hoạt động thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục
ý thức pháp luật của nhân dân Đặc thù của công tác thi hành án dân sự có thể nhận thấy, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên và của cơ quan thi hành án Bên cạnh đó còn có sự chỉ đạo cụ thể, sát sao của chính quyền địa phương và sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan, sự đồng tình của quần chúng để tạo ra được một sức mạnh tổng hợp và nâng cao ý thức, trách nhiệm của cả cộng đồng trong hoạt động thi hành án dân sự Do đó, hoạt động thi hành án không chỉ là một hoạt động nghiệp vụ riêng của Chấp hành viên hay cơ quan thi hành án mà đó còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, của chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng Hay nói một cách khác, hoạt động thi hành án là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Thông qua các quy định của pháp luật thi hành án dân sự và áp dụng trong việc
xử lý các hành vi chống đối, cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án, mọi người càng thấy được thái độ cụ thể của pháp luật đối với những người
cố ý vi phạm Đồng thời cũng từ đó mà nhận thức pháp luật, ý thức pháp luật của nhân dân và vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng cao Tổ chức tốt công tác thi hành án còn tạo niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật và sức mạnh của Nhà nước ngày càng được củng cố vững chắc
Bên cạnh những ý nghĩa chung của hoạt động thi hành dân sự, hoạt động
3 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh [26,tr.19-20]
Trang 23thi hành bản án kinh doanh thương mại có ý nghĩa đặc trưng Cụ thể:
Kinh doanh thương mại là môi trường hiện đang có nhiều bất cập, nhất là trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh và đảm bảo khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, thương nhân Việc doanh nghiệp này chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp, được Tòa án ra bản án mà không thực hiện được
sẽ khó th c đẩy được sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy đòi hỏi phải thực thi nhanh
và hiệu quả bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực này Đó là một trong những yêu cầu cơ bản của việc phát triển kinh tế thị trường
Tài sản để đưa ra thi hành trong án kinh doanh thương mại thường có giá trị lớn Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh thương mại hiệu quả đem lại khoản lợi nhuận khổng lồ cho doanh nghiệp, các chủ sở hữu bao giờ cũng cần nguồn vốn lớn đầu tư,
th c đẩy nền kinh tế đất nước càng ngày càng phát triển
Hơn nữa, hầu hết các vụ thi hành án đều tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhất là trong tình hình án tín dụng ngân hàng tồn đọng rất nhiều, do đó hoạt động thi hành án các bản kinh doanh thương mại ngày càng phát triển sẽ giảm bớt phần nào số lượng án tồn đọng trên tổng số vụ việc thi hành án dân sự
1.2 Nội dung về áp dụng pháp luật trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại
1.2.1 Đối tượng thi hành án kinh doanh thương mại
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đối tượng thi hành án kinh doanh thương mại chính là bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền bao gồm Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại
Thông thường các chủ thể nền kinh tế khi có tranh chấp kinh doanh thương mại cũng thường lựa chọn Tòa án giải quyết Số lượng vụ việc Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại xử lý thường ít Vì vậy, các bản án quyết định về kinh doanh thương mại cần đưa ra thi hành chủ yếu do Tòa án ban hành
Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền em ét đưa
ra các quyết định, phán quyết khi giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
Trang 24Đây có thể nói là nét đặc thù chỉ có trong đối tượng thi hành án kinh doanh thương mại Thực tế các loại vụ việc khác không được Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh giải quyết Như án hôn nhân gia đình, lao động luôn được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được ra đời khi nền kinh tế phát triển, hạn chế nảy sinh tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh, trong hợp đồng kinh tế giữa các bên thường đã ghi nhận việc lựa chọn tổ chức trọng tài thương mại nào có thẩm quyền giải quyết Đối với Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ giải quyết khi có hoạt động hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp vi phạm quy định của Luật cạnh tranh
1.2.2 Ra quyết định thi hành các bản án kinh doanh thương mại
- Thẩm quyền ra quyết định thi hành các bản án kinh doanh thương mại
Không phải bất cứ cơ quan thi hành án nào trong hệ thống cơ quan thi hành án được tổ chức theo ngành dọc cũng đều có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định kinh doanh thương mại có hiệu lực pháp luật của Tòa án Tùy từng loại vụ việc, tùy tính chất của đương sự và bản chất của tài sản mà việc thi hành án lại thuộc thẩm quyền của một cơ quan thi hành án nhất định Cụ thể theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành án dân sự thì:
Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định kinh doanh thương mại sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác
Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cùng địa
Trang 25bàn; Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao; Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do
cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án
Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định
về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Toà
án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành
án cấp quân khu; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác
- Các trường hợp ra quyết định thi hành bản án kinh doanh thương mại
Quyết định thi hành án dân sự là văn bản đầu tiên, được đánh số Bút lục 01 trong mỗi hồ sơ thi hành án Việc ra quyết định thi hành án đ ng sẽ làm cơ sở vững chắc, là kim chỉ nam cho những giai đoạn thi hành án tiếp theo và ngược lại Do đó, các quy định về việc ra quyết định thi hành án dân sự cần phải chuẩn, rõ ràng, cụ thể để việc
áp dụng pháp luật được thuận lợi
Thứ nhất, pháp luật thi hành án dân sự quy định hai trường hợp cơ quan thi hành
Trang 26án phải ra quyết định thi hành án kinh doanh thương mại Cụ thể là:
Trường hợp 01: Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành bản
án kinh doanh thương mại
Trên cơ sở Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định, thì cơ quan thi hành án chỉ chủ động ra quyết định thi hành
án kinh doanh thương mại đối với trường hợp sau: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; Trả lại tiền, tài sản cho chủ thể kinh doanh thương mại; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho nhà nước; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản
Như vậy, trong một số trường hợp cần thiết, xét thấy cần tiến hành ngay việc thi hành án để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, của nhà nước thì không cần
có yêu cầu của bất kỳ chủ thể nào trong thi hành các bản án kinh doanh thương mại,
cơ quan thi hành án cũng vẫn có quyền ra quyết định thi hành án Đặc biệt, việc các chủ thể trong bản án kinh doanh thương mại phải thi hành án cố tình tìm cách tẩu tán tài sản, nên thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vừa chặt chẽ, vừa linh động,
cơ quan thi hành án cần chủ động áp dụng các biện pháp này
Trường hợp 02: Người được thi hành án yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại
Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định: “Ngoài các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ
ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án” kinh doanh thương mại
kèm theo trích lục bản án, quyết định và các giấy tờ cần thiết khác gửi cho cơ quan thi hành án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định cởi mở hơn về thủ tục doanh nghiệp yêu cầu thi hành án Theo đó, doanh nghiệp không nhất thiết phải có đơn bằng văn bản (đơn yêu cầu) gửi cho cơ quan thi hành án, mà có thể bằng nhiều hình thức khác nhau, phù hợp với thông lệ quốc tế, vì
Trang 27vậy thuật ngữ “yêu cầu thi hành án” đã ra đời thay thế cho “đơn yêu cầu” (khoản 1
Điều 36)
Quyền “yêu cầu thi hành án” được ghi nhận cụ thể tại Điều 31 Luật Thi hành án
dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014, theo đó doanh nghiệp tự mình hoặc có thể
ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án, có thể trực tiếp nộp đơn, gửi qua đường bưu điện, trình bày bằng lời nói Các chủ thể yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại thường có tư cách pháp nhân, theo đó đơn yêu cầu phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân Người đại diện hợp pháp có thể
là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, nếu không thì sẽ là người được người đại diện theo ủy quyền, nội dung ủy quyền liên quan đến hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại Cá biệt, trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập thành biên bản có nội dung như đơn yêu cầu thi hành án, có chữ ký của người yêu cầu thi hành án
Pháp luật thi hành án dân sự hạn chế các trường hợp cơ quan thi hành án từ chối yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại của người yêu cầu thi hành án Việc từ chối yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại phải được thực hiện bằng văn bản, chỉ từ chối trong các trường hợp: Chủ thể không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; Bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự; Cơ quan thi hành
án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành bản án kinh doanh thương mại đó; Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án Việc từ chối yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành án phải được thực hiện bằng văn bản và phải thông báo cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án
Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành bản án kinh doanh thương mại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại của người yêu cầu, nếu yêu cầu thi hành án của người yêu cầu không thuộc các trường hợp phải từ chối thi hành án
Trang 28Trong trường hợp nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì cơ quan thi hành án phải ra ngay quyết định thi hành án; đối với trường hợp nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì cơ quan thi hành án phải
ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định
Thứ hai, thời hiệu yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì: “Thời hiệu yêu
cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án” Như vậy, thời hiệu
yêu cầu thi hành án đối với các bản án kinh doanh thương mại là thời hạn do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án Ngược lại nếu hết thời hạn đó mà người được thi hành án, người phải thi hành án vẫn không có yêu cầu thi hành án thì người được thi hành án không còn quyền yêu cầu thi hành đối với phần bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án, còn người phải thi hành án thì không còn nghĩa vụ phải thi hành đối với phần bản án, quyết định đó cho người được thi hành án Như vậy đối với phần thi hành theo đơn yêu cầu thì bản án, quyết định sẽ hết hiệu lực thi hành
Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án chứ không quy định thời hạn thi hành một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là bao lâu, khi đã có yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại trong thời hiệu nêu trên thì bất cứ khi nào có điều kiện thi hành án thì phải thi hành Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại chỉ áp dụng đối với trường hợp thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án Vì vậy, trong trường hợp nếu người phải thi hành án phải thi hành các khoản không thuộc trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 36 Luật thi hành án dân sự thì khi hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật mà người được thi hành án không có yêu cầu thi hành án, thì
Trang 29người phải thi hành án có quyền chứng minh thời hiệu thi hành án đã hết
Như vậy, quyền yêu cầu thi hành đối với các bản án kinh doanh thương mại được Luật Thi hành án dân sự quy định chỉ được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (hoặc nghĩa vụ đến hạn hay đến định kỳ quy định trong bản án) và khi quá thời hạn này, nếu nguời yêu cầu thi hành án không chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành bản án kinh doanh thương mại đ ng thời hạn thì sẽ em như hết quyền yêu cầu thi hành án Việc thi hành án quá hạn do Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự xem xét chấp nhận hay không chấp nhận
Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan được hiểu là thuộc một trong các trường hợp sau:
- Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa;
- Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể yêu cầu thi hành án đ ng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc đương sự chết mà chưa ác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa ác định được tổ chức, cá nhân mới
có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật hoặc do lỗi của cơ quan ét
xử, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đ ng hạn
Hoạt động hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, cổ phần hóa hiện nay của các doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến, các doanh nghiệp là người được thi hành án ở giai đoạn đang trong quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp dưới các hình thức này nên không thể ác định chính xác chủ thể yêu cầu thi hành án, do đó pháp luật đã tạo điều kiện cho phép ác định việc các doanh nghiệp, tổ chức hợp nhất, cổ phần hóa là trở ngại khách quan làm cản trở quyền yêu cầu thi hành án là hoàn toàn phù hợp với u hướng kinh tế trong nước và thế giới
Trang 30Thứ ba, thông báo thi hành bản án kinh doanh thương mại
Các hoạt động liên quan đến thi hành bản án kinh doanh thương mại như quyết định thi hành án, giấy triệu tập, giấy báo đều được thông báo cho đương
sự để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động thi hành án Việc thông báo được thực hiện dưới các hình thức sau:
Thông báo trực tiếp: Quy định riêng tại Điều 41 Luật Thi hành án dân sự được
sửa đổi, bổ sung năm 2014, theo đó chỉ được coi là thông báo trực tiếp cho các chủ thể thi hành án kinh doanh thương mại khi văn bản được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật, hoặc người có chức năng nhận văn bản của doanh nghiệp, cơ quan tổ chức Nếu doanh nghiệp ủy quyền cho cá nhân thay mặt doanh nghiệp thực hiện các công việc liên quan đến thi hành án, thực hiện việc nhận các thông báo về thi hành án, thì việc thông báo phải do người này ký nhận trực tiếp
Niêm yết công khai: Hình thức này chỉ được thực hiện khi không tiến hành
thông báo trực tiếp được hoặc không rõ địa chỉ của các chủ thể thi hành bản án kinh doanh thương mại Ví dụ như doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục thông báo tạm ngừng hoạt động tại cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc đóng cửa không thấy làm việc, đã chuyển địa chỉ kinh doanh đi nơi khác nhưng không báo với cơ quan đăng ký kinh doanh về sự thay đổi địa chỉ,
Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Việc thông báo trên phương
tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc doanh nghiệp có yêu cầu Nếu doanh nghiệp ác định đang còn hoạt động tại địa phương thì
sẽ tiến hành đăng báo trên 02 số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh truyền hình của tỉnh
đó trong hai lần liên trên 02 ngày liên tiếp Nếu ác định doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa phương thì đăng trên báo hoặc đài phát thanh, truyền hình của trung ương
1.2.3 Ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại
Ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại là hoạt động của Thủ trưởng cơ quan thi hành án bằng một quyết định để chuyển hồ sơ vụ việc thi hành án thuộc thẩm quyền của mình cho một cơ quan thi hành án khác có điều kiện để tổ chức thi hành Có
Trang 31thể hiểu rằng việc ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại là trách nhiệm của
cơ quan thi hành án nơi có thẩm quyền nhưng không có điều kiện để tổ chức thi hành
mà phải chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan thi hành án khác có điều kiện tổ chức thi hành vụ việc
Để việc ủy thác thực sự có hiệu quả và đ ng với ý nghĩa của nó là để thuận lợi hơn trong việc tổ chức thi hành bản án kinh doanh thương mại, nhằm làm giảm chi phí
từ ngân sách nhà nước cũng như chi phí do đương sự phải chịu thì cần phải nắm và hiểu rõ bản chất của các quy định có liên quan
Về cơ sở pháp lý, hiện nay việc ủy thác thi hành án được quy định tại các Điều
55, 56, 57 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 22 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ đối với ủy thác thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Ngoài ra, ủy thác còn được quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 23/9/2010 của
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp đối với uỷ thác liên quan đến thu phí thi hành án
Thứ nhất, các căn cứ thực hiện ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại
Theo quy định về ủy thác thi hành án nêu tại Điều 55 Luật Thi hành án dân sự thì:
1 Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải uỷ thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ
sở
2 Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, nơi làm việc, nơi cư trú hoặc
có trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác thi hành án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án để thi hành phần nghĩa vụ của họ
Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến
Trang 32nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó
Trong trường hợp phải thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án
cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự uỷ thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án Quy định về chủ thể thi hành án đối với các nghĩa vụ liên đới tương tự như quy định về chủ thể của nghĩa vụ liên đới trong luật dân sự
3 Việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì việc ủy thác phải thực hiện ngay sau khi có đầy đủ căn cứ ủy thác
Quy định trên được hiểu rằng khi thực hiện việc ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại cần ác định rõ các căn cứ sau đây:
Một là, ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án là doanh nghiệp và/hoặc thành viên góp vốn của doanh nghiệp có tài sản
Việc xác định người phải thi hành án là doanh nghiệp và/hoặc thành viên góp vốn của doanh nghiệp có tài sản ở địa phương nào được thực hiện thông qua công tác
ác minh điều kiện thi hành án và để việc ủy thác được chính xác thì công tác xác minh cũng phải đ ng và đầy đủ
Hai là, ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án là doanh nghiệp có trụ sở
Trong trường hợp người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức thì việc ủy thác có thể thực hiện đến cơ quan thi hành án dân sự nơi có trụ sở của cơ quan, tổ chức đó
Thứ hai, thẩm quyền ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại
Trong phạm vi Điều 56 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm
2014, thẩm quyền ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại của cơ quan thi hành
án như sau:
Trang 33Một là, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh được ủy thác thi hành các bản án,
quyết định kinh doanh thương mại sau:
- Ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác thi hành bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Điều này cũng phải được hiểu vừa là thẩm quyền ủy thác đi và cũng vừa là thẩm quyền nhận ủy thác của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
- Ủy thác cho cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương
sự hoặc tài sản có liên quan đến quân đội đóng quân trên địa bàn;
- Ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện vụ việc còn lại
Hai là, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm
quyền thi hành án của mình cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác, cơ quan thi hành án cấp quân khu, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện khác có điều kiện thi hành
Ba là, cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi
hành án của mình cho cơ quan thi hành án cấp quân khu khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có điều kiện thi hành
Cơ quan thi hành án khi thực hiện việc ủy thác thi hành án kinh doanh thương mại cần bám sát và thực hiện đ ng quy định trên đây vì nếu ủy thác không đ ng thẩm quyền sẽ là căn cứ để cơ quan thi hành án nhận ủy thác gửi trả lại hồ sơ ủy thác (khoản 2 Điều 57 Luật Thi hành án dân sự) Điều đó sẽ góp phần làm cho việc thi hành bản án kinh doanh thương mại bị kéo dài và mục đích, ý nghĩa của việc ủy thác thi hành án sẽ không đạt được
Thứ ba, thực hiện ủy thác thi hành bản án kinh doanh thương mại
Điều 57 Luật Thi hành án dân sự quy định: Trước khi ủy thác, cơ quan thi hành
án dân sự phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên tại địa bàn có liên quan đến khoản uỷ thác Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì phải ra quyết định thu hồi một
Trang 34phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án và ra quyết định ủy thác cho nơi có điều kiện thi hành; Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự Trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng về thẩm quyền của cơ quan nhận ủy thác thi hành án, nội dung thi hành án Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về những sai sót
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải ra quyết định thi hành án nếu không có sai sót và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự
đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác
1.2.4 Thủ tục thi hành bản án kinh doanh thương mại
Thủ tục thi hành các bản án kinh doanh thương mại là trình tự thi hành các bản
án, quyết định kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật về thi hành án Quá trình thi hành bản án kinh doanh thương mại trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, được quy định tương ứng với trình tự thi hành án dân sự nói chung Phần lớn là các vụ việc chỉ được giải quyết khi có yêu cầu thi hành án, trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án không nhiều
Khi cơ quan thi hành án đã tiến hành thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành, thì thực tế ít trường hợp doanh nghiệp phải thi hành tự nguyện thi hành án,
mà đa số là do cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp cưỡng chế để giải quyết việc thi hành án Trình tự thủ tục thi hành bản án kinh doanh thương mại được tiến hành qua từng thủ tục sau:
- Xác minh điều kiện thi hành bản án kinh doanh thương mại
Xác minh điều kiện thi hành bản án kinh doanh thương mại là thủ tục quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án, kết quả của quá trình này cho phép ác định một bản án đã có hiệu lực pháp luật có điều kiện hay không có điều kiện thi hành để tiếp tục thực hiện các quy trình, thủ tục thi hành án tiếp theo Nếu sau khi hết thời hạn tự
Trang 35nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật Việc ác minh điều kiện thi hành án còn tùy thuộc vào loại vụ việc thi hành án thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án hay ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi hành án
Điều 44 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định việc
ác minh điều kiện thi hành bản án kinh doanh thương mại cụ thể như sau:
Thứ nhất, khi hết thời hạn tự nguyện thi hành bản án kinh doanh thương mại mà
người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên sẽ tiến hành
ác minh điều kiện thi hành án Trong trường hợp này người phải thi hành án có trách nhiệm phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình
Thứ hai, trong trường hợp người phải thi hành bản án kinh doanh thương mại
chưa đủ điều kiện thi hành án thì Chấp hành viên phải ác minh điều kiện thi hành án
ít nhất 06 tháng một lần
Trong trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không ác định được địa chỉ, nơi cư tr mới của người phải thi hành
án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần Sau hai lần ác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự)
Thứ ba, so với quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008, hiện nay Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã chuyển nghĩa vụ xác minh của người được thi hành án thành quyền xác minh, quyền ủy quyền xác minh của người được thi hành án
Bổ sung quy định, nếu cung cấp thông tin chính xác về ác minh điều kiện thi
Trang 36hành án thì người được thi hành án còn được miễn, giảm phí thi hành án Ngược lại,
Cơ quan thi hành án phải có trách nhiệm ác minh điều kiện thi hành án Vì chỉ cơ quan thi hành án mới có đủ điều kiện để phối hợp làm việc với cơ quan chức năng trong việc ác minh người phải thi hành án có hay không có tài sản Tuy nhiên, quy định trên lại chuyển một lượng lớn công việc, gánh nặng cho cơ quan thi hành án, áp lực công việc lẫn chi phí thi hành án Hoạt động thi hành án dân sự là nhằm mang lại quyền lợi thiết thực cho người được thi hành án, chính vì vậy nếu trong khả năng họ tự mình xác minh, ủy quyền cho người khác ác minh để gi p cơ quan thi hành án tiến hành nhanh hoạt động thi hành án cũng là việc đảm bảo quyền cho chính họ
Theo Điều 48 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã hướng dẫn việc ác định thế nào là cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án, để được miễn, giảm phí thi hành án Theo quy định, cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án sẽ được miễn, giảm phí thi hành án khi cơ quan thi hành án đã tiến hành xác minh mà không có kết quả, người phải thi hành án đã bị em ét là chưa có điều kiện thi hành án, nhưng nhờ có kết quả xác minh của người được thi hành án mà tiến hành được việc thi hành án Thực tế, khi người được thi hành án ác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, họ không hướng tới mục đích cung cấp thông tin để được miễn, giảm án phí thi hành án mà họ hướng tới quyền lợi được hưởng từ việc thi hành án theo bản án, quyết định Trong khi đó, án kinh doanh thương mại thường có giá trị rất lớn, quá trình đưa ra phán quyết đối với án kinh doanh thương mại
có thể dễ dàng hơn nhiều án khác, nhưng hoạt động thi hành án lại thường gặp nhiều khó khăn so với các loại án khác
Mặc dù, quy định của pháp luật khá chặt chẽ nhưng không thể lường được hết mọi việc, do đó các quy định trên nhằm khuyến khích người được thi hành án tham gia
hỗ trợ thi hành án, nhưng nếu áp dụng không chặt chẽ sẽ dẫn tới việc mất đi một khoản thu lớn sung vào công quỹ nhà nước Do đó, cần có sự quản lý chặt chẽ khi áp dụng quy định việc được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp này, tránh làm thất thoát nguồn thu của nhà nước
Trang 37- Hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành bản án kinh doanh thương mại
Thứ nhất, về hoãn thi hành bản án kinh doanh thương mại
Ngoài những trường hợp hoãn theo quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án dân
sự năm 2008, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã bổ sung một số trường hợp về hoãn thi hành án Theo đó, bổ sung các trường hợp hoãn thi hành án khi người phải thi hành án bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, trường hợp tài sản
để thi hành án đang có tranh chấp, được Tòa án thụ lý giải quyết bằng vụ án khác được quy định cụ thể đến các trường hợp (phân chia tài sản chung, tranh chấp hủy giấy chứng nhận, tài sản bị kê biên nhưng vẫn không đủ điều kiện thi hành án), trường hợp bản án đang trong quá trình giải thích, xem xét kháng nghị, trường hợp doanh nghiệp chuyển đổi chưa có chủ thể kế thừa quyền và nghĩa vụ, trường hợp người được nhận tài sản triệu tập 2 lần mà không đến nhận
Việc bổ sung các trường hợp trên vào các trường hợp cần ra quyết định hoãn thi hành án là hoàn toàn phù hợp, trên cơ sở những vướng mắc của việc thi hành án, góp phần đưa hoạt động thi hành án đi vào nề nếp, quy cũ Pháp luật thi hành án vẫn ghi nhận hai trường hợp hoãn thi hành án không phải tính lãi chậm thi hành án với người phải thi hành, đó là trường hợp hoãn thi hành án do có sự đồng ý của người được thi hành án và trường hợp hoãn thi hành án do đợi cơ quan có thẩm quyền xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, còn lại các trường hợp khác không quy định về vấn đề lãi suất chậm trả Xuất phát từ việc pháp luật luôn tôn trọng ý chí thỏa thuận của các bên, đặc biệt khi việc chậm thi hành án không phải do lỗi của người phải thi hành án mà từ sai sót từ cơ quan chức năng, vi phạm trong bản án, quyết định, nên pháp luật không áp dụng lãi chậm trả với các trường hợp trên Còn lại các trường hợp hoãn thi hành khác nguyên nhân xuất phát từ phía đương sự thì vẫn áp dụng lãi suất chậm trả Việc quy định này là phù hợp, nhằm mục đích th c đẩy đương sự có trách nhiệm cao trong việc tiếp tục thực hiện việc thi hành án, tránh lấy lý do để chậm thi hành án
Dù Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã qui định tương đối đầy đủ nhưng đối với thi hành bản án kinh doanh thương mại trên thực
Trang 38tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp đương sự viện các lý do để hoãn thi hành án như chủ doanh nghiệp tư nhân bị ốm, tìm cách xin xác nhận của cơ sở y tế cấp huyện; doanh nghiệp bị thi hành án thỏa thuận với chủ thể khác, lập giấy tờ để tạo nên vụ tranh chấp tài sản mà tài sản đó đang bị thi hành án, từ đó họ dĩ nhiên có lý do tài sản thi hành án đang được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác Vì vậy, cần xem xét kỹ các lý do
in hoãn thi hành án trước khi ra quyết định hoãn thi hành bản án kinh doanh thương mại
Thứ hai, tạm đình chỉ thi hành bản án kinh doanh thương mại
Khi rơi vào các trường hợp: Cơ quan thi hành án nhận được quyết định tạm đình chỉ của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; nhận được thông báo Tòa án đang thụ lý giải quyết thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp Việc thi hành án sẽ được tiếp tục khi các lý do tạm đình chỉ trên không còn Thông thường các vụ án kinh doanh, thương mại nói chung và án kinh doanh thương mại tại tỉnh Đồng Nai khi đưa ra ét ử sẽ nhanh hơn các loại án khác,
do án kinh doanh, thương mại khá rõ ràng Tuy nhiên, một khi doanh nghiệp phải thi hành án đã nợ nần dẫn tới bị đưa ra ét ử, bị cưỡng chế thi hành án thì doanh nghiệp
đó cũng thường rơi vào tình trạng khó khăn về kinh tế, nguy cơ bị phá sản cao Dẫn tới nhiều vụ thi hành án kinh doanh thương mại tại tỉnh Đồng Nai bị tạm đình chỉ vì doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, đang được Tòa án xem xét theo thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp Bên cạnh đó, lý do tạm đình chỉ do bản án, quyết định bị kháng nghị cũng ảy ra nhiều, xuất phát từ bản án, quyết định sơ thẩm không được chặt chẽ, xem xét không toàn diện vấn đề
Thứ ba, đình chỉ thi hành bản án kinh doanh thương mại
Thuật ngữ “đình chỉ” có nghĩa là chấm dứt, không tiếp tục một công việc nhất định Trong thi hành án dân sự, mà cụ thể là thi hành bản án kinh doanh thương mại, khái niệm “đình chỉ thi hành án” được hiểu là việc cơ quan thi hành án dân sự bằng một quyết định cụ thể làm chấm dứt một quan hệ thi hành án hay nói cách khác
là chấm dứt vai trò của Chấp hành viên đối với việc thi hành án đó khi có một trong các căn cứ do pháp luật quy định
Trang 39Việc đình chỉ thi hành án dân sự được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân
sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Đối với việc thi hành bản án kinh doanh thương mại thì những trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án khi: Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế; Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế; Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 20144; Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác; Có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án; Doanh nghiệp bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định chặt chẽ hơn trường hợp đình chỉ thi hành án Theo đó, quyền lợi người mua tài sản bán đấu giá thi hành án được bảo vệ, tại điểm d Điều 50 quy định nếu mua bán hợp pháp thì mặc dù bản án, quyết định giám đốc thẩm có nội dung trái với bản án, quyết định sơ thẩm thì tài sản đã bán đấu giá vẫn giao cho người mua đấu giá, hoàn lại giá trị tài sản cho người chủ sở hữu và không thể đình chỉ đối với bản án, quyết định trong trường hợp này được Đồng thời điểm e Điều 50 đã bỏ đi trường hợp giảm một phần nghĩa vụ thi hành án không thuộc trường hợp đình chỉ quyết định thi hành án, vì việc giảm một phần không làm mất đi toàn bộ nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án
4 Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác
Trang 40Những trường hợp đình chỉ thi hành án thường xảy ra với thi hành bản án kinh doanh thương mại là chủ doanh nghiệp tư nhân là người phải thi hành án chết không
để lại di sản, người được thi hành án chết và theo quy định không thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho chủ thể khác Trường hợp doanh nghiệp giải thể như quy định tại Điểm đ Điều 50 Trường hợp doanh nghiệp bị Tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản thì các vấn đề về tài sản, trình tự thanh toán các khoản nợ sẽ áp dụng theo quy định của Luật phá sản Do đó, cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án
- Biện pháp đảm bảo, cưỡng chế thi hành bản án kinh doanh thương mại
Biện pháp đảm bảo và cưỡng chế thi hành án được qui định để đảm bảo thực hiện hiệu quả hoạt động thi hành án Nếu chủ thể phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì vẫn buộc phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án như nội dung bản án quyết định đã ghi nhận
Thứ nhất, biện pháp đảm bảo thi hành bản án kinh doanh thương mại
Đảm thi hành án dân sự nói chung và án kinh doanh thương mại nói riêng được thực hiện thông qua 3 biện pháp: Phong tỏa tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản
Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ khi doanh nghiệp phải thi hành án có tài khoản, tài sản nơi gửi giữ Thực tế trong thi hành bản án kinh doanh thương mại tại Đồng Nai, nhiều doanh nghiệp mặc dù có tài khoản trong ngân hàng hoặc tài sản là kim khí quý, đá quý đang được gửi giữ nhưng đã tìm cách tẩu tán tài sản Trong khi đó, biện pháp phong tỏa tài khoản theo quy định cũ chưa thể hiện tính kịp thời, cấp thiết Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 khắc phục hạn chế này, theo đó không nhất thiết ban hành quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản
cơ quan thi hành án mới được yêu cầu người đang quản lý tài khoản, tài sản đó phong tỏa, mà trong trường hợp cần thiết khi chưa có quyết định phong tỏa thì vẫn lập biên bản yêu cầu, để đảm bảo doanh nghiệp phải thi hành án không tẩu tán được tài sản, sau
đó, trong thời gian 24 giờ, cơ quan thi hành án ra quyết định phong tỏa và phải gửi ngay cho Viện kiểm sát