1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh đồng nai

105 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 758,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức là công tác rất quan trọng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể chính trị - xã

Trang 1

LÊ QUANG KIỆM

TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Huyền Sang

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ QUANG KIỆM

TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Huyền Sang

Nghệ An, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Ban Giám hiệu; Phòng Đào tạo Sau đại học; Khoa Luật Trường Đại học Vinh; cô TS.Phạm Thị Huyền Sang hướng dẫn và các Quý thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn chỉnh sửa luận văn và giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cám ơn các cơ quan Thanh tra tỉnh, các cơ quan, đơn vị khác trong tỉnh Đồng Nai cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, ủng hộ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, tham gia đóng góp ý kiến quý báu cho việc triển khai nghiên cứu đề tài

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, do

đó sẽ có thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp trong ngành thanh tra tỉnh Đồng Nai để tác giả hoàn thiện hơn nữa Luận văn của mình và có thể áp dụng vào thực tiễn trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng tại địa phương trong thời gian tới

Nghệ An, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Lê Quang Kiệm

Trang 4

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN, PHỔ

BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐỐI VỚI CÁN

BỘ, CÔNG CHỨC

13

1.1 Khái niệm về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng đối

với cán bộ, công chức 13 1.2 Nội dung về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng

1.3 Hình thức và phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống

1.4 Các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

39

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác phòng, chống tham nhũng

2.2 Thực trạng về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng,

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN TỚI

69

3.1 Quan điểm đổi mới trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng,

3.2 Phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền, phổ biến

3.3 Một số giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng,

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

96

97

98

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cán bộ, công chức là lực lượng chủ yếu có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói riêng, đảm bảo việc đưa pháp luật vào cuộc sống của cán bộ, công chức và người dân Tuyên tuyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức góp phần đem lại cho cán bộ, công chức có tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật phòng, chống tham nhũng đúng đắn và không có hành vi tham nhũng, lãng phí Đồng thời, biết sử dụng pháp luật làm phương tiện để bản vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, đặc biệt là pháp luật phòng, chống tham nhũng

Do đó, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng (TTPBPLP,CTN) cho cán bộ, công chức là công tác rất quan trọng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể chính trị - xã hội, góp phần đem lại cho cán

bộ, công chức có tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật đúng đắn và

có hành vi hợp pháp, biết sử dụng pháp luật làm phương tiện để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội của cán bộ, công chức trong công tác phòng, chống tham nhũng

Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta đang là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ trong đó có việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý, xây dựng ý thức pháp luật ở mỗi người cán bộ, công chức từ đó tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới đông đảo các tầng lớp nhân dân Đặc biệt, là pháp luật về P,CTN Bởi vì, hiện nay, tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo động Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - cơ quan tiếp xúc với nhân dân hằng ngày, giải quyết những công

Trang 7

việc liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhân dân Văn kiện Hội nghị lần thứ

chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX chỉ rõ: “ Điều làm cho nhân dân

còn nhiều bất bình, lo lắng, bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng, chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn rất nghiêm trọng ” Tác hại nguy

hiểm của tệ tham nhũng, lãng phí ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội hoặc một nhiệm vụ quản lý nhất định của Nhà nước Tổng quát hơn, sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Nhân dân chính là động lực, chủ thể, mục đích của cách mạng Theo Kết luận số 10- KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Khoá X về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác P,CTN, lãng phí nhận định “Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật

về P,CTN vẫn chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động P,CTN trong bộ máy nhà nước và trong xã hội”

Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cho thấy: “Trong 10 năm qua,

dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh các chủ trương của Đảng và Nhà nước, công tác P,CTN có những bước tiến triển tích cực, số lượng các vụ án liên quan đến tham nhũng giảm rõ rệt; hầu hết các cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chủ động hơn trong kiểm tra, thanh tra phát hiện xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng; các ngành tư pháp đã tích cực điều tra, truy tố và đưa ra xét xử nghiêm các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp Tuy nhiên, tình hình tham nhũng vẫn còn diễn biến phức tạp; các hành vi tham ô tài sản, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm

vụ vẫn còn xảy ra; công tác giám định còn nhiều vướng mắc về vấn đề thời gian trả kết quả, một số lĩnh vực còn thiếu giám định viên tư pháp như xây dựng cơ bản, tài chính ngân hàng, đất đai Trong đó, có nguyên nhân khách quan và chủ quan, một trong những nguyên nhân chủ quan cần nói đến đó là:

Trang 8

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật P,CTN tuy được quan tâm bằng nhiều thức phong phú và đạt một số hiệu quả nhất định, nhưng xét về yêu cầu vẫn còn một số hạn chế như: thiếu tính hệ thống, thiếu sự gắn kết, phối hợp giữa các cấp, các ngành; nội dung tuyên truyền chưa thật sự hấp dẫn, nhiều nơi thực hiện chưa thường xuyên; chưa có sự tác động làm thay đổi căn bản nhận thức, quan điểm của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức về tham nhũng; việc tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và người dân trong P,CTN vẫn còn hạn chế ”[8,tr23]

“Công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng chưa

đồng đều, thường xuyên, liên tục và thiếu chiều sâu Việc tuyên truyền, giáo dục mới chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức Nội dung, hình thức tuyên truyền chưa thật sự phong phú, đa dạng, phù hợp; ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu tính chiến đấu Các phương tiện truyền thông đưa tin chủ yếu về các vụ việc, vụ án tham nhũng; tỷ lệ tin, bài nêu gương điển hình và tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, quy định chiếm thời lượng thấp; số chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống tham nhũng còn ít

và chưa duy trì thường xuyên”[9,tr9] Ngoài ra, đội ngũ báo cáo viên, giáo viên,

giảng viên tuyên truyền, phổ biến, giảng dạy pháp luật P,CTN thường kiêm nhiệm, không thường xuyên cập nhật pháp luật P,CTN nên gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giảng dạy pháp luật P,CTN

Những hạn chế, bất cập trên cho thấy công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về P,CTN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn chưa đạt được mục tiêu cụ thể đặt ra trong Chiến lược Quốc gia về P,CTN đến năm 2020 là

“Thúc đẩy sự tham gia chủ động của các tổ chức, đoàn thể xã hội, các phương

tiện truyền thông và mọi công dân trong nỗ lực P,CTN; xây dựng văn hoá và tạo thói quen P,CTN trong đời sống của cán bộ, công chức và trong các tầng lớp nhân dân” Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị,

Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm trong công tác P,CTN đó là “phòng

Trang 9

ngừa là chính, cơ bản, lâu dài và “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về P,CTN, lãng phí; xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham

nhũng, lãng phí, trước hết là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”

Vì vậy, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức là vô cùng quan trọng và rất cần thiết

trong gian đoạn hiện nay Do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Tuyên truyền,

phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật

học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận, thực tiễn về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức ở Việt Nam (nói chung) và trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (nói riêng), Luận văn tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề có tính lý luận về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng đối với cán bộ, công chức; nội dung, hình thức, phương pháp về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức; các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho công tác TTPBPLP,CTN đối với cán bộ, công chức; để làm cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua; từ đó, đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới công tác TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 10

- Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2020 (đến thời điểm tổng kết Chiến lược Quốc gia về P,CTN đến năm 2020 theo tinh thần của Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ)

4 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; bởi vậy, luận văn sẽ có một số đóng góp khoa học sau đây:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức; cụ thể hóa nội dung, hình thức, phương pháp và các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho công tác TTPBPLP,CTN đối với cán bộ, công chức; đồng thời, luận văn cũng chỉ ra được các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Dựa trên kết quả thu thập tài liệu, số liệu và các nguồn tài liệu có sẵn, luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng bao gồm: thành quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân trong công tác TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 11

- Luận văn đưa ra những quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức; cụ thể hóa nội dung, hình thức, phương pháp và các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho công tác TTPBPLP,CTN đối với cán bộ, công chức

- Thống kê thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Thực hiện đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Từ đánh giá thực trạng, tác giả tập trung đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới công tác TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

6 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

- Đề tài sẽ sử dụng một cách linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp khảo sát thực tế; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp phân tích, đối chiếu; Phương pháp so sánh; Phương pháp tọa đàm trao đổi,

Trang 12

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tuyên truyền, phổ biến pháp luật

phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức

Chương 2: Thưc trạng tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống

tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Một số phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới công

tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

1.1 Khái niệm về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức

1.1.1 Khái niệm về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức

a) Khái niệm về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng

- Tham nhũng là căn bệnh bẩm sinh của quyền lực và xuất hiện đồng thời cùng với sự ra đời của bộ máy nhà nước, cơ quan được xã hội ủy quyền thực hiện quyền lực Theo quan điểm truyền thống, tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền hạn để chiếm đoạt các lợi ích bất chính Yếu tố quyền hạn trong hành vi tham nhũng phát sinh trên cơ sở quyền lực nhà nước, gắn chặt với quyền lực nhà nước Do đó, tham nhũng có thể xem là một hiện tượng xã hội gắn liền với sự hình thành giai cấp, sự ra đời và phát triển của bộ máy nhà nước

Tuy vậy, hình thức, tính chất, mức độ và phương thức tham nhũng không phải lúc nào và chế độ nào cũng giống nhau Nó thay đổi, tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội từng thời kỳ và phụ thuộc vào mối quan hệ giữa sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề tham nhũng, đặc biệt trong mối quan hệ với nền dân chủ Vì vậy, khi nhìn nhận, đánh giá để đưa ra khái niệm về tham nhũng thì lại khó có điểm chung giữa các nhà nghiên cứu, học giả Tuỳ thuộc vào cách thức tiếp cận, góc độ đánh giá, tuỳ thuộc vào hình thức tham nhũng và biểu hiện của tham nhũng ở từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau mà có nhiều khái niệm khác nhau về tham nhũng

Nhà luật học S.I.Montesquiers đã chỉ rõ: “Mọi người có quyền lực đều

có khuynh hướng lạm dụng nó, hình thức và nội dung tham nhũng thay đổi theo

Trang 14

bối cảnh kinh tế, chính trị xã hội, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề tham nhũng và nền dân chủ”[12]

Người Thụy Sỹ cho rằng: “Tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự

vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước, đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân”[12]

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc (LHQ) về chống tham nhũng thì: “Tham

nhũng - đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng” Thực chất tội

phạm tham nhũng theo Công ước này là tội phạm chức vụ, trong đó bản chất của tội phạm này là sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi[12]

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, được sửa đổi, bổ sung

vào các năm 2007, 2012, Khoản 2 Điều 1 Luật này quy định: “Tham nhũng là

hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì

vụ lợi”[7,tr8] Như vậy, pháp luật của nước ta cũng xác định chủ thể của tham

nhũng là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước, tức là những người được sử dụng quyền lực công; hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn, bao gồm những việc làm và những việc không làm (làm ngơ, bỏ qua, cho qua, né tránh) vì mục đích vụ lợi nhằm nhận được các lợi ích vật chất (tiền, quà biếu…) và các lợi ích tinh thần không bằng công sức của mình

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, ăn sâu bám rễ trong mọi chế độ xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, nước giàu hay nghèo, phát triển hay kém phát triển Một số nơi trên thế giới, tham nhũng làm suy kiệt cơ thể xã hội, gây xáo trộn, mất ổn định chính trị Phòng, chống tham nhũng là công việc khó khăn, phức tạp, cần sự quyết liệt và kiên trì, là chính sách ưu tiên của nhiều quốc gia và sự nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế

Tác hại của tham nhũng là vô cùng to lớn và gây hậu quả nghiêm trọng nên phòng, chống tham nhũng là một nhu cầu tất yếu, một nhiệm vụ sống còn đối với Nhà nước Đảng ta xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một

Trang 15

cuộc đấu tranh lâu dài, không nóng vội và là một quá trình tự hoàn thiện bộ máy nhà nước

Nguồn gốc của tham nhũng là sự kết hợp của hai yếu tố: lòng tham và quyền lực Vì vậy đấu tranh chống tham nhũng chính là sự đấu tranh với lòng tham của con người và kiểm soát việc thực hiện quyền lực Mọi giải pháp đấu tranh chống tham nhũng đều nhằm hai mục đích này với các giải pháp đồng bộ

và sự tham gia của toàn bộ các chủ thể trong xã hội

Từ kinh nghiệm và các giải pháp phòng, chống tham nhũng đã được thực

hiện có thể hiểu phòng, chống tham nhũng là hệ thống những biện pháp, cách

thức được thực hiện bởi bộ máy công quyền với sự tham gia của xã hội nhằm nhằm ngăn ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý các hành vi tham nhũng

b) Khái niệm về cán bộ, công chức

Theo Khoản 1,2 và 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008 có nêu về khái niệm cán bộ, công chức như sau:

- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công

Trang 16

lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

c) Khái niệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật:

Sinh thời, V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Tuyên truyền là cần thiết và chúng ta

không nên sợ phải lặp đi lặp lại…Và nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã quá chú ý nhiều đến việc tuyên truyền, thì cần nói rằng chúng ta còn phải làm việc

đó nhiều hơn gấp trăm lần nữa” [11] Điều đó có nghĩa là, hoạt động tuyên

truyền, phổ biến pháp luật cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục, thực hiện càng nhiều nội dung, phong phú về hình thức, không chỉ bằng lời nói mà bằng hình ảnh minh họa, thực hiện càng nhiều càng tốt, khi nào hoạt động tuyên truyền đến với đối tượng được tuyên truyền biến thành hành động trong thực tế thì hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật mới thực sự có hiệu quả

Tuyên truyền, phổ biến là một công việc diễn ra hàng ngày ở mọi hệ thống chính trị, mọi chế độ xã hội Tuyên truyền, phổ biến có thể được áp dụng

ở mọi lĩnh vực nhằm mục đích đem lại những thông tin, những tri thức, những hiểu biết cho mọi đối tượng trong xã hội nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, củng cố niềm tin, động viên tinh thần, nâng cao tính đoàn kết của cộng đồng dân cư…Hoạt động tuyên truyền, phổ biến nói chung đã có lịch sử phát triển từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Ở những quốc gia và những nền văn minh phát triển, hoạt động tuyên truyền phổ biến tư tưởng

Trang 17

nói chung có vai trò, vị trí, ý nghĩa quan trọng Đối với nước ta, trong quá trình phát triển của sự nghiệp cách mạng, công tác tuyên truyền phổ biến nói chung, trong đó có công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn luôn được chú trọng, được xem như một trong những mặt trận hàng đầu có tính chất quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiểu một cách ngắn gọn nhất, đó là việc chuyển tải các nội dung của pháp luật đến với mọi cơ quan, tổ chức và công dân Làm cho mọi người biết về pháp luật để từ đó thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần thực hiện rộng rãi cách truyền đạt thông tin hai chiều Nghĩa là, trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải sử dụng đa dạng các hình thức thông tin phản hồi từ cơ sở, coi trọng ý kiến của đông đảo nhân dân Thông tin phản hồi được thực hiện dưới nhiều hình thức như: toạ đàm, đối thoại, trao đổi, góp ý… Từ những hình thức này, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sau khi phổ biến, lấy ý kiến nhân dân sẽ được thực tiễn cuộc sống ở cơ sở kiểm nghiệm, bổ sung và kiến nghị

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật không những thông qua nói và viết mà bằng việc làm, bằng hành động cụ thể, nói đi đôi với làm; người làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải là người những nắm chắc kiến thức pháp luật, có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn mà cần phải có phương pháp thực hiện hiệu quả và phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm trong quá trình truyền đạt và trong các các hoạt bổ trợ cho việc truyền đạt

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho cán bộ, công chức và nhân dân có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng Từ việc phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo hai nghĩa:

Trang 18

Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

Nghĩa rộng: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho quá trình công tác phổ biến giáo dục pháp luật: định hướng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; lập chương trình, kế hoạch phổ biến pháp luật; áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật; kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến giáo dục pháp luật, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lí luận về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Dù hiểu theo nghĩa nào thì của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng luôn có vai trò, vị trí quan trọng trong mọi giai đoạn xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Thực hiện tốt, có chất lượng cao nội dung của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một nhiệm vụ chính trị quan trọng mà Đảng

ta luôn ưu tiên thực hiện, chỉ đạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đồng ý với khái niệm chung nhất trong đó tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một nội dung nằm trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật

năm 2012, cụ thể: “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là hoạt động có định

hướng, có tổ chức, có dự định của chủ thể tuyên truyền, phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng phổ biến pháp luật một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành”

Đại hội VI Đảng ta đã nhấn mạnh: “phải coi trọng công tác giáo dục,

tuyên truyền, giải thích pháp luật Đưa việc giáo dục pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học), của các

Trang 19

đoàn thể nhân dân Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải

có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật”

Như vậy, TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức là truyền bá, phổ biến pháp luật P,CTN cho cán bộ, công chức nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật P,CTN từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật P,CTN, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật P,CTN của cán bộ, công chức Góp phần tích cực cải thiện tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam trong thời gian tới

1.1.2 Vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật P,CTN luôn là nội dung quan trọng trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật P,CTN cho cán bộ, công chức là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong

xã hội về công tác phòng, chống tham nhũng TTPBPLP,CTN là cầu nối để chuyển tải pháp luật P,CTN vào cuộc sống Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật P,CTN vào cuộc sống của nhân dân nói chung và cán bộ, công chức được bắt đầu bằng nhiều hình thức như: Tuân thủ pháp luật P,CTN, thi hành (chấp hành) pháp luật P,CTN, áp dụng pháp luật P,CTN

Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và TTPBPLP,CTN nói riêng có vai trò hết sức quan trọng là cầu nối để đưa pháp luật về P,CTN vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, đặc biệt là pháp luật về P,CTN Song song với nhiệm vụ xây dựng pháp luật về P,CTN là nhiệm vụ đưa pháp luật về

Trang 20

P,CTN vào cuộc sống TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức có những vai trò

cơ bản như sau:

a) Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức:

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật P,CTN giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức ý thức được một cách đúng đắn, cũng như thực thi một cách có hiệu quả quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cán bộ, công chức trong sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, góp phần thiết thực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy hội nhập quốc tế

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, ngành, trong mỗi đảng viên và nhân dân nhằm tạo sự thống nhất, ý thức tự giác, quyết tâm cao trong hành động Nâng cao đạo đức, xây dựng liêm chính, chống tha hóa, biến chất Gắn liền với biểu dương, vinh danh những người phát hiện, tố giác tham nhũng Cán bộ, đảng viên phải đi đầu trong đấu tranh P,CTN, xây dựng, tuân thủ các quy tắc đạo đức công vụ

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị toàn quốc

về công tác phòng, chống tham nhũng tại Hà Nội ngày 05/5/2014 có chỉ đạo

“ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức,

ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và nhân dân

về công tác phòng, chống tham nhũng, tạo sự thống nhất, tự giác, quyết tâm cao trong hành động Đây là nhiệm vụ không mới nhưng rất quan trọng bởi giáo dục

là biện pháp căn bản để nâng cao đạo đức, xây dựng liêm chính; chống tha hóa, biến chất Phải dấy lên trong dư luận xã hội phê phán nghiêm khắc đối với hành

Trang 21

thấp; chú trọng các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người ở những vị trí và lĩnh vực công tác có nguy cơ tham nhũng cao; quy định các giao dịch có giá trị lớn của cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn phải được thực hiện qua ngân hàng để kiểm soát, ngăn ngừa giao dịch bất hợp pháp, rửa tiền, tham nhũng; quy định về khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện tham nhũng; kiên quyết, kiên trì xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; có một cơ chế trừng trị, răn đe để không dám tham nhũng và một cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng

b) Hình thành lòng tin vào pháp luật phòng, chống tham nhũng của cán

bộ, công chức:

Pháp luật P,CTN chỉ có thể được cán bộ, công chức và nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật P,CTN Pháp luật P,CTN được xây dựng là để bảo vệ cho quyền và lợi ích của cán bộ, công chức và nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Khi nào cán bộ, công chức và nhân dân nhận thức đầy

đủ được như vậy thì pháp luật P,CTN không cần một biện pháp cưỡng chế nào

mà mọi người vẫn tự giác thực hiện

Tạo lập niềm tin vào pháp luật P,CTN cho mỗi cán bộ, công chức và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là phổ biến, giáo dục pháp luật để cán bộ, công chức và nhân dân hiểu biết về pháp luật P,CTN, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật P,CTN, tuyên truyền về những mặt thuận lợi và khó khăn phức tạp của việc thực hiện và áp dụng pháp luật P,CTN, những mặt ưu điểm và hạn chế của quá trình điều chỉnh pháp luật P,CTN

Pháp luật P,CTN cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy

đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội Quá trình điều

Trang 22

chỉnh pháp luật P,CTN sẽ lấy lợi ích của đông đảo cán bộ, công chức và nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó sẽ có một số ít không thoả mãn được Chính các yếu tố hạn chế và mặt trái của các quy định pháp luật P,CTN càng tạo nên sự cần thiết của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật P,CTN

để mọi người hiểu đúng pháp luật P,CTN, đồng tình ủng hộ pháp luật P,CTN

Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo cán bộ, công chức và nhân dân trong xã hội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ

và xây dựng đội ngũ cán bộ Người huấn thị: “Cán bộ là cái gốc của mọi công

việc…Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”; “Cán bộ

là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ” Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do đó rất cần đội ngũ cán bộ, đảng viên có tài đức Những người đảm nhận chức trách, quyền hạn ở mọi cấp mọi ngành từ Trung ương đến cơ sở, đại diện cho lợi ích của quần chúng nhân dân mà không có đủ uy tín, mất uy tín trước dân có tác hại to lớn không thể lường hết Vì vậy cần phải nâng cao uy tín cho cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu

cầu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ,

công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới”[10,tr173]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Tham nhũng là kẻ thù nguy

hiểm của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ vì nó không mang gươm mang súng mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng ta Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta Nó phá hoại đạo đức cách mạng ta

là cần- kiệm - liêm - chính” Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng

tin của công dân đối với bộ máy và công chức, viên chức Nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển Điều này đã được V.I Lênin khuyến cáo:

“Nếu có cái gì đó có thể triệt tiêu được chủ nghĩa xã hội thì đó chính là tham

Trang 23

nhũng, quan liêu” Đây cũng là bài học mà ông cha ta đã truyền lại cho con cháu Trần Quốc Tuấn đã từng nói: “để dân khinh là mất nước”

Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định: “Đẩy mạnh đấu tranh

P,CTN, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, đồng thời là nhiệm vụ khó khăn phức tạp, lâu dài Các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp

ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị phải kiên quyết P,CTN, lãng phí; chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” Điều đó

đã khẳng định, Đảng ta và Nhà nước ta đã và đang ngày càng đề cao quyết tâm chính trị, không ngừng đổi mới, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao hiệu quả P,CTN Bên cạnh đó, thực hiện gắn kết công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng với thực hiện Cuộc vận động

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong đó tâp trung cải tiến lề lối làm viêc , tiết kiêm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chú trọng bồi dưỡng kiến thức phòng, chống tham nhũng cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành; triển khai có hiệu quả viêc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên, công chức; phát huy trách nhiệm tính gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức, tăng cường trách nhiêm của các tổ chứ c cơ sở Đảng trong công tác quản lý, giáo dục đảng viên, nhằm nâng cao năng lưc , sứ c chiến đấu của tổ chứ c cơ sở Đảng; thực hiện tốt công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng từng bước xây dựng niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức

Theo Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đã làm rõ, cụ thể

Trang 24

hóa mục tiêu kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém, tạo chuyển biến rõ rệt trong 5 năm tới, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí mà Đảng

và Nhà nước quyết tâm xây dựng niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức Qua đó đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; tạo chuyển biến về tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, khuyến khích tự tu dưỡng, rèn luyện, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện

nghiêm túc phương châm: “Đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ

phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết là

trong cán bộ, đảng viên, công chức

c)Góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước:

Tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng tại Hà Nội ngày 05/5/2014, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh “đấu tranh phòng, chống tham nhũng là công việc rất quan trọng, liên quan đến sự phát triển bền

vững của đất nước, của chế độ, nhưng cũng cực kỳ khó khăn, phức tạp bởi tham

nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, nó diễn ra trong nội bộ chúng ta,

liên quan đến lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng của tổ chức và cá nhân con người; đụng chạm đến những người có chức, có quyền”

Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối

với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã nhấn mạnh: “Tham nhũng,

lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta” Có thể nói, tham nhũng đã trở thành trở lực đối với quá

trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo

Trang 25

của Đảng và Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa

xã hội

Thời gian qua, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, chương trình, kế hoạch rất cụ thể, thiết thực để triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cán bộ và nhân dân nói chung và pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói riêng Vì thế, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã góp phần ngăn chặn làm hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật

Tăng cường các đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng trên các phương tiện thông tin đại chúng Bởi vì, đây là cách nhanh nhất, ít tốn kém nhưng hiệu quả lại rất cao Ngoài việc tăng cường đưa tin về các văn bản pháp luật mới ban hành thì các cơ quan, ban ngành

và địa phương với chức năng, nhiệm vụ của mình cần phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng mở chuyên mục riêng để đề cập đến các văn bản pháp luật

về phòng, chống tham nhũng, góp phần làm tăng thêm hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước của mình

Viêc tăng cường TTPBPLP,CTN sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ văn hóa pháp lý của người dân Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độ văn hóa pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức, phụ thuộc vào việc họ thực thi pháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật, nhất là trong điều kiện xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thì một trong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được tham gia tích cực vào hoạt động quản

lý xã hội bằng pháp luật TTPBPLP,CTN góp phần quan trọng trong việc phòng, chống tham nhũng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước của cán bộ, công chức

Trang 26

1.2 Nội dung về tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức

1.2.1 Chủ thể của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng:

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 “Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt” Trong điều kiện đổi mới của nước ta hiện nay, TTPBPL nói chung cũng như TTPBPLP,CTN là trách nhiệm của các cấp bộ Đảng, của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng Tuy nhiên, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân làm công tác TTPBPL thường được chia thành hai loại là chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp

a) Chủ thể chuyên nghiệp của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng:

Chủ thể chuyên nghiệp, là những người có chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý chủ yếu, trực tiếp và thường xuyên thực hiện công tác TTPBPL, trong đó có thực hiện TTPBPLP,CTN Đây là loại chủ thể quan trọng

và chủ yếu của TTPBPL Loại chủ thể này bao gồm các tổ chức và cá nhân như: Các Hội đồng phối hợp công tác phố biến, giáo dục pháp luật; các trung tâm tư vấn pháp luật; trung tâm trợ giúp pháp lý; các bộ phận chuyên trách công tác phổ biến giáo dục pháp luật thuộc ngành Tư pháp; các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các cơ quan Đảng, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, tổ chức kinh tế…các giảng viên pháp luật, giáo viên giáo dục công dân ở các cơ sở đào tạo; các phóng viên, biên tập viên chuyên trang, chuyên mục pháp luật ở các cơ quan Báo - Đài - Tạp chí chuyên ngành pháp luật,…

b) Chủ thể không chuyên nghiệp của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng:

Trang 27

Chủ thể tuyên truyền, phổ biến pháp luật không chuyên nghiệp, là những

cá nhân, tổ chức mà chức năng, nhiệm vụ chính của họ không phải là TTPBPL, nhưng thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của họ có gắn với mục đích TTPBPL, như: Hoạt động của các Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; hoạt động của các cơ quan hành pháp, tư pháp, thành viên các tổ chức trính trị - xã hội; hoạt động tư vấn pháp luật của các luật sư, luật gia; hoat động của cán bộ, công chức, viên chức ở một số ngành quản lý kinh tế, quản lý nhà nước như: Thuế, Tài nguyên - môi trường, Kiểm lâm, Quản lý thị trường

Thủ trưởng bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương cũng được xem

là chủ thể tuyên truyền, phổ biến pháp luật không chuyên nghiệp, được thể hiện tại Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban

hành chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật gia đoạn 2017-2021 “ Thủ

trưởng bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương trong thể chế hóa, tổ chức

thực hiện và đảm bảo các điều kiện về nguồn lực, gắn phổ biến, giáo dục pháp luật với quán triệt, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng; hướng tới xác định việc hoàn thành nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị hàng năm” Ngoài ra, còn một lực lượng đông đảo của cán bộ, công chức và người dân là những người am hiểu pháp luật, có ý thức pháp luật cao và trên hết là thực hiện tốt trách nhiệm công dân của mình thông qua việc gương mẫu thực hiện pháp luật cũng góp phần tác động tích cực đến việc hình thành ý thức pháp luật và thói quen xử sự phù hợp với pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật

về phòng, chống tham nhũng

So với các chủ thể chuyên nghiệp, chủ thể không chuyên nghiệp mặc dù chức năng, nhiệm vụ chính, trực tiếp và thường xuyên của họ không phải là TTPBPL, nhưng đây là loại chủ thể bao gồm rất nhiều thành phần và rất quan trọng; lực lượng này cùng với chủ thể chuyên nghiệp góp phần tích cực vào việc

Trang 28

thực hiện các mục đích, nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống tham nhũng

c) Yêu cầu đối với chủ thể tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng:

Một là, có kiến thức pháp lý nhất định, đặc biệt là kiến thức pháp luật về

P,CTN Bởi vì hoạt động TTPBPLP,CTN là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi

pháp luật P,CTN, là cầu nối để chuyển tải pháp luật P,CTN vào cuộc sống của cán bộ, công chức; quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động TTPBPL, bởi vì thực hiện pháp luật P,CTN dù bằng hình thức nào tuân theo pháp luật P,CTN, thi hành (chấp hành) pháp luật P,CTN, sử dụng (vận dụng) pháp luật P,CTN hay áp dụng pháp luật P,CTN trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật P,CTN

Hai là, có nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công tác TTPBPLP,CTN

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và TTPBPLP,CTN là một hoạt động mang tính chất xã hội, đối tượng phục vụ của TTPBPL là cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, do đó một trong các yêu cầu đầu tiên và hết sức quan trọng của người làm công tác TTPBPLP,CTN là có tinh thần nhiệt tình, tận tuỵ với công tác Người làm công tác TTPBPLP,CTN còn cần phải tận tuỵ với công việc, luôn phấn khởi phục vụ cho đối tượng, không quản ngại đối với những vấn

đề mới, văn bản pháp luật mới; bản thân luôn phải cố gắng học tập, phấn đấu vươn lên; tích luỹ kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội, kiến thức chuyên ngành, tài liệu, số liệu, dẫn chứng, minh hoạ để hoàn thành công việc được giao

Ba là, có khả năng hoà đồng và giao tiếp Làm công tác TTPBPLP,CTN

là làm công tác vận động, nó không thuần túy là đi thông tin và giải thích pháp luật P,CTN cho các đối tượng được tuyên truyền TTPBPLP,CTN là một hoạt động mang tính chất hai chiều, không đơn thuần là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác TTPBPLP,CTN có mà sự phản hồi của đối tượng được tuyên truyền Sự cọ sát hai chiều về cùng vấn đề được trao

Trang 29

đổi sẽ làm cho công tác TTPBPLP,CTN đạt chất lượng và hiệu quả cao Chính các yếu tố được nêu và phân tích trên đòi hỏi người làm công tác TTPBPLP,CTN phải có khả năng hòa đồng và giao tiếp tốt

Bốn là, biết tích luỹ tư liệu, kiến thức Hoạt động TTPBPLP,CTN vừa

mang tính thời sự vừa mang tính lâu dài Chỉ có thể tham gia vào hoạt TTPBPLP,CTN khi có đủ kiến thức, trình độ, kinh nghiệm về công tác pháp luật P,CTN Để đạt được các điều kiện đó thì người làm công tác TTPBPLP,CTN cần phải tích luỹ tư liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức pháp lý, pháp luật hiện hành, đường lối chính sách của Đảng, kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội, kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và nước ngoài

Năm là, có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền Hiểu được

tâm lý học tuyên truyền chính là hiểu được các quy luật tâm lý phát sinh, vận động trong quá trình tiếp nhận thông tin pháp luật P,CTN của các loại đối tượng được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tiến hành TTPBPLP,CTN đối với các đối tượng Trong quá trình TTPBPLP,CTN còn phải nắm bắt sự phản ứng, sự tiếp nhận của họ như thế nào về nội dung được tuyên truyền Sau khi TTPBPLP,CTN cho một loại đối tượng, chủ thể tuyên truyền còn phải biết nghe

dư luận xã hội và sự phản ứng tích cực, tiêu cực của các đối tượng được tuyên truyền về nội dung được phổ biến

Tất cả những động thái như vậy, người làm công tác TTPBPLP,CTN đều cần phải nắm bắt để dự liệu, để chuẩn bị hành trang cho mình Sự chuẩn bị về kiến thức cho công tác TTPBPLP,CTN là cần thiết, đồng thời người làm công tác TTPBPLP,CTN còn phải hiểu biết trạng thái tâm lý khác nhau của các đối tượng được TTPBPLP,CTN là tâm lý học tuyên truyền mà người làm công tác TTPBPLP,CTN cần phải có

Trang 30

nhũng

1.2.2 Nguyên tắc tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham

TTPBPLP,CTN không giống với việc tuyên truyền phổ biến về văn hoá văn nghệ Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hoá văn nghệ, người ta có thể nhân cách hoá, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của họ TTPBPLP,CTN khác ở chỗ nội dung được TTPBPL là pháp luật P,CTN,

là những quy tắc xử sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó Do đó, phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực

- Kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm

- Đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc

- Gắn với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế -

xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống hằng ngày của người dân

- Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội

1.2.3 Nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng

Theo Điều 10 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và Luật P,CTN thì việc tổ chức TTPBPL là pháp luật P,CTN tập trung vào các nội dung sau:

- Thực trạng, nguyên nhân, điều kiện tham nhũng và giải pháp P,CTN; Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác P,CTN; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức liêm chính và P,CTN; Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về P,CTN;

- Luật P,CTN và các văn bản hướng dẫn thi hành Trọng tâm là các quy định về: Hành vi tham nhũng; xử lý người có hành vi tham nhũng và tài sản

Trang 31

tham nhũng; các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng và trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị, cá nhân trong P,CTN;

- Công ước của Liên hiệp quốc về chống tham nhũng; hợp tác quốc tế của Việt Nam trong P,CTN; kinh nghiệm quốc tế trong P,CTN; Tình hình, kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về P,CTN;

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân trong P,CTN; Mô hình, kinh nghiệm, tấm gương tiêu biểu về P,CTN; Các sự kiện, vấn đề chính trị - pháp lý – kinh tế - văn hoá – xã hội có chủ đề, nội dung về P,CTN

1.3 Hình thức và phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng

1.3.1 Hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng

- Hình thức TTPBPLP,CTN có thể hiểu là những hoạt động cụ thể do chủ thể TTPBPLP,CTN sử dụng hoặc tổ chức ra nhằm chuyển tải nội dung pháp luật về P,CTN đến với đối tượng TTPBPLP,CTN

- Theo Điều 11 của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã quy định rất cụ thể về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, với cán bộ, công chức thì hình thức tổ chức TTPBPL luôn luôn được vận dụng một cách linh động và sáng tạo, cụ thể với các hình thức cơ bản sau:

+ TTPBPLP,CTN trực tiếp được sử dụng như một hình thức phổ biến pháp luật quan trọng, gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thức phổ biến khác và là một bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời trong tổng thể các hình thức phổ biến pháp luật thông qua các hoạt động tập thể, các giờ sinh hoạt; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật gắn với cán

bộ, công chức như: Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí; Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…

Trang 32

+ Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; tờ gấp pháp luật P,CTN; đầu sách, sổ tay pháp luật P,CTN; biên soạn câu hỏi đáp pháp luật về phòng, chống tham nhũng và các văn bản liên quan; câu chuyện pháp luật, tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị

+ Thông qua công tác công tác xét xử của Tòa án; xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan chức năng; hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,

tố cáo của các cấp, các ngành và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước;

+ Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở

+ Tổ chức các lớp tập huấn kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh và báo cáo viên pháp luật cấp huyện, công chức làm công tác thanh tra, pháp chế cấp tỉnh, đối tượng tại địa bàn làm điểm (hòa giải viên, trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng)

1.3.2 Phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng

Phương pháp TTPBPLP,CTN là hệ thống những cách thức tuyên truyền, tác động của chủ thể TTPBPLP,CTN nhằm hình thành ở cán bộ, công chức ý thức tuân thủ pháp luật P,CTN, có năng lực xử lý hiệu quả các tình huống pháp luật P,CTN nảy sinh trong cuộc sống

Hiện nay có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về phương pháp TTPBPL nói chung và TTPBPLP,CTN nói riêng Theo quan điểm tiếp cận của các nhà luật học, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm: Phương pháp thuyết trình; phương pháp nêu vấn đề; phương pháp đóng vai, phương

Trang 33

pháp thảo luận; phương pháp thông tin pháp luật Dưới góc độ khoa học giáo dục, các nhà giáo dục học cho rằng phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật bao gồm: Nhóm phương pháp thuyết phục; nhóm phương pháp tổ chức hoạt động; nhóm phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi Trong những tình huống, điều kiện khác nhau, có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Nhưng nhìn chung, chủ thể TTPBPL thường sử dụng hai phương pháp cơ bản

đó là: Phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại:

- Phương pháp truyền thống: Là phương pháp sử dụng các công cụ, phương tiện đã dùng từ lâu đời trong lịch sử như: Thuyết trình, giảng dạy pháp luật; nói chuyện, tọa đàm pháp luật…

- Phương pháp hiện đại: Là phương pháp có sử dụng kết hợp các thiết bị

kỹ thuật hiện đại như máy tính, máy chiếu, máy quay phim… để chủ thể TTPBPL có thể dễ dàng thực hiện các phương pháp mô hình hóa, trực quan hóa gắn với các tình huống quan sát thực tế Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, các quá trình … bằng cách xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được trích ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực

TTPBPLP,CTN đối với cán bộ, công chức nên bao gồm hệ thống các phương pháp như sau: Phương pháp thuyết phục, phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật, phương pháp thông tin pháp luật thuyết phục, phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật, phương pháp giảng dạy pháp luật trong nhà trường; hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen thực hiện pháp luật; hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại Một số phương pháp TTPBPLP,CTN tiêu biểu, đó là:

- Thuyết phục là phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của cán

bộ, công chức để hình thành ý thức và thái độ đúng đắn, phù hợp với các chuẩn

Trang 34

mực pháp luật P,CTN Đó là dùng lý lẽ xác đáng, dùng dẫn chứng sinh động, dùng các tấm gương tiêu biểu trong lịch sử và trong thực tế để phân tích, chứng minh, khuyên giải giúp cán bộ, công chức nhận thấy, hiểu và tin, từ đó tuân theo những giá trị pháp luật P,CTN Nhóm phương pháp thuyết phục bao gồm phương pháp khuyên giải, phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương

- Phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật P,CTN được sử dụng chủ yếu khi phổ biến một văn bản pháp luật P,CTN và các văn bản hướng dẫn, thi hành

- Phương pháp thông tin pháp luật P,CTN là phương pháp sử dụng các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, truyền thanh, tạp chí chuyên ngành pháp luật P,CTN, các loại hình nghệ thuật như phim, ảnh để chuyển tải các nội dung, thông tin về thực hiện pháp luật P,CTN

- Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật P,CTN (đối tượng giáo dục pháp luật P,CTN nghe nói, hoặc trao đổi về một sự kiện, hiện tượng, tình huống pháp luật P,CTN trong thực tiễn xã hội),

- Phương pháp giảng dạy pháp luật P,CTN trong các nhà trường là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh, sinh viên, trong

đó chủ yếu sử dụng các phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp động não, phương pháp đóng vai, phương pháp dự án và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật ngoại khóa

- Phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen là phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về P,CTN đối với cán bộ, công chức tốt nhất để tập dượt, rèn luyện các hành vi pháp luật

về P,CTN trong cuộc sống Bởi vì, bản chất của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về P,CTN là quá trình tổ chức cuộc sống và các hoạt động thực tiễn cho cán bộ, công chức Nhóm phương pháp này gồm phương pháp luyện tập và phương pháp rèn luyện Luyện tập là tổ chức cho cán bộ, công chức thực hiện

Trang 35

một cách đều đặn, có kế hoạch, có hệ thống các hành động nhất định nhằm biến chúng thành thói quen, thành thuộc tính bền vững của nhân cách

1.4 Các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức

Hoạt động TTPBPL nói chung và TTPBPLP,CTN cũng giống như các dạng hoạt động xã hội khác, luôn luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Trong các yếu tố đó, việc đảm bảo về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác TTPBPLP,CTN; cũng như đảm bảo kinh phí TTPBPLP,CTN là các yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến công tác TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức các cấp

1.4.1 Điều kiện đảm bảo thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng:

Để công tác TTPBPLP,CTN đạt được chất lượng và hiệu quả cao, việc xây dựng và kiện toàn về tổ chức, phát triển một hệ thống các cơ quan trực tiếp thực hiện công tác TTPBPLP,CTN theo hướng hoạt động chuyên nghiệp là khâu đầu tiên quan trọng Đối với các cấp và các ngành, Hội đồng tư pháp và Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cần phát huy vai trò của mình trong công tác TTPBPLP,CTN cho người dân nói chung, cán bộ, công chức nói riêng

Có như vậy, công tác TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức mới thực sự mang lại hiệu quả

Đội ngũ cán bộ làm công tác TTPBPLP,CTN là nhân tố không thể thiếu trong quá trình TTPBPLP,CTN Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác TTPBPLP,CTN sẽ quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động TTPBPLP,CTN

Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho công tác TTPBPLP,CTN cho đội ngũ cán bộ, công chức cũng là một phần quan trọng của công tác này

Cơ sở vật chất và phương tiện hiện đại sẽ giúp cho công tác TTPBPLP,CTN được diễn ra thuận lợi, dễ dàng, thông tin, kiến thức pháp luật về P,CTN được

Trang 36

truyền đạt nhanh chóng Ngược lại, cơ sở vật chất và các phương tiện lỗi thời, lạc hậu sẽ làm giảm đi đáng kể hiệu quả của công tác TTPBPLP,CTN

1.4.2 Đảm bảo kinh phí dành cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng:

Để công tác TTPBPLP,CTN cho cán bộ, công chức đạt hiệu quả cao và được tiến hành thông suốt, cần có một nguồn kinh phí thích đáng dành riêng cho công tác này Các công tác như duy trì hoạt động của Hội đồng phối hợp, phổ biến giáo dục pháp luật; tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm nghiệp vụ; biên soạn tài liệu, xây dựng chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật về P,CTN… đều cần có kinh phí để thực hiện Chính vì thế, việc đảm bảo kinh phí dành cho công tác TTPBPLP,CTN là vô cùng cần thiết

Ngày 09/12/2003, Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương

Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục

pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” đã được

ban hành Có thể coi việc ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW là một bước ngoặt trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Chỉ thị được ban hành là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất trong ý thức và hành động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, tự giác tìm hiểu, chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật

về P,CTN nói riêng, nâng cao văn hoá pháp lý cho nhân dân, phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đặc biệt, là Thông

tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính, Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Thông tư số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 quy định việc lập dự toán, quản lý,

sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, các

Trang 37

bộ, ngành, địa phương đều bố trí kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong kế hoạch ngân sách hàng năm của mình

Việc các địa phương được quyền chủ động trong bố trí ngân sách hàng năm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ là điều kiện thuận lợi để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tiến hành dễ dàng hơn Ngoài ra, sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, dự án; sự đóng góp từ phía doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài cũng là một phần quan trọng trong việc đáp ứng kinh phí cho công tác phổbiến, giáo dục pháp luật nói chung, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về P,CTN cho cán bộ, công chức nói riêng

Trang 38

Ngoài ra, luận văn cũng đã làm rõ nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức; các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức Những nội dung này sẽ là tiền đề để tác giả tiếp tục triển khai nội dung của chương 2 và chương 3

Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Khoá X về Tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác P,CTN, lãng phí cũng đã nhận định “Công tác tuyên

truyền, giáo dục pháp luật về P,CTN vẫn chưa tạo được sự chuyển biến căn bản

về nhận thức và hành động P,CTN trong bộ máy nhà nước và trong xã hội”;

nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức còn thiếu tự giác trong chấp hành các quy định về P,CTN Tình trạng khá phổ biến cán bộ, công chức, viên chức

và người dân thờ ơ, ngại đấu tranh với biểu hiện tham nhũng; coi hối lộ đối với người có chức, quyền hạn là cách thức để giải quyết công việc Điều này đặt ra yêu cầu tất yếu khách quan là phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức, góp phần giữ gìn trật

tự, kỷ cương của đất nước, địa phương, vào việc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Đồng Nai:

- Vị trí địa lý: Đồng Nai là tỉnh nằm ở khu vực Miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh và địa thế chiến lược của kinh tế quốc gia Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây bắc giáp tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương), phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp Biển Đông (nay giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) Địa hình Trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung bộ đến đồng bằng Nam bộ

Đồng Nai nằm trong khu vưc nhiê đớ i gió mùa cận xích đạo, ít chiu ảnh hưở ng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa nắng) Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 25 - 26oC Địa hình tương đối bằng phẳng, địa chất chịu nén tốt thuận lợi trong việc xây dựng các công trình

- Diện tích tự nhiên và dân số: Đồng Nai có diện tích 5.862,37 km2, bằng 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ, giữ vị trí quan trọng trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam của đất nước Tổ chức hành chính cấp tỉnh gồm 25 đơn vị sở, ban, ngành; 11 đơn vị cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện) bao gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú Có 171 đơn vị cấp xã Ước dân

Trang 40

số toàn tỉnh đến cuối năm 2015 khoảng 2.910.000 người, trong đó nữ là 1.492.830 người (chiếm 51,3%) Số người trong độ tuổi lao động là 2.019.540 người, trong đó nữ chiếm 47,8% Về dân tộc người Kinh chiếm tỷ lệ khoàng 92% và có 37 thành phần dân tộc thiểu số sinh sống với 189.098 người cùng sinh sống Đồng Nai là tỉnh có nhiều tôn giáo và có đông chức sắc tín đồ các tôn giáo cư trú rộng khắp các địa bàn, trong đó có 32 xã phường có trên 90% dân số

là người có đạo

- Giao thông vận tải: Có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như: quô c lô 1A, quô c lô 20, quô c lô 51; tuyê n đườ ng sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã taọ điều kiên thuân lơi cho hoat đôn g kinh tế trong vùng cũng như giao thương với

cả nướ c đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

- Tài nguyên khoáng sản: Đồng Nai có nguồn tài nguyên khoáng sản đa

da g và phong phú, tài nguyên rừ ng và nguồn nướ c sông Đồng Nai phục vụ cấp

nước cho các địa phương trong khu vực.(nguồn: www.dongnai.gov.vn)

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Nai:

Theo số liệu thống kê năm 2017 GRDP của tỉnh Đồng Nai tăng 8%, chỉ

số sản xuất công nghiêp tăng 8,6%, thu ngân sách đat gần 48,7 ngàn tỷ đồng Xuất khẩu của Đồng Nai đat hơn 16,9 tỷ USD, đăc biêt là xuất siêu rất lớ n Thu nhâp bình quân đầu người của cả nướ c khoảng 53,5 triêu đồng/ngườ i, còn tai Đồng Nai đạt 91 triêu đồng/ngườ i Năm 2017, cả nướ c xuất siêu khoảng 2,7 ty USD thì riêng tỉnh Đồng Nai đã xuất siêu đến 2,17 tỷ USD (theo http://www.baodongnai.com.vn)

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng giữ ổn định, tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng lên, ngành nông lâm nghiệp và thủy sản giảm dần; năm 2011 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm 57,3%, dịch vụ chiếm 35,2%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 7,5%; năm 2012 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
[12]Website: http://cand.com.vn/Xa-hoi/Phong-chong-tham-nhung-tren-the- gioi-kinh-nghiem-cho-Viet-Nam-26737/ Link
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.185 Khác
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.212 Khác
[5] Lê Quang Kiệm (2016). Công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2016, tr47, Tạp chí Nội chính (ISSN 0866-7934) Khác
[6] Lê Quang Kiệm (2016), Đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy trong các trường học tại tỉnh Đồng Nai – Thực trạng và một số giải pháp, Tạp chí Nội chính (ISSN 0866-7934), tr45, số 42 (3/2017) Khác
[7] Luật phòng, chống tham nhũng, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.8 Khác
[10] Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, Tr.173 Khác
[11] V.I.Lênin (1977), Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w