1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh đồng nai

79 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảm Bảo Quyền Con Người Trong Phiên Tòa Xét Xử Lưu Động Từ Thực Tiễn Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai
Tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hoài Ân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 796,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở lý luận về quyền con người và các quy định pháp luật liên quan đến đảm bảo quyền con người và thực tiễn hoạt động xét xử lưu động c

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN MẠNH TUẤN

ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ LƯU ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HOÀI ÂN

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Mạnh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để làm hoàn thành luận văn này, trước tiên em xin chân thành cảm ơn: Trường Đại học Vinh, khoa Luật và Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập

Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến TS Lê Thị Hoài

Ân- người đã tận tình hướng dẫn thực hiện luận văn tốt nghiệp này, đến Thầy

giáo Tiến sỹ Đinh Ngọc Thắng - Trưởng khoa Luật, cùng các quý Thầy, Cô

trong khoa Luật, trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian tôi học tập ở đây, đến gia đình và bạn bè – những người đã giúp đỡ hết sức mình cho luận văn này được hoàn thành

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được tự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy

cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn!

Nghệ An, năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ LƯU ĐỘNG 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.Pháp luật Việt Nam về quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động 13 1.3 Các điều kiện đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động 27 Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ LƯU ĐỘNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 31

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Đồng Nai và tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai 31

2.2 Thực tiễn xét xử lưu động của Tòa án nhân dân Đồng Nai 39

2.3 Đánh giá thực trạng đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động luật quy định, thực trạng thực hiện pháp luật 46

Tiểu kết chương 2 53

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ LƯU ĐỘNG 56

3.1 Nhu cầu khách quan đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động 56

3.2 Quan điểm tăng cường đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động 58

3.3 Giải pháp tăng cường đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động 61

Tiểu kết chương 3 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng, quan tâm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân với mục đích đưa các quy định của pháp luật đi sâu vào đời sống của nhân dân, tuyên truyền, phổ biến, phổ biến cho nhân dân hiểu sâu hơn về các quy định của pháp luật Trong thời kỳ đổi mới công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật không ngừng được đẩy mạnh về mọi phương diện cả về nội dung và phương thức thực hiện, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội thì việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật càng ngày càng được nâng cao và hoàn thiện về mọi mặt của đời sống xã hội Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thì hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để hướng dẫn và chỉ đạo, củ thể: Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của chính phủ (Tòa án nhân dân tối cao là một cơ quan thành viên), Nghị quyết 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013

Trong đó Tòa án nhân dân là một trong các chủ thể tham gia giáo dục pháp luật một cách hiệu quả qua hoạt động xét xử Thông qua hoạt động của mình Tòa án nhân dân chủ động thực hiện lồng ghép tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử Do hoạt động đặc thù của Tòa án nhân dân là xét xử nên trong công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật chủ yếu được lồng ghép qua xét xử một số vụ án hình sự Trước đây, trong điều kiện hoàn cảnh đất nước đang trong quá trình phát triển và đổi mới còn gặp

Trang 7

nhiều khó khăn thì việc xét xử lưu động có ý nghĩa to lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân, hơn nữa xét

xử lưu động còn có ý nghĩa răn đe và phòng ngừa chung về tội phạm Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển chung của đất nước, trình độ lập pháp ngày càng hoàn thiện và sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông, mạng xã hội nên việc tiếp cận với pháp luật của nhân dân được nâng cao; bên cạnh đó ngành Tòa

án đã thực hiện đăng công khai bản án, quyết định lên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao để mọi người dân có thể tiếp cận với các bản án, quyết định và Tòa án đã ban hành mà không cần phải đến tận phiên tòa mới trực tiếp theo dõi được diễn biến của vụ án Mặt khác, một Nhà nước pháp quyền hiện nay đang hướng tới là đề cao quyền con người, quyền công dân thì xét xử lưu động đang có nhiều ý kiến trái chiều về việc nên hay không nên tiếp tục xét xử lưu động bởi những hệ lụy mà nó mang lại Việc đưa phiên tòa ra xét xử lưu động có lợi về mặt tuyên truyền thì có những bất cập như tính nghiêm minh của phiên tòa bị ảnh hưởng, bị cáo đưa ra tòa chưa chắc đã có tội ảnh hưởng tới quyền con người, quyền của những người thân thích của bị cáo… Đặc biệt Hiến pháp năm 2013, khẳng định quyền con người một cách cụ thể hơn và dành hẳn chương II để nói về quyền con người “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Cụ thể hơn, nguyên tắc suy đoán vô tội theo khoản 1, Điều

31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và được thể chế hóa nguyên tắc này trong bộ luật hình sự

Do vậy, cần nghiên cứu, phân tích đánh giá cụ thể một cách khách quan, toàn diện về việc đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động một số

vụ án hình sự Chính vì yêu cầu về việc nghiên cứu thực trạng và tìm giải pháp đảm bảo quyền còn người qua hoạt động xét xử lưu động một số vụ án hình sự tại tỉnh Đồng Nai là cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng Với những lý do trên,

việc nghiên cứu đề tài: “Đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu

Trang 8

động từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai” làm đề tài luận văn thạc sĩ

của mình là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đảm bảo quyền con người trong khoa học pháp lý nước ta được nhiều tác giả nghiên cứu trong nhiều công trình với các góc độ, khía cạnh và phương diện khác nhau Nghiên cứu về quyền con người có công trình “Quyền con người trong thế giới hiện đại” (Viện thông tin khoa học xã hội, 1995) của GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm Ích; “Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997) của PGS.TS Chu Hồng Thanh Nghiên cứu quyền con người từ góc độ tư pháp có “Pháp luật đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực xã hội ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Đề tài luận án tiến sĩ luật học năm 2011 của TS Lê Hoài Trung), “Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay” (Đề tài luận án tiến sĩ luật học năm 2013 của TS Đặng Công Cường) và một số đề tài luận văn thạc sĩ về đảm bảo quyền con người trong hoạt động vụ

án xét xử hình sự Trong các công trình nghiên cứu này và nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã khai thác khía cạnh đảm bảo quyền con người trong công tác xét xử của ngành Tòa án Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa nghiên cứu đến hoạt động xét xử lưu động một số vụ án hình sự để đảm bảo quyền con người trong xét xử lưu động

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở lý luận về quyền con người và các quy định pháp luật liên quan đến đảm bảo quyền con người và thực tiễn hoạt động xét xử lưu động của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai Đề tài nghiên cứu những quy định của pháp luật

về vấn đề đảm bảo quyền con người, các điều kiện và những yếu tố nhằm đảm bảo quyền con người Đồng thời đề tài nêu lên thực trạng từ việc đảm bảo quyền

Trang 9

con người trong phiên tòa xét xử lưu động từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động

Luận văn đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

và hoạt động xét xử đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đền khoa học liên quan đến vị trí, vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo quyền con người

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của Tòa án trong việc đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động của Tòa án nhân dân tại địa bàn tỉnh Đồng Nai

Thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Đồng Nai hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát việc đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động của Tòa án nhân dân tại tỉnh Đồng Nai

Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu và số liệu nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2017 tại địa bàn tỉnh Đồng Nai

5 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động ở tỉnh Đồng Nai hiện nay Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa học mới cụ thể sau:

- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao việc đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động tại tỉnh Đồng Nai

Trang 10

Với việc nghiên cứu đề tài, tác giả hy vọng sẽ đóng góp một phần khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay của ngành Tòa án là “Đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động”

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước, pháp luật và về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quyền con người và đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hiện nay Khi nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, quy nạp…

Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tư liệu

Phương pháp tiếp cận của chuyên ngành luật Hiến pháp, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, luật Hình sự, luật tố tụng Hình sự…

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng trong quá trình xây dựng khái niệm về đảm bảo quyền con người; phân tích, chứng minh và luận giải những ưu điểm, hạn chế của hoạt động đảm bảo quyền con người

Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu thống kê được sử dụng để chứng minh cho các luận điểm của đề tài

Tác giả cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm của đề tài

Trang 11

7 Cấu trúc của luận văn

Trang 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ LƯU ĐỘNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, mang tính chất toàn cầu và được sử dụng ngày càng phổ biến trong các quan hệ quốc tế, đây là nội dung quan trọng thu hút được sự quan tâm cả về phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của mỗi quốc gia [1]

Quan niệm về quyền con người đã được các nhà tư tưởng bàn đến từ thời

cổ đại và không ngừng được phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loại

Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền con người mang tính tự nhiên Bởi quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng… Các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý thức của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào Vì vậy, không một chủ thể nào, kể cả Nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân

Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền con người được đặt trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội Quan điểm này nhấn mạnh đến yếu tố lịch sử – xã hội của quyền con người Bởi quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời là một khái niệm có tính lịch sử, hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau Quyền con người không phải là khái niệm trừu tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tính tự nhiên bẩm sinh mà luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, gắn liền với sự phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Quan điểm này cho rằng quyền con người chỉ có trong xã hội có đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống

Trang 13

bất công trong xã hội; gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội; chịu sự hạn định của chế độ kinh tế, đặc biệt của chế độ chính trị – Nhà nước [2]

Trên cơ sở các quan niệm về quyền con người năm 1776, lần đầu tiên quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: “ Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền được bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không

ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”

Năm 1791, trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, quyền con người từng bước được các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nước mình Ở góc độ quốc tế, Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc cho rằng:

“Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” Như vậy, quan điểm này đã nhấn mạnh chỉ có pháp luật và pháp luật phải ghi nhận, đảm bảo quyền con người như những đảm bảo toàn cầu

Trên cơ sở nhận thức pháp lý ngày càng sâu sắc và thực hiện công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, Hiến pháp 2013 một lần nữa lại khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất Mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước ta trong một loạt vấn đề của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước trong đó

có vấn đề quyền con người

Về vấn đề quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp 2013 đã có sự ghi nhận về quyền con người tại chương II từ điều 14 - 49 Hiến pháp 2013 đã ghi nhận nguyên tắc quan trọng là: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn

Trang 14

hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật…” theo Điều 14 Hiến pháp 2013 Đây chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của quyền con người, quyền công dân, bảo đảm sự cân bằng, minh bạch và lành mạnh giữa các lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân và phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; hạn chế tối đa bất cứ sự lạm dụng hay tùy tiện nào tước đi hay hạn chế các quyền và tự do vốn có của mọi người bởi các cơ quan nhà nước

Ở nước ta, vấn đề quyền con người đã được nghiên cứu và phản ánh một cách phong phú và đa dạng, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, còn có thuật ngữ “nhân quyền”, xét về mặt ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt thì quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa [3, tr.1239] Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: “Quyền con người là các quyền tất yếu

mà con người phải được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng” [4, tr.338] Có một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [5, tr 10]

Có thể thấy, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người, nhưng có một điều rõ ràng rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch

sử Quan điểm cá nhân tôi cho rằng quyền con người là những đặc quyền vốn

có, tự nhiên của con người và chỉ con người mới có; mang tính lịch sử, xã hội; được ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng hệ thống pháp luật

1.1.2 Khái niệm phiên tòa xét xử lưu động

Trang 15

Hiện nay, từ Hiến pháp 2013 đến các văn bản pháp luật như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hay các văn bản pháp luật có liên quan vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về “phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự”, nhưng chúng ta có thể hiểu về cơ bản phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự là việc: Tòa án xét xử công khai vụ án hình sự tại một địa điểm công cộng như trụ sở Ủy ban nhân dân, trường học, sân vận động, nơi vụ án xảy ra, nơi phát sinh mâu thuẫn hoặc nơi cư trú của bị cáo… chứ không phải là tổ chức ở địa điểm xét xử thường xuyên là tại phòng xử án bố trí tại trụ sở Tòa án Bên cạnh đó, quy định

về trình tự, thủ tục tố tụng của vụ án hình sự xét xử lưu động cũng giống như các phiên tòa hình sự bình thường theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Kết quả xét xử, bị cáo bị xét xử bằng phiên tòa lưu động vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nếu họ có tội, được ghi nhận trong bản án

1.1.3 Khái niệm đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động

Xét riêng ở phương diện quyền con người trong tố tụng hình sự cho thấy, đây là nơi quyền con người chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự, trong đó trọng tâm là xét xử vụ án hình sự Do vậy, đây cũng là nơi quyền con người rất dễ bị xâm phạm và hậu quả của việc quyền con người bị xâm phạm thường để lại hậu quả rất lớn cho xã hội Quyền con người trong tố tụng hình sự được thể hiện ở hai khía cạnh: một là, xử lý người phạm tội trước pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con người nói chung; hai là, khi tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm được quyền của không chỉ người phạm tội

mà còn của những người tham gia tố tụng khác, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng từ phía những người tiến hành tố tụng

Trang 16

Đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự

là việc đảm bảo các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền

con người trong lĩnh vực xét xử nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất

1.2 Pháp luật Việt Nam về quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động

1.2.1 Các nguyên tắc

* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết về nguồn tin tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” Nội dung này được biểu hiện cụ thể trong tố tụng hình sự như sau:

Các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, chỉ được áp dụng những biện pháp mà pháp luật yêu cầu và cho phép để tiến hành các hoạt động của mình nhằm xác định tội phạm và người phạm tội Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng khi tiến hành các hoạt động tố tụng đối với các vụ án hình sự cụ thể phải đảm bảo cho các giai đoạn tố tụng hình sự của quá trình này trong thực tế được diễn ra theo đúng trình tự đã được quy định

Quá trình tố tụng hình sự là một xâu chuỗi bao gồm nhiều hành vi tố tụng

có tính chất khác nhau do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự làm cho quá trình này diễn ra theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không bị chồng chéo về chức năng, thẩm quyền Vì vậy nguyên tắc pháp

Trang 17

chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự là giúp cho quá trình tố tụng hình sự trong thực tế được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng hình

sự Nguyên tắc này đảm bảo cho cuộc đấu tranh chống tội phạm được kiên quyết, triệt để, kịp thời, bảo đảm giáo dục kẻ phạm tội, đồng thời ngăn chặn việc làm oan người vô tội và ngăn ngừa việc hạn chế các quyền dân chủ của công dân một cách trái pháp luật Với các ý nghĩa như trên, nguyên tắc bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được ghi nhận là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, nguyên tắc này không chỉ định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà còn định hướng cho việc xây dựng pháp luật trong thực tiễn

* Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận trong Hiến pháp

2013 tại Điều 16 “Mọi công dân bình đẳng trước pháp luật”; Điều này đã được

cụ thể hóa tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” Trong tố tụng hình sự, nguyên tắc này được hiểu là: Người nào phạm tội, thì dù họ là ai cũng phải bị xử lý theo quy định pháp luật hình sự Việc khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình

sự đều được tiến hành theo thủ tục, trình tự thống nhất do Bộ luật tố tụng hình

sự quy định, không có ngoại lệ vì lý do dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần

xã hội, địa vị xã hội của người bị hại hoặc của bị can, bị cáo Mọi người tham gia tố tụng đều được hưởng những quyền và thực hiện những nghĩa vụ tố tụng ngang nhau

Như vậy, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng, đánh

Trang 18

dấu bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước ta trong một loạt vấn đề của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước trong đó có vấn

đề quyền con người, quyền công dân

* Nguyên tắc xét xử công khai, nhanh chóng

Tại Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai” Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa nội dung này như sau “Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, đảm bảo công bằng Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do

Bộ luật này quy định Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải

tuyên án công khai”

Ngoài ra, nguyên tắc này còn được quy định trong Khoản 2 Điều 11 Luật

tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 như sau: “Tòa án xét xử công khai Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của

đương sự thì Tòa án nhân dân có thể xét xử kín”

Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng của xã hội dân chủ Trong tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng, xét xử công khai được hiểu như một tư tưởng xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động của nó Do vậy, Hiến pháp nước ta ghi nhận nguyên tắc đó, Bộ luật tố tụng hình sự cụ thể hóa và coi đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Chính

vì thế mà nguyên tắc xét xử công khai có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thiết chế dân chủ Bên cạnh đó, nhằm tạo cơ sở pháp lý để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án hình sự, chống sự tùy nghi, lạm dụng, Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 19

2015 quy định chặt chẽ về thời hạn tố tụng Theo đó, bổ sung các quy định nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng đều bị ràng buộc bởi thời hạn, để giải quyết kịp thời, nhanh chóng các vụ án hình sự

* Nguyên tắc xét xử độc lập và tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử

Cụ thể hóa Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định” Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia là nguyên tắc Hiến định Nguyên tắc này được ghi nhận và thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình sự là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử

mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách

có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng

Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật” Điều này được cụ thể hóa từ Khoản 2 Điều 103 hiến pháp 2013

Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét

xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân theo quy định của pháp luật về Hình sự, Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật khác có liên quan Như vậy, giữa tính độc lập và tuân theo pháp luật trong xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm có mối quan hệ ràng buộc, liên quan, gắn bó chặt chẽ với nhau Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật Còn tuân

Trang 20

theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử [6, 35-43]

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền con

người, nếu nguyên tắc này được thực hiện một cách triệt để thì quyền con người

cũng sẽ được đảm bảo Mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật Bất

kể là ai, không phân biệt địa vị xã hội hay khả năng kinh tế, khi phạm tội đều phải bị đưa ra Tòa án xét xử dựa trên các quy định của pháp luật mà không có sự thiên vị hay đặc ân dành riêng cho một nhóm người trong xã hội Nó tạo nên một xã hội thực sự công bằng, dân chủ Đồng thời nguyên tắc này góp phần

khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của cơ quan Tòa án trong hệ thống cơ quan

nhà nước nói chung và trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng Quyền xét xử hoàn toàn thuộc về Tòa án Khi thực hiện hoạt động này, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau và chỉ tuân theo pháp luật mà không chịu ảnh hưởng của bất kỳ sự can thiệp nào từ phía các cá nhân, cơ quan, tổ chức, không chịu sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật

* Nguyên tắc hai cấp xét xử

Theo Điều 27 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc hai

cấp xét xử như sau: “Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng

cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này” Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử

thứ nhất, khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào

những quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo đối tượng và thẩm quyền theo lãnh thổ Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án một lần nữa

Trang 21

Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình

sự thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp, một lĩnh vực mà từ xưa đến nay bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thừa nhận là vô cùng quan trọng của đời sống xã hội Đồng thời với việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng, việc xét xử ở hai cấp giúp cho họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong vụ án để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện nghĩa

vụ pháp lý của mình Việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình

sự với nội dung cơ bản là một vụ án hình sự có thể được xét xử và chỉ có thể được xét xử ở hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và phúc thẩm, giúp tránh tình trạng

vụ án được xét xử ở quá nhiều cấp làm cho quá trình tố tụng kéo dài, ảnh hưởng tới hiệu lực của bản án, quyết định, nhất là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp lực

* Nguyên tắc tranh tụng

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Trên nền tảng nguyên tắc hiến định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26) Đây là quy định mới, căn cứ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo hiến định, thể hiện cụ thể ở các nội dung sau: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của

vụ án” Có thể thấy Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ mối quan

hệ, vị trí giữa những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án là bình đẳng, đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực

Trang 22

hiện hoạt động tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng Chỉ trên cơ sở bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ thì hoạt động tranh tụng mới đảm bảo chất lượng, tính thực thi Trong nguyên tắc tranh tụng, một nội dung quan trọng là “Tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án” Theo đó, xác định rõ Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho những chủ thể tranh tụng là Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và hoạt động tranh tụng tiến hành trên cơ sở dân chủ, bình đẳng Tại phiên tòa, các chủ thể tranh tụng bình đẳng với nhau trên cơ sở đưa ra quan điểm, tài liệu, chứng cứ, phân tích đánh giá để lập luận, đối đáp bảo vệ quan điểm của mình

Nhằm bảo đảm quyền buộc tội và bào chữa của các bên, nguyên tắc cũng bảo đảm sự có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật, nếu vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác

do Bộ luật quy định Trên cơ sở có đủ các chủ thể tranh tụng cũng như chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án, các bên sẽ tranh luận công khai tại phiên tòa

để bảo vệ quan điểm của mình; Tòa án kiểm tra, đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa để đưa ra kết luận cuối cùng về các vấn đề có tội hay không có tội, liên quan đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ định tội và quyết định hình phạt, xác định mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo và đây cũng chính là cơ sở để Tòa án ra bản án, quyết định cuối cùng

Như vậy, tranh tụng được coi là khâu đột phá trong hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử, chống oan sai và bảo

vệ các quyền con người cơ bản của người bị buộc tội Đây là lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng được thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình sự, từ đó tranh tụng cũng đã được xuất hiện trong một loạt các quy định khác nhau của Bộ luật,

Trang 23

với mục đích tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm quyền con người, chống oan sai, nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án

* Nguyên tắc suy đoán vô tội

Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi

là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, cụ thể hóa nội dung này Điều 13

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ

và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” Tại điểm d khoản 1 Điều 58; điểm c khoản

2 Điều 59; điểm d khoản 2 Điều 60 và điểm h khoản 2 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có nội dung: người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt theo quyết định truy nã; người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền: Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Nguyên tắc này đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định Đồng thời trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là quy định về quyền

im lặng, nó góp phần chống bức cung, nhục hình, bảo vệ quyền con người và phù hợp với nền tố tụng tiến bộ của nhiều nước trên thế giới, cũng như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia

Nguyên tắc này đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với việc bảo đảm quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm dân chủ, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần củng cố, bảo vệ quyền tự do của công dân

Trang 24

bằng việc khẳng định chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, thì không ai bị coi là có tội và bị đối xử như người có tội Nguyên tắc này thể hiện thái độ thận trọng của nhà nước trong việc đưa ra phán xét về số phận chính trị, pháp lý của công dân khi chưa bị kết tội bởi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, là sự thể hiện rõ ràng nhất bản chất của nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp [7, 5-9]

1.2.2 Trình tự, thủ tục

Cũng như các phiên tòa xét xử hình sự nói chung, phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự, cũng tuân theo trình tự, thủ tục được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Cụ thể như sau:

Một là, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đây là phần mở đầu của phiên tòa xét

xử được quy định từ Điều 300 đến Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Thủ tục bắt đầu phiên tòa được mở đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa, đọc Quyết định đưa vụ án ra xét xử Sau khi thư ký báo cáo danh sách những người có mặt, vắng mặt tại phiên tòa thì tùy theo lý do vắng mặt có chính đáng hay không mà hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử hay hoãn phiên tòa

Hai là, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

bao gồm thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, được quy định từ Điều 306 đến Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Thủ tục xét hỏi được mở đầu bằng việc kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung, nếu có Sau đó, hội đồng xét xử sẽ để cho bị cáo

và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng và các tình tiết của vụ án, sau đó hỏi thêm về những điểm nào đó mà họ trình bày chưa đủ hoặc có mâu thuẫn Sau khi kết thúc việc xét hỏi, phiên tòa hình sự sơ thẩm sẽ chuyển sang thủ tục tranh luận

Trang 25

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội của mình, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung của cáo trạng hay rút bớt một phần nội dung truy tố của cáo trạng hoặc kết luận bị cáo phạm tội nhẹ hơn, đồng thời đề nghị loại hình phạt, mức hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác Sau lời luận tội của kiểm sát viên, bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo sẽ trình bày lời bào chữa, bị cáo

có quyền trình bày ý kiến bổ sung vào lời bào chữa Tiếp theo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến

vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ lần lượt được trình bày ý kiến về việc luận tội của kiểm sát viên và đưa ra các đề nghị để bảo vệ quyền lợi của mình, cũng như nếu có người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì người này được quyền đề nghị, trình bày ý kiến của mình đối với lời luận tội và ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho người mà mình nhận bảo vệ Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác

Ba là, thủ tục nghị án và tuyên án, đây là thủ tục kết thúc phiên tòa được

quy định từ Điều 326 đến Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Việc nghị án và tuyên án được thực hiện bởi thẩm phán và hội thẩm Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có

ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đối với bản án sơ thẩm thị bị cáo, người bị hại… có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết

1.2.3 Hình thức

Trang 26

Công tác tổ chức phiên tòa xét xử lưu động: Xét xử lưu động là hình thức xét xử công khai nhưng chỉ khác địa điểm tổ chức phiên tòa, đối tượng tham gia phiên tòa và nội quy phiên tòa không thay đổi Tuy nhiên, việc tổ chức phiên tòa ngoài trụ sở Tòa án thường là trụ sở Ủy ban nhân dân phường, xã, ấp, khu dân

cư, trường học … nơi xảy ra vụ án nên những người tham dự phiên tòa thường đông hơn tại trụ sở Tòa án, các đối tượng tham gia nhiều khi không thể kiểm soát hết được Do đó, công tác tổ chức phiên tòa xét xử lưu động phải được chuẩn bị kỹ về hội trường xét xử, trang thiết bị, âm thanh để thể hiện sự nghiêm minh của phiên tòa Cách sắp xếp, bố trí phiên tòa phải tuần theo đúng quy định tại Thông tư 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về Phòng xử án Việc tổ chức phiên tòa xét xử lưu động có sự phối hợp chặt chẽ giữ Tòa án và chính quyền địa phương để phiên tòa được diễn ra theo đúng kế hoạch

Ngoài ra khi tổ chức phiên tòa xét xử lưu động những vụ án có tính chất phức tạp, gây xôn xao dư luận và nhận được sự quan tâm của nhân dân thì số lượng người tham dự phiên tòa đông, đối tượng tham dự phiên tòa không đúng với nội quy của phiên tòa Chính vì vậy, công tác phối hợp giữa Tòa án, chính quyền địa phượng, công an hỗ trợ tư pháp nhằm đảm bảo phiên tòa được diễn ra thuận lợi, không mất trật tự và sự nghiêm minh của phiên tòa vẫn được thực hiện Để thực hiện được thì chính quyền địa phương đã tuyên truyền, thông báo cho nhân dân về phiên tòa xét xử lưu động trước ngày phiên tòa được diễn ra, đồng thời Tòa án cũng nhìn nhận, đánh giá về tính chất vụ án và dự kiến về các trường hợp có thể xảy ra để phối hợp tốt hơn với lực lượng chức năng tại phiên tòa

1.2.4 Mục đích

Thứ nhất, hoạt động xét xử hình sự là hoạt động đảm bảo quyền con người có hiệu lực, hiệu quả cao nhất

Trang 27

Hoạt động xét xử hình sự là hoạt động do Toà án tiến hành, người được nhân danh Nhà nước phán quyết một người có phạm tội hay không, đó chính là Thẩm phán Trình tự tiến hành được thông qua theo trình tự của Tố tụng hình sự Trong quá trình tiến hành các hoạt động này, các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan được Nhà nước giao thẩm quyền chủ yếu giải quyết hai nhóm quan

hệ tố tụng cơ bản, là nhóm quan hệ được phát sinh do việc thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và các nhóm quan hệ khác được phát sinh do việc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ về tài sản, nhân thân hoặc do yêu cầu xác lập một quan hệ pháp lý liên quan đến hai lĩnh vực này

Hoạt động tố tụng trong giai đoạn này là xác định chân lý khách quan đối với sự việc đã xảy ra từ trước có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của con người, được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật tố tụng Đây là quá trình hoạt động khó khăn, phức tạp Trong quá trình này, theo quy định của pháp luật, các chủ thể được tiến hành thực hiện các quan hệ tố tụng một cách công khai, trực tiếp, dân chủ nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến các hành vi, vi phạm pháp luật, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ và các yêu cầu khác của những người tham gia tố tụng Thông qua đó, chân lý khách quan được xác lập đối với các quan hệ pháp luật bị vi phạm và bị tranh chấp đã xảy ra Vì vậy, có thể nói rằng hoạt động xét xử hình sự được thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự quy định nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người một cách khách quan có hiệu lực, hiệu quả cao nhất

Thứ hai, trong hoạt động xét xử hình sự, chủ thể được đảm bảo quyền con người được xác định cụ thể

Trong hoạt động xét xử hình sự, có thể chia làm hai nhóm chủ thể tham gia:

Nhóm thứ nhất, nhóm chủ thể tham gia tố tụng vì có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến sự phán xét của các cơ quan tiến hành tố tụng Nhóm chủ

Trang 28

thể này gồm hai loại, một loại với tư cách pháp lý là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án do đã thực hiện hành vi ,vi phạm pháp luật hình sự Đối với loại chủ thể này, quyền và nghĩa vụ của họ được giải quyết theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự Còn loại chủ thể khác tham gia tố tụng với tư cách là các bên đương sự như: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, bị hại Đối với loại chủ thể này, các quyền và nghĩa vụ của họ được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan Trong quá trình tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể này được đảm bảo thực hiện thông qua những người tiến hành tố tụng

Vì vậy, có thể xác định trong hoạt động xét xử những người tham gia tố tụng này là đối tượng đảm bảo quyền con người

Nhóm thứ hai, nhóm chủ thể tham gia tố tụng không có quyền và nghĩa vụ cần được xem xét, giải quyết trước Toà án Nhóm chủ thể này bao gồm nhân chứng, người phiên dịch, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự…Những người này tham gia tố tụng là để thực hiện trách nhiệm của mình nhằm góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án vì họ không có quyền và lợi ích cần được xem xét, giải quyết trong hoạt động tố tụng Mặc dù không có nguy cơ bị xâm hại về quyền con người từ phía người tiến hành tố tụng, do họ không có quyền và nghĩa vụ tranh chấp cần được giải quyết trong hoạt động tố tụng, nhưng trên thực tế, những người tham gia tố tụng này cũng có thể là đối tượng bị xâm hại về quyền con người khi thực hiện trách nhiệm trong lĩnh vực này, nên họ vẫn là chủ thể cần được đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử

Như vậy, có thể xác định trong hoạt động xét xử án hình sự, chủ thể được đảm bảo quyền con người được xác định cụ thể Họ là những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành hoạt động tố tụng

Trang 29

Thứ ba, trong hoạt động xét xử hình sự, quyền của các chủ thể được quy định đầy đủ, cụ thể và được đảm bảo thực hiện

Trong hoạt động xét xử hình sự có hai nhóm quan hệ phát sinh bao gồm quan hệ phát sinh do việc thực hiện các hành vi phạm tội và các loại quan hệ phát sinh do tranh chấp về dân sự

Đối với nhóm quan hệ pháp luật phát sinh do việc thực hiện các hành vi phạm tội, khách thể của nhóm quan hệ này là việc xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Vì vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự, họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình bằng các hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội mà người đó đã gây ra Do tính chất đặc biệt của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là phát sinh

từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên trong tố tụng hình sự, người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo, người bị kết án bị hạn chế một số quyền cơ bản của công dân, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và vật chất của họ Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định cụ thể về các quyền đối với nhóm đối tượng này,

để đảm bảo quyền con người cho họ Người bị tạm giữ có các quyền: Được biết

lý do bị tạm giữ, trình bày lời khai, đưa ra yêu cầu, khiếu nại về việc bị tạm giữ

và các quyết định khác liên quan, nhờ người bào chữa Bị can có các quyền: Được biết mình khởi tố về tội gì, đưa ra nguồn chứng cứ và những yêu cầu, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Được nhận bản sao quyết định khởi tố, bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, khiếu nại các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng Bị cáo có các quyền: Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, tham gia phiên toà, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, nói lời nói sau cùng trước khi nghị án, được xem biên bản phiên toà, kháng cáo bản

án Người bị kết án có các quyền: Được nhận trích lục án, quyết định thi hành

án, đối với người bị kết án tử hình được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước,

Trang 30

được hoãn thi hành án phạt tù, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù theo quy định của pháp luật Được giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt theo quy định của pháp luật

Đối với nhóm quan hệ pháp luật tố tụng phát sinh do tranh chấp về dân

sự Trong nhóm quan hệ pháp luật này, hầu hết các quan hệ được phát sinh do có

sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể Trong nhóm quan hệ pháp luật tố tụng này, Toà án làm “người trọng tài” phân xử, còn các đương sự có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ các quyền và lợi ích đang bị tranh chấp

Như vậy, trong hoạt động xét xử nội dung của quyền con người được quy định cụ thể trong pháp luật cho từng loại chủ thể khi tham gia vào hoạt động tố tụng Đó là các quyền của những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng Đồng thời các quyền này được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật khi các chủ thể tham gia vào lĩnh vực này

1.3 Các điều kiện đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động

1.3.1 Điều kiện về pháp luật

Đối với hệ thống các quy phạm pháp luật về quyền con người trong xét xử hình sự nói chung và trong xét xử lưu động nói riêng, phải được quy định đầy

đủ, cụ thể, trong đó có các quyền quan trọng như: Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền tự bào chữa cơ bản của con người… đây là những vấn đề có tính nhạy cảm cao Cho nên, đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ, để các hoạt động trong lĩnh vực này luôn được thông suốt, đúng pháp luật đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việc giám sát đối với hoạt động tư pháp cần phải phát huy được đông đảo các cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội và công dân tham gia Trong đó, cần xác định rõ các vấn đề liên quan đến trách nhiệm của “người giám sát”, của “người chịu sự giám sát”, việc giải quyết các vướng mắc trong hoạt động này Như vậy để đảm bảo quyền con

Trang 31

người trong phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự, hệ thống các văn bản pháp luật về đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự cần được củng cố và không ngừng hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ pháp luật liên quan đến lĩnh vực này

1.3.2 Điều kiện về con người

Yếu tố con người trong việc tổ chức và tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự đây là yếu tố quyết định việc đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động Họ là người tham gia vào các quy trình hoạt động tư pháp, quyết định các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, như: tính mạng, tự do, tài sản của người phạm tội, danh dự, uy tín, tài sản của các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác liên quan

Vì vậy, những người tiến hành các hoạt động tư pháp phải là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác đồng thời phải là người có phẩm chất chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có bản lĩnh vững vàng Đó là yếu tố cần và đủ để trong hoạt động tư pháp nói chung, và hoạt động xét xử hình sự nói riêng, họ mới đảm bảo được sự khách quan toàn diện, đầy đủ, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích của công dân, góp phần giữ vững

an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội

Bên cạnh đó vai trò của luật sư và các cơ quan bổ trợ tư pháp, cần phải xác định rõ tiêu chuẩn, chức danh, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong

cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Đặc biệt là không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Luật sư, bào chữa viên nhân dân, giám định viên để

họ tham gia tích cực vào hoạt động bảo đảm quyền của bị cáo trong phiên tòa xét xử lưu động các vụ án

1.3.3 Các điều kiện khác

Trang 32

Đặc thù của các phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự là tổ chức tại những nơi như Trụ sở ủy ban, trường học, nhà văn hóa… nơi xảy ra vụ án nên những người tham dự phiên tòa thường đông hơn Vì vậy mỗi phiên tòa cần có

sự đảm bảo về kinh tế, về các phương tiện, lực lượng bảo vệ phiên tòa

Về cơ sở vật chất, kỹ thuật của hoạt động tư pháp, nhất là đối với cơ quan xét xử Cùng với các đảm bảo về hệ thống các quy phạm pháp luật, để đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử, cần phải đảm bảo về cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động tư pháp như trụ sở làm việc, các phương tiện, công cụ phục

vụ hoạt động của công sở, cho việc thực thi công vụ, nhà tạm giữ, tạm giam, trại cải tạo người phạm tội

Tiểu kết chương 1

Quyền con người luôn là mục đích chung phải hướng đến và đạt được của nhân loại Đó là những đặc quyền vốn có, tự nhiên của con người và chỉ con người mới có; mang tính lịch sử, xã hội; được ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng hệ thống pháp luật

Ở nước ta, quyền con người là thành tựu gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đó là thành quả mà nhân dân ta đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Theo quy định tại Điều

14 Hiến pháp 2013, quyền con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật

Đảm bảo quyền con người là sự đảm bảo về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để thực hiện quyền con người đạt kết quả cao nhất Đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự nói chung và xét xử lưu động nói riêng là đảm bảo các yếu tố, điều kiện cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền

Trang 33

con người trong lĩnh vực xét xử hình sự có hiệu lực, hiệu quả cao nhất Vì vậy, ngoài các yếu tố đảm bảo quyền con người trong xét xử thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, thì vấn đề về tổ chức và hoạt động của các cơ quan xét xử, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về cơ chế đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong việc đảm thực hiện quyền con người cũng cần đặc biệt quan tâm Do đó, đảm bảo quyền con người nói chung và đảm bảo quyền con người trong phiên tòa xét xử lưu động nói riêng chính là mục tiêu và động lực nhằm góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, góp phần trong đấu tranh và phòng ngừa tội phạm,duy trì trật tự an toàn xã hội đang

là vấn đề được Đảng, nhà nước và nhân dân đặc biệt coi trọng

Đảm bảo quyền con người trong trong phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự hiện nay đang là một trong những nội dung quan trọng, những yêu cầu, thách thức lớn cả về lý luận và thực tiễn của những người làm công tác nghiên cứu lý luận khoa học pháp lý cũng như những người hoạt động thực tiễn trong công tác xét xử nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới ở nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Trang 34

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ LƯU ĐỘNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Đồng Nai và

tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Khái quát về tỉnh Đồng Nai

2.1.1.1 Đặc điểm về tự nhiên và xã hội

Về vị trí địa lý địa hình: Đồng Nai nằm ở cửa ngõ đi vào khu vực kinh tế Nam Bộ, có vị trí thuận lợi nhiều mặt Đồng Nai nằm ở vị trí 10022’30’’ đến

10036’ vĩ Bắc và 107010’ đến 10604’15’’ kinh Đông, là tỉnh giao thoa giữa khu vực duyên hải miền Trung – Tây Nguyên và Nam Bộ Phía Bắc của Đồng Nai giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, phía Đông giáp tỉnh tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước Tỉnh Đồng Nai có hệ thống giao thông đa dạng với đường bộ, đường sắt, đường sông, cảng sông và sân bay quân sự Biên Hòa thuận lợi để phát triển kinh tế và là nút giao thông trọng điểm của phía Nam

Tỉnh Đồng Nai có địa hình đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, được chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ vì vậy địa hình khá bằng bẳng với độ dốc không cao với khoảng 82%

có độ dốc dưới 8% Địa hình Đồng Nai được chia thành 3 dạng chính gồm địa hình đồng bằng, địa hình đồi lượn sóng và địa hình núi thấp

Về điều kiện khí hậu và tài nguyên khoáng sản: Đồng Nai là một tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam, ngoài ra đặc điểm khí hậu của tỉnh Đồng Nai còn chịu sự chi phối của không khí chí tuyến Thái Bình Dương rõ rệt nên khí hậu chia thành hai mùa mưa, nắng Với đặc điểm khí hậu chia hai mùa mưa, nắng nền nhiệt trung bình

Trang 35

hàng tháng từ 23,9 – 290C thấp hơn với nền nhiệt tiêu chuẩn trung bình của vùng nhiệt đới Hơn nữa Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu ổn định không chịu nhiều tác động của thiên tai bão, lũ… nên điều kiện khí hậu rất tốt để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và du lịch

Tài nguyên nước: Được điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên tỉnh Đồng Nai có nguồn nước dồi dào với hệ thống các sông, hồ và nguồn nước ngầm Với đặc điểm có hệ thống sông, suối có mật độ khoảng 0,5km/km2 nên tổng lượng nước hàng năm của Đồng Nai khá lớn, hệ thống các sông cung cấp nước chính cho Đồng Nai bao gồm sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Thị Vại, sông Ray, sông Lái Buông và sông Xoài Bên cạnh đó có hồ thủy điện Trị An với dung tích toàn phần khoảng 2.765 tỷ m3 cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An và nước cho sản xuất

Về tài nguyên đất đai: Tỉnh Đồng Nai với điều kiện địa hình đa dạng là vùng chuyển tiếp từ Cao Nguyên đến Đồng bằng do đó cấu tạo đất ở tỉnh Đồng Nai phong phú và phì nhiêu với 10 loại đất chính được tập trung thành 03 nhóm chính gồm: Các loại đất được hình thành trên đá bazan có độ phì nhiêu cao chiếm 39,1% diện tích; các loại đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét có chất lượng đất kém hơn chiếm diện tích 41,9%; các loại đất hình thành trên phù

sa mới với chất lượng đất khá tốt chiếm tỷ lệ 9,9% [8] Với điều kiện về đất đai

đa dạng, phong phú về loại đất và phì nhiêu, màu mỡ nên tỉnh Đồng Nai có điều kiện tốt để phát triển kinh tế

Tài nguyên rừng: Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa, có thảm thực vật và động vật phong phú đa dạng và tiêu biểu

là vườn quốc gia Nam Cát Tiên Đến nay rừng của Đồng Nai có độ che phủ khoảng 29,1% phân bố rải rác chủ yếu ở phía Bắc và phía Tây của Đồng Nai, trong đó trữ lượng rừng tự nhiên là 10.223.556m3 và trữ lượng rừng trồng là 2.376.931m3 [8]

Trang 36

Tài nguyên khoáng sản: Đồng Nai còn tiềm ẩn nhiều khoáng sản chưa được thăm dò và đánh giá đúng mức, tuy nhiên Đồng Nai vẫn là tỉnh có nguồn khoáng sản phong phú về chủng loại và đa dạng về loại hình nguồn gốc Khoáng sản đồng nai tập trung chủ yếu vào các nhóm như vật liệu xây dựng (cát, các mỏ

đá xây dựng, sét gạch ngói…), kim loại (vàng, quặng nhôm, chì, kẽm, thiếc ), phi kim loại (đá vôi, kaolin, bột màu, thạch anh…), đá qúy và bán qúy… Các loại khoáng sản của Đồng Nai thể hiện ưu thế cho việc phát triển công nghiệp và nhất là công nghiệp xây dựng

Về dân cư: Đồng Nai là tỉnh có dân số đông thứ 2 ở Miền Nam sau Thành phố Hồ Chí Minh và đứng thứ 5 trong cả nước Theo thống kê của Cục thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2017 dân số Đồng Nai có 3.300.000 người với mật độ trung bình 1.039 người/km2 Trong đó dân số thành thị chiếm khoảng 37% dân số và dân số nông thôn chiếm khoảng 67% dân số [9] Đồng Nai là tỉnh đa dân tộc, đa tôn giáo, toàn tỉnh có 13 tôn giáo khác nhau Theo thống kê của Tổng cục thống

kê Việt Nam đến nay tỉnh Đồng Nai có hơn 30 dân tộc và người nước ngoài sinh sống, tập trung chủ yếu vẫn là người Việt, người Hoa, người Nùng, người Tày

và các dân tộc khác có số lượng không đáng kể Dân cư Đồng Nai được hình thành trên cơ sở hợp cư của nhiều nguồn dân cư, dung hợp nhiều nền văn hóa, dân cư tập trung chủ yếu tại các đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh tạo điều kiện cho số lượng lao động trẻ, năng động để tỉnh Đồng Nai phát triển kinh tế Chính sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo và số lượng người lao động chiếm

tỷ lệ cao trong tổng số dân cư của Đồng Nai nên tạo điều kiện thuận lợi và là nguồn để kinh tế - xã hội Đồng Nai phát triển

2.1.1.2 Về đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội và văn hóa pháp luật

Về kinh tế: Đồng Nai là tỉnh nằm ở vùng trọng điểm kinh tế phía Nam và

là cửa ngõ tam giám kinh tế khu vực Đông Nam Bộ gồm Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương và Đồng Nai, xu hướng phát triển kinh tế của Đồng Nai

Trang 37

chuyển dịch theo hướng công nhiệp đi đầu cả nước Đồng Nai là tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều hệ thống giao thông huyết mạch của cả nước như quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 20, quốc lộ 51 và hệ thống sông phân bố rải rác trên cả tỉnh điển hình là sông Đồng Nai; bên cạnh đó Đồng Nai đang xây dựng dự án cảng hàng không quốc tế sân bay Long Thành là điều kiện để Đồng Nai mở rộng giao thương và điểm đến của nhiều nhà đầu tư trong

và ngoài nước để phát triển kinh tế Tỉnh Đồng Nai đứng đầu cả nước về phát triển các khu công nhiệp, hiện nay toàn tỉnh có nhiều cụm công nghiệp nghề truyền thống và 32 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và

đi vào hoạt động Theo báo cáo tháng 1 năm 2018 của UBND tỉnh Đồng Nai năm 2017 Đồng Nai là tỉnh xếp thứ 5 trong cả nước về phát triển kinh tế - xã hội, nhiều chỉ tiêu kinh tế của tỉnh cao hơn mức bình quân chung của cả nước Đồng Nai có lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện phát triển kinh tế và du lịch nên tạo được sức hút đầu tư lớn từ nhiều nhà đầu tư vào Đồng Nai Kinh tế Đồng Nai tăng trưởng ổn định qua các năm và tổng thu nộp ngân sách đứng vào hàng những tỉnh thu nộp ngân sách cao của cả nước

Về văn hóa xã hội: Đồng Nai là tỉnh có lịch sự văn hóa lâu đời với nên văn hóa ven sông Đồng Nai và nhiều di tích lịch sử được khám phá như Bến Đò, Phước Tân, Giầu Giây, Hàng Gòn… Nền văn minh Đồng Nai phát triển rực rỡ

và bắt đầu có sự giao thoa với nên văn minh khác cho tới bây giờ, đó là yếu tố thuận lợi cho người Đồng Nai phát triển Chính vì sự phát triển của nên văn minh Đồng Nai nên toàn tỉnh có 53 di tích lịch sử, văn hóa được nhà nước xếp hạng, trong đó có 02 di tích xếp hạng cấp Quốc Gia đặc biệt và 28 di tích xếp hạng cấp Quốc Gia Bên cạnh đó Đồng Nai còn có tổng hợp nhiều khu du lịch

và địa điểm du lịch thu hút khách du lịch đến với Đồng Nai Những bản sắc văn hóa trên mang nét riêng của vùng đất Đồng Nai và của Việt Nam nói chung,

Trang 38

những giá trị văn hóa, tinh thần có tác động trực tiếp đến sự phát triển của xã hội

và văn hóa pháp luật

Về văn hóa pháp luật: Đồng Nai là tỉnh đa dân tộc với hơn 30 dân tộc sinh sống và dân cư tập trung từ mọi miền đất nước Chính sự đa dạng về dân tộc và phong phú về dân cư của mọi miền nên Đồng Nai có sự đa dạng về văn hóa vùng miền, phong tục tập quán của các nơi trên đất nước Với sự đa dạng như vậy nên tác động của công tác pháp luật rất quan trọng đối với người dân của Đồng Nai, do có nhiều thành phần trong xã hội, nhiều dân tộc nên sự tiếp thu và hiểu biết về pháp luật ở Đồng Nai có sự hạn chế nhất định Đặc biệt giữa thành thị và vùng núi của Đồng Nai, hơn nữa giữa thành thị thì sự phân hóa trong nhận thức pháp luật cũng rõ rệt giữa thành phần dân lao động tập trung chủ yếu từ mọi vùng miền về Đồng Nai cũng hạn chế hơn so với thành phần lao động trí thức chiếm tỉ lệ không cao Chính sự phân hóa trong thành phần lao động đã tạo

sự tác động nhất định vào trình độ nhận thức pháp luật và tuân thủ pháp luật của người dân ở Đồng Nai

2.1.2 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

nhân dân huyện Tân Phú, Tòa án nhân dân huyện Định Quán

Trang 39

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm 01 chánh án và

03 phó chánh án Tòa án nhân dân tỉnh được tổ chức gồm 01 phòng Tổ chức cán

bộ, 01 phòng giám đốc kiểm tra, văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh và 05 Tòa chuyên trách Phòng Tổ chức cán bộ gồm 01 trưởng phòng và 03 phó phòng cùng với đội ngũ thư ký Tòa án Phòng giám đốc kiểm tra gồm 01 trưởng phòng

và 01 phó phòng cùng với đội ngũ thẩm phán, thư ký và thẩm tra viên Văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh gồm 01 trưởng phòng và 03 phó phòng cùng với đội ngũ thẩm phán, thư ký, chuyên viên, kế toán, lưu trữ, nhân viên đánh máy, lái

xe 05 Tòa chuyên trách với 05 chánh tòa và 05 phó chánh tòa; các Tòa chuyên trách bao gồm: Tòa hình sự xét xử các vụ án hình sự, trừ các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, trừ trường hợp xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa dân sự giải quyết các vụ việc dân sự Tòa kinh tế giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, phá sản Tòa hành chính vào lao động giải quyết các vụ án hành chính và các vụ việc lao động Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết các vụ việc như: Các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ

án hình sự mà bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hộ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác; xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa

án nhân dân đối với người chưa thành niên; Các vụ việc hôn nhân gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân cấp huyện cụ thể như sau: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa gồm 01 chánh án và 03 phó chánh án; Văn phòng Tòa án nhân dân cấp huyện gồm 01 chánh văn phòng và 01 phó chánh văn phòng cùng với đội ngũ thẩm phán, thư ký, chuyên viên

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
2. C.Mác – Ph.Ăngghen (1998), Về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền con người
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
3. Viện ngôn ngữ học (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb.Văn hóa – thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb.Văn hóa – thông tin
Năm: 1999
4. Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1998
6. Nguyễn Ngọc Chí (2010), “Hoàn thiện nguyên tắc: Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Hoàn thiện nguyên tắc: Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, trong tố tụng hình sự”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2010
7. Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2008
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
12. Lã Khánh Tùng, “Cơ quan nhân quyền quốc gia”, Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan nhân quyền quốc gia”
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
5. Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1993), Tập bài giảng lý luận về quyền con người, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
8. Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, Báo cáo kết quả kiểm kê rừng của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai năm 2017 Khác
9. Cục thống kê tỉnh Đồng Nai, Báo cáo thống kê năm 2017 Khác
10. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Báo cáo tổng kết ngành năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w