1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mặt trận tổ quốc việt nam thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương, từ thực tiễn tỉnh nghệ an

85 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở là: chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _

VĂN TRUNG HIẾU

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG, TỪ THỰC TIỄN

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _

VĂN TRUNG HIẾU

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG, TỪ THỰC TIỄN

TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS HỒ THỊ DUYÊN

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Những kết luận của Luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khoa học khác Các tài liệu, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ trung thực và chính xác

Vi vậy, kính đề nghị Trường Đại Vinh cho tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả Luận văn

Văn Trung Hiếu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô giáo Khoa Luật, phòng Sau đại học trường Đại học Vinh cùng các đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài luận văn: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương, từ thực tiễn tỉnh Nghệ An”

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hồ Thị Duyên, người đã giúp

đỡ, chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Trong luận văn không tránh khỏi một số thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến từ phía các thầy, cô giáo!

Trang 5

An 31 2.2 Thực tiễn thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An 38 2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An 48 Tiểu kết Chương 2 56 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN 58

Trang 6

3.1 Quan điểm đảm bảo thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An 58

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An 64

Tiểu kết Chương 3 72

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giám sát và phản biện xã hội là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Chức năng giám sát đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam 2015, văn kiện của Đảng và một số văn bản pháp luật có liên quan Hoạt động giám sát là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể Chúng ta có thể khẳng định những kết quả đã đạt được về thực hiện dân chủ trong nhiều năm đổi mới đất nước vừa qua trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

là khá toàn diện, song chúng ta cũng thật sự chưa bằng lòng với những gì đã đạt được trong những thành tựu về thực hiện dân chủ so với yêu cầu mong muốn của nhân dân

Nhằm đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, bộ máy nhà nước ta cần phải tiếp tục cải cách để hoàn thiện Đảng ta rất chú trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân Một trong những biểu hiện của vấn

đề này là coi trọng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính nhân dân Đồng thời, hoạt động giám sát góp phần hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước, nhằm bảo vệ chính quyền trong sạch, vững mạnh, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Hoạt động giám sát của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay, hoạt động giám sát ngày càng được chú trọng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nghệ An đã tích cực triển khai các quy định của pháp luật về giám sát, đặc biệt là giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Tuy nhiên các hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc tỉnh vẫn đang còn bộc lộ nhiều hạn chế về nội

Trang 8

dung, hình thức và phương pháp Một số cán bộ Mặt trận còn bị động trong công tác, nặng về hình thức, chưa nắm bắt và phát huy tốt vai trò giám sát Nội dung giám sát của Mặt trận còn lúng túng, chưa đưa ra được những chương trình hoạt động cụ thể nên việc giám sát chưa đạt kết quả cao, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Mặt trận Để đáp ứng nội dung trên, đòi hỏi phải đánh giá việc thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận, từ đó kiến nghị các quan điểm, giải pháp để tăng cường hoạt động này nhằm vừa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, vừa góp phần bảo đảm và phát

huy quyền làm chủ của nhân dân Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương, từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Lý luận và

Lịch sử nhà nước và Pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài

Hoạt động giám sát của mặt trận tổ quốc nói chung và giám sát chính quyền địa phương nói riêng được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau Mỗi công trình đã đề cập đến các lĩnh vực hoạt động

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Điển hình như: “Vai trò của các đoàn thể nhân dân trong việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở” Phan Xuân Sơn, Nhà xuất bản Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Công trình khoa học này đã trình bày trong đó hệ thống quá trình hình thành, phát triển; nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân;

Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội ở nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Các tác giả

đã phân tích khá sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn để làm rõ những quan điểm

về các tổ chức chính trị - xã hội, điều kiện ra đời, vai trò, đặc điểm, chức năng, phương thức hoạt động và những ảnh hưởng của nó trong xã hội… Tác giả

Nguyễn Thanh Bình trong bài viết “Điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát,

Trang 9

phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” đăng trên Tạp chí Mặt trận số

70, năm 2009 đã tập trung phân tích điều kiện do Mặt trận thực hiện nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội Đó là những cái nhìn về hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng nhƣ nhận thức của cán bộ, nhân dân trong công tác này

- Huỳnh Đảm (2011), “Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội XI của Đảng”, Tạp chí Cộng sản số 829, năm 2011 Bài viết đƣa ra một số giải

pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong phát huy chức năng, nhiệm vụ này

- Nguyễn Thanh Bình, “Mặt trận Tổ quốc thực hiện quyền giám sát của nhân dân trong bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp”, Tạp chí Mặt

trận số 90, 2011 Tác giả đã làm rõ chức năng, nhiệm vụ giám sát của Mặt trận

Tổ quốc đối với hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

- Nguyễn Đức Thành, “Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội - Nhìn từ thực tiễn tỉnh Nghệ An”,

Tạp chí Mặt trận số 108, năm 2012 Tác giả đã đánh giá thực trạng hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể ở Nghệ An, chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp khắc phục

- Đặng Thị Kim Ngân (2014), “Vai trò giám sát của Ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng ở cơ sở”, Tạp chí Mặt trận số 214, năm

2014 Tác giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc thông qua chỉ đạo hoạt động của Ban giám sát đầu tƣ cộng đồng, Ban thanh tra nhân dân

- Đặng Đình Tân (chủ biên), “Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, năm

2006 Các tác giả đã phân tích nhiều vấn đề xung quanh hoạt động giám sát của

Trang 10

Mặt trận và các đoàn thể của HĐND các cấp, của Quốc hội đồng thời đưa ra giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát

Ngoài ra, còn có một số bài viết, nghiên cứu được đăng trên các Tạp chí

như: bài viết “Thực hiện tốt quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán

bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư” của tác giả Trần Ngọc Nhàn (Tạp chí Mặt trận số 34, năm 2006) Tác giả Nguyễn Ngọc Bình với bài “Suy nghĩ về hoạt động giám sát của Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư” (Tạp chí Mặt trận

số 33, năm 2006), tác giả Xuân Trường với bài viết “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc giám sát hoạt động chính quyền ở cơ sở”, tác giả Đặng Đình Tân với bài viết “Mặt trận phối hợp với các đoàn thể trong việc giám sát ở địa phương”

(Tạp chí Mặt trận số 95, năm 2011)

Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí, các đề tài đã được nghiệm thu, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ về vấn đề này Hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đều có giá trị mang tính lý luận và có ý nghĩa thực tiễn cao, bao gồm nhiều lĩnh vực với phạm vi khái quát cao và được sử dụng để tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ

An trong thời gian qua để đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết 3 nhiệm vụ trọng tâm là:

- Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trang 11

- Làm rõ thực trạng hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An trong những năm qua

- Nghiên cứu và đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An dựa trên các nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An

- Về không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An

- Về thời gian: Hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2015-2017

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở là: chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân chủ và vai trò của nhân dân trong kiểm soát quyền lực Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện chức năng giám sát hoạt động của chính quyền địa phương các cấp

Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu là phương pháp luật học, phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống, khái quát…, đồng thời áp dụng những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

6 Những đóng góp của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 12

- Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu một cách tương đối

hệ thống, chuyên sâu về hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Luận văn đưa ra những đánh giá thực trạng thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ

An trong những năm gần đây

- Luận văn đưa ra một số quan điểm, kiến nghị về phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa phương

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn góp phần định hướng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn tỉnh Nghệ An

- Luận văn còn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, tập huấn, giảng dạy… tại các địa phương, đơn vị

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chức năng giám sát chính

quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thực hiện chức năng giám sát chính quyền địa

phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát

chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền địa phương

1.1.1 Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, hoạt động theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản

lý, nhân dân làm chủ Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố đầu tiên của hệ thống chính trị, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nên tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Nhà nước là nhân tố thứ hai,

có chức năng quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chính là nhân tố thứ ba cấu thành nên hệ thống chính trị

Điều 9, Hiến pháp năm 2013 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [[24], tr.23-24] Điều này càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận không thể thiếu của hệ thống chính trị nước ta

Trang 14

Trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã xây dựng và phát triển một số mô hình tổ chức tập hợp quần chúng nhân dân tương tự như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cụ thể:

Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa: Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc được thành lập ngày 21/9/1949 Chính hiệp đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc Cơ cấu Chính hiệp gồm: Đảng Cộng sản Trung Quốc; các đảng phái dân chủ; các nhân sĩ, trí thức không thuộc các đảng phái; các đoàn thể nhân dân; đại biểu các dân tộc, tôn giáo; đại biểu nhân dân đảo Đài Loan, các đặc khu Hồng Kông, Ma Cao và người Trung Quốc ở nước ngoài Chính hiệp được cơ cấu gồm Ủy ban toàn quốc và Ủy ban các cấp, hoạt động trong nhiệm kỳ là 5 năm Chính hiệp có chức năng chính là: giám sát dân chủ, hiệp thương chính trị và tham chính nghị chính Hiệp thương chính trị

là hiệp thương về phương châm chính sách quốc gia và địa phương cũng như những vấn đề quan trọng trong nền chính trị, kinh tế, văn hóa và đời sống xã hội trước khi quyết định, hiệp thương về những vấn đề quan trọng trong quá trình thực thi những quyết sách nói trên Ủy ban toàn quốc và các Ủy ban địa phương của Chính hiệp có thể căn cứ đề nghị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ nhân dân, các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân triệu tập hội nghị có người phụ trách các đảng phái và đoàn thể, đại biểu các dân tộc và các giới tham gia, tiến hành hiệp thương, cũng có thể đề nghị các cơ quan kể trên đưa ra hiệp thương những vấn đề quan trọng hữu quan Giám sát dân chủ là thông qua đề nghị và phê bình giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nhà nước, việc quán triệt các phương châm chính sách quan trọng, việc làm của các cơ quan nhà nước cũng như cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước Tham chính nghị chính là triển khai điều tra nghiên cứu, phản ánh ý dân, hiệp thương và thảo luận những vấn đề quan trọng trong nền chính trị, kinh tế và đời sống xã hội cũng như những vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm rộng rãi Thông qua báo cáo, kiểm tra, giám sát, Chính hiệp nêu ra

Trang 15

ý kiến, kiến nghị cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và các cơ quan Nhà nước trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế, củng cố bộ máy chính quyền các cấp, phòng chống tham nhũng

Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào: Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước mà tiền thân là Mặt trận Ai Lào Đồng minh được thành lập năm 1941 Là một tổ chức liên hiệp chính trị xã hội của hệ thống chính trị Lào, Mặt trận Lào Xây dựng đất nước có nhiệm vụ: tập hợp đại đoàn kết toàn dân, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân các bộ tộc Lào trong việc phát huy và tăng cường sự thống nhất về tư tưởng, chính trị của toàn dân; Động viên, tuyên truyền giáo dục ý thức làm chủ của dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp pháp luật của Nhà nước; Kết hợp, trao đổi và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên; Tham gia thực hiện chính sách phát triển kinh

tế - xã hội của Nhà nước; Kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu Quốc hội và cán bộ công chức nhà nước; Tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để trình cơ quan Đảng và Nhà nước; Tham gia bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân cùng với Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân các bộ tộc Lào; Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Lào với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước là một tổ chức đoàn kết và tập hợp các dân tộc, các tôn giáo, giai cấp, các tầng lớp,những người đang công tác hoặc đã nghỉ hưu, những người ở trong và ngoài nước Tôn trọng các ý kiến lẫn nhau, xóa bỏ mặc cảm trong dân tộc, giai cấp, cùng chung tay xây dựng đất nước Lào giàu mạnh, phát triển

Cộng hòa Cuba: Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba (CDR) là tổ chức quần chúng lớn nhất ở Cuba và cũng là một trong những tổ chức đắc lực và hiệu quả nhất trong quá trình bảo vệ thành quả cách mạng Được thành lập ngày 28/9/1960, Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba tập hợp đại đa số nhân dân lao động thuộc mọi lứa tuổi và thành phần xã hội, từ học sinh, sinh viên, công dân, nông

Trang 16

dân, trí thức, người về hưu, tự nguyện hoạt động vì lợi ích của cộng đồng và đất nước Ngay từ lúc mới ra đời, mục tiêu ưu tiên của CDR là thúc đẩy tình đoàn kết giữa mọi người dân và tăng cường phúc lợi cho nhân dân lao động Nhiệm

vụ chính của CDR là cảnh giới, giữ gìn và bảo vệ cách mạng Bên cạnh đó, đã

mở rộng thêm một số công tác mới, như: giáo dục, y tế, lao động tình nguyện, hoạt động phong trào yêu nước, bảo vệ môi trường, thu gom phế liệu; ủng hộ tất

cả các nhiệm vụ và chương trình do Cách mạng tiến hành Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã đánh giá Ủy ban Bảo vệ Cách mạng: “Đó là một tổ chức toàn dân chiến đấu, linh hoạt, nhiệt tình và không có sức mạnh nào phá vỡ được, là một công cụ luôn là chỗ dựa vững chắc của cách mạng”

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tiền thân là Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam được hình thành và phát triển sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 10/1930 đã

ra nghị quyết về công tác Mặt trận (Án nghị quyết về vấn đề phản đế của Trung ương toàn thể hội nghị) nhận định: “ở Đông Dương có nhiều lực lượng phản đế

mà hiện nay cần phải liên hiệp lại làm một phong trào cách mạng thống nhất để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, mưu giải phóng cho xứ Đông Dương” Phê phán những nhận thức sai trái xem nhẹ các đoàn thể phản đế, Nghị quyết chỉ rõ: “Việc

tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp của Đảng” [[9], T.2, tr.195] Sau Án nghị quyết về vấn đề phản đế của Trung ương toàn thể hội nghị, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội “Phản đế đồng minh” Từ việc phân tích hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, đặc biệt là mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, bản chỉ thị đã chỉ rõ vai trò, vị trị và sự cấp thiết xây dựng Hội Phản đế đồng minh Chỉ thị xác định phải đảm bảo tính chất công nông đồng thời phải mở rộng tới các thành phần trong dân tộc để Mặt trận thật sự là của toàn dân, “là động lực chính căn bản cho sự bố trí hàng ngũ cách mạng”, và “giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực

Trang 17

lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công” [[9], T.2, tr.227] Hội Phản đế đồng minh ra đời chính là hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam

Trong suốt thời kỳ từ khi thành lập đến kháng chiến chống Pháp kết thúc, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau như: Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939); Mặt trận Việt Minh (1939-1945); Mặt trận Liên Việt (1945-1954) đã vận động, tập hợp quần chúng nhân dân tham gia cách mạng, đóng góp vào thành công chung của Cách mạng Tháng Tám năm

1945 và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điên Biên Phủ (07/5/1954)

Từ ngày 05 đến ngày 10/9/1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam họp tại Hà Nội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tập hợp khối đại đoàn kết nhân dân

cả nước, góp phần vào thắng lợi chung, làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang là bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn luôn là đầu tàu, giữ vai trò chủ chốt trong việc củng cố, tăng cường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới Ở nước ta, việc nâng cao vị thế, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đặt dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 18

Mặt trận Tổ quốc không ngừng phát triển lớn mạnh sau khi trải qua mỗi thời kỳ lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam Ở từng thời kỳ, mặc dù với các tên gọi và hình thức hoạt động khác nhau, nhưng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều nhằm mục đích tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, hiệp thương thống nhất cao về ý chí và hành động, góp phần xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, hoàn thành những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta

đã đặt ra

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi) năm 2015 đã quy định cụ thể

về chức năng và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bao gồm: tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; thực hiện giám sát, phản biện xã hội; tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật và tùy theo tình hình cụ thể của từng địa phương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp xây dựng Chương trình phối hợp thống nhất hành động cho mỗi nhiệm kỳ và từng năm một cách cụ thể, phù hợp và có tính khả thi cao

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014-2019 đã đề ra mục tiêu hành động chung của hệ thống Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam các cấp trong nhiệm kỳ, đó là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy

Trang 19

dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, góp phần phát triển bền vững kinh tế, xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc của nhân dân

Đại hội VIII cũng đã đề ra 05 Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2019, bao gồm:

“Chương trình 1: Nâng cao hiệu quả trong tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Chương trình 2: Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước

Chương trình 3: Phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh

Chương trình 4: Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế

Chương trình 5: Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.” [[21], tr.113]

1.1.3 Khái quát về chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương là khái niệm dùng để chỉ cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước ở địa phương Đảng ta luôn xác định việc tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt giữa chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp Hiến pháp năm 2013 đã lần đầu tiên sử dụng cụm từ “chính quyền địa phương”

Trang 20

làm tên chương, đồng thời quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo hướng khái quát Thể chế chủ trương, định hướng của Đảng và quy định của Hiến pháp về chính quyền địa phương, ngày 19/6/2015, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương Quy định về chính quyền địa phương theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cụ thể như sau:

Thứ nhất, về đơn vị hành chính: Điều 110 Hiến pháp quy định các đơn vị hành chính của nước ta được phân định như sau: “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường Các đơn vị hành chính - kinh

tế đặc biệt do Quốc hội thành lập Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định” Ngoài ra, Hiến pháp đã bổ sung quy định ở thành phố trực thuộc trung ương ngoài đơn vị hành chính truyền thống (quận, huyện, thị xã) còn có đơn vị hành chính tương đương Luật Tổ chức chính quyền địa phương

đã xác định “đơn vị hành chính tương đương” thuộc thành phố trực thuộc trung ương là „„thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng quy định về việc phân loại đơn vị hành chính Việc phân loại này phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo Việc phân loại là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng

tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng đơn vị hành chính Theo đó, đơn vị hành chính được phân loại như sau: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị

Trang 21

hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt Các đơn vị hành chính còn lại (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III

Thứ hai, về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính: Điều 111, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính quyền địa phương được

tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” Có ba cấp đơn vị hành chính phổ biến là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và một cấp không phổ biến là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này”

Thứ ba, về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương: Khoản 1 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ chính quyền địa phương có hai loại nhiệm vụ, quyền hạn được phân biệt với nhau, đó là: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và quyết định các vấn đề của địa phương do luật định Như vậy, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương quy định trong Hiến pháp năm 2013 không có những thay đổi căn bản so với Hiến pháp 1992 nhưng quy định rõ hơn chức năng và nhiệm vụ của chính quyền địa phương Ở nước ta hiện nay, nhiệm vụ quan trọng nhất của chính quyền địa phương là quản lý, tổ chức và bảo đảm việc thực hiện pháp luật trên địa bàn Ngoài ra, từ tính đặc thù của từng địa phương, chính quyền địa phương còn phải thực hiện các nhiệm vụ riêng biệt của địa phương đó Quy định này nhằm nâng cao tính tự quản của các địa phương, phát huy lợi thế đặc thù các vùng miền, hạn chế việc quá phụ thuộc vào chính quyền Trung ương Ngoài ra, Hiến pháp cũng quy định nghĩa vụ quan trọng của chính quyền địa phương là chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên

Trang 22

Khoản 2 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương” [24] Điều này là cụ thể hóa của nguyên tắc tập trung dân chủ, phân định thẩm quyền ro ràng cũng như trách nhiệm cụ thể của chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương Khoản 3 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó Trên thực tế rất nhiều nhiệm vụ của Trung ương giao cho địa phương thực hiện nhưng chỉ giao việc mà không kèm theo các điều kiện bảo đảm để thực hiện công việc, gây rất nhiều khó khăn cho địa phương Quy định này tạo cơ sở hiến định giải quyết nhiều khó khăn của các địa phương hiện nay

Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp; trên cơ sở đó, những nội dung cụ thể được Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định Theo khoản 1 Điều 11 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp Nguyên tắc này vừa bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, vừa phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Điều 17, 38); nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (Điều 24, 45, 52); nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

ở xã, phường, thị trấn (Điều 31, 59, 66); nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở hải đảo (Điều 73) Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015

Trang 23

cũng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên các lĩnh vực nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế này hợp thành chính quyền địa phương

1.1.4 Khái niệm giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự

chấp hành những quy tắc chung nào đó” [Error! Reference source not found.,

tr.112]

Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng thì: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [[6], tr.184]

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể chỉ ra những đặc trưng của giám sát là:

Thứ nhất, giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và đánh giá về một việc làm nào đó đã được thực hiện theo quy định

Thứ hai, mục đích của giám sát là nhằm có được những đánh giá, nhận xét sát đúng về đối tượng giám sát và kiến nghị biện pháp xử lý những việc làm sai quy định, đảm bảo cho kiến nghị của chủ thể giám sát được thực hiện

Thứ ba, giám sát luôn gắn với chủ thể nhất định - chủ thể đó được trao thẩm quyền, có chức năng theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra đánh giá về đối tượng chịu sự giám sát

Thứ tư, giám sát luôn gắn với đối tượng có địa chỉ cụ thể, không có giám sát chung chung

Trang 24

Thứ năm, giám sát thể hiện quan hệ xã hội giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát Chủ thể giám sát có quyền và trách nhiệm theo dõi, đánh giá, nhận xét và kiến nghị những biện pháp để tác động đến đối tượng giám sát Đối tượng giám sát có trách nhiệm và nghĩa vụ phải cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho chủ thể giám sát tiến hành các hoạt động giám sát và phải điều chỉnh những hoạt động chưa phù hợp theo kiến nghị của chủ thể giám sát

Thứ sáu, giám sát được tiến hành trên cơ sở những căn cứ pháp lý nhất định, đó là những quy định về thẩm quyền của chủ thể giám sát và trách nhiệm của đối tượng giám sát Cơ sở pháp lý bảo đảm cho chủ thể thực hiện quyền, trách nhiệm giám sát và đưa ra các đánh giá, nhận xét cũng như đòi hỏi đối tượng chịu sự giám sát phải điều chỉnh, sửa chữa

Cần phân biệt những điểm giống và khác nhau giữa giám sát với “thanh tra”, “kiểm tra" Giám sát, thanh tra và kiểm tra đều là hoạt động xem xét, đánh giá, nhận xét đối với một đối tượng cụ thể để phòng ngừa sai phạm hoặc đưa ra biện pháp xử lý các sai phạm theo quy định Tuy nhiên giám sát khác với kiểm tra, thanh tra ở những điểm sau đây:

Thứ nhất: Mục đích của giám sát trước hết nhằm phòng ngừa sai phạm, uốn nắn đối tượng chịu sự giám sát thực hiện đúng quy định Còn thanh tra, kiểm tra lại chủ yếu là phát hiện những sai phạm để uốn nắn

Thứ hai: Phạm vi của giám sát rất rộng nhằm kịp thời cảnh báo, nhắc nhở

cá nhân hoặc tổ chức có dấu hiệu vi phạm kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn Còn phạm vi của thanh tra, kiểm tra thường giới hạn ở những vụ việc cụ thể gắn liền với đơn thư khiếu nại, tố cáo

Thứ ba: Biện pháp xử lý của giám sát thường là kiến nghị các bộ phận có thẩm quyền giải quyết, chủ thể giám sát không có quyền áp dụng trực tiếp chế tài cụ thể để xử lý sai phạm Còn thanh tra, kiểm tra, nếu phát hiện thấy sai phạm có thể đưa ra những chế tài cần thiết để điều chỉnh hành vi của đối tượng

Trang 25

bị thanh tra, kiểm tra như đình chỉ hoạt động, chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra

Thứ tư: Hoạt động kiểm tra trong nhiều trường hợp có sự đồng nhất giữa chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra - đó là sự tự kiểm tra Còn giám sát thì không có hoạt động tự giám sát, mà chủ thể giám sát phải “đứng ngoài” hoặc

“đứng trên” đối tượng bị giám sát để thực hiện quyền giám sát

Thứ năm: Giám sát là hoạt động thực hiện thường xuyên, liên tục, không

có giám sát đột xuất, bất thường Còn thanh tra, kiểm tra ngoài hoạt động định

kỳ, theo kế hoạch thì phần lớn là hoạt động đột xuất, bất thường khi có khiếu nại, tố cáo về các hành vi vi phạm quy định

Dựa theo chủ thể thực hiện hoạt động giám sát, có thể phân loại hoạt động giám sát thành giám sát của Đảng, giám sát của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Giám sát của Đảng được thực hiện theo Điều lệ Đảng và các quy định liên quan của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan Đảng ở Trung ương Chủ thể giám sát là Ủy ban kiểm tra các cấp Đối tượng giám sát là cấp ủy cấp dưới và đảng viên Nội dung giám sát là việc thực hiện Điều lệ Đảng, các quy định, chủ trương, đường lối của Đảng và việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước

Giám sát của Nhà nước là hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực Nhà nước, cụ thể là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 Giám sát của Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân không mang tính quyền lực Nhà nước, là giám sát mang tính nhân dân với cơ chế “theo dõi, phát hiện, kiến nghị”

Trang 26

Tóm lại, giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là sự theo dõi, quan sát, xem xét, đánh giá của đại diện các tầng lớp nhân dân đối với hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Thông qua hoạt động giám sát nhằm phát hiện những bất cập, hạn chế và kiến nghị, đề xuất những nội dung nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở các cấp

Theo quy định tại khoản 1, điều 2 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị và tại khoản 2 điều 25 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, mục đích của hoạt động giám sát là: đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Theo quy định tại khoản 2 điều 25 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính nhân dân, tính xã hội, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn

1.2 Nội dung và phương thức giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1 Cơ sở của hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1.1 Cơ sở lý luận

Hoạt động giám sát mang tính nhân dân của Mặt trận được thể hiện trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và được thể chế hóa thành nguyên tắc pháp lý

Sinh thời, Lênin coi sự tham gia của nhân dân vào chính quyền là một mục đích của chính quyền Xô-viết, đặc biệt là coi trọng quyền tham gia quản lý

Trang 27

nhà nước của nhân dân Người cùng quan niệm, tập hợp thu hút được mọi người dân tham gia quản lý là một trong những ưu thế quyết định của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Vì rằng, một thiểu số người, tức là Đảng không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội [[18], tr.67-68] Theo Lênin, chính quyền Xô-viết không phải là một cái gì đó xa lạ mà đó là bộ máy gần gũi với nhân dân và nhân dân, bất kể ở cương vị nào, ngành nghề gì cũng có thể tham gia quản lý bộ máy đó [[19], tr.65] Lênin phê phán những quan điểm lệch lạc cho rằng “một người công nhân bình thường hay là một người nông dân bình thường, không thể điều khiển nhà nước được và Người khẳng định “Người công nhân bình thường và người nông dân bình thường có thể điều khiển nhà nước nếu người đó bắt tay điều khiển nhà nước”

Sự công khai, minh bạch trong quản lý và điều hành chính quyền cũng được Lênin hết sức coi trọng Việc công khai của chính quyền các cấp chính là điểm khác biệt giữa chế độ xã hội chủ nghĩa và các chế độ khác trong lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại, tạo nên sự gần gũi giữa chính quyền làm nhiệm vụ quản lý và người dân Một số quan điểm cho rằng việc công khai se làm ảnh hưởng đến chức năng quản lý, điều hành, vận hành của bộ máy Nhà nước Tuy nhiên từ thực tế, việc công khai trước quần chúng về các hoạt động của chính quyền sẽ giúp bản thân chính quyền nhìn nhận được nhưng tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác quản lý, từ đó có biện pháp chỉnh sửa để càng ngày hoàn thiện hơn

Kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, sinh thời Hồ Chí Minh đã rất coi trọng xây dựng một chế độ dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Người quan niệm dân chủ có nghĩa là “Dân là chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [22], tr.515], “bao nhiêu lợi ích đề vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân” [[22], tr.698] Người cũng sớm nhận thức được sức mạnh của nhân dân chính là nguồn gốc tồn tại và phát triển của

Trang 28

đất nước “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng

hộ, việc gì làm cũng không nên” Người nói, muốn có dân chủ thì phải chống quan liêu, tham nhũng, vì những cái đó đối lập với dân chủ Người còn nhận thấy vai trò của việc thực hành dân chủ “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [[22], tr.249]

Trong nhiều năm qua, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta có nhiều văn kiện nêu lên chủ trương về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân Đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Ngoài ra, một số nghị quyết của Đảng có đề cập đến nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về

“Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” ; Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị…

Mới đây nhất, trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ

“Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -

xã hội; tạo sự đồng thuận xã hội” [[11], tr.149]

Trang 29

1.2.1.2 Cơ sở pháp lý

Thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, tại điều 9 Hiến pháp

2013 đã quy định “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc” [[24], tr.23-24] Khoản 5 Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

2015 quy định về quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng nêu rõ “Thực hiện giám sát và phản biện xã hội” [[25], tr.9] Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng giám sát, đặc biệt là giám sát hoạt động của chính quyền địa phương

Ngoài ra, một số văn bản pháp lý quy định chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân như: Luật Thanh tra năm 2010; Luật Đầu tư công năm 2014; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Nghị định số 159/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết

và biện pháp thi hành một số điều của Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân Đây chính là những cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới

1.2.2 Đối tượng, nội dung và hình thức giám sát

1.2.2.1 Đối tượng giám sát

Đối tượng giám sát giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan,

tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đại biểu dân cử, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức:

Đối với tổ chức Đảng: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ trách

Trang 30

Đối với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan do Quốc hội thành lập, Hội đồng nhân dân các cấp: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân các cấp

Đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,

Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp

Đối với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động xét xử, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác

Đối với đơn vị sự nghiệp: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp

Đối với cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc giữ mối liên

hệ với nhân dân và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú

1.2.2.2 Nội dung, hình thức giám sát

Xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị, nội dung giám sát đối với các cơ quan, tổ chức trong hệ

Trang 31

thống chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Các văn bản hiện hành không quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát đối với các cơ quan, tổ chức ở cấp trên (theo cấp hành chính), nhưng cũng như các hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra của các cơ quan, tổ chức khác, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ nên thực hiện đối với các văn bản và hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân cùng cấp

và cấp dưới Đối với những vấn đề xét thấy cần giám sát đối với văn bản hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cấp trên, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có thể có văn bản báo cáo và đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp với cơ quan, tổ chức, cá nhân

đố xem xét, quyết định việc giám sát

Tại Điều 27 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định bốn hình thức giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là: Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tổ chức đoàn giám sát; thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

1.2.3 Yêu cầu và nguyên tắc của hoạt động giám sát

Trong quá trình hoạt động giám sát cần bám sát các yêu cầu và tuân theo những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các cơ quan liên quan

Thứ hai, quá trình hoạt động giám sát không làm cản trở công việc, sinh hoạt của tổ chức, cá nhân

Trang 32

Thứ ba, hoạt động giám sát phải đảm bảo công khai, khách quan, minh bạch theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Thứ tư, tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động giám sát được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng Người có hành vi trả thù, trù dập người phát hiện, kiến nghị, tố cáo hoặc bao che cho người có hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc phát hiện, kiến nghị, xử lý người có hành vi vi phạm thì tùy theo mức độ đều bị xử lý

kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Thứ năm, việc giám sát còn đòi hỏi có sự theo dõi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, cải tiến công tác, làm cho việc giám sát có hiệu lực và đạt hiệu quả thiết thực

1.3 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi thực hiện giám sát chính quyền địa phương

1.3.1 Góp phần hạn chế tình trạng lạm quyền, tham ô, tham nhũng

Để điều hành quản lý xã hội tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị mà hình thức biểu hiện là quyền lực nhà nước Chủ thể của quyền lực nhà nước là nhân dân Nhân dân ủy quyền cho những người đại diện được bầu ra để nắm giữ

và thực thi quyền lực chính trị Thực tế lịch sử cho thấy, dù ở bất kỳ thời đại nào, với bất cứ chế độ xã hội nào, tình trạng lạm quyền, sử dụng quyền lực được trao để mưu tính cho lợi ích các nhân là điều vẫn thường xảy ra Vì thế, cùng với việc trao quyền cho các cá nhân, cần có cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực chính trị

Thông qua hoạt động giám sát, Mặt trận Tổ quốc đã phát hiện những sai phạm của cán bộ chính quyền các cấp để đề xuất khắc phục, sửa chữa Vì vậy, tình trạng cán bộ lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính đã hạn chế rất nhiều

Dù rằng Mặt trận Tổ quốc chỉ có quyền giám sát và kiến nghị chính quyền các

Trang 33

cấp xử lý song hoạt động đó đã bổ sung cho hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước Dù cán bộ đương nhiệm mỗi người có năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ khác nhau nhưng không ai muốn để lại dư luận không tốt về tư cách cán bộ, năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị đạo đức Kết quả giám sát chưa cần xử lý mà chỉ mới để lại dư luận là

đã là điều không ai muốn, vì ai cũng biết coi trọng danh dự Vì vậy sự giám sát của Mặt trận và các đoàn thể đã hạn chế được rất nhiều tình trạng lạm quyền, tham ô, tham nhũng Hơn nữa, giám sát của Mặt trận là giám sát của nhân dân,

mà tai mắt của nhân dân là lưới trời lồng lồng lộng nên những kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân khó có thể tránh thoát

1.3.2 Góp phần xây dựng chính quyền ngày càng vững mạnh

Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát hiện những bất cập, tồn tại, hạn chế trong quản lý và điều hành của chính quyền địa phương các cấp, qua đó góp phần củng cố và xây dựng chính quyền địa phương ở các cấp Việc phát hiện, ngăn ngừa kịp thời và đề nghị xử lý việc vi phạm của cán

bộ chính quyền các cấp góp phần làm cho đội ngũ cán bộ chính quyền các cấp chú trọng hơn việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn Mỗi cán bộ tốt sẽ góp phần làm nên một tập thể lãnh đạo tốt

Mặt trận Tổ quốc là đại diện, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho các tầng lớp nhân dân nhân, đưa tiếng nói, ý kiến, kiến nghị của nhân dân đến các cấp chính quyền, từ đó giúp chính quyền có những giải pháp thiết thực để đáp ứng tốt hơn những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Từ đó lòng tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương các cấp được nâng cao, mối quan hệ giữa nhân dân với chính quyền ngày càng được thắt chặt Giám sát cũng là một cách thức quan trọng để nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình, tham gia xây dựng và quản lý nhà nước Một chính quyền vững mạnh là khi chính quyền đó

Trang 34

tận dụng được tối đa sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội

1.3.3 Hạn chế những bất cập trong việc ban hành và thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Chủ trương, chính sách do chính quyền địa phương ban hành dù có cẩn thận đến đâu cũng không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình ban hành cũng như thực hiện Vì vậy, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc góp phần hạn chế những sai sót, bất cập này Bất cứ chủ trương, chính sách nào khi áp dụng thì người thụ hưởng hay ảnh hưởng đầu tiên cũng là nhân dân Thông qua hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân, hiệu quả hay hạn chế của chủ trương, chính sách sẽ được bộc lộ, từ đó có kiến nghị với cơ quan chủ trì soạn thảo sửa đổi, bổ sung, nâng cao hiệu quả, giảm thiểu bất cập, hạn chế của các chủ trương, chính sách

Ngoài ra, qua ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc trong quá trình giám sát, chính quyền địa phương cũng có cái nhìn thực tế hơn về hệ thống chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Từ đó xóa bỏ những chính sách lạc hậu, không phù hợp hoặc bổ sung nhưng chính sách mới, mang tính định hướng phát triển cho địa phương, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước và trên thế giới

1.3.4 Nâng cao tinh thần trách nhiệm của công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ

Hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc tác động đến cả tập thể và cá nhân Trình độ năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị, đạo đức cũng như tính cách mỗi cán bộ, công chức, viên chức là khác nhau Có người có trình độ, năng lực tốt, tinh thần làm việc, trách nhiệm cao, hết lòng vì công việc, ân cần, tận tụy với nhân dân Ngược lại, có người lại có cái tôi

cá nhân cao, thiếu tinh thần trách nhiệm, gây khó dễ khi giải quyết công việc, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, công việc được giao để trục lợi cho bản thân Thông

Trang 35

qua hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân có thể đánh giá được trình độ năng lực chuyên môn cũng như phẩm chất chính trị, đạo đức của người cán bộ, công chức Những cán bộ làm việc hết lòng vì dân đều được nhân dân ca ngợi, tiếng tốt bay xa Những người tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa công tâm trong giải quyết công việc cũng được nhân dân phản ánh lên chính quyền để kịp thời giáo dục, ngăn chặn Nhiều vụ án tham nhũng do chính nhân dân phát hiện chứ không phải là cơ quan chức trách Sau khi tiếp nhận ý kiến từ nhân dân, các cơ quan có trách nhiệm mới vào cuộc Tuy nhiên, cán bộ, công nhân viên chức làm việc như thế nào đã có các cơ quan trực tiếp quản lý nhận xét, đánh giá Nhưng nếu có sự giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc thì càng đánh giá được chính xác hơn chất lượng công việc và tinh thần phục vụ nhân dân của mỗi người

1.3.5 Góp phần khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế của Mặt trận Tổ quốc trong thời đại mới

Giám sát hoạt động của chính quyền địa phương cũng góp phần nâng cao

vị thế, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Trước đây, Mặt trận Tổ quốc đã tập hợp các tầng lớp nhân dân đoàn kết đấu tranh giành độc lập dân tộc Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Mặt trận Tổ quốc phải thực hiện chức năng tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân để cùng nhau thực hiện mục dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Một trong những nhiệm vụ mang tính đặc thù của Mặt trận Tổ quốc là thực hiện chức năng giám sát đối với việc ban hành và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của chính quyền địa phương các cấp Đây là nhiệm vụ giữ vai trò trọng tâm của Mặt trận trong thời kỳ mới Thực hiện tốt nhiệm vụ này, vị thế, vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị cũng như trong cách nhìn nhận của nhân dân sẽ ngày càng được nâng cao

Trang 36

Tiểu kết Chương 1

Giám sát chính quyền địa phương là một nội dung quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoạt động giám sát do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau đồng thời cùng tiến hành, với mức độ, phạm vi và quyền hạn khác nhau, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một chủ thể đóng vai trò chủ đạo Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đặc biệt là đề cao chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc nói chung và giám sát chính quyền địa phương nói riêng Hoạt động giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận Tổ quốc góp phần phát huy dân chủ, sáng tạo, tăng cường đồng thuận trong nhân dân, nâng cao mối quan hệ giữa nhân dân và chính quyền địa phương các cấp

Cùng với bước chuyển mình của xã hội, trước yêu cầu phải đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, bám sát tình hình thực tế của giai đoạn hiện nay, Mặt trận Tổ quốc cũng cần phải đổi mới phương thức giám sát của mình Tích cực vận động các tầng lớp nhân dân tham gia giám sát cùng Mặt trận, nâng cao vị thế và vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN

ĐỊA PHƯƠNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

TỈNH NGHỆ AN

2.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ của Việt Nam, có diện tích

tự nhiên 16.689,9km², là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình phong phú,

đa dạng, có biển, đồng bằng, trung du và miền núi Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Đông giáp biển, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Nghệ An là một trong những tỉnh của Việt Nam nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanmar - Thái Lan -Lào

- Việt Nam theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò

Nghệ An có đường bờ biển dài 82 km với nhiều luồng lạch thuận lợi cho tàu bè qua lại và tránh trú bão, có hai cảng biển thương mại lớn là cảng Cửa Lò (thị xã Cửa Lò) và cảng The Vissai Nghi Thiết (huyện Nghi Lộc) Đường biên giới phía Tây dài 419 km tiếp giáp với các tỉnh Xiên Khoảng, Hủa Phăn và Bô

Ly Khăm Xay của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, có hai cửa khẩu quốc

tế là Thanh Thủy (huyện Thanh Chương) và Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn) Nghệ

An nằm trên các tuyến đường quốc lộ 1A dài 91km, đường Hồ Chí Minh dài

132 km, đường sắt Bắc - Nam dài 94km chạy qua Sân bay Vinh đã được nâng cấp lên Cảng hàng không quốc tế với nhà ga hành khách đạt công suất 2,5-3 triệu khách/năm, tần suất đón 40 chuyến bay/ngày

Về dân số, Nghệ An có dân số hơn 3,037 triệu người, là địa phương có dân số đông thứ tư trong cả nước (sau Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Thanh Hóa) Tỷ trọng dân số sống ở thành thị 15,1%, dân số nữ 50,34%, dân số phi

Trang 38

nông nghiệp 31,3% Mật độ dân số trung bình 184 người/km² Tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên 0,13% Các dân tộc trên địa bàn tỉnh Nghệ An chủ yếu gồm: Kinh, Thái, Thổ, Khơmú, Hmông… Tôn giáo chủ yếu trên địa bàn tỉnh là Phật giáo

và Thiên chúa giáo với nhiều công trình, di tích, cơ sở thờ tự phổ biến trên khắp địa bàn tỉnh

Về hành chính, Nghệ An có 21 huyện, thành, thị với 480 xã, phường, thị trấn Thành phố Vinh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, 03 thị xã Cửa Lò, Thái Hòa

và Hoàng Mai và 17 huyện, có 06 huyện có đường biên giới chung với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Cơ cấu tổ chức hành chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An được thực hiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, gồm 03 cấp chính quyền địa phương là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã

Ngày 30/7/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Từ nay đến năm 2020, trên cơ sở vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, các nghị quyết của Trung ương gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng

bộ tỉnh, Nghệ An cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy nội lực, tận dụng, thu hút mọi nguồn lực cả trong, ngoài tỉnh và nước ngoài, phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm

2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp; là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung Bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc xứ Nghệ; quốc phòng, an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo” Đây chính là cơ sở, tiền

đề để Nghệ An từng bước phát triển, thu được nhiều kết quả tích cực cả về kinh

tế, văn hóa, xã hội trong những năm qua

Trang 39

Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) năm 2017 ước đạt 8,25%, cao hơn so với 2 năm gần đây (năm 2015 là 7,43%, năm 2016 là 7,5%) Trong đó, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,5%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,01%, khu vực dịch vụ tăng 8% Tổng thu ngân sách năm 2017 là hơn 12.030 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 976 triệu USD Thu nhập bình quân đầu người đạt 32,26 triệu đồng/người/năm

Về giáo dục, Nghệ An nổi tiếng có truyền thống hiếu học từ lâu đời và luôn được các thế hệ học sinh tiếp nối Năm 2017, toàn tỉnh có 8 lượt học sinh đạt giải quốc tế và khu vực, 111 học sinh giỏi quốc gia, 65,76% trường đạt chuẩn quốc gia

Về văn hóa, xã hội, Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh,

có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử cũng như các khu du lịch sinh thái, dịch vụ nghỉ dưỡng mới được đưa vào hoạt động Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại vào năm 2014, hiện nay đang tiếp tục được bảo tồn và phát huy giá trị Tỉ

lệ hộ nghèo liên tục giảm qua các năm, các hoạt động an sinh xã hội được duy trì đều đặn

Nhân dân tích cực hưởng ứng và tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua, đặc biệt là phong trào xây dựng nông thôn mới Đến tháng 5/2018, toàn tỉnh đã có 186 xã đạt 19/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới; số tiêu chí bình quân đạt 14,53 tiêu chí/xã; có 03 đơn vị cấp huyện hoàn thành xây dựng nông thôn mới là thị xã Thái Hòa, thành phố Vinh và huyện Nam Đàn Hệ thống

hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn, nhất là về giao thông Đã xuất hiện nhiều cách làm hay, sáng tạo về xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân khu vực nông thôn

Công tác cải cách hành chính ở chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Nghệ

An ngày càng được cải thiện và từng bước đi vào hoạt động nề nếp, phục vụ

Trang 40

nhân dân tốt hơn, khắc phục dần tình trạng trì trệ, chậm thời gian để nhân dân chờ đợi, giảm phiền phức cho nhân dân Có 462/480 xã, phường, thị trấn có trung tâm “một cửa” hoạt động tốt, số còn lại thuộc các xã vùng sâu chưa thành lập được 100% các huyện, thành, thị ủy và các xã, phường, thị trấn đều xây dựng được Quy chế tiếp xúc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với nhân dân Toàn tỉnh có 5.156/5.790 hương ước, quy ước được phê duyệt và đưa vào thực hiện Về cơ bản các hương ước, quy ước được nhân dân thực hiện có hiệu quả

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên tác động không nhỏ đến việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh, trong đó có việc giám sát chính quyền địa phương của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An được tổ chức và hoạt động theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VIII, được tổ chức theo cấp hành chính gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, ở mỗi cấp có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, dưới cấp xã có Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư

Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An là cơ quan hiệp thương cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An, được tổ chức 05 năm một lần Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2014-2019 diễn ra từ ngày

11 đến ngày 13/6/2014 với sự tham gia của 315 đại biểu đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân trong toàn tỉnh đã hiệp thương và bầu ra 120 vị Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh năm nhiệm kỳ 2014-2019, Đồng chí Nguyễn Văn

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thọ Ánh (2012), “Thực hiện chức năng giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện chức năng giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
[6]. Ngô Văn Dụ, Hồng Hà, Trần Xuấn Giá (đồng chủ biên), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[7]. Huỳnh Đảm (2011), “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết XI của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 829 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết XI của Đảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Huỳnh Đảm
Năm: 2011
[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2016
[12]. Trương Thị Hồng Hà (2007), “Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội”
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Năm: 2007
[13]. Hoàng Hải (2007), “Về phản biện và giám sát xã hội”, Tạp chí xây dựng Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phản biện và giám sát xã hội”
Tác giả: Hoàng Hải
Năm: 2007
[14]. Phạm Thị Hồng (2016), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, Tạp chí Mặt trận, số 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân
Tác giả: Phạm Thị Hồng
Năm: 2016
[15]. Hồ Phúc Hợp (2014), Nhận thức và thực hiện tốt hơn “Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội”, Thông tin công tác Mặt trận số đặc biệt chào mừng Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2014-2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức và thực hiện tốt hơn “Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội”
Tác giả: Hồ Phúc Hợp
Năm: 2014
[16]. Vũ Trọng Kim (Chủ biên, 2017), Tập bài giảng về công tác Mặt trận, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về công tác Mặt trận
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
[17]. Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Đức Thành (2012), “Đẩy mạnh hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ”, Tạp chí Mặt trận, số 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ”, "Tạp chí Mặt trận
Tác giả: Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Đức Thành
Năm: 2012
[19]. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 36, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[20]. C.Mác-Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác-Ph.Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
[21]. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
[22]. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[23]. Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên, 2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội ở nước ta hiện nay
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[24]. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
[25]. Quốc hội (2015), Luật số 75/2015/QH13, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w