1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan kiểm lâm, tại chi cục kiểm lâm tỉnh đồng nai

106 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình áp dụng pháp luật luật bảo vệ và phat triển rừng trong những năm qua, công tác quản lý bảo vệ rừng đã đạt được những thành tựu quan trọng như: Nhận thức của người dân về bảo vệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Cồ Tấn Huy

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG CỦA

CƠ QUAN KIỂM LÂM, TAI CHI CỤC KIỂM

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu trong nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Đồng Nai, ngày 15 tháng 6 năm 2018

Người cam đoan

(Tác giả ký và ghi rõ họ tên)

Cổ Tấn Huy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sỹ khoa học luật học: “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan kiểm lâm tại Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai”

được hoàn thành theo chương trình Đào tạo Sau đại học của trường Đại học Vinh

Có được luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy cô trong Khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Đặng Minh Đức - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả từ khi hình thành phát triển ý tưởng đến xây dựng đề cương, phương pháp luận, tìm tài liệu và có những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của lãnh đạo, kiểm lâm viên của Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đối với tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và hoàn thiện luận văn

Tác giả xin bày tỏ và gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tác giả hoàn thành bản luận văn này

Mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do trình độ hạn chế về nhiều mặt, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp đó

Xin chân trọng cảm ơn!

Đồng Nai, 15 tháng 6 năm 2018

Tác giả

Cổ Tấn Huy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG 8

1.1 Khái niệm, hình thức của thực hiện pháp luật bảo vệ rừng 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Hình thức thực hiện pháp luật 13

1.1.3 Đặc điểm 10

1.2 Nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng 14

1.3 Các yếu tố tác động thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan kiểm lâm 26

1.3.1 Yếu tố kinh tế 26

1.3.2 Yếu tố về ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined Chương 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG CỦA CHI CỤC KIỂM LÂM TỈNH ĐỒNG NAI 34

Trang 6

2.1 Khái quát về rừng của Đồng Nai 34

2.1.1 Địa hình 34

2.1.2 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học 35

2.1.3 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 36

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai 38

2.2.1 Thực trạng tuân thủ pháp luật về bảo vệ rừng 38

2.2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về bảo vệ rừng 42

2.2.3 Thực trạng sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ rừng 55

2.2.4 Thực trạng áp dụng pháp luật trong việc bảo vệ rừng 59

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai 60

2.3.1 Những kết quả đạt được 60

2.3.2 Một số tồn tại và hạn chế 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG 66

3.1 Quan điểm đảm bảo thực thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng 66

3.1.1 Nâng cao vai trò của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng 66

3.1.2 Nâng cao vai trò của pháp luật đối với lĩnh vực bảo vệ rừng phải đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 69 3.1.3 Nâng cao vai trò của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải bảo đảm chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ rừng 71 3.1.4 Nâng cao vai trò của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải bảo đảm

sử dụng luật tục, hương ước, quy ước bảo vệ rừng như nguồn bổ trợ và hỗ trợ

Trang 7

cho pháp luật trong quản lý nhà nước để đạt hiệu lực, hiệu quả phù hợp với cơ chế thị trường, yêu cầu hội nhập quốc tế và đảm bảo mục tiêu phát triển bền

vững 73

3.2 Giải pháp đảm bảo thực thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan kiểm lâm 74

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bảo vệ rừng 74

3.2.2 Tổ chức thực hiện đúng và xử lý nghiêm minh đối với những hành vi phạm pháp luật quản lý bảo vệ rừng 85

3.2.3 Giải pháp liên quan kinh tế - xã hội 90

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 01: Hiện trạng rừng theo chủ quản lý tính đến tháng 12/2017 46

Bảng 02: Thống kê diện tích và đối tƣợng nhận khoán 49

Bảng 03: Kết quả thực hiện Thông tƣ 04/2005/TT-BTNMT 51

Bảng 04: Thống kê các vụ vi phạm luật BV&PTR từ năm 2010-2017 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, rừng có vai trò đảm bảo an ninh - quốc phòng, cung cấp oxy, bảo vệ môi trường sống, cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của con người và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội; Rừng góp phần vào các hoạt động kinh tế nhờ vào khả năng cung cấp nguyên liệu liên tục lâu dài với chất lượng nguyên liệu cao cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp giấy, chế biến gỗ, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, sợi dệt, lấy tinh dầu, cung cấp các hoạt động dịch vụ như du lịch sinh thái

Thực tế cho thấy nếu tính cả giá trị kinh tế và giá trị môi trường thì đóng góp vào ngành lâm nghiệp hiện nay khoảng 6% trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội Theo tổng cục thống kê năm 2017 tổng kim ngạch xuất khẩu

gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ của ngành lâm nghiệp đạt 7,6 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2016

Bên cạnh đó, rừng tạo ra các sản phẩm dịch vụ, nhiều dự án phát triển

du lịch sinh thái gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt, du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thu nhập cho người dân bản địa góp phần ổn định dân cư và xóa đói giảm nghèo …

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển dẫn đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như khai thác các loại quặng, các mỏ quặng thường nằm ở những khu rừng có trữ lượng gỗ lớn khi tiến hành khai thác quặng thường phải phá bỏ hết số lượng gỗ trên diện tích mỏ quặng, tùy theo quy mô của từng mỏ quặng có thể từ vài chục đến vài trăm hecta (ha) rừng bị phá Bên cạnh đó, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nhân dân

Trang 10

sống gần rừng ở các tỉnh miền núi, đời sống chủ yếu dựa vào khai thác các sản phẩm từ rừng làm suy giảm từng ngày, từng giờ nguồn tài nguyên rừng

Việt Nam đã có nhiều thay đổi về áp dụng pháp luật trong công tác bảo

vệ rừng Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành lần đầu tiên năm 1991 đến năm 2004 được sửa đổi, bổ sung; vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đã được đưa vào mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII và Nghị Quyết

số 71/NQ-CP ngày 08/8/217 của Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Quá trình áp dụng pháp luật luật bảo vệ và phat triển rừng trong những năm qua, công tác quản lý bảo vệ rừng đã đạt được những thành tựu quan trọng như: Nhận thức của người dân về bảo vệ rừng được nâng lên, quan điểm đổi mới xã hội hóa về bảo vệ rừng được triển khai thực hiện bước đầu có hiệu quả; Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn, chủ trương đổi mới quản lý hiện nay và thông lệ quốc tế; Chính quyền các cấp đã quan tâm nhiều hơn đến công tác quản lý bảo vệ rừng, tình trạng xâm hại tài nguyên rừng được ngăn chặn, đẩy lùi; Diện tích rừng toàn quốc năm 2016 so với năm 2017 là 13,6 triệu ha/14,4 triệu ha tăng 0,8 triệu ha; Độ che phủ của rừng năm 2016 so với năm 2017 là 41,19%/41,45% tăng 0,26% (Quyết định về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016 số 1819/QĐ-BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp ký ngày 16 tháng 5 năm 2017 và Quyết định về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2017 số 1187/QĐ-BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ký ngày 03 tháng 4 năm 2018)

Trang 11

Tuy nhiên, do vấn đề đói nghèo chưa được giải quyết triệt để, rừng đã được giao nhưng khâu quản lý bảo vệ chưa được chặt chẽ Bên cạnh đó, lợi nhuận đem lại từ việc buôn bán gỗ và các sản phẩm khác từ rừng trái pháp luật là rất lớn do vậy tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng như phá rừng, khai thác gỗ trái pháp luật trên phạm vi cả nước nói chung

và tỉnh Đồng Nai nói riêng vẫn diễn ra làm cho chất lượng rừng bị suy giảm Việc rừng bị tàn phá đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: Lũ ống, lũ quét, lỡ đất, lỡ đá, hạn hán và các tác hại về môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Hàng năm, nhà nước phải chi ra nhiều tỷ đồng để khắc phục những hậu quả này gây bức xúc trong xã hội tác động tiêu cực đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Việc quản lý bảo vệ và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng sẽ góp phần to lớn vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sống Thêm vào đó, các nghiên cứu trong chủ đề này tại Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào những đánh giá vĩ mô, phân tích các chính sách tổng thể, chứ chưa đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước, đặc biệt là áp dụng pháp luật trong công tác bảo vệ rừng ở cấp độ địa phương

Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu về áp dụng pháp luật trong công tác bảo

vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có vai trò hết sức quan trọng Đề tài

“Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan kiểm lâm tại Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu

Việt Nam đang bước vào sự chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… Vì vậy, vấn đề cơ chế quản lý và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước ngày càng được đề cao, với mục đích xây dựng, hướng tới xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và vì dân Chính

vì vậy, đã công trình nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực của đời sống xã hội và đã đề cập được phần nào những vấn đề lý luận và thực tiễn trong một số lĩnh vực nhất định

Những nghiên cứu về pháp luật và QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng như:

Báo cáo tư vấn “Xem xét năng lực thừa hành pháp luật và xác định nhu cầu đào tạo của chủ thể quản lý khu rừng đặc dụng” của PGS.TS Lê Hồng

Hạnh (2003) Báo cáo này đã đưa ra các kết quả điều tra về trình độ pháp lý của cán bộ nhà nước quản lý các khu rừng đặc dụng, đề xuất các biện pháp đào tạo nâng cao năng lực thừa hành pháp luật của chủ thể quản lý các khu rừng đặc dụng

Dự án hợp tác quốc tế do chính phủ Cộng hoà liên bang Đức tài trợ cho

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) về “Cải cách hành chính Lâm nghiệp” đang được thực hiện tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm

2006 Mục đích nghiên cứu của dự án này là hoàn thiện hệ thống các cơ quan QLNN về Lâm nghiệp

Luận văn thạc sĩ luật học “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Huyền, năm 2004 Tác giả này

nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng, đề xuất các giải

pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng

Luận văn thạc sĩ luật học “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh

Trang 13

vực bảo vệ rừng ở việt nam hiện nay” của Hà Công Tuấn, 2002 Tác giả nhấn

mạnh trong các công cụ quản lý nhà nước nói chung và quản lý bảo vệ rừng nói riêng thì công cụ pháp luật pháp luật đóng một vai trò rất quan trọng

Luận văn thạc sĩ luật học “Tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Vân, năm 2001 Đề tài này tác giả tập

trung nghiên cứu cơ cấu tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 1991 và Nghị định 39/CP ngày 18 tháng 05 năm 1994 về hệ thống tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm lâm, cho thấy được vai trò nòng cốt của lực lượng Kiểm lâm trong việc bảo vệ rừng, đề xuất đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm hiện nay

Luận văn thạc sĩ luật học “Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Đình Long, năm 2000; “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt nam thực trang và phương hướng hoàn thiện” của Nguyễn Hải Âu, năm 2001 Ngoài ra còn nhiều bài

viết trên các tạp chí, báo và các tham luận trong hội thảo của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này ở các góc độ tiếp cận khác nhau

Tuy nhiên, những công trình nói trên chỉ nghiên cứu ở các khía cạnh hay chỉ đề cập tới những vấn đề có liên quan tới vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống cả mặt lý luận và thực tiễn vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở nước ta hiện nay Có thể nói, đây

là lần đầu tiên vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng được tiếp cận dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp quyền một cách toàn diện, có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 14

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật của Kiểm lâm Đồng Nai trong việc áp dụng pháp luật trong công tác Quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, từ

đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

- Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao vai trò của pháp luật đối với bảo vệ rừng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung cơ bản của pháp luật đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Đồng Nai (các quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý bảo vệ rừng; hoạt động của các cơ quan trong quản lý bảo vệ rừng; các quy định về xã hội hoá công tác bảo vệ rừng; các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ rừng) Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc đề

ra những phương hướng và giải pháp lĩnh vực bảo vệ rừng

Trang 15

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cở sở lý luận của luận văn:

Luận văn này được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-

Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về lý luận nhà nước và pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp; thống kê; so sánh; phương pháp luật học và phương pháp xã hội học

6 Những đóng góp mới

- Luận văn luận giải và bổ sung về mặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung và một số yếu tố tác động thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan Kiểm lâm

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của Ci cục Kiểm lâm Đồng Nai, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế của pháp luật đối với lĩnh vực bảo vệ rừng trong thời gian qua

- Đề xuất các phương hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG

LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG 1.1 Khái niệm, hình thức của thực hiện pháp luật bảo vệ rừng

1.1.1 Khái niệm

Theo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hiện tượng lịch sử vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước, nhằm duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị

Cũng giống như bất kỳ một kiểu pháp luật nào trong lịch sử, pháp luật XHCN cũng có chức năng tổ chức, điều chỉnh nhằm thiết lập, duy trì trật tự

xã hội và chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội, giải quyết các tranh chấp và xung đột xã hội, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật

- Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho

những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực

Đến nay, chưa có một khái niệm đầy đủ nào về thực hiện pháp luật bảo

vệ rừng, theo quan điểm của chúng tôi thực hiện pháp luật bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao

Trang 17

gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái

Như vậy, thực hiện pháp luật bảo vệ rừng bao gồm những hoạt động sau:

- Tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật

- Thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại

- Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật, nó bao gồm toàn bộ những hoạt động của cơ quan quản lý bảo vệ rừng, người đại diện cho cơ quan quản lý bảo vệ rừng, những đối tượng tham gia vào quan hệ bảo vệ rừng: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT, Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm, những người tham gia quản lý bảo vệ rừng Giữa các đối tượng này có rất nhiều mối quan hệ, như quan hệ giữa cơ quan quản lý bảo vệ rừng cấp trên và cấp dưới, giữa cán bộ kiểm lâm với người tham gia bảo vệ rừng, giữa người đại diện của cơ quan quản lý bảo vệ rừng với những người có hành vi vi phạm pháp luật Theo Điều 2 của Nghị định số 23/2006/NĐ - CP quy định như sau:

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức; cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, hoặc đơn vị tương đương (sau đây gọi tắt là cộng đồng dân cư thôn) hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc bảo vệ rừng tại Việt Nam [2, tr 1]

Trang 18

Do vậy, đòi hỏi pháp luật phải quy định địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các chủ thể trong công tác bảo vệ rừng Để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng đòi hỏi nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định cụ thể những vấn đề: cơ cấu tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ rừng; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong bảo vệ rừng

Từ những phân tích trên có thể đi tới khái niệm thực hiện pháp luật bảo

vệ rừng như sau: thực hiện pháp luật bảo vệ rừng là thực hiện các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan, các tổ chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ rừng và bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước

1.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật bảo vễ rừng

Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam nên nó mang những đặc trưng chung của pháp luật XHCN Trước hết, pháp luật bảo vệ rừng có tính quy phạm, nó chứa đựng những quy tắc xử

sự của con người, là khuôn mẫu được mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp trong công tác bảo vệ rừng; các quy tắc xử sự trong bảo vệ rừng do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt

ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn nên có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, là công cụ quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng;

Là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thực hiện pháp luật bảo vệ rừng cũng có đặc trưng riêng được thể hiện cụ thể như sau:

Trang 19

Thứ nhất, thực hiện pháp luật trong vực bảo vệ rừng do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó chủ yếu là các cơ quan về bảo vệ rừng ban hành

Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật nói chung nên các quy phạm pháp luật này ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ rừng Các quy phạm pháp luật này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội: Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật hình sự do Quốc hội ban hành; Nhưng các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực bảo vệ rừng khác chủ yếu

do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành như Chính phủ, UBND các cấp,

Bộ NN&PTNT để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực này

Thứ hai, thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừng

- Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và nghĩa vụ nhất định với một bên có nhiệm vụ phục tùng theo quy định của pháp luật hành chính

Từ khái niệm đó, chúng ta có thể hiểu chủ thể của quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền nhân danh nhà nước tham gia vào quan hệ đối với lĩnh vực bảo vệ rừng với các tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ bảo vệ rừng và những đối tượng vi phạm pháp luật QLBVR Chủ thể quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng cụ thể là: Một bên là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung các cấp và các cơ quan có thẩm quyền chung môn các cấp;

cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý về bảo vệ rừng theo quy định của

Trang 20

pháp luật, một bên là những đối tượng tham gia bảo vệ rừng hoặc những người có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng

Theo quy định hiện hành của pháp luật nước ta hiện nay, các chủ thể này là: Chính phủ, UBND các cấp, Bộ NN&PTNT, các bộ ngành có liên quan; hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương, hệ thống cơ quan kiểm lâm; công chức của cơ quan này được giao nhiệm vụ thi hành công

vụ trong lĩnh vực bảo vệ rừng và các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, buôn làng, bản, ấp… tham gia bảo vệ rừng và những người có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng

- Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là các lợi ích trực tiếp thúc đẩy các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính Chúng có thể là lợi ích của Nhà nước hay quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, các lợi ích đó chỉ được bảo đảm nếu chúng phù hợp với các trật tự quản lý hành chính nhà nước

Khách thể quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng là trật tự về bảo

vệ rừng Trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, ngoài ra nằm rải rác trong một số văn bản pháp luật khác như Luật bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ tài nguyên, Luật Đất đai nhằm đạt được mục đích quản lý bảo vệ rừng của Nhà nước

- Pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng quy định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia và quan hệ pháp luật bảo vệ rừng

Thứ ba, thực hiện pháp luật bảo vệ rừng là công cụ quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước biểu hiện sức mạnh bằng khả năng can thiệp trực tiếp của Nhà nước thông qua công cụ kế hoạch tập trung mà bỏ quên các công cụ quản lý khác, còn trong

Trang 21

thời kỳ đổi mới nhà nước mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các doanh nghiệp

Trong đó, mất rừng gây nên diễn thể suy thoái các kiểu thảm thực vật rừng, các loài chim thú rừng mất nơi cư trú, số lượng quần thể suy giảm nghiêm trọng, các loài cây có giá trị dưới tán rừng cũng mất theo, ảnh hưởng sâu sắc tới các điều kiện sinh thái vật cảnh quan của nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là tại các cửa sông, ven biển, các hệ sinh thái rừng ngập mặn

Mất rừng, các vùng canh tác ven biển sẽ thường xuyên phải gánh chịu nạn cát bay; thủy triều sẽ làm xói lở các vùng đất ven biển; mưa và gió sẽ làm xói mòn đất mặt Những năm gần đây những trận lũ lịch sử diễn ra ở các vùng Tây Bắc, vùng ven biển miền Trung và bão lớn ở Nam Bộ gây tác hại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân các địa phương này là những minh chứng của lịch sử về hậu quả tai hại của sự mất rừng

Mất rừng còn kéo theo những mất mát vô giá mà hiện nay không thấy hết được Đó là các hệ sinh thái tối ưu và các nguồn gen mà thiên nhiên đã hoàn thành qua hàng chục triệu năm phát triển và tiến hóa

Với vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với môi trường sống nói chung và sự tồn vong của loài người nói riêng cho thấy việc bảo vệ rừng cần thiết hơn bao giờ hết Đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ các công cụ kế hoạch, chính sách, pháp luật và các công cụ quản lý khác Trong hệ thống các công cụ và biện pháp nhà nước sử dụng để quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng thì pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu được ở bất kỳ quốc gia nào

1.1.3 Hình thức thực hiện pháp luật

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp

lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:

Trang 22

- Tuân thủ pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp

luật cấm Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một

cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động

- Thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Chẳng hạn các đối tượng nộp thuế cho nhà nước đầy đủ, đúng hạn

Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi

chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực

- Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Chẳng hạn ký kết hợp đồng, thực hiện các quyền khởi kiện, khiếu nại trong khuôn khổ pháp luật quy định

Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có

thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện

- Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

Áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia

của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền

1.2 Nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng

Thực tiễn sản xuất và đời sống đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo

Trang 23

Những văn bản quy định những quy tắc xử sự chung đó được gọi là văn bản pháp luật, được nhà nước tạo mọi điều kiện bảo đảm việc thực hiện Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng cũng chính là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ của hệ thống văn bản pháp luật của một quốc gia

Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật bảo vệ rừng có các vai trò của pháp luật nói chung, và cũng có những vai trò riêng, đó là pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng là cơ sở pháp lý cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nuớc đối với lĩnh vức bảo vệ rừng; là

cơ sở pháp lý cho việc quy định cơ cấu hoạt động của cơ quan về bảo vệ rừng;

là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng; là cơ sở pháp lý cho xã hội hóa công tác bảo vệ rừng

Một là, tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng

Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước do Nhà nước thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp hành, điều hành Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nhiều văn bản dưới luật quy định Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do vị trí, tính chất của nó trong hệ thống các cơ quan quyết định Quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước là phương tiện pháp lý cần thiết mà nhà nước quy định để thực hiện chức năng, nhiệm

vụ được giao

Tóm lại, cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia vào các chức năng quản lý nhân danh quyền lực nhà nước

Trang 24

Thi hành Pháp luật trong quản lý bảo vệ rừng có một vai trò quan trọng trong việc quy định cơ cấu tổ chức của cơ quan đối với lĩnh vực bảo về rừng

Cơ quan thẩm quyền chung và cơ quan thẩm quyền chuyên môn

Cơ quan có thẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm Chính phủ và UBND các cấp Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Chính phủ có toàn quyền giải quyết, quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực bảo vệ rừng; UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động chấp hành - điều hành của mình thực hiện chức năng trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá,

xã hội, hành chính - chính trị trong phạm vi địa phương, là cơ quan giúp việc chính phủ trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Cơ quan thẩm quyền chuyên môn trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm:

Bộ NN&PTNT, sở NN&PTNT, cục kiểm lâm Bộ NN&PTNT là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng, là cơ quan chịu trách nhiệm trước chính phủ trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng, đứng đầu là Bộ trưởng

Bộ NN&PTNT Ở địa phương có các Sở NN&PTNT, có các giám đốc và phó giám đốc sở là người giúp việc cho Bộ trưởng Bộ NN&PTNT trong lĩnh vực bảo vệ rừng; bên cạnh đó có một hệ thống chuyên trách phụ trách việc QLBVR, đó là lực lượng kiểm lâm, được coi là lực lượng nòng cốt giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý và bảo vệ rừng, cơ cấu tổ chức được thể hiện như sau:

Ở Trung ương: Cục Kiểm lâm trực thuộc Bộ NN&PTNT

Ở cấp tỉnh nơi có rừng: Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh

Ở cấp huyện: Hạt Kiểm lâm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm

Trang 25

Như vậy, pháp luật đối với lĩnh vực bảo vệ rừng có một vai trò quan trọng trong việc quy định cơ cấu tổ chức của ngành Kiểm lâm, lực lượng này được tổ chức thành hệ thống, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Bộ trưởng

Bộ NN&PTNT và sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND các cấp Cơ quan Kiểm lâm là một hình thức cơ quan nhà nước đặc thù, vừa có tính chất của cơ quan hành chính nhà nước vừa có những hoạt động tư pháp

Từ khi hệ thống Kiểm lâm được thành lập đến nay, quy định của pháp luật đã có nhiều điều chỉnh về cơ cấu tổ chức đối với hệ thống này Từ năm

1973 đến năm 1979, hệ thống Kiểm lâm được tổ chức theo hệ thống ngành dọc thống nhất: Cục Kiểm lâm Trung ương, Chi cục Kiểm lâm các Tỉnh, Hạt kiểm lâm cấp huyện đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Bộ Lâm nghiệp và chịu sự điều hành, giám sát của cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Uỷ ban hành chính các cấp) Từ năm 1980 đến năm 1994 ở Địa phương hệ thống Kiểm lâm chuyển giao từ trực thuộc UBND sang trực thuộc cơ quan chuyên ngành (Sở, Ty, Ban Lâm nghiệp các cấp) Từ năm 1994 đến 2005, tiếp tục sự điều chỉnh: ở Trung ương, Cục Kiểm lâm trực thuộc Bộ NN&PTNT; ở cấp Tỉnh Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND cấp tỉnh; ở cấp Huyện Hạt Kiểm lâm trực thuộc Chi cục kiểm lâm Ngoài ra, ở các khu rừng đặc dụng và khu rừng phòng hộ có diện tích lớn cũng có Hạt Kiểm lâm trực thuộc Giám đốc vườn quốc gia hoặc Trưởng Ban quản lý khu rừng đặc dụng

Luật BV&PTR ra đời đã hơn 20 năm qua, công tác tổ chức bảo vệ rừng

đã đạt được những thành tựu đáng kể, khắc phục được một số tồn tại, yếu kém Nhưng cơ cấu tổ chức của cơ quan đối với lĩnh vực bảo vệ rừng trong những năm qua chưa thống nhất và không ổn định, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm nên hiệu lực quản lý bị hạn chế, việc tách ra nhập vào, thậm chí có nơi bị giải thể làm cho khả năng hành động và hiệu quả trong lĩnh vực bảo vệ rừng

bị giảm sút, coi nhẹ Tài nguyên rừng vẫn tiếp tục giảm sút về diện tích và

Trang 26

chất lượng, tình hình thiên tai, lũ lụt đã gây hậu quả không nhỏ ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, đây thực sự là mối quan tâm của toàn xã hội Chính vì vậy pháp luật trong qủan lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng có một vai trò quan trọng tạo hành lang pháp lý cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các

cơ quan trong lĩnh vực bảo vệ rừng để đảm bảo sự phân công, phối hợp việc thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý bảo vệ rừng, tạo địa vị pháp lý độc lập cho các cơ quan quản lý tiến hành hoạt động bảo vệ rừng khách quan, hiệu quả

Hai là: Thi hành pháp luật trong quản lý bảo vệ rừng

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng

Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng được xem như kim chỉ nam cho hoạt động bảo vệ rừng; quy hoạch đúng, chính xác, phù hợp với điều kiện

tự nhiên, xã hội sẽ giúp cho việc thực hiện quy hoạch trong thực tế dễ dàng, cũng như phát huy tối đa hiệu quả của quy hoạch rừng

Kỳ quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng là 10 năm và kỳ kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng là 05 năm, được cụ thể hóa thành kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hàng năm

Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng phải đảm bảo nguyên tắc là phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh; chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng phải đảm bảo tính đồng bộ với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tính thống nhất, đồng bộ của các cấp xã, huyện, tỉnh

- Tổ chức điều tra, xác định, phân định ranh giới các loại rừng trên bản

đồ quốc gia

Trang 27

Theo Điều 4 Luật BV&PTR sửa đổi bổ sung năm 2004 thì căn cứ vào đặc điểm, tính chất và mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được chia thành ba loại:

Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống sói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường;

Rừng đặc dụng được sủ dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường

Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ góp phần bảo vệ môi trường

Bộ NN&PTNT có trách nhiệm là định kỳ điều tra, phúc tra phân loại rừng, thống kê diễn biến và trữ lượng của từng loại rừng, lập bản đồ rừng và đất lâm nghiệp trong phạm vi toàn quốc; UBND tỉnh có trách nhiệm là tổ chức điều tra, phân loại, thống kê diện tích và trữ lượng của từng loại rừng, lập bản đồ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn Tỉnh theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Địa chính

Việc điều tra phân loại rừng được thực hiện theo quy định của pháp luật

cứ 5 năm một lần, xác định được diện tích và trữ lượng rừng của từng địa phương và trong cả nước

- Công tác giao đất, giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi, chuyển giao mục đích sử dụng rừng

Thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng nhằm phát huy sức mạnh của toàn xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để thúc đẩy tiến trình quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững, kết hợp giữa

Trang 28

bảo vệ rừng với phát triển kinh tế, xã hội; an ninh, quốc phòng và xóa đói, giảm nghèo

Giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn, buôn, bon để quản lý, bảo vệ và sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp là một chủ trương, chính sách lớn có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước Đây là bước chuyển biến căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, làm cho rừng có chủ thực sự, người dân bảo vệ được rừng, yên tâm quản lý và đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng, đất rừng được giao, được thuê Tuy nhiên, hiệu quả của việc tổ chức thực hiện công tác này trong thời gian qua còn nhiều hạn chế như giao rừng, cho thuê rừng nhưng chưa có chính sách quy định cụ thể và phù hợp về quyền hưởng lợi trên diện tích rừng được giao, được thuê; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp chậm và chưa gắn với việc giao rừng, còn lúng túng trong triển khai thực hiện; việc quản lý hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng còn chưa được chặt chẽ; nhiều diện tích rừng giàu, trung bình chưa được khai thác và sử dụng hợp lý, trong khi

đó áp lực dân số ngày càng gia tăng, đời sống của phần lớn người dân sống ở trong rừng và gần rừng còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng rừng bị phá, bị khai thác trái phép, đất rừng bị xâm lấn, tranh chấp và sử dụng không theo quy hoạch, kế hoạch

- Công tác thống kê, kiểm kê theo dõi tài nguyên

Theo quy định của pháp luật hiện hành cơ quan Kiểm lâm các cấp có tổ chức thực hiện và tham mưu cho Bộ NN&PTNN và UBND cung cấp thống

kê, theo dõi diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp hàng năm (Chỉ thị số 32/2000/CT-BNN-KL ngày 27/3/2000 của Bộ NN&PTNT, có quy định tại Quyết định số 10/2001/QĐ-TTg ngày 03/01/2001 thì quy định định kỳ 5 năm

tổ chức Tổng kiểm kê tài nguyyên một lần Chính vì vậy, bắt đầu từ năm 2002

Trang 29

đến nay, công tác thống kê theo dõi diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp được thực hiện hàng năm Các cơ quan có thẩm quyền trên có quyền

và nghĩa vụ công bố số liệu và diện tích các loại rừng trong toàn quốc

- Việc nghiên cứu; ứng dung khoa học, công nghệ; quan hệ hợp tác quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực trong bảo vệ rừng

Tổ chức việc nghiên cứu; ứng dụng khoa học, công nghệ; quan hệ hợp tác quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực trong bảo vệ rừng đã từ lâu được coi như một nội dung quan trọng trong chính sách, pháp luật của Việt Nam về bảo vệ rừng

Điều đó được khẳng định trong khoản 8 Điều 7 Luật BV&PTR năm

2004, Nghị định 11/2000/NĐ-CP và Nghị định 48/2002/NĐ-CP về chế độ quản lý và danh mục các loài thực vật, động vật nguy cấp, quý hiếm Các văn bản pháp luật trên góp phần đẩy nhanh quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế, đồng thời quy định nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế và bảo vệ rừng Các cơ quan quản lý khoa học nòng cốt được giao nhiệm vụ thực hiện các công ước trên là Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Bộ NN & PTNN và các cơ quan khoa học như Trung tâm khoa học tự nhiên Quốc gia (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật), Đại học Quốc gia Hà Nội (Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường) đã có sự phối hợp hành động tương đối tốt với các tổ chức quốc tế như Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (IUCN) và nhiều tổ chức khác

Ba là, Sử dụng pháp luật trong bảo vệ rừng

Theo sự phân tích và trên cơ sở pháp luật quy định, tác giả trình bày khái quát về hệ thống hoạt động của cơ quan QLNN (cơ quan hành chính) trong lĩnh vực bảo vệ rừng theo cấp độ quản lý từ Trung ương đến địa phương

ở Việt Nam hiện nay

Trang 30

Cơ quan QLNN có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các cấp

Theo Điều 109 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) quy định:

"Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [3, tr.182]

Chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; đảm bảo hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo việc thực thi Hiến pháp và pháp luật; đảm bảo việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Như vậy, Chính phủ có toàn quyền giải quyết, quyết định các vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong phạm vi quyền hạn của mình Quyền hạn và nghĩa vụ của Chính phủ được quy định trong Điều 115 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)

Trong lĩnh vực bảo vệ rừng, Chính phủ thống nhất trong phạm vi toàn quốc thông qua các hoạt động chủ yếu sau:

- Phê duyệt quy hoạch bảo vệ rừng trên phạm vi toàn quốc

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định, nghị quyết của Chính phủ; chỉ thị; quyết định của Thủ tướng Chính phủ để hướng dẫn Luật BV&PTR)

- Các quy định về bảo vệ rừng và phân cấp về bảo vệ rừng cho toàn bộ

hệ thống các cơ quan có liên quan;

- Quyết định xác lập, giao, thu hồi rừng, đất trồng rừng đối với các khu rừng phòng hộ, đặc dụng có một tầm quan trọng quốc gia, các khu sản xuất quan trọng trong trường hợp cần thiết; chỉ đạo và điều hành hoạt động bảo vệ rừng trong phạm vi toàn quốc

Trang 31

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trên của các cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng được thống nhất, đồng bộ và hiệu quả, tránh những quy định chồng chéo, mâu thuẫn thì vai trò của pháp luật trong QLNN đặc biệt quan trọng Việc QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng của các

cơ quan nhà nước rất nhiều vấn đề khác nhau và pháp luật có vai trò trong việc bảo đảm cho các hoạt động quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả, nội dung quản lý nhà nước về đối với lĩnh vực bảo vệ rừng được quy định trong Điều 7 Luật bảo vệ và phát triển rừng

Bốn là, áp dụng pháp luật về bảo vệ rừng

Trong đời sống kinh tế - xã hội, các yêu cầu của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật: công dân, cán bộ công chức, cơ quan, tổ chức, nhà nước, xã hội tự giác nghiêm chỉnh thực hiện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn xảy ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật Để đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật đó thì pháp luật là cơ sở pháp lý hữu hiệu nhất

Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể

có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Các quy phạm hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm hai mức độ hành chính và hình sự

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có hành vi cố ý hay vô ý vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các hành vi này có thể đã gây hoặc chưa gây thiệt hại cụ thể đối với rừng, lâm sản, môi trường và

hệ sinh thái rừng mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Trang 32

Lâm sản ở đây được hiểu bao gồm: thực vật rừng, động vật rừng (chim, thú, lưỡng cư, bò sát, côn trùng; sau đây gọi là động vật hoang dã) và các sản phẩm của chúng Lâm sản gồm lâm sản thông thường và lâm sản quý hiếm hiếm Gỗ: gồm gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ đẽo; có đơn vị tính khối lượng là mét khối (m3)

Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nay được thay thế bằng Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản

lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Theo tinh thần của Nghị định này thì các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: phá rừng trái phép; khai thác rừng trái phép; phát đốt rừng trái phép;

vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; vi phạm quy định về phòng trừ sâu hại rừng; chăn thả trái phép gia súc vào rừng; săn bắt trái phép động vật rừng; gây thiệt hại đến vùng đất; vận chuyển mua bán trái phép lâm sản,

vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản; vi phạm thủ tục trình kiểm lâm sản

Hình thức xử phạt chủ yếu là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tùy thuộc vào từng loại và mức độ vi phạm

Pháp luật quy định cho ngành kiểm lâm những quyền hạn lớn, song lại

có những trói buộc trong phạm vi thẩm quyền Chẳng hạn khi phát hiện thấy dấu hiệu vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, được quyền kiểm tra hiện trường Nhưng trong nhiều trường hợp, những tang vật, phương tiện vi phạm được cất giấu trong nhà ở thì kiểm lâm các cấp lại không được thẩm quyền ra lệnh khám nơi cất giấu mà chỉ có Cục trưởng Cục cảnh sát kinh tế, trưởng phòng cảnh sát kinh tế, trưởng phòng cảnh sát hình sự cấp tỉnh, trưởng công

an cấp huyện, đội trưởng đội quản lý thị trường

Trang 33

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như cảnh sát nhân dân, hải quan, thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; khi phát hiện hành vi vi phạm thì lập biên bản, chuyển giao hồ sơ, tang vật cho cơ quan kiểm lâm xử lý theo quy định của pháp luật

Kiểm lâm tiếp thu hồ sơ xử lý chịu trách nhiệm thanh toán những chi phí hợp lý trong quá trình bắt giữ, bảo quản tang vật cho cơ quan chuyển giao

hồ sơ

Trường hợp một người cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực xử lý của các ngành khác thì chuyển toàn bộ hồ sơ

vụ vi phạm đến UBND cấp có thẩm quyền ở xảy ra vi phạm xử lý

Truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ rừng được áp dụng đối với các chủ thể có năng lực, trách nhiệm hình sự đã mắc lỗi cố ý hoặc vô

ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính

Theo Bộ luật hình sự số 12/2017/QH14 ngày 30/6/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/5/2015 nêu

rõ tại Điều 232 “Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản

lý lâm sản”

Ngoài bộ luật hình sự (2015), việc áp dụng pháp luật trong vi phạm bảo

vệ rừng còn trong lĩnh vực hành chính đối với những hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Những hành vi vi phạm hành chính đã được cụ thể hoá tróng Nghị định số 157/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Điều này góp phần cho công tác xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Trang 34

1.3 Các yếu tố tác động thực hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của cơ quan kiểm lâm

1.3.1 Yếu tố kinh tế

Nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế diễn ra hết sức phức tạp về quan hệ kinh tế, với sự đa dạng về lợi ích trong đó có lợi ích to lớn mà rừng mang lại như: gỗ, lâm sản ngoài gỗ, động vật rừng, thực vật rừng đặc biệt là những loài gỗ quý hiếm và các đặc sản động vật, thực vật rừng có giá trị cao, mang lại siêu lợi nhuận cho những người tham gia kinh doanh mặt hàng này

Điều đó cũng là nguyên nhân thúc đẩy tình trạng khai thác, săn bắn, mua bán trái phép lâm sản gay gắt, với những thủ đoạn tinh vi, khó kiểm soát, khi bị phát hiện và xử lý thì tổ chức chống người thi hành công vụ quyết liệt,

vì vậy đang gây áp lực cho công tác bảo vệ rừng

Để phát triển kinh tế thì kéo theo là một hệ thống cơ sở hạ tầng được xây dựng như đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, các đường dây tải điện cho các khu công nghiệp, đồng thời mở rộng đô thị và xây dựng khu dân

cư, nhu cầu về đất đai đáp ứng cho sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu này, nhà nước cần phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong đó có đất rừng ở nơi cần thiết cho mục tiêu phát triển

Trong nền kinh tế, nông nghiệp và nông thôn là khu vực dân cư chủ yếu chiếm 80% dân số dựa vào tài nguyên và đất đai nên luôn sảy ra sự xung đột của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế - bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường có nơi diễn ra rất gay gắt Thực tiễn nhiều năm qua, diện tích rừng bị tàn phá, thu hẹp nhanh chóng, có nơi bất chấp cả pháp luật Đó là vấn đề gây bức xúc cho xã hội và cho công tác bảo vệ rừng

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bảo đảm sự thống nhất, hài hoà giữa sự phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống Không nên vì mục tiêu lợi ich kinh tế trước mắt mà không quan tâm đến

Trang 35

bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo diện tích rừng quốc gia đủ an toàn về môi trường và đảm bảo cho sự phát triển bền vững, ngược lại không chỉ vì bảo vệ rừng mà làm cho kinh tế chậm phát triển

Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường hàng trăm năm qua đã cung cấp cho chúng ta đầy đủ cơ sở để nói rằng, pháp luật đã trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường văn minh Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu cầu cầu nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế thị trường không vận hành trôi chảy được Chính vì vậy, sự thống nhất giữa kinh tế - xã hội với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống chỉ có thể đạt được bằng sự can thiệp của nhà nước thông qua pháp luật

1.3.2 Yếu tố về ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý

Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các

tổ chức xã hội

Ý thức pháp luật mang tính chính trị sâu sắc Nội dung của ý thức pháp luật luôn phản ánh những nhu cầu về chính trị, thể hiện mối quan hệ của các gia cấp đối vưói các quy định của pháp luật do nhà nước ban hành có liên quan trực tiệp đến đời sống chính trị xã hội Ngoài ra ý thức pháp luật còn bao gồm cả những yếu tố tâm lý xã hội như cảm giác, tình cảm, quan niệm, thể hiện những mối quan hệ cụ đối với các quy phạm pháp luật, đối với các quyền

và nghĩa vụ

Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật là một quá trình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá…Nhất là trong lĩnh vực bảo vệ rừng, những người dân sống trong rừng và gần rừng ở

Trang 36

những nơi heo hú, điều kiện vật chất khó khăn, trình độ hiểu biết về văn hoá, pháp luật kém nên việc nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân về bảo vệ rừng nói chung và những người dân sống trong rừng và gần rừng nói riêng thì bên cạnh việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế xã hội, tạo cơ sở cho hình thành và phát triển ý thức pháp luật, một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt là không ngừng bồi dưỡng, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân về bảo vệ rừng để từ nhận thức đến tự giác, từ tự giác đến tích cực và từ tích cực đến thói quen xử sự hợp pháp theo những quy định của pháp luật bảo vệ rừng

Đời sống văn hoá làng xã có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển văn hoá dân tộc ta “Nó là cái nôi, là cơ sở nuôi dưỡng văn hoá dân tộc, cội nguồn hình thành các đặc trưng, bản sắc văn hoá dân tộc”

Văn hoá làng xã tạo nên sức sống, sự bền vững kỳ diệu của làng Việt, bởi vì trong lịch sử dân tộc ta, có lúc đã mất nước hàng trăm hàng nghìn năm thế mà làng lại không bị mất, vẫn tồn tại và đứng vững như một pháo đài, đặc biệt là vấn đề văn hoá (từ phong tục, luật tục, nếp sống, tín ngưỡng, hương ước, quy ước ứng xử )

Trong đó luật tục, hương ước đã từng là công cụ quản lý đời sống cộng đồng trong quá khứ dân tộc Trải qua mấy nghìn năm được bồi đắp liên tục, kiên nhẫn theo dòng chảy của lịch sử dân tộc, chọn lọc không ngừng nghỉ của các thế hệ con người Việt Nam thì luật tục, hương ước của cộng đồng vẫn tồn tại và phát triển đang có tác dụng tích cực trong đời sống xã hội nói chung,trong bảo vệ rừng nói riêng

Luật tục là những quy ước không thành văn có phạm vi điều chỉnh các lĩnh vực của quan hệ xã hội: Lĩnh vực tổ chức quản lý cộng đồng; lĩnh vực ổn

Trang 37

định trật tự an ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng; lĩnh vực tôn trọng, tuân thủ, bảo vệ phong tục tập quán, lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai và tài nguyên rừng Luật tục của hầu hết các dân tộc ít người của miền núi đều có những quy định chặt chẽ trong lĩnh vực bảo vệ rừng Đó là, nét văn hoá tốt đẹp có giá trị thiết thực cho cuộc sống và là nguồn bổ trợ cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham khảo khi xây dựng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Hương ước là văn bản quy phạm xã hội, trong đó quy định các quy tắc

xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nông dân nhằm giữ gìn và phát huy phong tục tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý bằng pháp luật Hương ước của đồng bào dân tộc sống ở miền núi đều có quy định về bảo vệ rừng và có tên gọi mới là quy ước bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp Bảo vệ rừng không chỉ là công việc của từng thôn, bản,do vậy trong quy ước cần đề cập tới khía cạnh phối hợp liên thôn, liên bản để quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả

Cùng với chỉ thị số 24/1998-CT-TTg về việc đẩy mạnh xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư trong phạm vi toàn quốc Ngày 30 tháng 3 năm 1999, Cục Kiểm lâm đã ra thông tư số 56/1999-TT/BNN-KL về việc hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng buôn, bản, ấp Khi xây dựng các quy ước, hương ước bảo vệ rừng cần tôn trọng các nguyên tắc sau:

- Các quy tắc bảo vệ rừng trong quy ước của thôn, ban một mặt phải phù hợp với những quy định của pháp luật, mặt khác phải thừa kế, phát huy thuần phong mỹ tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân địa phương

Trang 38

- Quy ước phải bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, bài trừ việc phạt vạ trái pháp luật, gây chia rẽ mất đoàn kết trong cộng đồng

- Những nội dung trong quy ước về bảo vệ rừng phải rõ ràng, dễ hiểu,

dễ thực hiện

- Luật tục, hương ước, quy ước được coi là di sản văn hoá quản lý cộng đồng vô cùng quý báu hiện đang có hiệu lực thực tế trong đời sống các dân tộc với những nội dung bổ sung mang tính thời đại, kế thừa và phát huy trên

cơ sở truyền thống đã thành tâm thức của cộng đồng Nếu chúng ta biết chắt lọc sẽ là nguồn bổ trợ cho pháp luật hiện hành phản ánh đúng hiện thực khách quan đang tồn tại Mà hệ thống pháp luật phản ánh đúng hiện thực khách quan

sẽ dễ đi vào cuộc sống con người, sẽ phát huy hiệu quả tốt nhất

1.3.3 Yếu tố về nghiệp vụ cơ quan kiểm lâm

Xuất phát từ đặc trưng và mục đích quản lý, rừng quốc gia được phân chia thành ba loại: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Mỗi loại rừng cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tác động để bảo vệ riêng như: bảo tồn các loại động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm; biện pháp khoanh nuôi; tái sinh rừng tự nhiên; cải tạo rừng; vệ sinh rừng Mỗi loại rừng có quy chế quản lý và sử dụng khác nhau như mức độ khai thác sử dụng tài nguyên; việc giao đất, cho thuê đất; chế độ khoán bảo vệ rừng; chính sách đầu tư, hỗ trợ của nhà nước trong công tác bảo vệ rừng, chính sách về quyền hưởng các lợi ích về rừng Các biện pháp nghiệp vụ kỹ thuật đó nhằm đảm bảo quá trình sinh trưởng và phát triển tự nhiên của rừng theo quy luật sinh học của động vật, thực vật và các yếu tố tự nhiên khác của rừng Mục đích của việc bảo vệ rừng là phục vụ con người, nên các chủ thể quản lý khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng cần lưu ý những điểm sau:

- Coi việc xây dựng, ban hành đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật, quy phạm quản lý kỹ thuật trong công tác bảo vệ rừng

Trang 39

- Quy hoạch tổng thể diện tích rừng và đất lâm nghiệp, phân chia cụ thể lâm phận rừng quốc gia thành các loại rừng ổn định trên bản đồ và trên thực địa, xác định rõ ranh giới, đóng mốc cố định các loại rừng, tiểu khu, khoảnh,

lô trạng thái

- Thành lập cơ chế chính sách quản lý các loại rừng theo mục tiêu sử dụng chủ yếu của ba loại rừng, bảo đảm cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vừa có tính khái quát vừa bảo đảm tính cá biệt đối với mỗi loại rừng

Việc chuyển đổi rừng tự nhiên, rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, sản xuất nông nghiệp chưa được kiểm soát chặt chẽ; ranh giới ba loại rừng, ranh giới quản lý rừng của các chủ rừng vẫn chưa được xác định trên bản đồ và thực địa Các vụ việc chống người thi hành công vụ bảo vệ rừng tiếp tục diễn

ra gay gắt với tính chất ngày càng nghiêm trọng

Trang 40

Nhiều diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao, khoán sử dụng không đúng mục đích Tình trạng dân di cư tự do chưa được kiểm soát chặt chẽ Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng còn nhiều bất cập; diện tích rừng

bị thiệt hại do cháy rừng, sạt lở đất rừng tăng cao Công tác phát triển rừng, trồng rừng thay thế chậm tiến độ; xã hội hoá công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều hạn chế Độ che phủ rừng tăng nhưng khó có thể đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém trên là do nhận thức, ý thức và trách nhiệm của nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, cán

bộ, đảng viên và nhân dân về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, vì lợi ích kinh tế trước mắt, chưa coi trọng phát triển bền vững Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền chưa thật sự quan tâm, còn buông lỏng quản lý, thiếu quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; chưa phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, địa phương

Tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước thiếu đồng bộ; sự phối hợp giữa các

bộ, ngành Trung ương và địa phương chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ; tinh thần trách nhiệm, năng lực, trình độ của lực lượng kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách còn yếu, tình trạng buông lỏng quản lý, tiếp tay cho đối tượng vi phạm còn xảy ra

Đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng chưa được quan tâm đúng mức; chưa thật sự khuyến khích được người dân, cộng đồng, các thành phần kinh tế tham gia Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn có sự chồng chéo, chưa rõ ràng, hiệu quả chưa cao, còn có những kẽ hở cho các đối tượng xấu lợi dụng để trục lợi; việc xử lý các vi phạm pháp luật trong quản lý, bảo vệ, phát triển rừng chưa nghiêm, thiếu triệt để, không đủ sức răn đe

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w