1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn tỉnh nghệ an

103 24 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối và phươ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy, cô giáo khoa Luật, khoa Sau đại học, trường Đại học Vinh đã tận tình dạy bảo, truyền

đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, để hoàn thành đề tài “Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Tiến sĩ Đinh Ngọc Thắng Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Tiễn sĩ Đinh Ngọc Thắng, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành luận văn

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới bạn bè, đồng nghiệp, các cơ quan, đơn vị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu đề tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù, tôi đã cố gắng nghiên cứu để hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình Tuy nhiên, do năng lực còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm về phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và vai trò của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình 7

1.2 Nội dung, phương pháp, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng, chống bạo lực gia đình 18

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình 29

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở TỈNH NGHỆ AN 34

2.1 Tình hình bạo lực gia đình và nhu cầu Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Nghệ An 34

2.2 Thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Nghệ An 37

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Nghệ An 60

Tiểu kết chương 2 66

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH HIỆN NAY 67

3.1 Quan điểm chỉ đạo về Phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình 67

3.2 Một số giải pháp đảm bảo hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình 74

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối và phương tiện không thể thiếu trong việc đưa pháp luật đến gần hơn với mọi người dân

Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã dành sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình thông qua việc ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp như Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật trẻ em, Bộ Luật dân sự, và đặc biệt là Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 Tuy nhiên, những hiểu biết của người dân về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình lại đang vô cùng hạn chế, dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ hậu quả

Theo số liệu của cuộc nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày

25 tháng 11 năm 2010 cho thấy: hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy

cơ bị bạo lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời Báo cáo nêu rõ 32 % phụ

nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thể chất trong cuộc đời và 6 % đã trải qua bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua Tỷ lệ bạo lực tinh thần ở mức cao: có 54 % phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần trong cuộc đời và 25

% bị bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua

Trước tình hình đó, việc nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao trình độ cho các tuyên truyền viên càng trở nên cấp thiết

Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Phổ biến, Giáo dục Pháp luật về phòng, Chống Bạo lực gia đình từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Từ khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 ngày 21/11/2007 được Quốc Hội ban hành đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề Bạo lực gia đình Có thể kể đến như:

- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Lệ bảo vệ năm 2010 về đề tài

“Luật Phòng, chống bạo lực gia đình với việc hạn chế ly hôn do bạo lực gia đình” Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Lệ nghiên cứu về một số hành vi bạo

lực gia đình chủ yếu diễn ra giữa vợ và chồng ảnh hưởng đến việc ly hôn thông qua việc thống kê, phân tích các vụ án ly hôn do bạo lực gia đình đã được xét xử

sơ thẩm tại tỉnh Khánh Hòa từ năm 2005 đến năm 2009; Nghiên cứu sự thay đổi của pháp luật thực định về bạo lực gia đình, tác động của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình với việc hạn chế ly hôn do bạo lực, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp

Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ chỉ tập trung vào một mảng nhỏ đó là Luật Phòng, chống Bạo lực gia đình với việc hạn chế ly hôn do bạo lực gia đình chứ không chú trọng vào Phổ biến, giáo dục Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình như đề tài mà tôi đang nghiên cứu

- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đinh Thị Hồng Minh, khoa luật dân sự,

trường Đại học Luật Hà Nội, bảo vệ tháng 4/2011 nghiên cứu về “Một số

vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” Đề tài không đi vào

nghiên cứu một nội dung cụ thể nào mà chỉ đánh giá chung về các quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, tham khảo quy định một số nước trên thế giới, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp

Đây là một trong số những đề tài nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình mới nhất mà tôi được tiếp cận Đề tài cung cấp khá nhiều kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu còn mang tính khái quát, chung chung, không đi sâu vào một phạm vi nghiên cứu cụ thể nào

Trang 9

- Bài viết của đồng tác giả Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh về “Bạo lực

gia đình - Một sự sai lệch giá trị”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2007 Cuốn

sách là tổng hợp một số nghiên cứu, kinh nghiệm đóng góp cho việc chống bạo lực gia đình trên phương diện không chỉ ở Việt Nam và những nước đang phát triển mà còn ở phương diện Quốc tế Công trình nghiên cứu này tập trung vào ba nội cơ bản: Bạo lực giới trong gia đình những vấn đề lý luận và phương pháp luận; Bạo lực gia đình và bạo lực chống phụ nữ trong gia đình, một số nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn; Công tác chống bạo lực gia đình những bài học

kinh nghiệm của Việt Nam

Đây là một bài viết sâu sắc và mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, những

dự án Phòng, chống bạo lực gia đình ở Hà Nội, Phú Thọ, Thái Bình và những

mô hình hoạt động ngăn chặn bạo lực gia đình mà tác giả đề cập tới trên thực tế đến nay vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả Hơn nữa, việc nghiên cứu của tác giả đã được thực hiện cách đây khá lâu Trong điều kiện xã hội đang ngày càng phát triển và đổi mới từng ngày, cần phải có đề tài nghiên cứu mới hơn

- Đồng tác giả Nguyễn Văn Dũng - Nguyễn Đình Thơ, “Tìm hiểu và thực

hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình”, NXB Tư pháp, Hà Nội 2009 Nghiên

cứu của tác giả cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn về Luật phòng, chống bạo lực gia đình để thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nội dung pháp luật và thực tế áp dụng pháp luật trong đời sống chứ chưa giải quyết được vấn đề là làm thế nào để mọi người biết đến pháp luật và thực hiện tốt quy định của pháp luật Vì vậy, đề tài tôi nghiên cứu sẽ giúp tác giả mang những nội dung pháp luật đã được

nghiên cứu vào thực tiễn đời sống hàng ngày của người dân

- Bài viết của tác giả Trần Thị Hòe, với nội dung “Pháp luật quốc tế về

phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ”, tạp chí Khoa học chính trị, tr.48

năm 2010 Bài viết đi sâu phân tích quy định của pháp luật Quốc tế về Phòng,

Trang 10

chống bạo lực gia đình với riêng đối tƣợng phụ nữ mà không tập trung tìm hiểu

Pháp luật Phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam

Mặc dù đã có một số đề tài nghiên cứu và bài viết về “Bạo lực gia đình”

và “Pháp luật về Phòng, chống bạo lực gia đình”, đó là những nguồn tài liệu quan trọng, tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này đã đƣợc nghiên cứu cách đây khá lâu, có những đề tài đã gần 10 năm Hơn nữa, từ khi Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đƣợc ban vẫn chƣa có công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu nào về vấn đề “Phổ biến, giáo dục Pháp luật về Phòng, chống bạo lực gia đình” ở cấp cơ sở nhƣ đề tài mà tôi đang nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc phân tích những vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá thực trạng vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình, để đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài gồm ba nhiệm vụ cơ bản đó là:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến Bạo lực gia đình;

- Phân tích thực trạng Bạo lực gia đình và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về Phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Đề xuất các biện pháp, giải pháp, khuyến nghị để nâng cao hiểu quả công tác Giáo dục pháp luật về phòng, chống Bạo lực gia đình

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

về phòng, chống Bạo lực gia đình từ thực tiễn tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu từ thực tiễn tỉnh Nghệ An

Trang 11

- Phạm vi về thời gian: Trong khoảng thời gian 05 năm, từ năm 2012 đến năm 2017

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm,

các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi chủ yếu dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề “Phổ biến, giáo dục Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình”

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp thống kê xã hội học

- Phương pháp điều tra

Trang 12

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Khi nghiên cứu xong đề tài không chỉ cung cấp cho mọi người những kiến thức về Bạo lực gia đình, những quy định của pháp luật về Phòng, chống bạo lực gia đình và nâng cao hiệu quả công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyên ngành, các bạn cao học và đặc biệt là các cán bộ làm việc trong các cơ quan, đoàn thể có trách nhiệm trong việc Phổ biến, giáo dục Pháp luật cho người dân về phòng, chống bạo lực gia đình như: Hội nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 03 Chương, 8 tiết

Chương 1: Những vấn đề lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trền địa bàn tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp về phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT PHÒNG,

CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm về phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và vai trò của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

* Gia đình và thành viên gia đình

- Gia đình:

Từ thời xa xưa, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu

cơ bản cho các thành viên trong gia đình Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa

ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người Gia đình luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế, khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Khái

niệm gia đình theo xã hội học được hiểu “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc

thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan

hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng

Trang 14

của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người” (Trung tâm thông tin (tổng hợp) (21/8/2006); “Mẹ kể con nghe”

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Bản gốc lưu trữ 21/8/2006)

Dưới góc độ pháp lý, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Gia

đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau ” (Khoản 2 điều 3 luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

Một số cách hiểu khác về khái niệm gia đình cũng được xuất hiện trong đời sống xã hội như: Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống dưới một mái nhà, hay cùng có tên trong một hộ khẩu Tuy nhiên, những khái niệm này chỉ là những cách hiểu thông thường, chưa thực sự đầy đủ và mang tính khoa học

Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 23 triệu hộ, trong đó số hộ ở nông thôn cao gấp hơn 2 lần số hộ ở thành thị Số nhân khẩu bình quân một hộ của nông thôn cũng cao hơn của thành thị (3,9 người so với 3,7 người); trong đó hầu hết nam nông dân là chủ hộ và có tiếng nói chủ đạo trong gia đình Chính vì vậy, giải quyết vấn đề bạo lực gia đình ở nông thôn đang trở nên cấp thiết, góp phần quan trọng vào Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020

- Thành viên gia đình:

Thành viên gia đình có thể được hiểu là những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; hoặc cũng có quan điểm cho rằng thành viên gia đình là những người cùng được ghi tên trong một sổ hộ khẩu; hoặc là những người cùng sống trong một gia đình…

Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa truyền thống là tất cả những người trong cùng dòng họ, trong một đại gia đình từ cụ, kỵ, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu chắt… (bao gồm cả con dâu, con rể, cháu dâu, cháu rể…)

Trang 15

Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa hiện đại là những người sống trong cùng một gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha mẹ

và con cái, vợ và chồng, những người khác sống cùng như người giúp việc, giữa những người đã từng là con dâu với cha mẹ chồng, đã từng là con rể với cha mẹ

vợ, giữa những người sống chung với nhau như vợ chồng Các thành viên trong gia đình chung sống với nhau bằng tình yêu thương, sự chia sẻ cả về vật chất lẫn phương diện tình cảm, từ đó tạo nên sợi dây gắn kết, không thể tách rời nhau

Đó là mối quan hệ đặc biệt được xây dựng trên cơ sở tình cảm, do đó, một khi tình cảm thiêng liêng đó bị rạn nứt thì mối quan hệ này cũng sẽ tan vỡ

* Bạo lực và bạo lực gia đình

- Bạo lực:

Bạo lực là hành vi sử dụng sức mạnh thể chất với mục đích gây thương

vong, tổn hại một ai đó (theo từ điển bách khoa toàn thư)

nữ, bạo lực liên quan đến bóc lột ngoại dâm, bạo lực đối với người giúp việc

Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ cho rằng: “Bạo lực gia đình là thuật ngữ chỉ

những hình thức ngược đãi mà một thành viên trong gia đình, một người sống chung trong hộ gia đình hoặc một bạn tình gây ra cho một thành viên khác trong gia đình, một người chung sống khác, hoặc bạn tình kia”

Trang 16

Ở Việt Nam, Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là

“hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại

về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (theo khoản 2 điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007)

Bạo lực gia đình còn có thể được hiểu là “Ngược đãi bằng tình cảm, thể

xác hoặc tình dục của một thành viên trong gia đình với một thành viên khác”

(John Macionis, NXB Thống kê, tr.472)

Từ các khái niệm trên ta có thể chia Bạo lực gia đình thành 4 hình thức: Bạo lực tinh thần, Bạo lực thể chất, Bạo lực kinh tế, Bạo lực tình dục Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau được quy định tại Điều 2 Luật Phòng, chống Bạo lực gia đình năm 2007

Một là, Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn

thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình

Bạo lực về tinh thần bao gồm các hành vi: lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa

vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

Hai là, Bạo lực về thể chất hay thể xác: bạo lực thể chất bao gồm bất cứ

hành vi bạo lực nào nào gây ra thương tích hoặc tổn thương thân thể ở bất kỳ mức độ nào Một số hành vi cụ thể như: hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành

vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng

Ba là, Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh

tế của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…)

Bạo lực về kinh tế bao gồm: chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành

vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc

Trang 17

tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính

Bốn là, Bạo lực về tình dục: là sự cưỡng ép, ép buộc thành viên trong gia

đình phải làm những việc liên quan đến tình dục trái với mong muốn của họ; bàn luận về những bộ phận trên cơ thể của người phụ nữ, đòi hỏi tình dục, cưỡng hiếp, giam cầm và sử dụng các công cụ tình dục, xem phụ nữ là một công cụ tình dục

Các hành vi bạo lực tình dục bao gồm: cưỡng ép tình dục bằng bạo lực hoặc cách khác; các ý đồ cưỡng ép tình dục; tấn công bằng bộ phận sinh dục; quấy rối tình dục, bao gồm sự làm nhục liên quan tới tình dục; cưỡng ép kết hôn hoặc chung sống; cưỡng ép mang thai; cưỡng ép làm mại dâm và buôn bán phụ nữ; cưỡng ép nạo phá thai; phủ nhận quyền sử dụng biện pháp tránh thai hoặc quyền được bảo vệ khỏi bị bệnh; các hành động bạo lực chống lại tình dục của phụ nữ như cắt bỏ âm vật hay cưỡng ép thử trinh tiết

* Phổ biến, giáo dục pháp luật và Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

- Phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến pháp luật:

Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) hay Từ và ngữ Hán Việt (NXB Từ điển Bách Khoa - 2002) thì "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến"

Giáo dục pháp luật:

Theo Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội"

Trang 18

Phổ biến, giáo dục pháp luật có hai nghĩa:

- Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

- Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực, ngạch (theo nghĩa thông thường mà không phải nghĩa trong pháp luật về cán bộ, công chức) phổ biến giáo dục pháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật:

+ Định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

+ Lập chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật;

+ Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật;

+ Triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật;

+ Kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến giáo dục pháp luật;

+ Đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lí luận

về phổ biến giáo dục pháp luật

Theo chuyên đề phổ biến, giáo dục pháp luật của Bộ Tư pháp, Phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của công dân

- Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình:

Từ khái niệm Phổ biến, giáo dục Pháp luật đã đề cập ở trên, ta có thể hiểu Phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng chống Bạo lực gia đình được hiểu là các hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm nâng cao tri thức pháp

lý cho mọi người về vấn đề Phòng, chống bạo lực gia đình từ đó góp phần nâng

Trang 19

cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ văn hóa pháp lý của của công dân

1.1.2 Đặc điểm của hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống Bạo lực gia đình

Thứ nhất, VPPL phòng chống BLGĐ là hành vi xác định của con người

Cũng như các hành vi VPPL khác, VPPL phòng, chống BLGĐ trước hết phải là hành vi cụ thể của con người Suy nghĩ của con người dù xấu đến mức

độ nào đi chăng nữa nhưng không biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi cụ thể thì không thể coi là VPPL phòng chống BLGĐ Pháp luật điều chỉnh các chủ thể trong xã hội thông qua hành vi của các chủ thể đó được thể hiện ra bên ngoài Thông qua hành vi cụ thể của chủ thể mới có thể quy kết chủ thể đó đúng pháp luật hay VPPL Hành vi VPPL phòng chống BLGĐ phải được thể hiện, tồn tại dưới hình thức là hành động, như hành vi đánh đập, hành hạ vợ (chồng) của mình hoặc không hành động; bỏ mặc, thờ ơ, không nói chuyện, không về nhà làm cho người vợ (chồng) bị tổn thương tinh thần Hành vi VPPL phòng, chống BLGĐ còn có thể là hành động bao che, dung túng, xử lý không đúng hoặc không xử lý hành vi bạo lực của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn hành vi VPPL phòng, chống BLGĐ Điều này có nghĩa VPPL phòng, chống BLGĐ luôn luôn là hành vi xác định, nó được thực hiện bởi hai loại chủ thể là người trực tiếp thực hiện hành vi bạo lực và cá nhân

tổ chức có thẩm quyền giải quyết trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ

Như vậy VPPL phòng, chống BLGĐ phải thể hiện ra bên ngoài bằng hành

vi bởi pháp luật phòng chống BLGĐ không điều chỉnh suy nghĩ của con người

Thứ hai, VPPL phòng chống BLGĐ là hành vi trái pháp luật phòng,

chống BLGĐ

Trái pháp luật là dấu hiệu cơ bản và quan trọng để xác định VPPL Một hành vi VPPL phải là hành vi trái pháp luật Vi phạm pháp luật phòng, chống BLGĐ phải là hành vi trái với các quy định trong luật phòng chống BLGĐ hoặc

Trang 20

các văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh các mối quan hệ thuộc lĩnh vực phòng, chống BLGĐ như Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 Trái pháp luật phòng chống BLGĐ là cơ sở pháp lý để xác định VPPL phòng chống BLGĐ và xác định trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm đó

Hành vi trái pháp luật phòng, chống BLGĐ được thể hiện dưới một trong các hình thức như chủ thể thực hiện hành vi cấm, ví dụ như tại khoản 2, điều 8 luật phòng chống BLGĐ cấm hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục giữa vợ với chồng hoặc hành vi thực hiện không đúng, không đầy đủ theo quy định, không thực hiện những hành vi cụ thể theo yêu cầu của luật phòng, chống BLGĐ và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan điều chỉnh lĩnh vực BLGĐ Hành

vi trái pháp luật cũng có thể là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chức năng thẩm quyền của cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền quản lý trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ đã được pháp luật quy định

Như vậy chỉ những hành vi trái pháp luật phòng chống BLGĐ hoặc các hành vi trái với các quy định trong hệ thống pháp luật phòng, chống BLGĐ mới

là VPPL phòng, chống BLGĐ Đây là điểm khác biệt giữa VPPL phòng chống BLGĐ với VPPL khác

Thứ ba, VPPL phòng, chống BLGĐ phải là hành vi chứa đựng lỗi của chủ

thể thực hiện hành vi

Vi phạm pháp luật phòng, chống BLGĐ phải là hành vi có lỗi Đây là dấu hiệu quan trọng không thể thiếu ở bất kỳ VPPL nào Lỗi là sự phản ánh nhận thức chủ quan của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật mà chủ thể đã thực hiện hay nói cách khác lỗi là trạng thái tâm lý của một chủ thể đối với hành vi trái pháp luật do chủ thể đó gây ra và đối với hậu quả của hành vi đó Một chủ thể được xác định là có lỗi nếu tại thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật phòng, chống BLGĐ họ được xác định là người có khả năng nhận thức và khả năng

Trang 21

điều khiển (làm chủ) được hành vi của mình, nghĩa là họ hoàn toàn có khả năng lựa chọn, điều khiển hành vi của mình phù hợp với yêu cầu của pháp luật phòng, chống BLGĐ nhưng họ lại lựa chọn cách xử sự ngược lại với yêu cầu đòi hỏi

đó Ví dụ giữa vợ với chồng, người chồng (vợ) hoàn toàn có đủ điều kiện nhận thức hành vi đánh đập vợ (chồng) là hành vi mà pháp luật cấm và bản thân họ có thể lựa chọn hành vi xử xự khác phù hợp là không đánh đập vợ (chồng) nhưng

họ lại lựa chọn hành vi đánh đập vợ (chồng) của mình Do vậy họ hoàn toàn có lỗi đối với hành vi đó

Chủ thể VPPL phòng, chống BLGĐ luôn mang lỗi cố ý Đây là điểm khác biệt với những VPPL khác

Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phòng, chống BLGĐ phải

là người có năng lực trách nhiệm pháp lý

Năng lực trách nhiệm được hiểu là khả năng của chủ thể có thể tự mình gánh chịu những hậu quả pháp lý từ phía nhà nước khi họ thực hiện hành vi trái pháp luật phòng, chống BLGĐ Một người được xác định có năng lực trách nhiệm pháp lý khi họ là người có khă năng nhận thức, khả năng điều khiển được hành vi của mình Hay nói cách khác chủ thể thực hiện hành vi VPPL phòng, chống BLGĐ phải đạt đủ độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi

Trong thực tế có nhiều trường hợp do say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích khác mà người chồng (vợ) có hành vi đánh đập, hành hạ vợ (chồng) của mình, mặc dù tại thời điểm thực hiện hành vi chủ thể không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng vẫn bị coi là VPPL và vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những hậu quả do hành vi trái pháp luật của họ gây ra Chủ thể thực hiện hành vi vẫn có lỗi vì họ đã tự đặt mình vào tình trạng say đó

Trong mỗi trường hợp VPPL phòng, chống BLGĐ khác nhau thì chủ thể VPPL phòng, chống BLGĐ là khác nhau: có những chủ thể thực hiện hành vi

Trang 22

bạo lực phải là những người trong gia đình như hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục giữa vợ với chồng nhưng cũng có trường hợp chủ thể là người có nhiệm vụ, quyền hạn như: người có thẩm quyền không xử lý người có hành vi bạo lực Tùy theo tính chất, hành vi VPPL phòng chống BLGĐ mà chủ thể VPPL phòng chống BLGĐ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý khác nhau từ phía nhà nước Họ có nguy cơ bị nhà nước áp dụng các biện pháp chế tài khác nhau được quy định trong hệ thống pháp luật phòng chống BLGĐ

Từ những phân tích trên ta thấy, khi xem xét VPPL phòng, chống BLGĐ phải căn cứ vào bốn dấu hiệu kể trên Các dấu hiệu trên là tiêu chí để phân biệt giữa VPPL trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ với các loại vi phạm pháp trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

1.1.3 Vai trò của pháp luật trong công tác đấu tranh phòng, chống Bạo lực gia đình

Pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội Pháp luật thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, thể hiện rõ chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân trong gia đình và xã hội, đồng thời phát huy vai trò cá nhân, gia đình và cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình Pháp luât về phòng chống bạo lực gia đình có ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, góp phần tích cực vào việc phòng ngừa BLGĐ, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân BLGĐ và xử lý nghiêm minh các hành vi BLGĐ Luật được ban hành tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về Quyền con người mà nước ta là thành viên, thực hiên Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, góp phần quan trọng trong việc củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

Trang 23

Tất cả mọi người đều cần có sự hiểu biết về pháp luật, vì vậy, việc phổ biến, giáo dục pháp luật để đưa pháp luật đến gần hơn với người dân là việc làm

có ý nghĩa hết sức quan trọng

Một là, phổ biến, giáo dục pháp luật là cầu nói để chuyển tải pháp luật vào

cuộc sống Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt

vị trí công tác PBGDPL thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũng không đạt được hiệu quả thực thi pháp luật

Hai là, phổ biến, giáo dục pháp luật giúp hình thành lòng tin vào pháp

luật của đối tượng Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật Pháp luật được xây dựng là

để bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác thực hiện

Ba là, phổ biến, giáo dục pháp luật giúp nâng cao ý thức tự giác chấp

hành pháp luật của đối tượng Công tác này nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân

Bốn là, phổ biến, giáo dục, pháp luật góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu

quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Vai trò quan trọng này của công tác PBGDPL bắt nguồn từ chính vai trò và giá trị xã hội của pháp luật là phương tiện hàng đầu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội PBGDPL giúp cho mọi người có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người

Trang 24

1.2 Nội dung, phương pháp, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng, chống bạo lực gia đình

1.2.1 Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Trước những hệ quả nghiêm trọng do BLGĐ gây ra, có thể thấy BLGĐ đã

và đang trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối cần được quan tâm giải quyết

Do đó việc đấu tranh phòng chống BLGĐ là vấn đề có tính chất chiến lược, là mục tiêu quan trọng được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm Điều đó được khẳng định trong các văn kiện của Đảng và ngày càng hoàn thiện hơn qua các kỳ đại hội

Ngoài ra, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về PC BLGĐ còn được thể hiện trong các văn bản khác như Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban bí thư TW Đảng về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quy định về quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân, chống lại mọi hành vi bạo lực trong đó có BLGĐ Điều này được ghi nhận trong các bản hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa trong các văn bản luật như Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Trẻ em năm

2016, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và đặc biệt Luật Phòng chống Bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 có hiệu lực từ ngày 01/7/2008

Hiến pháp 2013 khẳng định tại điều 20, điều 26 như sau:

Điều 20 quy định: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân

Trang 25

thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự nhân phẩm" [[40]]

Điều 26 quy định: "Công dân nam nữ có quyền bình đẳng mọi mặt Nhà

nước có chính sách đảm bảo cơ hội, quyền bình đẳng giới" [[40]]

Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tại chương XIV đã quy định về: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Chương này có nhiều điều khoản liên quan đến bạo lực về thể chất và tinh thần Hình thức cao nhất của bạo lực thể chất là tội giết người (có 8 điều nói đến tội này: Từ điều 93 đến điều 100) Bộ luật Hình sự cũng quy định hình phạt đối với hành vi bạo lực tình dục từ điều 111 đến điều 116 Đặc biệt đối với vấn

đề BLGĐ, tại điều 151 bộ luật Hình sự quy định: Người nào có hành vi ngược đãi, hành hạ ông bà cha mẹ, vợ chồng, con, cháu… gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm [[34]]

Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014 có rất nhiều quy định về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, nghiêm cấm các hành vi liên quan đến BLGĐ: Điểm h khoản 2 điều 5 cấm: Bạo lực gia đình; Khoản 1 điều 2 quy định: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Điều 17 quy định: "Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình" [[41]] Điều 21: "Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau"; Điều 103 quy định: Các thành viên gia đình có quyền, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ,

Trang 26

Theo khoản 2 điều 1 Luật phòng chống BLGĐ thì: "BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình" [[38]] Như vậy có thể thấy BLGĐ là những hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình Đó là sự xúc phạm và ngược đãi về thân thể hay tinh thần, tình cảm hay tình dục giữa các thành viên trong gia đình

Đặc biệt hơn nữa, ngày 08/03/ 2016 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định

số 363/QĐ-TTg, trong đó đã quyết định lấy tháng 6 hàng năm là tháng hành động quốc gia về phòng, chống BLGĐ Điều 2 của Quyết định đã chỉ rõ: Thông tin, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội về phòng, chống BLGĐ góp phần bảo vệ phụ nữ, trẻ em, xây dựng gia đình hạnh phúc

Sau đây là bảng các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống BLGĐ

ở Việt Nam:

Các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực

gia đình ở Việt Nam

- Nghị định số 08/2009/NĐ-CP về việc (hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật PCBLGĐ)

- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật

tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

- Kế hoạch hành động phòng chống BLGĐ của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2008-

Trang 27

- Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật PCBLGĐ số 02/2010/TTBVHTTDL-2010 (qui định chi tiết về các thủ tục liên quan đến các cơ sở tư vấn, dịch vụ và nhân viên tư vấn)

- Thông tư Số 23/2011/TTBVHTTDL: quy định thu thập, xử lý thông tin về gia đình và phòng, chống BLGĐ

- Kế hoạch hành động phòng chống BLGĐ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2008-2015

- Chương trình hành động quốc gia phòng chống BLGĐ, 2014- 2020

- Chiến lược gia đình quốc gia 2005- 2010

- Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG

- Thông tư số 24/2011/TTBVHTTDL: Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cá nhân, tập thể tham gia phòng, chống BLGĐ; đối tượng, điều kiện,

cơ quan hoàn trả thiệt hại về giá trị tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống BLGĐ

- Chiến lược gia đình quốc gia 2005-

2010

Trang 28

Luật pháp Chính sách Văn bản

chiến lược

-Thông tư xác định phụ nữ là nạn nhân của bạo lực là nhóm đối tượng cần được các tổ chức trợ giúp pháp

lý ưu tiên hỗ trợ và qui định nhiệm vụ của các cán bộ

và các tổ chức trợ giúp pháp lý (trong việc xác định nạn nhân, tư vấn pháp lý và đại diện pháp lý)

(UNODC, 2011:12)

43/2011/TTLT/BTCBVHTTDL: quy định chế độ quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ các cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ, cơ sở tư vấn về phòng, chống BLGĐ và các địa chỉ tin cậy tại cộng đồng (Bộ VHTTDL, 2013)

1.2.2 Phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng, chống bạo lực gia đình

Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

là cách thức làm việc giữa chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật với đối tượng được tuyên truyền, phổ biến nhằm giúp các đối tượng này nắm được những kiến thức về luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng như các kỹ năng xử lý khi có bạo lực gia đình xảy ra

Một số phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật như:

- Phương pháp cải tiến các phương pháp phổ biến, giáo dục truyền thống: Các phương pháp phổ biến, giáo dục truyền thống như thuyết trình, đàm thoại nếu không được đổi mới sẽ trở nên kém hiệu quả Đổi mới không có nghĩa

là loại bỏ cái cũ, chúng ta có thể cải tiến những phương pháp truyền thống này trở nên mới mẻ hơn, thu hút hơn, quan trọng nhất là khiến cho đối tượng được

Trang 29

phổ biến, giáo dục không còn tiếp thu kiến thức một cách thụ động, mà phải khiến họ chủ động tìm hiểu, chủ động tham gia vào công tác phổ biến, giáo dục

- Kết hợp đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục: thay vì chỉ sử dụng một hình thức, thì việc kết hợp các hình thức với nhau một cách tinh tế sẽ tránh được cảm giác nhàm chán và đem lại hiệu quả cao hơn

- Phương pháp vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề: nghĩa là từ những kiến thức được cung cấp, đối tượng được phổ biến, giáo dục, cụ thể là chị em phụ nữ sẽ biết cách giải quyết các vấn đề gặp phải một cách hợp lý và đúng pháp luật nhất

- Phương pháp vận dụng kiến thức theo tình huống: trong cuộc sống gia đình, có rất nhiều tình huống có thể xảy ra Nếu chỉ được cung cấp kiến thức theo lý thuyết suông thì chưa đủ mà cần phải có những kỹ năng cần thiết để xử

lý Việc xây dựng những tình huống thực tế vừa giúp đối tượng dễ tiếp thu kiến thức, vừa giúp họ vận dụng được những kiến thức đó vào thực tiễn Đây được coi là phương pháp thiết thực nhất trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

- Phương pháp giáo dục, phổ biến chú trọng tính đặc thù: nghĩa là tùy từng vùng, từng vị trí, từng đối tượng mà sử dụng phương pháp phổ biến, giáo dục hợp lý Đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số thì phải chú trọng tính thực tiễn, tổ chức phổ biến, giáo dục tận từng hộ dân; nội dung phổ biến, giáo dục phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, bám sát thực tiễn, phù hợp với cuộc sống thường nhật của họ

1.2.3 Hình thức Phổ biến, Giáo dục pháp luật Phòng, chống bạo lực gia đình

Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật là cách thức tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, cách tiến hành một hoạt động cụ thể để đạt được mục đích hình thành ở đối tượng tình cảm, tri thức và hành vi pháp lý phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật

Trang 30

Hình thức Phổ biến, giáo dục Pháp luật nói chung được quy định tại Điều

11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nói riêng được quy định cụ thể tại Điều 11 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007

“Điều 11 Hình thức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực

gia đình

1 Thực hiện trực tiếp

2 Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

3 Lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc

hệ thống giáo dục quốc dân

4 Thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác”

- Phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp (Tuyên truyền miệng về pháp luật) Tuyên truyền miệng là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khá phổ biến bởi những ưu thế mà nó mang lại Tuyên truyền miệng là hình thức phổ biến, giáo dục không tốn nhiều nhân lực, dễ thực hiện Người phổ biến, giáo dục

có cơ hội đối thoại trực tiếp với người nghe, tạo được sự gần gũi trong quá trình thực hiện Hơn nữa, hình thức này có thể thực hiện ở bất kỳ đâu, kể cả khi số lượng người nghe rất ít Đây là hình thức được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong đời sống xã hội

Tuy nhiên, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tuyên truyền miệng với một số hạn chế vốn có như không thể áp dụng đối với các đối tượng không cùng ngôn ngữ, lời nói chỉ tác động vào thính giác, đòi hỏi người nghe sự theo dõi, tập trung

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Từ lâu, việc tuyên truyền, Phổ biến, giáo dục pháp luật qua các phương tiện thông tin đại chúng đã được đánh giá là một trong những hình thức chiếm

ưu thế Xã hội ngày càng phát triển, Khoa học - công nghệ, thông tin càng được

Trang 31

nhiều người biết đến thì hình thức phổ biến, giáo dục này càng trở nên hiệu quả

và được áp dụng rộng rãi trên nhiều đối tượng

Các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, mạng internet như: Báo điện tử; Trang thông tin điện tử, mạng Internet; Phát thanh có hình Xã hội phát triển, mọi người có nhiều điều kiện tiếp cận thông tin hơn, những hình thức phổ biến, giáo dục này ngày càng được sử dụng rộng rãi Một số hình thức khác có thể kể đến như:

Đây là hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua những buổi lên lớp Người học được cung cấp những kiến thức lý thuyết và thực

tế qua hoạt động giảng dạy Hình thức này được thực hiện bằng việc lồng ghép những giờ học kiến thức pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong chương trình học,

từ đó cung cấp cho người học những tri thức khách quan, dễ hiểu nhất về những quy định của pháp luật Hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường đem lại những hiệu quả bất ngờ Bởi thế hệ trẻ là đội quân tuyên truyền có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất

Trong lĩnh vực Phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức phổ biến, giáo dục thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường có vai trò rất quan trọng Bởi

lẽ, một bộ phận không nhỏ nạn nhân bị bạo hành là trẻ em Các em cần phải

Trang 32

được trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ bản thân

và những thành viên trong gia đình trước những nguy hiểm từ hành vi bạo lực gia đình Hơn nữa, thế hệ trẻ là những người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, hiệu quả nhất đến từng thành viên gia đình và toàn thể xã hội Khi thế hệ tương lai nắm vững được những quy định của pháp luật và hiểu được tầm quan trọng của việc phòng, chống bạo lực gia đình thì chúng ta có thể hi vọng có thể xây dựng được một xã hội không bạo lực gia đình

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình văn hoá, văn nghệ Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình văn hoá, văn nghệ là đưa tinh thần một quy phạm pháp luật, một văn bản pháp luật vào đời sống xã hội bằng “ngôn ngữ” của một loại hình văn hoá, văn nghệ nào đó như kịch, lễ hội, áp phích…

Đây là hình thức phổ biến, giáo dục đặc sắc, hấp dẫn, có thể thu hút đông đảo người dân tham gia, tránh được cảm giác nhàm chán, cứng nhắc như các hình thức phổ biến, giáo dục thông thường Tuy nhiên, hình thức này lại đòi hỏi những người thực hiện phải có năng khiếu, chuyên môn và am hiểu các loại hình văn hóa, văn nghệ ở từng địa phương mà mình hướng đến

Đây được coi là hình thức đem lại hiệu quả cao, nếu kiến thức chỉ được truyền đạt một cách khô cứng thì người nghe sẽ không thể nhớ hết và dễ gây cảm giác nhàm chán, nhất là trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Pháp luật vốn khô khan, nhưng nếu pháp luật gắn với văn hóa, văn nghệ thì sẽ dễ tiếp thu hơn rất nhiều Hiện nay, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình ở các làng, xã, thôn, bản đã có những hoạt động lồng ghép văn hóa, văn nghệ qua các vở kịch, câu dân ca, điệu

ví dặm mang thông điệp phòng, chống bạo lực do chính những nghệ sỹ quần chúng dàn dựng Việc để người dân trực tiếp tham gia vào các vở kịch, hay biểu diễn các tiết mục văn hóa, văn nghệ vừa giúp mọi người giải trí, vừa cung cấp những kiến thức pháp luật trong không khí vui vẻ, gần gũi

Trang 33

Ngoài những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên còn có một số hình thức phổ biến, giáo dục được đánh giá là đem lại hiệu quả cao, như:

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt của các câu lạc bộ pháp luật

Câu lạc bộ pháp luật là một tổ chức sinh hoạt pháp lý tự nguyện của những người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, có tinh thần tham gia đấu tranh bảo

vệ pháp luật, nhiệt tình tuyên truyền giáo dục pháp luật

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật

Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hình thức sinh hoạt văn hoá pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả Những nội dung pháp luật được chuyển tải đến các đối tượng thông qua cuộc thi được chọn lọc để thông qua cuộc thi có thể cung cấp cho người tham gia những kiến thức cơ bản nhất, cần thiết và quan trọng nhất theo một cách một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn, sinh động hơn, tránh được sự cứng nhắc, khô cứng Theo đó, người tổ chức cũng có thể hệ thống hóa lại kiến thức theo một lôgic và nâng cao được kỹ năng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý

Tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp công dân, tổ chức trong nước và nước ngoài thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Thông qua tư vấn pháp luật, luật sư góp phần tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật nhằm nâng cao văn hoá pháp lý cho công dân trong cộng đồng xã hội

Trợ giúp pháp lý được coi là chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ miễn phí các dịch vụ pháp lý đối với các đối tượng chính sách, người nghèo, đồng bào

Trang 34

dân tộc thiểu số và những người yếu thế trong xã hội Đây là chính sách tiến bộ của Nhà nước, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ

Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý là hình thức phổ biến, giáo dục mang lại nhiều ý nghĩa và giá trị to lớn Nó không chỉ là hoạt động hỗ trợ dịch vụ pháp lý đơn thuần mà nó còn thể hiện sự nhân văn và công bằng của một đất nước

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là hình thức được sử dụng rộng rãi ở các cơ sở địa phương Khi xảy ra sự việc, tổ hòa giải bằng hoạt động hoà giải của mình cung cấp các kiến thức pháp luật, nắm bắt những tâm tư, tình cảm của các bên tranh chấp, từ đó đưa ra những giải pháp hợp tình, hợp lý nhất cho các bên tham khảo Hoạt động hòa giải có tác động tích cực, giúp các bên nắm được pháp luật, nhận ra những hành vi trái pháp luật của bản thân để khắc phục, giải quyết vấn đề theo hướng đơn giản nhất, tránh sự căng thẳng giữa các bên tranh chấp

Để phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải có hiệu quả, đòi hỏi phải có phương pháp thực hiện hợp lý và có những giải pháp phù hợp, kịp thời để việc hoà giải đạt được mục đích đồng thời qua việc hoà giải, các bên hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc thực hiện ký cam kết gia đình không có thành viên vi phạm pháp luật; xây dựng các điểm sáng về chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư

- Tổ chức tuyên truyền pháp luật định kỳ cho người dân tại cơ sở

Đây là biện pháp tuyên truyền trực tiếp thông qua báo cáo viên giới thiệu các quy định của pháp luật, xử lý tình huống thực tiễn, giải đáp pháp luật, theo chuyên đề phù hợp để người dân học tập

Trang 35

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua hoạt động của đội ngũ cán

bộ nòng cốt tại xã, phường, thị trấn Đây là những người gần dân nhất, hiểu được nhu cầu và đặc điểm đời sống xã hội của nhân dân địa phương mình, do

đó, họ sẽ có những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp, đem lại hiệu quả cao

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của bộ đội biên phòng với những cách thức khác nhau trong việc đưa pháp luật tới nhân dân như chuyên đề, lồng ghép vào cuộc họp, cuộc vận động, phong trào, chiếu phim lưu động… Đối với những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số thì bộ đội biên phòng có vai trò vô cùng quan trọng, đây là lực lượng cốt cán trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nói riêng

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

1.3.1 Phong tục tập quán

Việt Nam là một nước Á Đông, chịu ảnh hưởng nặng nề của nền Nho giáo Mặc dù, không thể phủ nhận nó có rất nhiều những truyền thống tốt đẹp đáng gìn giữ như: truyền thống uống nước nhớ nguồn; kính già yêu trẻ; đề cao chữ hiếu (con cái phải có hiếu với ông bà, cha mẹ) Tuy nhiên, nền Nho giáo cũng có những phong tục, tập quán cần được loại trừ Trong gia đình của người

Á Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng, người đàn ông là người có vị trí

và tiếng nói lớn nhất Tính gia trưởng của họ thể hiện ở việc họ có quyền quyết định tất cả những việc lớn bé và buộc tất cả các thành viên khác trong gia đình phải tuân theo dù quyết định đó là đúng hay sai Điều đáng nói là chính những

thành viên trong gia đình lại mặc định đó là truyền thống “Xưa nay vẫn vậy” làm cho tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” khó có cơ hội xóa bỏ Điều này đã gây

ra những khó khăn trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 36

1.3.2 Yếu tố tâm lý

Người Việt Nam luôn coi trọng sỹ diện, có tâm lý “Tốt khoe, xấu che”

nên dù có bị đánh đập, ngược đãi cũng chỉ biết nhẫn nhịn, cam chịu, không dám

kể với bất cứ ai Đây là lý do khiến cho rất nhiều nạn nhân bạo lực gia đình không bao giờ nhờ đến sự can thiệp của pháp luật

Tâm lý của các cặp vợ chồng, ngay cả những cặp vợ chồng trẻ vẫn là

“Phu xướng, phụ tùy” người chồng đã quyết định thì người vợ chỉ việc làm

theo Thậm chí người chồng có thể sử dụng vũ lực để “dạy dỗ” vợ mình, còn ngược lại nếu người vợ đánh chồng thì bị coi là người phụ nữ hư hỏng và bị cả

xã hội lên án

Tư tưởng “Đèn nhà ai, nhà nấy rạng” đã khiến cho việc phát hiện và xử

lý hành vi bạo lực gia đình trở nên khó khăn hơn Con người Việt Nam luôn coi trọng tình làng nghĩa xóm, họ có thể quan tâm, giúp đỡ nhau rất nhiều trong cuộc sống, tuy nhiên những vấn đề như mâu thuẫn trong gia đình thì được coi là chuyện riêng của gia đình đó, vợ chồng tự đóng cửa bảo nhau Do đó, có rất nhiều người chứng kiến cảnh bạo lực gia đình nhưng lại không có bất kỳ hành động can ngăn hay báo với các cơ quan có trách nhiệm để giải quyết Chính tâm

lý sợ bị coi là nhiều chuyện, can thiệp đến chuyện gia đình người khác mà đã có rất nhiều hậu quả đáng tiếc từ hành vi bạo lực gia đình đã xảy ra

Những yếu tố tâm lý này là những rào cản rất lớn trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình

1.3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội không phải là yếu tố duy nhất nhưng lại là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc của mỗi gia đình Một gia đình

có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, thu nhập không đủ trang trải cuộc sống hằng ngày, họ phải dành phần lớn thời gian để làm việc kiếm tiền nên không có thời gian để giao lưu, chuyện trò, chia sẻ với nhau thì rất dễ xảy ra những tranh chấp, mâu thuẫn Đây là nhân tố dẫn đến những hành vi bạo lực thể chất và tinh

Trang 37

thần không đáng có Nói như vậy không có nghĩa là những gia đình có điều kiện vật chất đầy đủ thì không xảy ra bạo lực gia đình Khi những thành viên trong gia đình được đáp ứng đầy đủ về vật chất, họ sẽ có xu hướng tự thỏa mãn với cuộc sống của bản thân mà thiếu đi sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Ở những gia đình này, bạo lực về tinh thần thường có xu hướng phát triển hơn bạo lực thể chất, kinh tế hay tình dục

1.3.4 Định kiến giới

Trải qua một thời gian dài tuyên truyền, đấu tranh cho vị trí, tiếng nói của người phụ nữ trong xã hội, vấn đề định kiến giới đã và đang dần được loại bỏ Người phụ ngày càng được tôn trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tuy nhiên, tư tưởng định kiến giới, coi trọng đàn ông và khinh thường phụ nữ đã ăn sâu trong tiềm thức của nhiều thế hệ người dân Việt Nam, vì vậy, để có thể xóa

bỏ hoàn toàn là cả một chặng đường dài Vẫn còn có không ít những gia đình,

mà ở đó, những người phụ nữ không bao giờ được tham gia bàn bạc, bày tỏ ý kiến để quyết định những vấn đề trong gia đình dù là nhỏ nhất Những người

mẹ, người vợ vẫn hàng ngày đầu tắt mặt tối vừa lo việc xã hội, vừa lo việc gia đình nhưng vẫn bị coi thường, chửi mắng, thậm chí là đánh đập

Không chỉ có vậy, nhiều gia đình còn có tư tưởng “Con gái là con

người ta” đã khiến cho rất nhiều bé gái phải chịu thiệt thòi ngay từ lúc sinh

ra Nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số những bé gái thậm chí còn không được học tập, phải lao động vất vả, lấy chồng khi tuổi đời còn quá nhỏ Đây cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình gia tăng

Đấu tranh cho bình đẳng giới vẫn đang là một câu chuyện dài chưa có hồi kết Chừng nào còn chưa loại bỏ được tư tưởng lạc hậu này, chừng đó việc Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình sẽ còn gặp nhiều khó khăn

Trang 38

ra nhiều vụ bạo lực gia đình hơn

Yếu tố trình độ dân trí không chỉ ảnh hưởng lớn đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Cũng như rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong xã hội hiện nay, Bạo lực gia đình đang là vấn đề nóng, rất được mọi người quan tâm bởi sự tác động trực tiếp của nó đối với đời sống con người cũng như sự tồn tại, phát triển của xã hội Bạo lực gia đình gây ra những hậu quả vô cùng nặng nề không chỉ về thể chất

mà còn cả tinh thần của những thành viên trong gia đình Điều đáng nói là Bạo lực gia đình thường xảy ra ở những không gian riêng tư cộng với tư tưởng “Tốt khoe, xấu che”, “Đèn nhà ai nhà nấy rạng” nên rất ít trường hợp Bạo lực gia đình bị phát hiện và xử lý Những tư tưởng của người Á Đông đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam càng làm cho việc giáo dục pháp luật về Phòng, chống bạo lực gia đình trở nên khó khăn hơn

Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhiều văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề Phòng, chống bạo lực gia đình đã được ban hành Những văn bản này đã tạo được một cơ sở pháp lý vững chắc để

xử lý những hành vi vi phạm, đồng thời bảo vệ những nạn nhân bị bạo lực, từ đó

đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội Nhưng đánh giá một cách khách quan thì các quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống,

sự quan tâm và hiểu biết về lĩnh vực này chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực trong gia đình chưa có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực và nó dần trở thành một hiện tượng của xã hội

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở TỈNH NGHỆ AN

2.1 Tình hình bạo lực gia đình và nhu cầu Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Nghệ An

2.1.1 Tình hình bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Bạo lực gia đình vẫn luôn là một vấn đề nhức nhối đang được xã hội quan tâm Trong năm năm qua (2012-2017), trên địa bàn tỉnh Nghệ An, tình trạng bạo lực gia đình diễn ra vô cùng phức tạp, số vụ bạo lực gia đình có lúc tăng lúc giảm nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước Điều đáng nói là một bộ phận không nhỏ phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của các hành vi ngược đãi ngay trong gia đình, do chính người chồng, người bố gây ra

Theo số liệu của Phòng Xây dựng nếp sống văn hóa gia đình, Sở VHTT&DL Nghệ An, năm 2012, toàn tỉnh xảy ra 1.273 vụ bạo lực gia đình, trong đó có 565 vụ bạo lực tinh thần, 523 vụ bạo lực thân thể, 73 vụ bạo lực tình dục và 112 vụ bạo lực kinh tế Xử lý các biện pháp 227 trường hợp, có 7 trường hợp xử lý hình sự, còn lại xử lý bằng hình thức góp ý phê bình tại cộng đồng dân cư Có thể nói năm 2012 là năm đỉnh điểm của nạn bạo lực gia đình Nhìn vào con số thống kê chúng ta không khỏi giật mình, trung bình một ngày toàn tỉnh Nghệ An có khoảng 4 vụ bạo lực gia đình Số vụ bạo lực tinh thần và bạo lực thân thể khá cao

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2013, toàn tỉnh Nghệ An xảy ra 924 vụ bạo lực gia đình, trong đó 354 vụ bạo lực tinh thần, 442

vụ bạo lực thân thể, 53 vụ bạo lực tình dục, 75 vụ bạo lực kinh tế Trong khi đó,

số liệu của Tòa án nhân dân tỉnh năm 2013, tổng số vụ ly hôn do bạo lực gia đình 390/603 vụ Qua khảo sát, cứ 5 cặp vợ chồng thì có 1 cặp từng xảy ra bạo lực dưới mọi hình thức, 66% vụ ly hôn liên quan đến bạo lực gia đình, 5% phụ

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm