1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh đồng nai

91 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tầm quan trọng của năng lượng trong đời sống kinh tế xã hội đối với Việt Nam, vấn đề quản lý sử dụng năng lượng nói chung và sử dụng điện nói riêng đã được quy định trong Lu

Trang 1

HUỲNH HỮU LỄ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG TIẾT KIỆM

VÀ HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nghệ An, tháng 6/2018

Trang 2

HUỲNH HỮU LỄ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM

VÀ HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 8380106

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: Tiến Sỹ Nguyễn Văn Dũng

Nghệ An, tháng 6/2018

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ 7

1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 7

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả 16

1.3 Vai trò thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 27

1.4 Các yếu tố đảm bảo đến hiệu quả thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả 33

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG ĐIỆN TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 41 2.1 Các điều kiện kinh tế - xã hội có tác động đến thực hiện pháp luật về sử năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 41

2.2 Đánh giá chung về thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 44

Tiểu kết chương 2 63

Trang 4

NAI 64

3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế và Dự báo nhu cầu tiêu thụ điện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới 64

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 68

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

ASEAN Association of South East Asian Nations-Hiệp hội các Quốc

gia Đông Nam Á CTĐL Công ty Điện lục

EU European Union-Liên minh Chấu Âu

EVN Vietnam Electricity -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

ESCO Chương trình thí điểm cung cấp các giải pháp tiết kiệm

năng lượng theo mô hình Công ty Dịch vụ năng lượng

MTQG Mục tiêu quốc gia

NLTT Năng lượng tái tạo

SXKD Sản xuất kinh doanh

SDNLTKHQ Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả

TKNL Tiết kiệm năng lượng

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên

TCTĐL Tổng Công ty Điện lực

UBMTTQ Ủy ban mặt trận Tổ Quốc

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năng lượng là nhu cầu không thể thiếu cho sản xuất, sinh hoạt cũng như mọi hoạt động của con người Tài nguyên nhiên liệu và năng lượng là nguồn lực cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Quốc gia nào giàu có về nguồn tài nguyên này là cơ sở tiền đề tốt nhất cho đáp ứng đầu vào của hệ thống kinh tế Đối với Việt Nam, tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến nhu cầu năng lượng và điện năng tăng cao Trong giai đoạn 1998-2009, điện sản xuất (bao gồm nhập khẩu) tăng từ 21.5 tỷ kWh lên 87.02 tỷ kWh, điện thương phẩm từ 17.7 tỷ kWh lên 74.8 tỷ kWh và công suất lắp đặt từ 5.000 MW lên 18.480 MW Là một nền kinh tế mới nổi, nhu cầu điện của Việt Nam trong thời gian (từ năm 2010 đến 2030) sẽ tiếp tục tăng mạnh Theo dự báo của Viện Năng Lượng Việt Nam, nhu cầu điện có thể tăng từ 87 tỷ kWh năm 2009 lên đến 570 tỷ kWh năm 2030, với tốc độ tăng trung bình 10%/năm

Nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới ngày càng tăng tỷ lệ thuận với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, việc cạn kiệt các nguồn năng lượng hoá thạch,

sự gia tăng nhanh của giá năng lượng và suy thoái môi trường đã đẩy nhanh việc thực thi chính sách tiết kiệm năng lượng trên toàn thế giới Sử dụng hợp lý, tiết kiệm năng lượng đã được luật hoá và trở thành chương trình mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới Hàng loạt chính sách và giải pháp hỗ trợ phát triển công nghệ sử dụng tiết kiệm năng lượng, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng mới và tái tạo được triển khai mạnh mẽ

Xuất phát từ tầm quan trọng của năng lượng trong đời sống kinh tế xã hội đối với Việt Nam, vấn đề quản lý sử dụng năng lượng nói chung và sử dụng điện nói riêng

đã được quy định trong Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi bổ, sung một số điều của Luật Điện lực năm 2014); Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 đã thể chế hoá đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển năng lượng quốc gia, đảm bảo an ninh năng lượng, khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng

Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng năng lượng quá mức, không khoa học, trái với các nguyên tắc về môi trường làm kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng như: cạn

Trang 7

kiệt nguồn năng lượng hóa thạch, sự tăng lên của khí nhà kính (CO2,…) làm trái đất nóng lên Việc tuân thủ pháp luật về sử dụng điện còn chưa nghiêm; còn nhiều hạn chế trong việc quản lý sử dụng năng lượng, nhất là việc quản lý các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, thiếu sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý nhà nước tại các địa phương; nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng còn hạn chế; nhiều tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp còn chưa áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nên gây tình trạng hao tổn năng lượng và gây ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, việc quản lý

sử dụng năng lượng (nhất là điện năng) tiết kiệm và hiệu quả đang là vấn đề cấp thiết

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Nằm ở cửa ngõ TP Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai có vị trí, vai trò quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu thương mại và an ninh quốc phòng của vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam Do vậy, nhu cầu sử dụng năng lượng nói chung và điện năng nói riêng là rất lớn Điện năng tiêu thụ trong các năm đều tăng Trong năm 2017, sản lượng điện thương phẩm thực hiện được là khoảng 11,840 tỷ kWh tăng 8,64% so với năm 2016 Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh trong những năm tới về nhu cầu năng lượng là rất lớn đòi hỏi các cấp, các ngành, các cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai phải tuân thủ thực hiện tốt các quy định của pháp luật

về quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, góp phần thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn

thạc sỹ luật học, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; đồng thời tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện mục tiêu an ninh năng lượng, đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, vấn đề thực hiện pháp luật là vấn đề luôn có tính thời sự và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu

Trang 8

vấn đề này cả về lý luận cũng như thực tiễn; có nhiều bài báo khoa học, luận văn về thực hiện pháp luật nói chung, tiêu biểu như các bài báo khoa học của GS TS Hoàng

Thị Kim Quế như: Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật của công dân, tạp chí Khoa học, Luật học, Đại học quốc gia Hà nội, tập 31, số 3 (2015), 1- 7; Trách nhiệm nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật của công dân, Tạp chí Khoa học pháp lý Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, số 05 (90), 2015, trang 3- 9; Thực hiện pháp luật nhìn từ phương diện hành vi hợp pháp và tính tích cực pháp luật của công dân,

Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Đại học Quốc gia Hà nội, Vol (tập) 31, số 4/2015; Thực

hiện pháp luật của cá nhân, công dân trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật học, số 2 (177), 2- 2015, trang: 44- 50 tạp chí Luật học,

số 2/2015 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đều xem xét vấn đề thực hiện pháp luật dưới các góc độ, mức độ khác nhau Các công trình khoa học đó đã đem lại những giá trị khoa học quý giá ở góc độ lý luận cũng như thực tiễn, là tài liệu tham khảo hữu ích về vấn đề thực hiện pháp luật

Nghiên cứu về vấn đề thực hiện pháp luật về quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề quan trọng và cấp thiết hiện nay Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy đến nay có một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề thực hiện

tiết kiệm điện, điển hình như Luận văn “Điều tra tình hình sử dụng điện và đề xuất các giải pháp tiết kiệm điện cho các hộ gia đình tại TP Hồ Chí Minh” năm 2015 của tác giả Hồ thị Bích Duyên, Đại học Điện lực; luận văn “Một số giải pháp sử dụng điện năng tiết kiệm và hiệu quả cho hộ gia đình trên địa bàn huyện Giá Rai" năm 2015 của

tác giả Nguyễn Minh Hòa, Đại học Điện lực Tuy nhiên, các công trình nguyên cứu khoa học này chủ yếu đi sâu phân tích các yếu tố, giải pháp mang tính kỹ thuật trong việc sử dụng điện một cách tiết kiệm và hiệu quả mà chưa đánh giá thực trạng pháp luật cũng như tình hình thực hiện pháp luật về quản lý sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, chưa đưa ra các giải pháp về mặt quản lý trong việc sử dụng điện tiết kiệm và

hiệu quả Vì vậy, luận văn “Thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu vấn

đề thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng mà cụ thể là sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả ở một địa phương cụ thể

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn

về tình hình thực hiện pháp luật về sử dụng điện, trong đó làm rõ những đặc trưng, yêu cầu cơ bản của thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả; đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả ở tỉnh Đồng nai và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả ở tỉnh Đồng nai trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về tình hình thực hiện pháp luật về sử dụng điện, luận văn phân tích, làm rõ các vấn đề cơ bản sau đây: nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả; phân tích

và đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực trạng sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; kiến nghị giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật

về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề thực hiện pháp luật về sử dụng điện

tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Luận văn tập trung đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề cơ bản của pháp luật về tình hình thực hiện pháp luật và tình hình quản lý sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì “Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo” Như vậy, năng lượng bao gồm

ba dạng tồn tại là nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng Để có thể đánh giá được tình hình

sử dụng năng lượng nói chung (bao gồm cả nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng) cần có thời gian và một công trình nghiên cứu sâu hơn Do vậy, trong khuôn khổ của luận

Trang 10

văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về tình hình, thực trạng sử dụng điện năng cũng như vấn đề thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, Tác giả luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để chọn lọc tri thức khoa học kết hợp với việc xem xét các hoạt động thực tiễn trong việc thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả tại địa bàn tỉnh Đồng Nai để hoàn thành luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề thực hiện pháp luật trong

sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai Luận văn hoàn thành

sẽ có những ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

- Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thực hiện

pháp luật Trên cơ sở phân tích “khái niệm thực hiện pháp luật”, luận văn đã xây dựng khái niệm “thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng, sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả”

- Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận trong việc thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả góp phần nâng cao nhận thức về thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Những kết luận rút ra từ thực trạng thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết

kiệm và hiệu quả tại tỉnh Đồng Nai còn là căn cứ thực tiễn xác đáng để hình thành

phương hướng hoàn thiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả nói riêng và

sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nói chung

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý SDNLTKHQ, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, ban hành các quy định, các cơ chế chính sách trong việc quản lý SDNLTKHQ

Trang 11

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo học tập, nghiên cứu cho sinh viên, các đồng nghiệp và các cơ quan có quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NĂNG

LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ

1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật

Nếu nhà nước là một bộ máy đặc biệt để bảo đảm sự thống trị về kinh tế, thực hiện quyền lực chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng đối với quần chúng, với

xã hội thì pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội, thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với công dân Với tư cách là người đại diện chính thức của toàn bộ xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật Pháp luật do nhà nước ban hành nên có tính bắt buộc chung, mọi công dân đều phải tôn trọng pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống Đến nay, có nhiều quan điểm luận giải vấn đề thực hiện pháp luật như:

Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh thì “Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính quản lý Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật diễn ra đồng thời và tiếp nối quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước”

Theo quan điểm trên thì xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, còn thực hiện pháp luật là hoạt động diễn ra đồng thời và nhằm thực hiện vai trò quản lý xã hội của nhà nước

“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật” [21, tr.463]

Trang 13

Quan điểm này cho thấy thực hiện pháp luật có thể là hành vi của cá nhân, cũng

có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội… nhằm làm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống

“Thực hiện pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Nói cách khác, tất cả những hoạt động nào của con người, của tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì được coi là sự thực hiện thực tế của quy phạm pháp luật [20, tr.369]

Tóm lại, trong tất cả các quan điểm về thực hiện pháp luật nêu trên đều có những khía cạnh, ý kiến khác nhau về thực hiện pháp luật Tuy nhiên, tựu chung lại, các quan điểm về thực hiện pháp luật đều thể hiện nội dung cốt lõi của vấn đề đó là:

“Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật” [21, tr 468]

Xã hội càng phát triển, quan hệ xã hội càng phức tạp dẫn đến quy phạm pháp luật cũng ngày càng phong phú nhằm điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp Bên cạnh đó, việc thực hiện pháp luật không phải là nhiệm vụ của một hay một số cá nhân, tổ chức mà là trách nhiệm của tất cả mọi công dân đến cán bộ công chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội Do đó, căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý xác định những hình thức thực hiện pháp luật như sau:

Tuân thủ pháp luật

Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Hình thức này thường được thể hiện dưới dạng các quy định cấm đoán Có thể thấy, các quy định cấm được thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật Theo đó, tương ứng với mỗi lĩnh vực, mỗi quan

hệ xã hội, pháp luật đều quy định cụ thể các hành vi bị cấm đối với các bên trong quan

hệ Nếu bên nào vi phạm sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi

vi phạm của mình gây ra

Thi hành pháp luật

Trang 14

Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa

vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Hình thức này thường được thể hiện

dưới dạng những quy phạm bắt buộc (quy phạm quy định nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định)

Sử dụng pháp luật

Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp

luật thực hiện quyền và tự do pháp lý của mình (những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thểthực hiện) Hình thức này thường được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp

luật quy định về quyền và tự do pháp lý của các chủ thể Chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện các quyền và tự do đó chứ không bắt buộc phải thực hiện

Áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ phápluật cụ thể Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chỉ dành cho các cơ quan nhà nước Áp dụng pháp luật vừa là một hình thức thực hiện pháp luật vừa là một giai đoạn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật

Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện chỉ dành cho các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền Áp dụng pháp luật được xem là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước,

nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn mà các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy định pháp luật

1.1.2 Khái niệm Năng lượng

Trang 15

Năng lượng là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau (có thể là đại lượng đặc trưng cho khả năng sinh công của một vật; cũng có thể là số đo chung của chuyển động vật chất; còn khi xem xét đến thế giới vi mô thì năng lượng lại được lượng tử hóa…) Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì năng lượng là độ đo định

lượng chung cho mọi dạng vận động khác nhau của vật chất; Theo Từ điển tiếng Việt

và Từ điển vật lý phổ thông thì năng lượng là đại lượng vật lý đặc trưng cho khả năng sinh công của một vật; Hiểu theo nghĩa thông thường, năng lượng là khả năng làm

thay đổi trạng thái hoặc thực hiện công năng lên một hệ vật chất

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt nam thì: năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất xuất phát từ hai nguồn chủ yếu năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất Năng lượng mặt trời tồn tại ở các dạng chính: bức xạ mặt trời, năng lượng

sinh học (sinh khối động thực vật), năng lượng chuyển động của khí quyển và thuỷ quyển (gió, sóng, các dòng hải lưu, thuỷ triều, dòng chảy sông ),năng lượng hoá

thạch (than, dầu, khí đốt, đá dầu) Năng lượng lòng đất: nhiệt lòng đất biểu hiện ở các các nguồn địa nhiệt, núi lửa và năng lượng phóng xạ tập trung ở các nguyên tố như U,

Th, Po

Năng lượng có ở khắp nơi, biến đổi từ dạng này sang dạng khác khi chịu tác động Cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào rất nhiều dạng biến đổi năng lượng Có nhiều dạng năng lượng như: động năng, nhiệt năng, thế năng, cơ năng… nhưng tất cả

chúng chỉ thuộc hai loại chính: năng lượng dự trữ (thế năng) và năng lượng hoạt động (động năng) Thế năng bao gồm năng lượng hóa học, năng lượng trọng trường, cơ

năng, điện năng và năng lượng hạt nhân Động năng bao gồm quang năng, điện năng,

âm năng, nhiệt năng, và năng lượng chuyển động

- Điện năng: là dòng của các điện tử chạy trong mạch Sự chuyển động của một điện tử tạo ra một dòng điện tạo ra điện

- Nhiệt năng: là việc sử dụng nhiệt như là nguồn năng lượng

- Năng lượng hóa học: là năng lượng được tạo ra từ các phản ứng hóa học, trong đó liên kết hóa học của một chất bị phá vỡ và được tái sắp xếp tạo thành phân tử mới, quá trình đó có thể cung cấp năng lượng

Trang 16

- Năng lượng bức xạ: là năng lượng đến từ một nguồn sáng, như mặt trời Năng lượng phát ra từ mặt trời ở dạng các photon Những phần tử nhỏ bé này vô hình với mắt người, di chuyển tương tự như sóng

- Năng lượng hạt nhân: là năng lượng được tạo ra khi những phần của nguyên

tử của một số vật liệu nhất định được tách ra trong môi trường có kiểm soát Quá trình

này tạo ra nhiệt (nhiệt năng) dùng vào các mục đích khác nhau, bao gồm cả phát điện

Năng lượng thường được phân chia thành hai loại như sau:

- Năng lượng không tái tạo: là dạng năng lượng mà nhiên liệu sản sinh ra nó không có khả năng tái sinh và mất đi vĩnh viễn, bao gồm:

+ Năng lượng hóa thạch: than đá, than bùn, dầu mỏ, khí tự nhiên tạo thành thông qua sự hoá thạch của động, thực vật trong một thời gian rất dài, tính tới hàng triệu năm

+ Năng lượng hạt nhân: từ chất phóng xạ Uranium

- Năng lượng tái tạo (hay năng lượng tái sinh): là năng lượng từ những nguồn liên tục, là vô hạn Năng lượng vô hạn là năng lượng tồn tại nhiều đến mức không thể trở thành cạn kiệt vì sự sử dụng của con người Nguồn năng lượng này bao gồm: năng

lượng bức xạ mặt trời, năng lượng sinh học (năng lượng sinh khối), gió, sóng, các

dòng hải lưu, thuỷ triều,…

Những nguồn năng lượng mới, tái sinh và ít gây tác động tiêu cực đến môi

trường (hay còn được gọi là năng lượng sạch hay năng lượng xanh) Trong đó, việc

phát triển năng lượng sinh khối sẽ làm giảm sự thay đổi bất lợi khí hậu, giảm hiện tượng mưa axit, giả sức ép về bãi chôn lấp,

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm về Năng lượng được quy định như sau:

Theo Nghị định số 102/2003/NĐ-CP của chính phủ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì năng lượng được hiểu là dạng vật chất có khả năng sinh công, bao gồm nguồn năng lượng sơ cấp: than, dầu, khí đốt và nguồn năng lượng thứ cấp: nhiệt năng, điện năng, quang năng sinh ra do quá trình chuyển hóa năng lượng sơ cấp

Khoản 1, điều 2 Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả quy định như

sau: “Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc

thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo”

Trang 17

Như vậy, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không có định nghĩa

về năng lượng mà chỉ liệt kê các dạng tồn tại của năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo Trong phạm vi đề tài này, xuất phát từ công việc của chính bản thân nên tác giả chỉ đề cập đến một dạng năng lượng quan trọng và phổ biến nhất đó là Điện năng

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, điện năng là năng lượng cung cấp bởi dòng điện Cụ thể, nó là công cơ học thực hiện bởi điện trường lên các điện tích di chuyển trong nó Khi dòng điện đi qua một điện trở, điện trở có thể bị nóng lên và tỏa nhiệt ra môi trường Các máy biến năng có thể chuyển hóa điện năng cung cấp bởi dòng điện

ra thành nhiều dạng năng lượng khác, như nhiệt năng trong ví dụ trên, quang năng (bóng đèn), động năng (động cơ điện) hay âm thanh (loa)

Các thiết bị dùng điện năng đã đi sâu vào cuộc sống trong xã hội loài người hiện đại và điện năng là một mặt hàng thiết yếu Điện năng thường được phân phối đến các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất, cơ quan dưới đơn vị đo kilowatt giờ, với giá bán có thể thay đổi theo địa điểm, thời điểm trong ngày hay trong năm, và lượng tiêu thụ Điện năng dễ sản xuất, giá thành rẻ, vận tải đi xa thuận lợi, dễ biến đổi sang các dạng năng lượng khác như cơ năng, nhiệt năng, hoá năng, quang năng và ngược lại

Lý thuyết về năng lượng phân chia năng lượng ra thành hai dạng: “năng lượng

sơ cấp” và “năng lượng thứ cấp” Theo đó, “năng lượng sơ cấp” là nguồn năng

lượng thô có sẵn ngoài thiên nhiên, muốn sử dụng, cần qua một giai đoạn gọi là

chuyển hoá năng lượng để trở thành điện năng, nhiệt năng, công năng “Năng lượng thứ cấp” là những năng lượng được sinh ra trong quá trình chuyển hoá những năng

lượng thô nêu trên

Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năng lượng được định nghĩa dưới dạng liệt kê các dạng tồn tại của năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo Theo đó, tài nguyên năng lượng không tái tạo gồm than

đá, khí than, dầu mỏ, khí thiên nhiên, quặng urani và các tài nguyên năng lượng khác không có khả năng tái tạo Tài nguyên năng lượng tái tạo gồm sức nước, sức gió, ánh

Trang 18

sáng mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo [25, điều 3]

Từ các định nghĩa trên có thể kết luận: “điện năng là nguồn năng lượng thứ cấp thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo”

1.1.3 Khái niệm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Năng lượng nói chung và điện năng nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước do điện năng là dạng năng lượng được sử dụng rộng rãi nhất trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế và đời sống của con người Điện năng còn là nguồn động lực, nguồn năng lượng cho cho các máy móc, phương tiện, thiết bị trong sản suất và đời sống Nhờ có điện năng, quá trình sản xuất được tự động hóa, cuộc sống con người đầy đủ tiện nghi, văn minh hiện đại hơn Chính vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hợp lí, giảm hao phí năng lượng trong quá trình sử dụng là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương

Sử dụng năng lượng hiệu quả sẽ đảm bảo thực hiện được các hoạt động cần thiết với mức tiêu phí năng lượng thấp nhất Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sử dụng năng lượng một cách hợp lý, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí năng lượng cho hoạt động của các phương tiện, thiết bị mà vẫn đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết cho các quá trình sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt Theo Luật sử dụng

năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống” [25, điều 3]

Như vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bao gồm hai biện pháp: biện pháp quản lý và biện pháp kỹ thuật Điều này đồng nghĩa với sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương, cơ quan được giao quản lý năng lượng về năng lượng và tất cả mọi người sử dụng năng lượng Hay nói cách khác, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là trách của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp, cộng đồng, trong đó doanh nghiệp tư nhân có vai trò quan trọng

Trang 19

1.1.4 Khái niệm thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là quá trình hoạt động có mục đích của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân làm cho các quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được thực hiện trong thực tế cuộc sống nhằm mục đích đảm bảo trật tự sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đảm bảo an ninh năng lượng

Như vậy, nói tới thực hiện pháp luật trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả là nói tới quá trình hoạt động hợp pháp của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm thực hiện pháp luật một cách thường xuyên, thống nhất, tự giác và nghiêm chỉnh của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Thực hiện pháp luật về sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng là một trong những hình thức thực hiện pháp luật nói chung Vì vậy, nó cũng được thong qua bốn hình thức cơ bản: Tuân thủ pháp luật; Thi hành pháp luật; Sử dụng pháp luật và Áp

dụng pháp luật

Tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sự

xử sự thụ động, là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình không thực hiện những hoạt động mà pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngăn cấm

Thi hành pháp luật trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với hành động tích cực trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Theo đó, các cá nhân, tổ chức sử dụng năng lượng trong các ngành, các lĩnh vực cụ thể phải có trách nhiệm chủ động thực hiện nghĩa vụ của mình theo các điều từ Điều 9 đến điều 36 Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Sử dụng pháp luật trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật sử dụng quyền năng

pháp lý (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) để bảo vệ các quyền và lợi

Trang 20

ích hợp pháp khác của mình trong cũng như của các chủ thể khác trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật liên quan đến xử lý hành vi trái pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Thông qua việc tìm hiểu về thực hiện pháp luật nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiêu quả như sau:

“Thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa những quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thành những xử sự thực tế, đáp ứng các nhu cầu chính đáng của các chủ thể pháp luật”

1.1.5 Đặc điểm thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Thông qua xem xét về khái niệm Thực hiện pháp luật về sử dụng điện năng, chúng ta có thể thấy nó có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, như chúng ta biết, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các

chủ thể pháp luật Như vậy, một chủ thể thực hiện pháp luật phải bằng hành vi hợp pháp, có thể là hành vi hành động hoặc không hành động nhưng phải làm đúng, làm

đủ, không trái với những quy định của pháp luật

Thứ hai, thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là

hoạt động đưa các quy phạm pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được thực hiện trên thực tế

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta xác định Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sẽ trở nên vô

Trang 21

nghĩa khi chúng ta không quan tâm đúng mức đến việc đưa nó vào thực hiện trong thực tiễn đời sống

Có thể nói rằng, hoạt động thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả sẽ đưa kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành vào cuộc sống, nghĩa là các quy phạm pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sẽ được các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trong thực tế cuộc sống

Như vậy, các quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên giấy tờ sẽ được hiện thực hóa trong đời sống thông qua hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Thứ ba, thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả luôn

đòi hỏi sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội Quá trình thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gồm nhiều hoạt động khác nhau, như: phổ biến giáo dục pháp luật; áp dụng pháp luật; tổ chức tiếp công dân; do đó nếu không có sự tham gia, phối hợp tốt giữa các ban, ngành, đoàn thể địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan thì sẽ không đạt được kết quả như kỳ vọng

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả

Theo đối tượng điều chỉnh của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng năng lượng tại Việt Nam theo từng lĩnh vực: Sản xuất công nghiệp; xây dựng, chiếu sáng công cộng; giao thông vận tải; cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; sản xuất nông nghiệp; dịch vụ và

hộ gia đình đều có trách nhiệm và phải thực hiện các biện pháp luật định sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Song song với trách nhiệm của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng năng lượng, Nhà nước cũng giao các cơ quan tương ứng với từng ngành, từng lĩnh vực phải thực hiện các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Trang 22

1.2.1 Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về sử dụng năng

lượng tiết kiệm và hiệu quả

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong phạm vi cả nước Bộ Công Thương chịu tránh nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo phân công của Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo phân cấp của Chính phủ Cụ thể:

 Trách nhiệm của Bộ Công Thương về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách, chương trình, kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và tổ chức thực hiện theo phân công của Chính phủ

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong hoạt động quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu năng lượng quốc gia

- Tham gia tuyên truyền, giáo dục pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo quy định của pháp luật

 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Trang 23

- Xây dựng kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách, kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại địa phương theo quy định của pháp luật

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong từng lĩnh vực:

- Trong sản xuất công nghiệp:

hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức sử dụng năng lượng áp dụng trong từng ngành sản xuất công nghiệp

- Trong hoạt động xây dựng:

+ Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương, bộ, cơ quan ngang bộ

có liên quan ban hành định mức về sử dụng năng lượng, quy chuẩn kỹ thuật về thiết

kế, thi công, vật liệu xây dựng nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

+ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung

là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm áp dụng đồng bộ các biện pháp quản

lý, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động xây dựng tại địa phương

+ Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng có trách nhiệm kiểm tra, xử lý kịp thời vi phạm quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với công trình xây dựng đang thi công, cải tạo; không cấp giấy phép xây dựng cho công trình xây dựng không tuân thủ định mức về sử dụng năng lượng, quy chuẩn kỹ thuật nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Trong chiếu sáng công cộng:

Trang 24

+ Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật, quy định về chiếu sáng công cộng bảo đảm yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

+ Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng trong chiếu sáng công cộng

+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy định về tiết kiệm điện trong chiếu sáng công cộng; Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện quản lý chiếu sáng công cộng theo thẩm quyền được phân cấp

- Trong hoạt động giao thông vận tải:

+ Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm: Áp dụng các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không; Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan xây dựng và ban hành theo thẩm quyền quy chuẩn kỹ thuật, định mức tiêu thụ năng lượng đối với phương tiện vận tải; Chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện loại bỏ phương tiện vận tải quá thời hạn sử dụng, không đạt mức hiệu suất năng lượng tối thiểu; Hướng dẫn doanh nghiệp vận tải hợp lý hóa hoạt động giao thông vận tải nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của phương tiện vận tải; Lập kế hoạch đầu tư, khai thác hệ thống giao thông công cộng, tăng cường

sử dụng mạng lưới giao thông đường sắt, đường thuỷ kết hợp vận tải đa phương thức; Kiểm tra việc tuân thủ định mức tiêu thụ năng lượng đối với phương tiện vận tải

+ Bộ Công thương hướng dẫn cơ sở sản xuất phương tiện vận tải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, định mức tiêu thụ năng lượng đối với phương tiện vận tải

+ Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ

có liên quan công bố tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng của phương tiện vận tải và nhiên liệu thân thiện môi trường sử dụng trong giao thông vận tải

+ Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: Áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng trong quy hoạch, phát

Trang 25

triển hệ thống giao thông vận tải tại địa phương; Tổ chức phân làn, phân luồng giao thông hợp lý; quy định giờ hoạt động của một số loại phương tiện, giảm thiểu ùn tắc giao thông nhằm tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường; Thực hiện các nhiệm

vụ khác về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong giao thông vận tải được phân cấp

- Trong sản xuất nông nghiệp:

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm: hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, hoạt động thủy lợi; giảm tổn thất điện năng và sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn Chủ trì, phối hợp với các bộ,

cơ quan ngang bộ có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng quy hoạch vùng trồng cây nguyên liệu cho sản xuất nhiên liệu sinh học trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: Chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch hệ thống thủy lợi tại địa phương; Chỉ đạo thực hiện quy hoạch vùng trồng cây nguyên liệu cho sản xuất nhiên liệu sinh học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Tăng cường quản lý, kiểm tra việc thực hiện các quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp [Điều 25]

- Trong hoạt động dịch vụ, hộ gia đình:

+ Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động dịch vụ, hộ gia đình

+ Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các quy định sau đây: Tuyên truyền, vận động cơ sở dịch vụ,

hộ gia đình thực hiện các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Quản lý việc thực hiện các quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của cơ sở hoạt động dịch vụ tại địa phương; Vận động hộ gia đình thực hiện mô

Trang 26

hình hộ gia đình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hưởng ứng các hoạt động về sử dụng

- Trong dự án đầu tư; cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước: + Hằng năm, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trực thuộc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bao gồm mục tiêu, biện pháp, định mức về sử dụng năng lượng đối với trụ sở làm việc, công trình xây dựng trực thuộc và báo cáo tình hình tiêu thụ năng lượng; xây dựng và thực hiện Quy chế tiết kiệm năng lượng nội bộ, bảo đảm vận hành phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

+ Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng được trang bị, mua sắm; thông báo danh sách cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước được khen thưởng hoặc bị xử lý vi phạm về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Đối với cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

+ Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải kiểm tra thường xuyên tình hình sử dụng năng lượng của cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; tổ chức tiếp nhận, lưu trữ báo cáo sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hằng năm và năm năm của các cơ sở theo quy định; Căn cứ báo cáo định kỳ về sử dụng năng lượng của cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm quy định tại Điều 33 của Luật này, yêu cầu, hướng dẫn cơ sở điều chỉnh kế hoạch hằng năm, kế hoạch năm năm về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, định mức sử dụng năng lượng cho phù hợp với kế hoạch sản xuất, kinh doanh của đơn vị; Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm không thực hiện quy định tại các điều 33, 34 và 35 của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các quy định khác của pháp luật có liên quan về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì bị xử lý theo quy định của pháp luật

- Trong việc quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng

Trang 27

+ Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sau đây đối với phương tiện, thiết bị: Xây dựng và công bố tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu của phương tiện, thiết bị

sử dụng năng lượng; Dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng; Công khai thông tin cần thiết về sử dụng năng lượng của phương tiện, thiết bị; Loại bỏ phương tiện, thiết bị dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu; Xử

lý các hành vi vi phạm

+ Việc xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu đối với phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: Thực hiện mục tiêu tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường; Phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế; Khuyến khích đầu tư nghiên cứu, sản xuất, cung cấp cho thị trường sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao, tiết kiệm năng lượng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố năm năm một lần tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu

+ Bộ Công thương có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng và lộ trình thực hiện; Quy định nội dung, quy cách nhãn năng lượng; Quy định phòng thử nghiệm

có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận thử nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng; Quy định trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị; Quy định việc công nhận nhãn năng lượng của phương tiện, thiết bị nhập khẩu

+ Việc quản lý phương tiện, thiết bị dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu phải loại bỏ theo danh mục và lộ trình do Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương và các bộ, cơ quan ngang

bộ có liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục và lộ trình phương tiện, thiết bị phải loại bỏ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trình độ khoa học và công nghệ của đất nước theo từng thời kỳ

Trang 28

1.2.2 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sử dụng năng lƣợng

 Trong sản xuất công nghiệp

- Cơ sở sản xuất công nghiệp gồm cơ sở sản xuất, chế biến, gia công sản phẩm hàng hoá; cơ sở chế tạo, sửa chữa phương tiện, thiết bị; cơ sở khai thác mỏ;

cơ sở sản xuất, cung cấp năng lượng

- Cơ sở sản xuất công nghiệp có trách nhiệm:

+ Xây dựng, thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hằng năm; lồng ghép chương trình quản lý năng lượng với các chương trình quản lý chất lượng, chương trình sản xuất sạch hơn, chương trình bảo vệ môi trường của

cơ sở;

+ Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức về sử dụng năng lượng đã được quy định; lựa chọn áp dụng quy trình và mô hình quản lý sản xuất tiên tiến, biện pháp công nghệ phù hợp và thiết bị công nghệ có hiệu suất năng lượng cao; sử dụng các dạng năng lượng thay thế có hiệu quả cao hơn trong dây chuyền sản xuất;

+ Áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiến trúc nhà xưởng nhằm sử dụng tối đa hiệu quả hệ thống chiếu sáng, thông gió, làm mát; sử dụng tối đa ánh sáng, thông gió tự nhiên;

+ Thực hiện quy trình vận hành, chế độ duy tu, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị trong dây chuyền sản xuất để chống tổn thất năng lượng;

+ Loại bỏ dần phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

 Trong hoạt động xây dựng

- Áp dụng các giải pháp quy hoạch và thiết kế kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên nhằm giảm tiêu thụ năng lượng sử dụng cho chiếu sáng, thông gió, làm mát, sưởi ấm

- Sử dụng vật liệu cách nhiệt phù hợp tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn nước ngoài về mức hiệu suất năng lượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, thừa nhận áp dụng nhằm hạn chế truyền nhiệt qua tường, mái nhà, cửa ra vào và cửa sổ

Trang 29

- Sử dụng và lắp đặt các phương tiện, thiết bị có hiệu suất năng lượng cao được thiết kế, sản xuất phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn nước ngoài về mức hiệu suất năng lượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, thừa nhận áp dụng

- Sử dụng hệ thống quản lý, điều khiển tự động để vận hành phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phù hợp với quy mô công trình

- Lắp đặt thiết bị đo lường điện, nhiệt, thiết bị khống chế nhiệt độ trong phòng và thiết bị kiểm soát hệ thống cung cấp điện, nhiệt tại các vị trí trong toà nhà phù hợp với điều kiện thời tiết và mục đích sử dụng

- Sử dụng vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng, vật liệu không nung, lắp đặt thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời, khí sinh học trong các công trình xây dựng

- Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với công trình xây dựng

 Trong chiếu sáng công cộng

Trách nhiệm của chủ đầu tư, người đứng đầu cơ sở quản lý hệ thống chiếu sáng công cộng

- Bảo đảm hệ thống chiếu sáng công cộng được thiết kế theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với từng công trình và khu vực chiếu sáng; ưu tiên sử dụng thiết

bị chiếu sáng hiệu suất cao, thiết bị chiếu sáng sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, tận dụng nguồn chiếu sáng tự nhiên;

- Khi sửa chữa, thay thế, lắp đặt mới thiết bị chiếu sáng công cộng phải sử dụng thiết bị chiếu sáng được xác định là sản phẩm tiết kiệm năng lượng;

- Vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng phù hợp theo thời gian trong ngày, theo mùa, vùng, miền

 Trong hoạt động giao thông vận tải

- Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tư vấn, thiết kế, đầu tư phát triển giao thông vận tải công cộng; sản xuất, sử dụng phương tiện giao thông

Trang 30

tiết kiệm năng lượng; khai thác và mở rộng ứng dụng khí hóa lỏng, khí thiên nhiên, điện, nhiên liệu hỗn hợp, nhiên liệu sinh học thay thế xăng, dầu

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ vận tải phải lựa chọn và thực hiện các biện pháp sau đây: Tối ưu hóa tuyến vận tải, phương tiện vận tải nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng; Xây dựng và áp dụng quy định về bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện giao thông vận tải thuộc phạm vi quản lý để giảm tiêu thụ nhiên liệu; Ứng dụng các giải pháp công nghệ, quản lý, tổ chức vận tải nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Chủ đầu tư, nhà thầu khi xây dựng, cải tạo công trình giao thông có trách nhiệm: thực hiện các giải pháp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của dự án đã được phê duyệt; Áp dụng các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong thi công công trình

 Trong sản xuất nông nghiệp

- Áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học, cải tiến công nghệ nhằm đạt hiệu suất năng lượng cao đối với thiết bị sản xuất, gia công, chế biến, bảo quản, vận chuyển sản phẩm nông nghiệp;

- Sử dụng thiết bị, công nghệ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong sản xuất, gia công, chế biến, bảo quản, vận chuyển sản phẩm nông nghiệp và phát triển ngành nghề;

- Loại bỏ theo lộ trình phương tiện, thiết bị, máy móc nông nghiệp, đánh bắt thủy sản có công nghệ lạc hậu, hiệu suất năng lượng thấp theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức, tư vấn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

 Trong hoạt động dịch vụ, hộ gia đình

- Chủ khách sạn, siêu thị, nhà hàng, cửa hàng, cơ sở vui chơi giải trí, thể dục, thể thao và các cơ sở hoạt động dịch vụ khác có trách nhiệm: Thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động xây dựng, chiếu sáng, quản lý phương tiện, thiết bị; Hạn chế sử dụng thiết bị công suất lớn, tiêu thụ nhiều điện năng vào giờ cao điểm trong chiếu sáng, trang trí, quảng cáo; Kiểm soát, duy tu,

Trang 31

bảo dưỡng phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng để giảm tổn thất năng lượng trong hoạt động dịch vụ

- Nhà nước khuyến khích hộ gia đình thực hiện các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sau đây: Thiết kế, xây dựng nhà ở có khả năng tận dụng ánh sáng và thông gió tự nhiên; Sử dụng vật liệu cách nhiệt, thiết bị gia dụng

là sản phẩm tiết kiệm năng lượng; tăng cường sử dụng phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo; Hạn chế sử dụng thiết bị điện công suất lớn, tiêu thụ nhiều điện năng vào giờ cao điểm; Xây dựng nếp sống, thói quen tiết kiệm năng lượng trong sử dụng thiết bị chiếu sáng và gia dụng

 Trong dự án đầu tư; cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước

- Trong dự án đầu tư từ vốn nhà nước, Chủ đầu tư dự án mới, dự án cải tạo

cơ sở hạ tầng, công trình xây dựng có sử dụng vốn nhà nước phải thực hiện các quy định của Luật này phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động và các quy định khác của pháp luật có liên quan về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong tất cả các

giai đoạn thực hiện dự án

- Người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, biện pháp thực hiện tiết kiệm năng lượng hằng năm; ban hành quy chế sử dụng năng lượng của cơ quan, đơn vị; Đăng ký kế hoạch sử dụng năng lượng với cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng tại địa phương; phổ biến

kế hoạch, biện pháp và quy chế thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức; Tổ chức kiểm tra, đánh giá và áp dụng hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trực thuộc cơ quan, đơn

vị trong việc thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng

 Đối với cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm ngoài việc thực hiện các quy định tại Luật SDNLTKHQ đối với lĩnh vực hoạt động có liên quan, cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm còn có trách nhiệm: Xây dựng và thực hiện kế hoạch hằng năm

và năm năm về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả phù hợp với kế hoạch sản xuất, kinh doanh; báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương kết quả

Trang 32

thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Xây dựng chế độ trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân liên quan đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Chỉ định người quản lý năng lượng theo quy định tại Điều 35 của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Ba năm một lần thực hiện việc kiểm toán năng lượng bắt buộc; Áp dụng mô hình quản lý năng lượng theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện quy định về

sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong xây dựng mới, cải tạo, mở rộng cơ

sở Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải thực hiện chế độ kiểm toán năng lượng bằng hình thức tự kiểm toán hoặc thuê tổ chức kiểm toán năng lượng thực hiện

 Quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng

- Phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng phải được dán nhãn trước khi đưa ra thị trường; Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị thực hiện việc dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng

- Các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp có phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng có mức hiệu suất năng lượng dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu phải loại bỏ theo danh mục và lộ trình do Thủ tướng Chính phủ ban hành

- Không sản xuất, nhập khẩu phương tiện, thiết bị có mức hiệu suất năng lượng dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu thuộc Danh mục phương tiện, thiết

Trang 33

trong tương lai đang là vấn đề hết sức cấp bách Chính vì vậy, để giảm sự phụ thuộc nguồn năng lượng nhập khẩu, việc phát triển năng lượng tái tạo và thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngày càng đóng vai trò quan trọng

Theo ước tính, chi phí bỏ ra để tiết kiệm 1kW giờ điện chỉ bằng một phần tư so với chi phí sản xuất thêm lượng điện năng đó Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tăng cường tính bắt buộc trong việc tuân thủ các quy định của Luật đối với các cơ sở sử dụng năng lượng, đặc biệt là cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Có cơ chế vay vốn linh hoạt, thủ tục đơn giản, dễ dàng cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng… Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, với mục tiêu hình thành thói quen tiết kiệm năng lượng, nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, luôn thực hành tiết kiệm năng lượng trong mọi thời điểm

Từ thực tế nêu trên cho chúng ta thấy rằng việc thực hiện pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có một số vai trò quan trọng thể hiện như sau:

1.3.1 Vai trò phát triển kinh tế - xã hội

Điện năng là sản phẩm thiết yếu đối với đời sống hàng ngày của con người Thị trường kinh doanh điện là một trong những thị trường có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế, xã hội của một quốc gia Do đó, năng lượng nói chung và điện năng nói riêng luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và quá trình sản xuất

Sự khan hiếm và thiếu hụt năng lượng là một trong những nguyên nhân lớn làm hạn chế việc nâng cao chất lượng cuộc sống và kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội

Đối với Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm khoảng 7.5%, tốc độ tiêu thụ điện tăng 14% năm Theo các nhà hoạch định chính sách năng lượng Việt Nam thì với tốc độ tăng trưởng kinh tế và điện năng đó, đến năm 2020, Việt Nam cần 200 tỷ kWh Cũng theo tính toán của các nhà hoạch định chính sách, nếu huy động tất cả các nguồn lực nội địa, thì cũng chỉ đạt được khoảng 165 tỷ kWh Trong đó, thủy điện - 58 tỷ kWh, nhiệt điện, khí đốt - 78 tỷ kWh, nhiệt điện than - 37 tỷ kWh, các nguồn năng lượng mới - 2 tỷ kWh Như vậy còn thiếu khoảng 35 tỷ kWh phải nhập khẩu Đứng về mặt an ninh năng lượng điều này không phải là giải pháp tối ưu, và

Trang 34

phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố thời tiết, trữ lượng các nguồn năng lượng hóa thạch Để đạt mục tiêu đề ra đến năm 2020 Việt Nam thành một nước công nghiệp

hóa, năng lượng phải là ngành mũi nhọn, đầu tàu của nền kinh tế

Biểu đồ dự đoán sự phát triển điện Việt Nam giai đoạn 2006 - 2025 tính theo

MW(Nguồn: Báo kinh tế Việt Nam 2008)

1.3.2 Vai trò đảm bảo trật tự an ninh năng lượng

Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả là một trong các giải pháp thiết thực và tối ưu đối với hoàn cảnh của đất nước ta Hiện nay việc sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả chính là sự quan tâm không chỉ của một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia mà là của toàn thế giới, vì năng lượng hiện nay do con người tạo ra phần lớn từ nguồn năng lượng hoá thạch của trái đất, những nguồn năng lượng đó không phải là vô tận mà còn gây ra ô nhiễm môi trường rất lớn làm biến đổi khí hậu toàn cầu, ảnh hưởng tới đời sống của hàng triệu con người

Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả có vai trò rất lớn đối với cuộc sống con người, nó quyết định sự tồn tại, phát triển và chất lượng cuộc sống con người Ngày nay, có thể thấy rõ các vấn đề khủng hoảng năng lượng thường có tác động rất lớn tới kinh tế và xã hội của các nước trên thế giới Do vậy, nhiều nước đã đưa vấn đề năng

Trang 35

lượng thành quốc sách, đặt thành vấn đề “an ninh năng lượng” đối với sự phát triển quốc gia Việc gia tăng khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên năng lượng như hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đã dẫn đến nguồn tài nguyên năng lượng không tái sinh như than, dầu lửa, khí đốt đang bị cạn kiệt Dân số toàn cầu hiện nay đã hơn 6 tỷ người Muốn duy trì sự phát triển của xã hội cần khai thác được các nguồn tài nguyên lớn trong đó có tài nguyên năng lượng Cần sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả để không phụ thuộc vào năng lượng nhập siêu nhằm đẩy mạnh việc phát triển kinh

tế, an ninh quốc phòng

Việc khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch có quy mô càng lớn thì càng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và làm gia tăng hiệu ứng nhà kính là một trong những nguyên nhân chủ yếu tác động đến môi trường, mà môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người Do vậy, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả có vai trò vô cùng to lớn

1.3.3 Giảm tiêu tốn năng lượng, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hạn chế gây ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường

Hiện tại, ở các nước phát triển tiên tiến, tiêu thụ năng lượng bình quân trên đầu người cao hơn 50 lần so với xã hội cổ đại và cao hơn 10 lần so với thời điểm trước cuộc cách mạng công nghiệp Thế nhưng từ giữa thế kỷ 20, nhu cầu sử dụng năng lượng tăng lên một cách nhanh chóng, đây là nguyên nhân khiến chúng ta không thể thờ ơ với vấn đề ô nhiễm môi trường trái đất Hơn nữa, dân số tăng lên càng làm tăng thêm lo lắng về sự cạn kiệt của tài nguyên năng lượng Để duy trì cuộc sống văn minh của mình, con người cần sử dụng năng lượng, nhưng đã đến lúc chúng ta cần phải xem xét lại mối quan hệ giữa năng lượng và môi trường Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên năng lượng do sự khai thác không hợp lí: cạn kiệt các nguồn tài nguyên năng lượng hoá thạch, gỗ, củi

Việc khai thác năng lượng sẽ gây tác động nhiều mặt đến môi trường đất, nước, không khí, thảm thực vật, cư dân bản địa Việc sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch làm gia tăng hiệu ứng nhà kính là một trong những nguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường trên Trái đất ở quy mô lớn Quá trình quang hợp của cây xanh lấy đi một phần CO2 trong không khí tạo nên các điều kiện khoa học tương đối

Trang 36

ổn định trên trái đất Hiệu ứng nhà kính được xác định chủ yếu do các khí gây ra như

CO2, CH4 N20, O3, CFC, dẫn đến hậu quả như ảnh hưởng đến nguồn nước, đến tài nguyên bờ biển, đến sức khỏe con người, ảnh hưởng lâm nghiệp, năng lượng Các nhà máy nhiệt điện là nguồn phát thải CO2 chính Ngoài ra còn thải ra khí thuỷ ngân và một số khí độc khác như SO2, NOx (nitrogen ôxít) Các nhà máy thủy điện có thể làm thay đổi sự cân bằng hệ động vật thủy sinh Các nhà máy điện hạt nhân phát triển sinh nguồn phóng xạ ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Vì vậy, sử dụng năng lượng nói chung và sử dụng điện nói riêng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là trách nhiệm cấp bách của mỗi cá nhân, tổ chức, địa phương, quốc gia mà là trách nhiệm của tất cả các quốc gia trên thế giới Sử dụng năng lượng,

sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề mang tính toàn cầu, đòi hỏi tất cả các quốc gia phải xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu chiến lược cũng như thực hiện các cam kết song phương và đa phương để cùng chung tay góp phần bảo vệ môi trường

1.3.4 Giảm chi phí sử dụng năng lượng

Thị trường kinh doanh điện là một trong những thị trường có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế, xã hội của một quốc gia Bên cạnh mục tiêu kinh doanh có lãi, bảo toàn vốn và tái đầu tư xây dụng công trình điện đảm bảo cung cấp điện cho 100% nhu cầu sử dụng điện của người tiêu dùng Ngành điện của tất cả các quốc gia còn có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động khách hàng sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả nhằm góp phần bảo vệ môi trường cũng như giảm áp lực cung ứng điện nhất là vào những giai đoạn cao điểm

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc sử dụng năng lượng, sử dụng điện đối với đời sống con người cũng như sự phát triển, kinh tế xã hội, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wildlife Fund) đã khởi xướng chương trình Giờ trái đất nhằm vận động cộng đồng thế giới nâng cao ý thức sử dụng điện tiết kiệm Theo đó, Quỹ Quốc tế bảo

vệ thiên nhiên đã vận động các hộ gia đình và cơ sở kinh doanh tắt đèn điện và các thiết bị điện không ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt trong một giờ đồng hồ vào lúc 8h30 đến 9h30 tối (giờ địa phương) ngày thứ bảy cuối cùng của tháng ba hàng năm Trong thời gian qua, EVN cũng đã triển khai hàng loạt chương trình nhằm đẩy mạnh thực

Trang 37

hiện các giải pháp tiết kiệm điện và các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức sử dụng điện một cách tiết kiệm và hiệu quả trên phạm vi cả nước như: Chương trình “Hộ gia đình tiết kiệm điện”; “Ấp, khu phố tiết kiệm điện”; “Giải pháp hỗ trợ Dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo mô hình ESCO”… Tất cả những chương trình này đều thể hiện rõ cam kết của EVN gắn việc phát triển bền vững doanh nghiệp với trách nhiệm bảo tồn tài nguyên quốc gia, bảo vệ môi trường

Như vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm tất yếu sẽ dẫn tới giảm chi phí sử dụng điện Quan trọng hơn hết, chi phí sử dụng điện tiết kiệm được là khoản chi phí không thật sự cần thiết mà cá nhân, tổ chức tiết giảm được khi không sử dụng lượng điện năng không cần thiết trong đời sống, sản xuất kinh doanh

1.3.5 Vai trò thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế

Hiện tại, ở các nước phát triển tiên tiến, tiêu thụ năng lượng bình quân trên đầu người cao hơn 50 lần so với xã hội cổ đại và cao hơn 10 lần so với thời điểm trước cuộc cách mạng công nghiệp Thế nhưng từ giữa thế kỷ 20, nhu cầu sử dụng năng lượng tăng lên một cách nhanh chóng, đây là nguyên nhân khiến chúng ta không thể thờ ơ với vấn đề ô nhiễm môi trường trái đất Hơn nữa, dân số tăng lên càng làm tăng thêm lo lắng về sự cạn kiệt của tài nguyên năng lượng Để duy trì cuộc sống văn minh của mình, con người cần sử dụng năng lượng, nhưng đã đến lúc chúng ta cần phải xem xét lại mối quan hệ giữa năng lượng và môi trường

Với nhu cầu năng lượng đáp ứng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế đang ngày càng tăng cao, đồng thời phải góp phần thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính cũng như bảo vệ môi trường, thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ và giữ vững hình ảnh Việt Nam là thành viên nghiêm túc, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, ngành năng lượng cần có chiến lược hợp tác

Việt Nam đã tham gia kí kết 11 văn kiện hợp tác năng lượng ASEAN, trong đó

có một số văn kiện quan trọng đã có hiệu lực như: Hiệp định an ninh dầu khí ASEAN, Biên bản ghi nhớ về hợp tác lưới điện ASEAN, Biên bản ghi nhớ hợp tác về đường ống dẫn khí xuyên ASEAN… Theo các chuyên gia, Việt Nam có thể sẽ vẫn duy trì những nhà máy nhiệt điện chạy than nhưng cần bổ sung vào sơ đồ điện nhiều hơn nữa những nhà máy điện chạy khí hóa lỏng, nhất là nguồn năng lượng từ mặt trời và gió

Trang 38

Cùng với những cam kết giảm thiểu đáng kể lượng khí thải nhà kính tại Hiệp ước Paris

về biến đổi khí hậu COP21, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo là một xu hướng tất yếu Đây cũng chính là mục tiêu phấn đấu trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam

1.4 Các yếu tố đảm bảo đến hiệu quả thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả

1.4.1 Chất lượng của văn bản pháp luật, hệ thống pháp luật

Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định, trong đó có quy tắc sử sự chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống

Văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa to lớn trong việc tạo ra tiền đề cần thiết

để thiết lập, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, một nguyên tắc hoạt động cơ bản của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Xây dựng được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ và kịp thời với kỹ thuật cao, quy định

rõ ràng, cụ thể, chính xác quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, công dân sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc thiết lập một trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [21, tr 356, tr 357]

Hệ thống pháp luật nói chung và ngành luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nói riêng để có thể được thực hiện nghiêm trong thực tế đòi hỏi phải có tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp

lý cao Thực tế là khi có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật mà có sự mâu thuẫn cả về số lượng, nội dung, chồng chéo với Luật; thậm chí, thực tế có nhiều văn bản chuyên ngành, văn bản dưới luật lại có giá trị áp dụng cao hơn Luật Điều này sẽ làm khó khăn, cản trở cho quá trình thực hiện pháp luật, dẫn đến tâm lý coi thường, mất niềm tin vào pháp luật, tạo điều kiện cho hành vi vi phạm pháp luật xảy ra

Sau khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm được ban hành, những vấn đề vướng mắc trước đây như: hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện các chương trình, chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Trang 39

thông qua ngân sách nhà nước; trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trợ giúp lĩnh vực doanh nghiệp tư nhân trong việc thúc đẩy các hoạt động tiết kiệm năng lượng đã được xác định minh bạch, các kế hoạch hợp tác của các nhà tài trợ quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ Nhiều dự án ODA trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính được các Bộ, ngành và địa phương xây dựng và triển khai

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá trình thực thi Luật SDNLTKHQ cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: việc tuân thủ luật còn chưa nghiêm, các đối tượng điều chỉnh chưa thực hiện đầy đủ quy định của Luật, Nghị định

và các văn bản hướng dẫn đã ban hành; nhận thức của cộng đồng và doanh nghiệp còn hạn chế, chưa sẵn sàng tiếp cận với thông tin về công nghệ và các giải pháp tiết kiệm năng lượng; việc thực hiện lộ trình dán nhãn năng lượng gặp một số khó khăn về cơ sở

hạ tầng thử nghiệm, thiếu hụt thiết bị thử nghiệm hiệu suất năng lượng

Để nâng cao việc thực hiện pháp luật về sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, về chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trước tiên cần tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung thêm nội dung của Luật cũng như các văn bản dưới luật, điều chỉnh theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay, tập trung trách nhiệm quản lý và giám sát của các

bộ ngành liên quan, tăng cường công tác kiểm toán năng lượng tại các doanh nghiệp Ngoài ra, trong Luật phải tăng tính bắt buộc thực hiện, có các chế tài xử phạt khi sử dụng năng lượng lãng phí cũng như biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp tham gia tích cực tiết kiệm năng lượng Cùng với đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả [40]

1.4.2 Trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng

Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Nền kinh tế-xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của các tầng lớp trong xã hội Ngược lại, nền kinh tế-xã hội chậm phát triển có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thực hiện pháp luật Yếu tố kinh tế là nền tảng của nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể Khi nền kinh tế phát

Trang 40

triển, đời sống nhân dân được cải thiện thì người dân sẽ tin vào đường lối phát triển kinh tế, chính sách pháp luật cũng như hoạt động của bộ máy cơ quan nhà nước Khi

đó, niềm tin của các chủ thể vào pháp luật sẽ theo chiều hướng tích cực, phù hợp với các quy định pháp luật Đồng thời, khi kinh tế phát triển, ngươi dân sẽ có điều kiện tiếp cận các thông tin, quy định pháp luật bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau; Các chương trình phổ biến pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo người dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị kiến thức pháp luật cũng sẽ tăng cao và trở thành viêc làm tự giác phục vụ nhu cầu của người dân Ngược lại, khi kinh tế kém phát triển, mức sống thấp con người chỉ quan tâm đến những nhu cầu thiết yết của bản thân; tư tưởng diễn biến phức tạp, các hành vi xấu, tiêu cực có điều kiện nảy sinh Điều này rất có khả năng dẫn đến những hành vi trái pháp luật, đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước

Đối với lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, yếu tố kinh phí cho công tác tiết kiệm năng lượng còn hạn chế nhất là việc thực hiện lộ trình dán nhãn năng lượng cũng gặp phải một số khó khăn, thách thức, do cơ sở hạ tầng thử nghiệm, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí còn hạn chế; sự thiếu hụt và không đồng bộ các tiêu chuẩn, thiết bị thử nghiệm hiệu suất năng lượng Đến hết tháng 6/2015, Bộ Công Thương đã chỉ định 5 phòng thử nghiệm trong nước và 2 phòng thử nghiệm nước ngoài đủ điều kiện thử nghiệm cho 10 sản phẩm theo Quyết định 51 của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng Tuy nhiên, hiện nay còn sản phẩm máy thu hình đã có tiêu chuẩn nhưng chưa có phòng thử nghiệm…[29]

1.4.3 Trình độ văn hóa, ý thức pháp luật

Trình độ văn hóa, ý thức pháp luật là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật Thực tế cho thấy, các cá nhân có trình độ văn hóa thấp, ít hiểu biết pháp luật, thiếu sự giáo dục thường có những hành vi bộc phát, mất bình tĩnh trong các quan hệ xã hội nói chung Hay nói cách khác, người có trình độ văn hóa cao hơn sẽ có

ý thức pháp luật cao hơn người có trình độ văn hóa thấp

Hiện nay, người dân đã biết và hiểu về vấn đề tiết kiệm năng lượng thông qua truyền thông cộng đồng, nhận biết được về nhãn năng lượng và hiểu về lợi ích tiết

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm