1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Đẩy Nhanh Quá Trình Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Huyện

155 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 4,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều quan trọng hơn là từ khi triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM đến nay, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGÔ ĐỨC TIÊN

ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

GIAI ĐOẠN 2015-2025

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGÔ ĐỨC TIÊN

ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn

mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015-2025” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi

Những tài liệu tham khảo đƣợc trích dẫn trong luận văn này, đƣợc trích dẫn

có nguồn gốc rõ ràng, theo đúng quy định

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

NGÔ ĐỨC TIÊN

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 16

1.1.KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 16

1.1.1 Khái niệm về nông thôn 16

1.1.2 Nguyên tắc phát triển nông thôn 19

1.1.3 Đo lường phát triển nông thôn: các tiêu chí 20

1.2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÔNG THÔN MỚI, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ NÔNG THÔN MỚI 25

1.2.1 Khái niệm nông thôn mới 25

1.2.2 Chức năng của nông thôn mới 26

1.2.3 Xây dựng nông thôn mới 27

1.2.4 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 28

1.3.KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TRONG NƯỚC 43

1.3.1 Huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam 43

1.3.2 Huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An 45

1.3.3 Huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định 47

Trang 5

Tóm tắt chương 1 48

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN THĂNG BÌNH TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 49

2.1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HUYỆN THĂNG BÌNH 49

2.1.1 Vài nét khái quát về lịch sử vùng đất Thăng Bình 49

2.2.THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 52

2.2.1 Tình hình triển khai xây dựng NTM ở Huyện Thăng Bình 52

2.2.2 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Thăng Bình tính đến tháng 12/2015 60

2.2.3 Đánh giá chung kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (2011-2015) của huyện Thăng Bình 67

2.2.4 Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết 73

Tóm tắt chương 2 75

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2016-2025 77

3.1.PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2016-2025 77

3.1.1 Phương hướng xây dựng 77

3.1.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình 78

3.1.3 Nhiệm vụ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới 78

3.2.NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 2016-2025 82

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách, hệ thống chỉ đạo, điều hành, quản lý thực hiện

chương trình xây dựng nông thôn mới 82

3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới 84

3.2.3 Kiện toàn hoạt động bộ máy các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cho xây dựng nông thôn mới 86

3.2.4 Hoàn thiện công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới 86

3.2.5 Vận dụng tính đặc thù của nông nghiệp nông thôn huyện Thăng Bình trong tổ chức triển khai xây dựng nông thôn mới và xây dựng bộ tiêu chí đo lường nông thôn mới 87

3.2.6 Đào tạo đội ngũ cán bộ tham gia chỉ đạo, thực hiện chương trình nông thôn mới và đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho dân cư nông thôn 88

3.2.7 Phát triển văn hóa xã hội – môi trường nông thôn 89

3.2.8 Phát triển phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn 90

3.2.9 Huy động nguồn lực trong xây dựng NTM 92

KẾT LUẬN 97

Trang 7

MTQG: Mục triêu quốc gia

MTQGXDNTM: Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

NTM: Nông thôn mới

OECD: Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế

PTNT: Phát triển nông thôn

SU: Seamaul Undong

TDP: Tổ dân phố

UBMTTQVN: Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam

UBND: Ủy ban nhân dân

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

WCARRD: Hội nghị thế giới về cải cách nông nghiệp và phát triển nông thôn WTO: Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài

Nhận thức được vai trò quan trọng ở các khía cạnh kinh tế - xã hội – an ninh – chính trị của khu vực nông thôn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách và giải pháp cụ thể để tái đầu tư vào khu vực nông thôn và thúc đẩy phát triển nông thôn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khẳng định vai trò, vị trí của khu vực nông thôn trong tiến trình phát triển và định hướng các chiến lược phát triển cho khu vực nông thôn đến năm 2020 Nhằm thí điểm thực tiễn, tạo cơ sở cho chỉ đạo xây dựng NTM, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 205-QĐ/TW ngày 30 tháng 12 năm 2008 về việc thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng NTM Ban Chỉ đạo đã xây dựng đề án 11 xã (Thanh Chăn (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), Tân Thịnh (Lạng Giang - Bắc Giang), Hải Đường (Hải Hậu - Nam Định), Gia Phổ (Hương Khê - Hà Tĩnh), Tam Phước (Phú Ninh - Quảng Nam), Tân Hội (Đức Trọng - Lâm Đồng), Tân Lập (Đồng Phú - Bình Phước), Định Hòa (Gò Quao - Kiên Giang), Mỹ Long Nam (Cầu Ngang - Trà Vinh), Tân Thông Hội (Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) và Thụy Hương (Chương Mỹ - Hà Nội) được chọn thí điểm xây dựng mô hình NTM đại diện cho các vùng kinh tế-văn hóa trên cả nước xây dựng thí điểm mô hình NTM Tiếp theo đó Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, bao gồm 19 tiêu chí; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 Chính phủ cũng thành lập Ban Chỉ đạo trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã chính thức ban hành và triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 01/12/2011 về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020 Sau 5 năm phát động chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông

Trang 9

thôn mới, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, đến nay Thăng Bình đã có 6 xã đạt chuẩn NTM được UBND Tỉnh công nhận Điều quan trọng hơn là từ khi triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM đến nay, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên đáng

kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua từng năm, kết cấu hạ tầng nông thôn như điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng khang trang, bộ mặt nông thôn đã có nhiều khởi sắc… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả rất quan trọng đã đạt được, việc thực hiện Chương trình của huyện Thăng Bình trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: Tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu; nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của Chương trình chưa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số xã chưa thường xuyên, sâu sát; các nội dung về phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức Nhiều xã đã chú trọng thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới, nhưng chưa chú trọng đúng mức thực hiện các nội dung ở cấp thôn và hộ gia đình; một số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm được bổ sung điều chỉnh, sửa đổi; còn có sự chênh lệch lớn về kết quả thực hiện giữa các vùng, miền Nguồn lực Trung ương và huy động nguồn lực xã hội cho Chương trình còn thấp nhiều so với yêu cầu thực tế, một số xã chạy theo thành tích nên có biểu hiện huy động quá sức dân, nợ đọng xây dựng cơ bản không có khả năng trả, hoặc khi đánh giá chất lượng tiêu chí còn xuê xoa; việc triển khai và vận dụng khi xây dựng các tiêu chí ở một số xã còn máy móc, kém hiệu quả, thậm chí gây lãng phí nguồn lực; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chậm phát huy hiệu quả như mong đợi

Từ những hạn chế trên, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu đánh giá, khảo sát thực tiễn, tìm ra giải pháp cụ thể để đẩy nhanh quá trình xây dựng, thực hiện hiệu quả, và phải có sự bền vững của chương trình xây nông thôn mới tại huyện Thăng Bình Vì vậy tác giả chọn đề tài “Đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 – 2025” làm luận văn thạc sĩ kinh tế

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng của quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện Thăng Bình giai đoạn 2011 - 2015, trên cơ sở đó rút ra những thành tựu, hạn chế, yếu kém và chỉ rõ những vấn đề cần giải quyết Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện

Để thực hiện mục tiêu này, đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể, bao gồm:

- Tổng hợp cơ sở lý luận về phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới;

- Nghiên cứu thực trạng xây dựng nông thôn mới của huyện Thăng Bình;

- Đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới của các xã thuộc huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 - 2025

3 Tổng quan nghiên cứu

Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần tộc người, về văn hóa, là nơi bảo tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con người Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước Việt Nam cho là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước Liên quan đến đề tài đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới, đã có nhiều công trình khoa học, giáo trình, sách tham khảo, các luận văn, các bài báo, tạp chí đề cập nhiều góc độ khác nhau

Đề cập đến vấn đề này có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước, điển hình là:

Dower (2001) đưa ra định nghĩa “phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương” Tiếp cận của Dower về phát triển nông thôn là toàn diện; Dựa vào cộng đồng và bền vững Phát triển nông thôn toàn

Trang 11

diện có ý nghĩa là: 1) cần nhấn mạnh vào khía cạnh xã hội-kinh tế và môi trường; 2) phát triển phải là cả “từ trên xuống” và “từ dưới lên” có nghĩa là phải bao trùm chính sách, tiền tệ và hỗ trợ của chính phủ (ở mọi cấp) và năng lực, tài nguyên và sự tham gia của người dân; 3) phải có sự tham gia của mọi khu vực (nhà nước, tư nhân, tình nguyện viên); và 4) phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác

Ladinis (2006) cho rằng quan điểm mới về phát triển nông thôn của cộng đồng Châu Âu thể hiện ở ba mục tiêu: 1) cải thiện năng lực cạnh tranh của nông lâm nghiệp bằng cách hỗ trợ tái cấu trúc, phát triển và đổi mới; 2) cải thiện môi trường

và cảnh quan nông thôn thông qua việc hỗ trợ quản lý đất đai; và 3) cải thiện chất lượng đời sống nông thôn và khuyến khích đa dạng hóa các hoạt động kinh tế

Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế OECD (United Nations, 2007) cho rằng phát triển nông thôn có ba phương diện: lãnh thổ, chủ đề phát triển và thời gian Về phương diện lãnh thổ, phát triển nông thôn là một khái niệm không gian Mỗi vùng lãnh thổ có sự khác biệt về các vấn đề khó khăn triển vọng cơ hội và các mục ưu tiên phát triển Về phương diện chủ đề phát triển, phát triển nông thôn là một khái niệm đa ngành Khái niệm này liên quan đến các vấn đề nhân khẩu học, kinh tế, xã hội và môi trường, và vì vậy, nhấn mạnh tầm quan trọng của tính tổng hợp theo chiều ngang, phối hợp giữa các ngành của các hoạt động và chính sách Về phương diện thời gian, phát triển nông thôn là một khái niệm mang tính động Vì vậy nó phải được hiểu trong một tiến trình trung hạn và dài hạn mang tính động về lịch sử

và được phản ánh ở các khía cạnh thay đổi công nghệ, kinh tế và xã hội

Cuốn sách “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của Frans Elltis đã nêu lên những vấn đề cở bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tiễn ở nhiều quốc gia châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh Cuốn sách đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa Điều đặc biệt đáng lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với

Trang 12

phát triển thương mại nông sản trên thế giới; đồng thời nêu lên mô hình thành công, thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân Theo Nimal (2008) thành quả của phát triển nông thôn là rất rõ ràng đối với các quốc gia Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á trong mấy thập kỷ vừa qua Đó là thành tựu về 1) tăng trưởng kinh tế chung của quốc gia và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn và 2) giảm nghèo một cách có ý nghĩa, nhất là ở khu vực nông thôn, được thể hiện ở hai khía cạnh nổi bật nhất, kể cả cho

hộ gia đình và vùng, cũng như quốc gia, và có thể đo lường một cách rõ ràng Chất lượng đời sống được cải thiện, đầu tiên là thu nhập của hộ, sự đa dạng hóa nguồn thu nhập của cư dân nông thôn, giảm sự lệ thuộc vào hoạt động nông nghiệp Tăng trưởng kinh tế thành công của khu vực nông thôn sẽ góp phần đáng kể vào sự ổn định và tăng trưởng kinh tế ở cấp độ vùng và quốc gia Vì người nghèo tập trung ở nông thôn, tăng trưởng kinh tế cũng có nghĩa là làm giảm được tỷ lệ người nghèo nói chung, cũng như người nghèo ở nông thôn Điều này là hiển nhiên ở các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Dự án MISPA 2006 với vấn đề “Lý luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới

xã hội chủ nghĩa” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng đã nghiên cứu vấn đề xây dựng nông thôn mới XHCN ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh Từ sự hình thành khái niệm, bối cảnh, nội hàm, ý nghĩa thực hiện của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN Công trình tổng hợp ý kiến nhiều chiều của các học giả trong nước trên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như hệ thống lý luận xây dựng NTM XHCN; mục tiêu, tiêu chuẩn đánh giá và hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN; hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng khu vực: Phạm vi, trọng điểm và phương án xây dựng NTM; lý thuyết, nguyên tắc, phương pháp và sự đảm bảo thực hiện các kế hoạch xây dựng NTM; thể chế quản lý, cơ chế trao vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu ích kinh

tế, cơ chế giám sát và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng NTM… Nhìn chung, kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích khi tiếp cận đến kinh nghiệm của các quốc gia trong quá trình xây dựng NTM

Trang 13

Tại Việt Nam, nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới đã được đưa vào giáo trình giảng dạy trình độ đại học (Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn; Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam; …); nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học về xây dựng nông thôn mới đã được đăng tải, đóng góp ý nghĩa khoa học và thực tiễn cho các địa phương đang triển khai NTM

Nguyễn Văn Bích, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới – Quá khứ và hiện tại đã nhìn nhận một cách khá toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta trong thế kỷ XX, nhất là 20 năm đổi mới Trong đó, nội dung nghiên cứu được kết cấu theo các giai

đoạn: thứ nhất, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam dưới chế độ thuộc địa, nữa phong kiến (1901-1945); thứ hai, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ khi ra đời nước

Việt Nam dân chủ cộng hòa đến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

(1945-1975); thứ ba, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau ngày giải phóng miền Nam,

thống nhất đất nước, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của

CNXH (1976-1986); thứ tư, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới

(1986-2006) Cuốn sách đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt đã nêu được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng

Vũ Trọng Khải trong cuốn sách “Phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay những trăn trở và suy ngẫm” đã phân tích, đánh giá đúng tác động và khiếm khuyết của các chính sách vĩ mô về nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ đó đề ra những nội dung cần phải thay đổi cho phù hợp với quy luật phát triển cũng như những đòi hỏi của thực tiễn sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay Tác giả đã lý giải tại sao nhiều chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước lại chưa thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống như mong muốn, để

từ đó đề xuất những nội dung giải pháp quản lý mới trong phát triển nông nghiệp,

Trang 14

nông thôn Trong phần tổng quan thực tiễn xây dựng nông thôn mới, tác giả đã khái quát như sau:

- Mục tiêu và nội dung xây dựng nông thôn mới được thể hiện qua 19 tiêu chí theo quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

- Địa bàn xây dựng nông thôn mới là đơn vị hành chính xã

- Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số cơ chế, chính sách thúc đẩy xây dựng nông thôn mới Chính quyền từ trung ương đến tỉnh (thành phố)

và huyện đã chọn một số xã làm thí điểm với sự tài trợ nguồn lực khá lớn từ ngân sách nhà nước cấp và huy động một phần đóng góp của dân cư nông thôn, chủ yếu

là góp đất và công lao động, để xây dựng các công trình công cộng

- Về tổ chức, các cấp chính quyền từ trung ương đến xã đều lập ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới

- Về nguồn lực, trên lý thuyết, việc xây dựng nông thôn mới chủ yếu dựa vào nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn, ngân sách nhà nước chỉ có vai trò hỗ trợ,

vì đó là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân và nông dân là chủ thể của quá trình phát triển Nhưng trên thực tế, việc xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm chủ yếu dựa vào nguồn lực từ bên ngoài cộng đồng dân cư nông thôn, trước hết là từ ngân sách nhà nước cấp

- Kết quả: sau 5 năm xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm, điều dể dàng nhìn thấy là các công trình kết cấu hạ tầng, như đường sá, kênh mương, nhà văn hóa, chợ, trường học… đã được xây dựng tương đối khang trang Nhưng kết quả nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân về vật chất, văn hóa và môi trường sống lại chưa được thể hiện rõ nét Nhận thức và hành vi ứng xử của người dân trong sản xuất và đời sống chưa có sự thay đổi rõ rệt theo hướng văn minh và hiện đại Hơn nữa trên phạm vi quốc gia, những vấn đề mới lại nãy sinh hết sức bức xúc như: nông dân bỏ ruộng ngày càng nhiều, lợi tức của họ thu được từ sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng, lợi tức của họ thu được từ sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng, đời sống phần lớn nông dân ngày càng khó khăn, khoảng cách thu nhập của dân cư giữa thành thị và nông thôn ngày càng mở rộng, ô nhiễm

Trang 15

môi trường ngày càng nghiêm trọng, văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam đang bị mai mọt rõ nét Vì vậy, các điển hình xây dựng nông thôn mới cấp xã hầu như không có khả năng nhân ra diện rộng Đó là kết quả rõ nét nhất

Chu Tiến Quang trong cuốn sách “Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn – thực trạng và giải pháp”, tác giả đã khảo cứu tình hình huy động và phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Quảng Nam, ngoài những thành tựu cơ bản đạt được, Quảng Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế như cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm; hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; chưa khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh của địa phương Việc huy động và phân bổ các nguồn lực cho mục tiêu phát triển và tạo việc làm vẫn còn gặp phải nhiều cản trở Đời sống của người dân nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi cao còn gặp nhiều khó khăn Trong phần nhận xét chung về thực trạng sử dụng các nguồn lực đất đai, lao động và vốn ở huyện Thăng Bình, tác giả có nêu ra một số vấn đề:

- Về thực trạng sử dụng đất đai tại huyện Thăng Bình: một là, tình trạng thiếu

đất và bị phân chia manh mún đang là một cản trở rất lớn đối với sản xuất hàng hóa

quy mô lớn hơn; hai là, những hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

gặp khó khăn trong các quan hệ chuyển đổi, chuyển nhượng vì mỗi hộ chỉ được cấp một sổ trong đó ghi tất cả các mảnh, thửa mà không rõ địa danh, kích thước và hạng

đất từng mảnh; ba là, quỹ đất nông nghiệp hiện nay cằn cõi, trong khi thủy lợi chưa

phát triển, địa hình hiểm trở nên khó sử dụng đất đai có hiệu quả, nhất là ở vùng trung du và miền núi Người nông dân chỉ biết làm thủy lợi để trồng lúa nước mà không tính đến phải trồng cây gì vừa không yêu cầu nhiều nước, vừa có giá trị kinh

tế cao; bốn là, dân số làm nông nghiệp quá đông, năng suất lao động quá thấp nên sức ép về thiếu đất canh tác luôn là vấn đề thường trực; năm là, một số xã của

huyện chưa có quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là một cản trở lớn đối với định

hướng sản xuất của các hộ; sáu là, tỉnh đã có nhiều chủ trương chuyển đổi cây

trồng, nhưng do thiếu nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết trước khi đưa ra đại trà

nên đã không thu được kết quả theo ý muốn, và làm mất lòng tin với nông dân; bảy

Trang 16

là, luật đất đai chưa được phổ biến rộng rãi đến người dân vùng cao, người dân vẫn

còn sử dụng đất đai theo tập tục, cha truyền lại cho con, đời trước truyền lại cho đời sau, chưa quan tâm đến sử dụng đất như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao

- Về thực trạng sử dụng nguồn lực lao động ở huyện Thăng Bình: một là, xét

về chất lượng và số lượng thì huyện Thăng Bình vừa thừa và vừa thiếu lao động;

hai là, sức hút lao động vào các doanh nghiệp trên địa bàn còn rất hạn chế, họ cần

lao động có tay nghề trong khi lao động tại chỗ lại không được đào tạo đủ kỹ năng;

ba là, tình trạng dân trí thấp ở vùng cao là một cản trở lớn đến phát huy các cơ hội

tạo việc làm tại chỗ, cho dù việc làm đó không tạo ra thu nhập bằng tiền mà tạo ra các sản phẩm tiêu dùng tại chỗ

- Về thực trạng huy động và sử dụng vốn: một là, vốn nhàn rỗi vẫn chưa được

sử dụng tối đa vào sản xuất kinh doanh Ở huyện nhiều người dân còn hiện tượng

cất giữ tiền mặt tại nhà mà chưa đưa vào gửi tiết kiệm ngân hàng để lưu thông; hai

là, người dân, nhất là các hộ nghèo thường tự ty, dè dặt trong việc tiếp cận vốn vay

từ ngân hàng do chưa hiểu và nắm rõ thông tin về vốn vay Đa số các hộ nghèo chưa tìm ra cách sử dụng vốn vay như thế nào cho vốn phát triển, vừa trả được nợ, vừa có lời Một bộ phận hộ nghèo còn lười lao động, không tự chủ sản xuất, không muốn vay vốn Trong gia đình một bộ phận hộ có người sa vào tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc…làm mất vốn Một bộ phận chây ì, ỷ lại, không có ý thức tự giác hoàn trả vốn vay, tạo ra tâm lý tiêu cực đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng Nguyễn Thị Tố Quyên, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020” đã đề cấp đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trước những bối cảnh, cơ hội và thách thức trong mô hình tăng trưởng kinh tế Trong đó, lý thuyết về nông nghiệp, nông

thôn đã được phân tích qua ba trường phái chính, đó là: thứ nhất, đề cao vai trò của

nông nghiệp, coi nông nghiệp là cơ sở hay tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa;

thứ hai, với quan điểm tiến thẳng vào công nghiệp hóa, đô thị hóa; thứ ba, với tư

tưởng kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp và công nghiệp, nông thôn và đô thị trong quá trình phát triển

Trang 17

Nguyễn Văn Bích, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới – quá khứ và hiện tại”, tác giả đã phân tích những sự thay đổi

cơ bản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam sau hơn hai mươi năm đổi mới

Đặng Kim Sơn, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”, tác giả đã nêu lên thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển

Trần Tiến Khai, trong cuốn sách “Phát triển nông thôn bền vững cho Việt Nam: Nhìn từ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế”, tác giả cho rằng trong quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, bên cạnh những thành công nhất định, cũng có những vấn đề về phương diện lý luận nảy sinh trong thực tiễn thực hiện, đòi hỏi được xem xét một cách cẩn trọng vì chúng tác động đến toàn bộ hệ thống lý luận cho xây dựng nông thôn mới, hay nói cách khác,

là nền tảng lý thuyết phát triển của phát triển nông thôn, và từ đó tác động đến phương thức tổ chức thực hiện, động cơ tham dự của các bên liên quan trong tiến trình xây dựng nông thôn mới Có thể nhận dạng bốn vấn đề mang tính cốt lõi như

sau: thứ nhất, bản chất và đặc trưng của nông thôn mới Ở đây, nổi rõ lên một số

câu hỏi chưa được làm rõ về phương diện lý luận và có đầy đủ cở sở khoa học Nông thôn mới là gì? Mục tiêu phát triển nông thôn mới là gì? Những nền tảng khoa học nào là cơ sở phù hợp cho xây dựng nông thôn mới hiện nay trong bối cảnh

đặc trưng về thể chế của xã hội Việt Nam và nông thôn Việt Nam? thứ hai, tiếp cận

trong xây dựng nông thôn mới Xây dựng NTM nên được tiếp cận từ trên xuống, hay từ dưới lên? Nói cách khác, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương đóng vai trò quyết định đối với tiền trình xây dựng nông thôn mới hay cộng

đồng cư dân nông thôn là người có vai trò quyết định? Thứ ba, nguồn lực cho xây dựng NTM; Thứ tư, làm sao đo lường được khái niệm NTM Cuốn sách giúp chúng

Trang 18

ta tìm hiểu và trả lời những băn khoăn cụ thể của bốn vấn đề trên, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng được cho bối cảnh phát triển nông thôn Việt Nam nói chung và chính sách xây dựng NTM nói riêng

Vũ Văn Phúc, trong cuốn sách “Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn” với nhiều bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về những khía cạnh đa dạng của việc xây dựng nông thôn mới: vấn đề quy hoạch, an sinh xã hội, chính sách đất đai, bảo vệ môi trường đất đai đặc biệt nhiều bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan về vấn đề này Từ đó giúp Việt Nam có cách nhìn nhận để nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước Cuốn sách cũng đã tổng hợp nhiều bài viết mang tính thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh của nước ta Đối với vấn đề xây dựng nông thôn mới của cả nước nói chung và tại huyện Thăng Bình nói riêng, tác giả sử dụng tài liệu tham khảo từ các bài báo khoa học, luận văn thạc sỹ đã được thực hiện trong thời gian gần đây như:

Luận văn thạc sỹ của Ngô quang Huy (2014) đề tài “Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay” Kết quả nghiên cứu chỉ

ra thực trạng thực hiện vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của chính quyền cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thơn mới ở địa phương hiện nay Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Tiến (2015) với đề tài “Giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay” Kết quả nghiên cứu chỉ

ra một số kinh nghiệp thực tiễn trong việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới; đưa ra một số giải pháp có thể huy động cao nhất nguồn lực hiện có vào xây dựng nông thôn mới hiện nay

Theo bài nghiên cứu của KS Nguyễn Văn Diện trong kết quả nghiên cứu các

đề án VNRP của Chương trình Cao học Việt Nam – Hà Lan với đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trên vùng đất nhiễm phèn mặn ngoại lai phía Đông tỉnh Long An, kết quả của bài viết tác giả đưa ra kết luận: Phát triển kinh tế

Trang 19

nông thôn luôn luôn là một vấn đề khó khăn của Việt Nam, bởi vì gắn với nông thôn và nông nghiệp, một ngành sản xuất chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện thiên nhiên-điều kiện mà con người khó kiểm soát được; bởi vì gắn với nông thôn Việt Nam là người nông dân (tuy cần cù, chịu khó nhưng còn nhiều hạn chế về trình

độ khoa học kỹ thuật); nông thôn luôn là mảnh đất có nhiều tính bảo thủ, nhiều tâm

Các bài báo khoa học “Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Vũ Văn Phúc – Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản (2011);

“Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới trên địa bàn TP Hồ Chí Minh: Thực trạng và các giải pháp” của TS Trần Văn Thận; “Một số kinh nghiệm bước đầu trong xây dựng nông thôn mới của Nam Định” của Nguyễn Viết Hưng; “Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn: Giải pháp cho chuyển dịch cơ cấu lao động ở các xã nông thôn mới” của Lữ Quang Ngời; “Xây dựng nông thôn mới: Kinh nghiệm của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” của Nguyễn Phương Ly;

“Xây dựng nông thôn mới: Những bài học rút ra từ thực tiễn” của Nguyễn Thị Bích Điệp; “Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam một số vấn đề đặt ra và kiến nghị” của Đỗ Thị Kim Chung và Kim Thị Dung; “Xây dựng nông thôn mới phát huy nội lực người dân và vai trò cấp xã” của Tăng Minh Lộc; “Xây dựng nông thôn mới của

Trang 20

Nhật Bản và một số gợi ý cho Việt Nam” của Nguyễn Thành Lợi”; “Một số giải pháp để mô hình nông thôn mới đạt kết quả cao” của Lưu Đức Khải; “Giải pháp xây dựng nông thôn mới đến năm 2010” của Lã Văn Lý Các bài báo đã cung cấp những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cao trong việc đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới của Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

Như vậy, tổng hợp những công trình nghiên cứu trên, những vấn đề đã nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới là những tài liệu tham khảo quan trọng để định hướng cho vấn đề nghiên cứu và xây dựng cơ sở

lý luận cho đề tài Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề xây dựng nông thôn mới của huyện Thăng Bình, qua tìm hiểu của tác giả, trong thời gian gần đây, chưa được thực hiện, hoặc nếu có, đã được thực hiện chỉ một góc cạnh khác Vì vậy, đề tài

“Đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015-2025” là nghiên cứu mới và phù hợp với định hướng phát triển của địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Quá trình xây dựng nông thôn mới huyện Thăng Bình Các chủ thể tham gia quá trình xây dựng nông thôn mới bao gồm các hộ nông dân, cán bộ các cấp, các tổ chức chính quyền và đoàn thể thuộc huyện Thăng Bình Đây cũng là đối tượng để tác giả khảo sát khi thực hiện luận văn

b Phạm vi nghiên cứu

Huyện Thăng Bình là một huyện thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia về NTM, nhưng ở một khía cạnh nào đó vẫn còn nhiều bất cập, nhiều tồn tại mà cần phải có giải pháp đột phá để hoàn thành mục tiêu của chương trình Vì thế qua quá trình nghiên cứu và tham khảo học viên quyết định chọn Huyện Thăng Bình để phục vụ cho nghiên cứu của mình

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Thăng Bình,

tỉnh Quảng Nam

Trang 21

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 2011-2015;

nghiên cứu giải pháp cho giai đoạn 2016-2025

5 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp luận

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin:

- Phương pháp biện chứng duy vật: khi xem xét các đối tượng nghiên cứu,

phải trên cơ sở xem xét mối liên hệ giữa chúng với nhau, sự tác động lẫn nhau trong

một quá trình không ngừng phát triển

đảm bảo tính logic thống nhất với lịch sử; đòi hỏi việc nghiên cứu vừa phải xem xét các đối tượng nghiên cứu trong các giai đoạn phát triển của chúng, vừa phải tìm ra

cái chung chi phối sự phát triển đó

b Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả: mô tả các vấn đề trong nghiên cứu, cung cấp cái nhìn

tổng quan về nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện

Thăng Bình, xác định kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại và xác định nguyên nhân

- Nghiên cứu tương quan: đúc kết kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát

triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới để tham khảo khi xây dựng các nhóm giải pháp

- Nghiên cứu định tính: nghiên cứu trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và

điều kiện tự nhiên cụ thể của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

đề nghiên cứu, đưa ra được những giải pháp khả thi tác động trực tiếp vào những vấn đề nghiên cứu nhằm thực hiện hóa mục tiêu nghiên cứu đặt ra

- Nguồn số liệu: để phân tích thực trạng, đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Niên

giám thống kê Huyện Thăng Bình; các báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng năm của Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; các báo cáo tổng kết, kết quả đạt được 19

Trang 22

tiêu chí nông thôn mới của huyện Thăng Bình; các kế hoạch trung hạn thực hiện chương trình nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 của huyện Thăng Bình; Kết quả phỏng vấn các Phó Chủ tịch Huyện, Phó Chủ tịch xã trực tiếp phụ trách chương trình xây dựng nông thôn mới

so sánh, phân tích dữ liệu; Phóng vấn trực tiếp các đối tượng khảo sát

- Công cụ phân tích, xử lý dữ liệu: số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm

Microsoft Excel và thực hiện phân tích thông qua kết quả đã được xử lý

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu chính của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới

- Chương 2: Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Thăng Bình giai đoạn 2011-2015

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình giai đoạn 2016-2025

Trang 23

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN,

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Chương này tập trung trình bày cơ sở khoa học về phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam, cũng như nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới Chương thảo luận chủ yếu về các khái niệm: nông thôn, phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới; các tiêu chí đo lường phát triển nông thôn; nguyên tắc của phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới Chương cũng trình bày kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số quốc gia và huyện điểm trong nước

1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Có hai cách hiểu về khái niệm nông thôn Cách hiểu thứ nhất cho nông thôn là một khái niệm lãnh thổ Cách hiểu thứ hai cho rằng nông thôn là một khái niệm đại diện về xã hội, là một cộng đồng có chung lợi ích, có chung văn hóa hay là cách sống Nông thôn thường được phân loại dựa trên quy mô dân số, mật độ dân số, bối cảnh cư trú và bối cảnh thị trường lao động Hầu hết các quốc gia phát triển như Canada, Hoa Kỳ, châu Âu đều áp dụng khái niệm lãnh thổ để định nghĩa nông thôn,

và đã xây dựng các hệ thống phân loại chi tiết để phân vùng nông thôn trong phạm

vi quốc gia của họ Tiêu chí cơ bản để phân định một vùng là “nông thôn” là có mật

độ dân số thấp Với các quốc gia thuộc nhóm OECD, nông thôn là vùng cộng đồng địa phương có mật độ dân cư dưới 150 người/km2 (ở Nhật Bản là dưới 500 người/km2) Tuy nhiên, trong phân loại chi tiết, các quốc gia thành viên OECD thường áp dụng bốn tiêu chí: quy mô dân số; mật độ dân số; mức độ tập trung của các khu vực đô thị - trung tâm thị trường lao động và tỷ trọng của nông nghiệp Ngược lại, dường như chưa có một định nghĩa cụ thể về nông thôn ở các nước đang phát triển và cũng chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí cụ thể cho khái niệm này Mặc dù vậy, nhìn chung, nông thôn được hiểu một cách rộng rãi như là các vùng không gian lãnh thổ có đặc trưng chung là quy mô dân số thấp và mật độ dân

Trang 24

cư thấp, sống trong một không gian mở Hoạt động kinh tế chủ yếu của nông thôn liên quan đến các ngành sản xuất cơ bản như lương thực và nguyên liệu Nông thôn

có nhiều đặc trưng khác biệt với thành thị ở các khía cạnh tự nhiên, nghề nghiệp, kinh tế, xã hội Có thể thấy nông thôn có các tính chất tổng quát sau đây:

1) Đặc trưng dân số Nông thôn có quy mô dân số thấp và mật độ dân số thấp Dân cư sống rải rác, thưa thớt

2) Đặc trưng không gian lãnh thổ Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn, bao gồm nhiều vùng địa lý đa dạng

3) Đặc trưng điều kiện tự nhiên Nông thôn là vùng không gian mở, rộng lớn,

có tính chất đa dạng về các điều kiện tự nhiên như đất, nước, rừng, khí hậu, sinh cảnh, môi trường Nông thôn là nơi lưu giữ nguồn tài nguyên tự nhiên sinh học và khoáng sản, có tính đa dạng sinh học cao, có tính phong phú về sinh thái và có cảnh quan tự nhiên đẹp

4) Đặc trưng hoạt động kinh tế chủ yếu ở khu vực nông thôn là sản xuất nông nghiệp và gắn chặt với các điều kiện tự nhiên Hoạt động nông nghiệp bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp Mặc dù ở nông thôn các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp vẫn có tầm quan trọng, nhưng sinh kế chủ yếu của cư dân nông thôn vẫn gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp

5) Đặc trưng thu nhập của cư dân nông thôn thấp so với thành thị do hoạt động kinh tế kém đa dạng và có tính rủi ro cao, lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Tính chất việc làm kém đa dạng, chủ yếu xoay quanh các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản phẩm, khai thác khoáng sản và các hoạt động dịch vụ, thương mại hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn

và thành thị còn khá lớn

6) Đặc trưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như hệ thống giao thông, bến cảng, kho bãi, cơ sở hạ tầng viễn thông, liên lạc ở vùng nông thôn nhìn chung còn kém phát triển so với thành thị

7) Đặc trưng cơ sở hạ tầng xã hội ở nông thôn cũng kém phát triển so với khu vực thành thị Hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công cho giáo dục và chăm sóc sức

Trang 25

khỏe còn nhiều hạn chế Do đó, mặt bằng dân trí, giáo dục ở nông thôn và khả năng chăm sóc sức khỏe cho cư dân nông thôn cũng kém phát triển so với thành thị 8) Đặc trưng văn hóa nền tảng của nông thôn là văn hóa mang tính truyền thống và bản địa Nông thôn vì tính chất cách ly tương đối với thế giới xung quanh nên gìn giữ được các phong tục, tập quán cổ truyền, duy trì lối sống và đặc trưng văn hóa – xã hội truyền thống

Các đặc trưng của nông thôn cũng thay đổi tùy theo trình độ phát triển của từng khu vực, từng quốc gia hay từng vùng miền cụ thể Ở các nước phát triển, nhờ vào sự tái đầu tư mạnh mẽ của các chính phủ vào khu vực nông thôn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp và đa dạng hóa việc làm thông qua tác động lan tỏa của công nghiệp hóa, sự khác biệt giữa nông thôn - thành thị thu hẹp dần, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn – thành thị giảm, thậm chí cân bằng Ngược lại, nông thôn lại có lợi thế về môi trường, sinh thái và cảnh quan tự nhiên, và duy trì được văn hóa truyền thống, văn hóa bản địa nên lại tạo ra được nền tảng cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Trong khi đó, ở các quốc gia đang phát triển, tiến trình đô thị hóa ngày càng mạnh hơn gắn liền với phát triển công nghiệp Nguồn lực quốc gia được tập trung chủ yếu cho phát triển công nghiệp Vì vậy, còn tồn tại khoảng cách lớn giữa nông thôn và thành thị về cơ sở hạ tầng, dân trí, chăm sóc sức khỏe, thu nhập và sự đa dạng việc làm Từ đó, tạo ra sự chênh lệch về phát triển giữa hai khu vực này

Ngay cả ở các quốc gia thuộc nhóm OECD, sự chênh lệch giữa nông thôn – thành thị vẫn còn diễn ra Vùng nông thôn OECD vẫn còn bị tụt hậu so với thành thị trên nhiều phương diện Thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp hơn mức trung bình quốc gia, năng lực kinh tế thấp do nhiều yếu tố tác động như: 1) dân số già đi và di dân; 2) mặt bằng giáo dục thấp hơn; 3) năng suất lao động thấp và 4) dịch vụ công kém

Chính vì vậy, làm thu hẹp dần khoảng cách nông thôn – thành thị ở các mặt kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thu nhập – việc làm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ

Trang 26

công và nâng cao đời sống của cư dân nông thôn là mục tiêu của phát triển nông thôn

1.1.2 Nguyên tắc phát triển nông thôn

Theo các định nghĩa hiện đại về phát triển nông thôn, phát triển nông thôn được nhìn nhận như là một phức hợp của những vấn đề phát triển về kinh tế, xã hội – văn hóa, môi trường và thể chế mà các mặt phát triển này đan chéo nhau và tương tác lẫn nhau một cách phức tạp Phát triển nông thôn cũng phải bảo đảm nguyên tắc của phát triển bền vững, và lấy con người làm trung tâm

Nguyên tắc bền vững đòi hỏi phát triển nông thôn phải có tăng trưởng về kinh

tế, nhưng thành quả của tăng trưởng phải được chia sẻ hài hòa và công bằng cho tất

cả thành viên của cộng đồng nông thôn Đồng thời, việc khai thác và sử dụng tài nguyên cho phát triển phải hợp lý, bảo vệ được môi trường tự nhiên và phải bảo đảm khả năng sử dụng tài nguyên của các thế hệ tương lai

Nguyên tắc lấy con người làm trung tâm đòi hỏi có nhận thức đúng đắn về vai trò chủ thể của cộng đồng cư dân nông thôn trong tiến trình phát triển Cộng đồng

cư dân nông thôn vừa là người chủ của tiến trình phát triển, vừa là người thực thi các giải pháp phát triển nông thôn và cũng là người thụ hưởng thành quả của phát triển nông thôn Nói cách khác, chủ thể của phát triển nông thôn chính là cộng đồng

cư dân nông thôn Vì vậy, phát triển nông thôn cũng là tiến trình có sự tương tác chặt chẽ giữa các thể chế nhà nước, thể chế địa phương và cư dân nông thôn, mà sự tương tác này cho phép chia sẻ quyền lực một cách công bằng và hợp lý và tôn trọng quyền làm chủ của cư dân nông thôn

Dower (2001) đưa ra bốn nguyên tắc bền vững của phát triển nông thôn: bền vững về con người, về kinh tế, môi trường và tổ chức

Con người Để bền vững, phát triển phải tuân theo các nguyên tắc

Trang 27

- Hành động của người dân trong hợp tác với Chính phủ; và

- Tôn trọng đối với tổ tiên, và quyền lợi của những người chưa sinh ra

Kinh tế Để bền vững, phát triển phải:

- Hỗ trợ để tăng cường và đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn;

- Đảm bảo cho người dân có lợi ích đáng kể từ hoạt động địa phương;

- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn, hơn là vào lợi ích trước mắt; và

- Tránh gây tác động xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân và đến các khu vực và địa phương khác trên lãnh thổ địa lý

Môi trường Để bền vững, phát triển phải:

- Tôn trọng nguồn tài nguyên và tính toàn vẹn của môt trường;

- Giảm thiểu sử dụng nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo;

- Sử dụng tài nguyên thiên nhiên với tốc độ không nhanh hơn là thiên nhiên có thể tái tạo;

- Sử dụng tài nguyên có hiệu quả; và

- Tránh gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường

Tổ chức Để bền vững, phát triển phải:

- Nằm trong giới hạn năng lực của các tổ chức kinh tế để khống chế và quản

lý, để có thể đáp ứng các tiêu chí nêu trên

- Không gây ra loại chi phí không được hỗ trợ trong tương lai

Bốn nguyên tắc phát triển nông thôn của Dower cũng phản ánh bốn nội dung (cột trụ) cơ bản của phát triển nông thôn và có thể coi như là các yêu cầu phải đạt khi đánh giá sự thành công của phát triển nông thôn

1.1.3 Đo lường phát triển nông thôn: các tiêu chí

Đo lường được trình độ phát triển của nông thôn và sự tiến bộ của nó là rất phức tạp, vì bản chất của phát triển nông thôn là đa chiều Nhằm đo lường tình hình

và xu hướng phát triển của nông thôn, nhiều tổ chức trên thế giới như World Bank, OECD, Cộng đồng châu Âu, và FAO đã xây dựng hệ thống tiêu chí nông thôn và tiêu chí phát triển nông thôn (United Nations, 2007) Các nội dung sau đây tổng quan về đo lường phát triển nông thôn và các tiêu chí đo lường

Trang 28

Các tiêu chí phát triển nông thôn phải dựa trên: 1) các số liệu thống kê được công bố; 2) được thu thập một cách nhất quán; 3) ở các vùng có thể so sánh với nhau được; 4) sử dụng cùng hệ và đơn vị đo lường và dựa trên 5) các định nghĩa rõ ràng Các tiêu chí cũng nên nhạy cảm với những thay đổi và xu hướng theo thời gian để có thể chỉ ra thông tin về định hướng chính sách cho tương lai Để thỏa mãn các điều kiện trên, các tiêu chí mô tả phát triển nông thôn thường phải dựa vào các khái niệm phổ biến và các dữ liệu nông thôn Quá trình lựa chọn các tiêu chí thường dựa vào ba câu hỏi sau để đánh giá:

1) Những yêu cầu cơ bản cho xây dựng tiêu chí là gì?

2) Những chiều hướng (phương diện) nào của phát triển nông thôn mà các tiêu chí này phải đo lường? và

3) Mục tiêu của việc thu thập và cung cấp các tiêu chí quốc tế là gì?

Các quốc gia OECD cho rằng các tiêu chí phải có 1) tính “đối thoại”, có nghĩa

là các quốc gia thành viên có thể hiểu, đối thoại và thảo luận về những vấn đề phát triển nông thôn ở quốc gia của họ; 2) tính so sánh, nhằm so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các vùng, các quốc gia; và 3) tính hợp tác, nhằm khuyến khích sự hợp tác của các quốc gia thành viên trong việc thiết kế và đánh giá các chiến lược phát triển nông thôn của họ Theo kinh nghiệm của OECD, việc thiết kế và phát triển các tiêu chí phát triển nông thôn phải dựa trên ba nguyên tắc sau đây:

- Có tính thích hợp Để có tính thích hợp, các tiêu chí phải phục vụ cho một

mục tiêu được xác định rõ ràng Vì vậy các mục tiêu phân tích hay mục tiêu chính sách phải được cụ thể hóa để xây dựng các tiêu chí

- Tính tin cậy Để có tính tin cậy, các tiêu chí phải có cơ sở khoa học, có nghĩa

là thể hiện được cơ sở lý thuyết mà chúng dựa vào, và phải được đo lường chính xác

- Có tính thực tế Để có tính thực tế, các tiêu chí phải dựa trên dữ liệu thống

Các nước Cộng đồng châu Âu đề xuất một bộ các tiêu chuẩn để đánh giá các tiêu chí phát triển nông thôn

Trang 29

- Có tính nhạy Một tiêu chí nên có khả năng đáp ứng trên phạm vi rộng các

điều kiện trong một phạm vi thời gian và lãnh thổ

- Có khả năng phân tích Một tiêu chí nên dựa trên các phương pháp khoa học

- Có tính toàn diện Một tiêu chí nên được thiết kế cho nhiều người hiểu được

- Có tính thích hợp Tiêu chí nên thích hợp với mục tiêu mong muốn của nó,

nhất là đối với các vấn đề chính trị liên quan đến các tiêu chí Các tiêu chí mô tả phải làm rõ được các vấn đề phát triển nông thôn

- Có giá trị tham khảo Một tiêu chí nên có một mức độ hướng dẫn hoặc làm

chuẩn so sánh theo thời gian

- Có tính tổng quát Có khả năng áp dụng ở mức độ vùng châu Âu

- Có tính sẵn có về dữ liệu Có khả năng có dữ liệu cho toàn vùng châu Âu

Hội nghị thế giới về Cải cách nông nghiệp và Phát triển nông thôn (The World Conference on Agrarian Reforms and Rural Development - WCARRD) đề xuất rằng các tiêu chí kinh tế - xã hội phải có các tính chất sau: tính thích hợp; có giá trị;

có mục tiêu và kiểm tra được; có tính nhạy; có tính khả thi; có tính thời gian; và đơn giản

Các nội dung cần đo lường của bộ tiêu chí

Các bộ tiêu chí theo các đề xuất của các tổ chức quốc tế bên trên có nền tảng giống nhau World Bank khuyến nghị các nước đang phát triển chọn 5 nhóm chủ đề cho các tiêu chí cơ bản là: 1) dữ liệu kinh tế xã hội cơ bản; 2) tạo ra môi trường cho phát triển nông thôn; 3) tăng trưởng kinh tế cho giảm nghèo nông thôn; 4) quản lý nguồn lực tự nhiên và đa dạng sinh học; và 5) phúc lợi xã hội (giáo dục và chăm sóc sức khỏe) Mỗi chủ đề bao gồm nhiều tiêu chí đựa trên các vấn đề cần xác định Hội nghị thế giới về Cải cách nông nghiệp và Phát triển nông thôn (The World Conference on Agrarian Reforms and Rural Development - WCARRD) đã giới thiệu một bộ tiêu chí dựa trên 6 nhóm chủ đề có khả năng áp dụng cho các nước đang phát triển (Solagberu, 2012; United Nations, 2007) Cộng đồng châu Âu cũng quan tâm đến việc đánh giá tác động của những chương trình phát triển nông thôn

Trang 30

thông qua áp dụng các hệ thống chỉ số đánh giá phức tạp (European Evaluation Network for Rural Development, 2010)

World Bank xác định một số nhân tố chính tác động đến sự cải thiện phúc lợi nông thôn, và nhóm chúng với nhau thành những nhóm yếu tố sau đây:

1) Sự cải thiện của kinh tế nông thôn Bao gồm cải thiện sức sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy các hoạt động phi nông trại, mở rộng nền tảng thị trường, thúc đẩy giới tư nhân và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

2) Nền tảng tài nguyên tự nhiên bền vững Ở hầu hết các quốc gia, nền kinh tế nông thôn dựa vào các nguồn lực tự nhiên cho hoạt động nông nghiệp Các vấn đề cần đo lường bao gồm sự suy thoái nguồn lợi đất đai và nước, các phương thức bảo

vệ tài nguyên tự nhiên, nhận thức của chính quyền về bảo vệ môi trường

3) Thúc đẩy sự hoạt động của một môi trường phù hợp cho tăng trưởng nông thôn bền vững Môi trường chính sách vĩ mô phù hợp và khung thể chế hỗ trợ cần thiết cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo và sự thành công của các hoạt động phát triển ở nông thôn Khung chính sách và quản trị tốt giúp cộng đồng nông thôn tác động có hiệu quả đến các quyết định công Đầu tư công sẽ hiệu quả hơn nếu được thực hiện với phương thức phi tập trung hóa và có sự tham gia

4) Cải thiện phúc lợi xã hội, quản lý và giảm thiểu rủi ro và giảm tính dễ tổn thương Để cải thiện phúc lợi xã hội và tối thiểu hóa tính tổn thương của người nghèo nông thôn, cần cải thiện khả năng tiếp cận đến dinh dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm thiểu ảnh hưởng của HIV/AIDS, tăng khả năng tiếp cận đến giáo dục nông thôn và cải thiện chất lượng giáo dục, giúp cải thiện an ninh lương thực cho người nghèo nông thôn Cần phải khuyến khích sự tham gia và xóa các rào cản về giới và dân tộc đối với các cơ hội kinh tế và xã hội

Hội nghị thế giới về Cải cách nông nghiệp và Phát triển nông thôn (The World Conference on Agrarian Reforms and Rural Development - WCARRD) cho rằng mục tiêu của phát triển nông thôn là xóa nghèo, đói và suy dinh dưỡng, tăng trưởng công bằng, tự chủ về lương thực, hòa hợp với tự nhiên và bảo tồn tài nguyên FAO

Trang 31

cũng khuyến nghị áp dụng hệ thống tiêu chí này Các tiêu chí phát triển nông thôn tương ứng với các mục tiêu và lĩnh vực này bao gồm:

- Xóa nghèo công bằng

- Tiếp cận đến đất, nước và các nguồn tài nguyên khác

- Tiếp cận đến đầu vào, thị trường và dịch vụ

- Phát triển các hoạt động phi nông trại

- Giáo dục, huấn luyện và khuyến nông

- Tăng trưởng

OECD xây dựng hệ thống tiêu chí cơ bản như sau:

- Dân số và di cư: mật độ dân số; thay đổi về mật độ dân số; cấu trúc dân số;

- Phúc lợi xã hội – Chất lượng cuộc sống: các đặc điểm môi trường; tính sẵn

có của dịch vụ; nhà ở; an toàn; thu nhập; sự thiếu hụt

- Cấu trúc kinh tế:

Trang 32

+ Tổng quát: tỷ trọng ngành; doanh nghiệp; đầu tư; thuộc tính của lực lượng lao động; kết quả kinh tế; khả năng cạnh tranh; đổi mới; cơ sở hạ tầng kinh doanh + Hoạt động ngành cơ bản: tính đa chức năng của nông nghiệp, đa dạng hóa

và sức sản xuất, nguồn lực tài chính

+ Hoạt động ngành du lịch: các đặc điểm về cung, các đặc điểm về cầu; đặc trưng việc làm và các đặc trưng tiền tệ khác

- Nhân khẩu học: mật độ dân số, sự thay đổi và cấu trúc dân số, các vấn đề văn hóa, giáo dục

THÔN MỚI VÀ BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ NÔNG THÔN MỚI

1.2.1 Khái niệm nông thôn mới

Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị) Cho đến nay nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị

Hiện nay khái niệm về nông thôn được nêu rõ tại Thông tư số 54 ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”

Vậy Nông thôn mới là gì? Trong nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu:

“Xây dựng NTM có kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống giá trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Trang 33

Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng

xã, của hộ gia đình nông thôn

Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ ngèo đói

Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao

Thứ tư, bảo về và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái

Thứ năm, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo tồn

và phát triển các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc, các địa phương

Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

1.2.2 Chức năng của nông thôn mới

Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp

Nông thôn mới phải là nơi sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa, không phải là tự cung, tự cấp, phát huy được đặc sắc của địa phương (đặc sản) Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hóa, ứng dụng phổ biển khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại Đồng thời với việc này là phát triển sản xuất ngành nghề, trước hết là ngành nghề truyền thống của địa phương Sản phẩm ngành nghề vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của từng làng quê Việt Nam, tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn…

Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc

Nông thôn là nơi ghi nhiều dấu ấn văn hóa truyền thống tinh hoa của dân tộc Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là

Trang 34

giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại nhưng không được phá vỡ những nét truyền thống ấy Việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hòa vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hóa truyền thống

Chức năng sinh thái

Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Nền văn mình nông nghiệp được hình thành từ những tích lũy trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hòa với nhau, con người tôn trọng tự nhiên, bảo

vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Nếu như nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có, con người và thiên nhiên, thì thuộc tính (chức năng) sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thủy lợi, các khu rừng, thảo nguyên…phát huy các tác dụng sinh thái như điều hòa khí hậu, giảm ô nhiễm, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất… Để nông thôn phát triển một cách bền vững cần phải gắn sự phát triển với việc bảo vệ môi trường sinh thái Và hơn lúc nào hết, chức năng sinh thái phải được dùng làm thước đo sự hoàn thiện mô hình nông thôn mới

Như vậy, chức năng của nông thôn mới phải nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển nông thôn là nâng cao mức sống và chất lượng sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, xóa bỏ sự cách biệt về mọi mặt giữa thành thị và nông thôn

1.2.3 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng NTM là nhằm tạo ra những giá trị mới của nông thôn Việt Nam, một nông thôn hiện đại hàm chứa những giá trị kinh tế mới, có văn hóa nông thôn

Trang 35

văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc, và ở

đó những người nông dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa được thụ hưởng những giá trị vật chất, tinh thần do chính họ tạo ra

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng đã đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Như vậy xây dựng nông thôn mới phải đạt được những nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Ở nước ta hiện nay, xây dựng nông thôn mới là một cuộc vận động lớn, một chương trình “khung” toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng một nông thôn mới hiện đại, phát triển toàn diện, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn

1.2.4 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 1.2.4.1 Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện theo quy hoạch

Nội dung quy hoạch

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Xác định nhu cầu sử dụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kü thuật thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hoá nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; bố trí hệ thống thuỷ lợi, thuỷ lợi kết hợp giao thông theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 36

- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện

có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp theo hướng dẫn của

Bộ Xây dựng

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới, bao gồm: bố trí mạng lưới giao thông, điện, trường học các cấp, trạm xá, trung tâm văn hoá, thể thao xã, nhà văn hoá và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước thải, công viên cây xanh, hồ nước sinh thái.v.v theo hướng dẫn cụ thể của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư

1.2.4.2 Tiêu chí giao thông

Căn cứ để quy hoạch, thiết kế và công nhận tiêu chí giao thông nông thôn: Đường ô tô - Tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4054-2005; Đường GTNT- Tiêu chuẩn thiết kế 22 TCN 210-92; Quy phạm thiết kế cầu cống theo trạng thái giới hạn

22 TCN 18-79; Quy trình thiết kế áo đường mềm 22 TCN 211-06; Quy trình thiết

kế áo đường cứng 22 TCN 223-95; Sổ tay Bảo dưỡng đường GTNT dùng cho cấp

xã (ban hành năm 2003); Sổ tay bảo dưỡng đường GTNT dùng cho cấp tỉnh (ban hành năm 2009); Các quy chuẩn về giao thông nông thôn tại địa phương do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành

1.2.4.3 Tiêu chí thuỷ lợi

Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh

Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh được hiểu là:

- Về đê hoặc bờ bao chống lũ (đối với những xã có đê hoặc bờ bao chống lũ): được xây dựng đạt chuẩn về phòng chống lũ, bão, triều cường và nước dâng theo quy định, bao gồm: hoàn chỉnh mặt cắt thiết kế, cứng hoá mặt đê và đường hành lang chân đê, trồng cỏ mái đê, trồng cây chân đê phía sông, phía biển; làm lại hoặc

tu sửa các cống dưới đê đảm bảo vững chắc, đồng bộ với mặt cắt đê; xử lý sạt lở đảm bảo ổn định, an toàn cho đê; đảm bảo môi trường xanh, sạch đẹp; có ban chỉ huy phòng chống lụt bão cấp xã, có đội quản lý đê nhân dân, đội tuần tra canh gác

đê trong mùa lũ theo quy định, hoạt động có hiệu quả

Trang 37

- Đối với công trình tưới tiêu:

+ Đáp ứng yêu cầu tưới, tiêu chủ động cho diện tích gieo trồng lúa, diện tích rau màu, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản hoặc làm muối, cấp nước sinh hoạt, thoát nước theo quy hoạch được duyệt

+ Các công trình thuỷ lợi đảm bảo tưới, tiêu, cấp nước cho sản xuất công nghiệp, dân sinh phát huy đạt trên 75% năng lực thiết kế

+ Các công trình thuỷ lợi có chủ quản lý đích thực đạt 100%; Có sự tham gia của người dân trong quản lý, vận hành và khai thác công trình thuỷ lợi Công trình được duy tu, sửa chữa thường xuyên hàng năm, chống xuống cấp, đảm bảo vận hành an toàn, hiệu quả; không để xảy ra ô nhiễm nguồn nước

1.2.4.4 Tiêu chí điện nông thôn

Căn cứ để quy hoạch, thiết kế và công nhận tiêu chí + Luật Điện lực (số 28/2004/QH 11, có hiệu lực từ ngày 01/7/2005);

+ Nghị định số 105/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/8/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực;

+ Nghị định số 106/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/8/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn lưới điện cao áp;

+ Quy phạm trang bị điện: 11 TCN-18-2006 đến 11 TCN-21-2006;

+ Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về An toàn điện (QCVN01: 2008/BCT) ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ngày 17/6/2008, quy định các nguyên tắc bảo đảm an toàn khi làm việc tại đường dây, thiết bị điện

1.2.4.5 Tiêu chí trường học

- Giải thích từ ngữ + Trường mầm non, nhà trẻ có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia: một xã có các điểm trường, đảm bảo tất cả các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo được phân chia theo độ tuổi và tổ chức cho trẻ ăn bán trú, cụ thể như sau:

Trang 38

+ Trường đặt tại trung tâm khu dân cư, thuận lợi cho trẻ đến trường, đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường

+ Diện tích khu đất xây dựng nhà trường, nhà trẻ gồm: diện tích sân chơi; diện tích cây xanh; đường đi Diện tích sử dụng bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ đối với khu vực nông thôn và miền núi; 8m2 cho một trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã Khuôn viên có tường bao ngăn cách với bên ngoài bằng gạch, gỗ, kim loại hoặc cây xanh cắt tỉa làm hàng rào Cổng chính có biển tên trường theo quy định tại Điều 7 của Điều lệ trường mầm non

+ Có đủ phòng chức năng, khối phòng hành chính quản trị, phòng ngủ, phòng

ăn, hiên chơi, phòng y tế, khu vệ sinh, khu để xe cho giáo viên, cán bộ, nhân viên có mái che… được xây dựng kiên cố Nhà trẻ có nguồn nước sạch và hệ thống cống rãnh hợp vệ sinh Khu trẻ chơi được lát gạch, xi măng hoặc trồng thảm cỏ Phòng sinh hoạt chung được trang bị đủ bàn ghế cho giáo viên và trẻ Có máy vi tính, các phương tiện làm việc và các trang thiết bị y tế và đồ dùng theo dõi sức khoẻ trẻ

- Trường tiểu học có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia + Trường có tối đa không quá 30 lớp, mỗi lớp có tối đa không quá 35 học sinh

+ Có khuôn viên không dưới 6m2/01 học sinh vùng thành phố/thị xã; không dưới 10m2/01 học sinh đối với các vùng còn lại

+ Có đủ phòng học cho mỗi lớp học (diện tích phòng học bình quân không dưới 01m2/01 học sinh) Trong phòng học có đủ bàn ghế cho giáo viên và học sinh,

có trang bị hệ thống quạt Bàn, ghế, bảng, bục giảng, hệ thống chiếu sáng, trang trí phòng học đúng quy cách Được trang bị đầy đủ các loại thiết bị giáo dục theo danh mục tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Điều kiện vệ sinh đảm bảo các yêu cầu xanh, sạch, đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, thuận tiện cho học sinh đi học + Có nhà tập đa năng, thư viện đạt chuẩn theo quy định tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông ban hành theo Quyết định số 01/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/01/2003 và Quyết định số 01/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 39

+ Có đủ các phòng chức năng: phòng hiệu trưởng, phòng phó hiệu trưởng, phòng giáo viên, phòng hoạt động Đội, phòng giáo dục nghệ thuật, phòng y tế học đường, phòng thiết bị giáo dục, phòng thường trực

+ Trường có nguồn nước sạch, có khu vệ sinh riêng cho cán bộ giáo viên và học sinh, riêng cho nam và nữ, có khu để xe, có hệ thống cống rãnh thoát nước, có tường hoặc hàng rào cây xanh bao quanh trường

- Trường trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia + Có tổng diện tích mặt bằng tính theo đầu học sinh ít nhất đạt từ 6 m2 trở lên (đối với nội thành, nội thị) và từ 10 m2/học sinh trở lên (đối với các vùng còn lại); + Cơ cấu các khối công trình gồm có: Phòng học và phòng học bộ môn (có đủ phòng học để học nhiều nhất là hai ca trong 1 ngày;

+ Phòng học bộ môn xây dựng theo quy định tại Quyết định số BGDĐT ngày 16/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phòng học xây dựng theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam do Bộ Xây dựng ban hành; phòng học có

37/2008/QĐ-đủ bàn ghế học sinh phù hợp với lứa tuổi, bàn ghế của giáo viên, bảng viết và 37/2008/QĐ-đủ điều kiện về ánh sáng, thoáng mát);

+ Nhà tập đa năng, thư viện, phòng hoạt động Đoàn - Đội, phòng truyền thống; phòng làm việc của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, văn phòng, phòng họp toàn thể cán bộ và viên chức nhà trường, phòng giáo viên, phòng y tế học đường, nhà kho, phòng thường trực; khu sân chơi, bãi tập (có đủ thiết bị luyện tập thể dục thể thao và đảm bảo an toàn); khu vệ sinh và khu để xe

+ Có hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước cho tất cả các khu vực theo quy định về vệ sinh môi trường

1.2.4.6 Tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá

- Giải thích từ ngữ + Trung tâm văn hóa, thể thao xã là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao và học tập của cộng đồng xã, bao gồm: Nhà văn hoá đa năng (hội trường, phòng chức năng, phòng tập, các công trình phụ trợ và các dụng cụ, trang thiết bị tương ứng theo quy định) và Sân thể thao phổ thông (sân bóng đá, sân bóng chuyền,

Trang 40

các sân nhảy cao, nhảy xa, đẩy tạ và tổ chức các môn thể thao dân tộc của địa phương)

+ Nhà văn hóa và khu thể thao thôn là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao và học tập của cộng đồng thôn

- Tiêu chuẩn Trung tâm văn hóa, thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch, cụ thể như sau:

+ Nhà văn hoá đa năng: Diện tích đất được sử dụng 1000m2 đối với các tỉnh đồng bằng và 800 m2 đối với các tỉnh miền núi, trong đó: Hội trường: 150 chỗ ngồi đối với các tỉnh đồng bằng và 100 chỗ ngồi đối với các tỉnh miền núi; Phòng chức năng (hành chính; thông tin; đọc sách, báo; truyền thanh; câu lạc bộ) phải có 05 phòng đối với các tỉnh đồng bằng và từ 02 phòng trở lên đối với các tỉnh miền núi; Phòng tập thể thao đơn giản sử dụng để huấn luyện, giảng dạy và tổ chức thi đấu thể thao có đủ diện tích theo quy định: 38m x 18m đối với các tỉnh đồng bằng và 23m x 11m đối với các tỉnh miền núi; Các công trình phụ trợ (nhà để xe, khu vệ sinh, vườn hoa): có đủ đối với các tỉnh đồng bằng và 70% đối với các tỉnh miền núi; Trang thiết bị nhà văn hoá (bàn ghế, giá, tủ, trang bị âm thanh, ánh sáng, thông gió, đài truyền thành): có đủ đối với các tỉnh đồng bằng và 70% đối với các tỉnh miền núi; Dụng cụ thể thao (dụng cụ chuyên dùng cho các môn thể thao phù hợp với phong trào thể thao quần chúng ở xã): có đủ đối với các tỉnh đồng bằng và 70% đối với các tỉnh miền núi

- Sân thể thao phổ thông gồm: sân bóng đá, ở hai đầu san bóng đá có thể bố trí sân bóng chuyền, sân nhảy cao, nhảy xa, sân đẩy tạ và một số môn thể thao dân tộc của địa phương Diện tích đất được sử dụng 90m x 120m đối với các tỉnh đồng bằng

và 45m x 90m đối với các tỉnh miền núi

- Tổ chức quản lý và hoạt động

a Cán bộ:

+ Cán bộ quản lý: cán bộ quản lý có trình độ trung cấp về văn hoá, thể thao trở lên do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã bổ nhiệm và được hưởng phụ cấp bán chuyên trách

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm