Cụ thể: “Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”; “Khuyến khích việ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ THÚY LIỄU
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các nội dung, kết quả được nêu trong Luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khác
Tôi đã hoàn thành tất cả các chuyên đề đào tạo theo quy định và các nghĩa vụ về tài chính
Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa xem xét để tôi bảo vệ luận văn Xin chân thành cám ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Võ Tấn Lực
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo trường Đại học Vinh, Khoa Luật, quý thầy cô đã tham gia giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đặc biệt
là TS.Phạm Thị Thúy Liễu, cô hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng Tư pháp huyện Lức, UBND xã Nhựt Chánh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi cũng thân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ còn những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô giúp tôi hoàn thiện luận văn
Võ Tấn Lực
Trang 5MỤC LỤC Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 8
1.2 Nội dung thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 19
1.3 Các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho hoạt động thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN 39
2.1 Khái quát chung các yếu tố có liên quan đến thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức 39
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An 44
2.3 Kết quả thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN 63
3.1 Yêu cầu đối với thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 63
3.2 Một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức 65
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC……… ii
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập chung hiện nay, Việt Nam đang hướng đến nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc Do đó mô hình “hòa giải cơ sở” được Đảng và Nhà nước quan tâm để đề cao tính tự quản giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn một cách hợp tình hợp lý vừa thực hiện tốt “lệ làng” hay là hương ước được Nhà nước cho phép xây dựng, ký kết vừa đảm bảo đúng
pháp luật “của dân, do dân, vì dân” Cụ thể: “Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”; “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài…” được cụ
thể hóa bằng Pháp lệnh tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở năm 1998 và sau
đó là Nghị định hướng dẫn số 160/1999/NĐ-CP Nhờ đó, từ năm 1998, hòa giải
ở cơ sở không ngừng được củng cố về tổ chức, đội ngũ, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn tình đoàn kết tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa
án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước Không chỉ có vậy, hòa giải cơ sở còn là một truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mang đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi người trên cơ sở đạo đức xã hội và nền tảng pháp luật, góp phần thúc đẩy kinh tế
- xã hội phát triển
Luật Hòa giải ở cơ sở là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh một cách toàn diện tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở sau đó nhiều văn bản hướng dẫn khác cũng lần lượt được ban hành như: Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định
Trang 9chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở; Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở; Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở Bên cạnh
đó, hệ thống các hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến hòa giải ở cơ sở tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm đầy đủ hơn tính đồng bộ, thống nhất và khả thi: khuyến khích các bên tranh chấp tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở; khuyến khích hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn; trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích
Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai thực hiện các quy định pháp luật hiện hành về hòa giải ở cơ sở cho thấy, mặc dù pháp luật đã hoàn thiện hơn nhiều so với trước đây, nhưng thực tế thực hiện vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cần được giải quyết triệt để hơn Đặc biệt, việc phát huy tác dụng của hoạt động hoà giải ở cơ sở càng trở lên có ý nghĩa đối với đất nước nói chung với huyện Bến Lức, tỉnh Long An nói riêng Mặc dù đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động hoà giải cơ sở, nhưng thực tiễn công tác hoà giải ở
cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An chưa phát huy được vai trò, ý nghĩa vốn có của nó, thậm chí còn có nhiều đơn vị không chú trọng đến hoạt động này
Từ thực tiễn huyện Bến Lức cho thấy ở những đơn vị làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở thì tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân Ngược lại, những địa phương thực hiện công tác hòa giải không tốt, người dân không tín nhiệm các hòa giải viên nên không có yêu cầu hòa giải hoặc được hòa giải nhưng không thành thì các tranh chấp ban đầu rất nhỏ như bờ ranh, mâu thuẫn nhỏ trong gia đình…
Trang 10nhiều lúc sẽ trở nên nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến chửi bới nhau, ẩu đả gây thương tích… gây mất trật tự, an toàn ở khu dân cư và thường phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể là UBND và Tòa án nhân dân các cấp giải quyết và nếu không được xử lý kịp thời có thể xuất hiện những điểm nóng về khiếu kiện, tố cáo ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của địa phương
Do đó, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác hoà giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức là yêu cầu cấp
thiết, chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ
sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An” làm đề tài luận văn thạc sĩ của
- Các nghiên cứu khác nêu một số quy định của pháp luật về công tác hòa giải cơ sở với tính chất hướng dẫn nghiệp vụ chứ không đi vào phân tích, đánh giá, nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về công tác này ở cơ sở
như: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2000), Hướng dẫn nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở, Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn; Bộ
Tư pháp (2010), Công tác hòa giải cơ sở, Dự án VIE/02/015 “Hỗ trợ thực thi
chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010”; Vụ phổ biến
giáo dục pháp luật – Bộ Tư pháp (2014), Sổ tay pháp luật về hòa giải cơ sở
Trang 11- Một vài nghiên cứu khác chỉ đề cập đến khía cạnh con người, khía cạnh
xã hội học, hay kết quả thực tiễn và giải pháp nâng cao kết quả hòa giải cơ sở
trong phạm vi một địa bàn nhất định như: Bộ Tư pháp (2010), Đánh giá năng lực cán bộ công chức tư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hòa giải
ở cơ sở, Dự án VIE/02/015 “Hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010”; Bùi Quang Dũng (2002), Hòa giải ở nông thôn miền Bắc Việt Nam (giả thuyết dành cho một cuộc nghiên cứu), Tạp chí xã hội
học số 3/2002.; Các bài viết trong tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề
“Pháp luật về Hòa giải” năm 2012 và “Thể chế hòa giải ở Việt Nam” năm
2014… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có
cơ bản, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và việc thực hiện chúng ở địa phương huyện Bến Lức, tỉnh Long An để đưa ra các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở là nên việc nghiên cứu của đề tài này là rất cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Luận văn tập trung phân tích cơ sở lý luận và các quy định pháp luật có liên quan về hòa giải cơ sở và đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định này trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An đề từ đó có đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, thông qua việc tổng kết, đánh giá của các cơ quan chức năng và số liệu thu thập được từ phiếu điều tra để phát hiện ưu thế cũng như các hạn chế nhất định để làm rõ hơn những điểm tương đồng cũng như khác biệt ở huyện Bến Lức so với các địa phương khác của tỉnh Long An cũng như trong cả nước Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các giải pháp
Trang 12nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức nói riêng, tỉnh Long An và toàn quốc nói chung
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến vấn
đề lý luận và pháp luật về hòa giải cơ sở ở địa phương huyện Bến Lức, tỉnh Long An Trong quá trình nghiên cứu chỉ liên hệ thêm với các địa phương khác cũng như toàn quốc để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu ở địa phương huyện Bến Lức, tỉnh Long An
- Về thời gian: Chỉ nghiên cứu việc tổ chức, hoạt động và thực tiễn thực hiện pháp luật luật hòa giải ở cơ sở trong khoản thời gian từ năm 2012 - 2017
5 Ý nghĩa của luận văn
- Về khoa học: Có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu giảng dạy về Hòa giải ở cơ sở
- Về mặt thực tiễn: Đề ra các giải pháp có ý nghĩa đối với các cá nhân, tổ
chức có trách nhiệm đối với công tác hòa giải ở cơ sở
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải
quyết những vấn đề sau:
- Cơ sở lý luận về hòa giải ở cơ sở, vai trò của hoạt động hòa giải đó đối với đời sống xã hội và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ sở
- Quy định pháp luật về hòa giải cơ sở và thực tiễn thực hiện pháp luật về
tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long
An
- Đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở
cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 136.1 Phương pháp luận:
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
Phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Luận văn sử dụng các phương pháp khảo sát thực tiễn, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp hảo sát thực ti n: phương pháp này được vận dụng để
thu thập thông tin về thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được vận dụng để tổng hợp số
liệu thu thập được nhằm đưa ra nhận định về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ
sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An
- Phương pháp so sánh: phương pháp này được vận dụng để so sánh kinh
nghiệm hòa giải ở cơ sở của các nước trên thế giới và ở các địa phương khác trong và ngoài tỉnh; hiện trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An hiện nay và với yêu cầu thực tế đặt ra
- Phương pháp phân t ch: phương pháp này được vận dụng để phân tích
từng bộ phận, từng vấn đề của ứng dụng CNTT trong chỉ đạo, điều hành của UBND huyện nhằm hiểu rõ bản chất từng bộ phận, từng vấn đề đó
- Phương pháp tổng hợp: Dựa trên kết quả phân tích để liên kết các thuộc
tính, các bộ phận, các mặt vấn đề từ đó đánh giá toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn nhằm rút ra được những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An tốt hơn
Trang 14- Phương pháp điều tra ng phiếu hỏi: thông qua việc phát phiếu điều
tra đối với lãnh đạo, cán bộ, công chức UBND huyện, các cơ quan chuyên môn, UBND các xã, thị trấn và các tổ trưởng tổ hòa giải viên, hòa giải viên của huyện Bến Lức nhằm thu thập số liệu cụ thể, khách quan về thực trạng và đánh giá tính khả thi của các giải pháp thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An được đề xuất trong luận văn
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp nghiên cứu tài liệu, tham vấn chuyên gia
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn
huyện Bến Lức, tỉnh Long An
Chương 3 Yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở
cơ sở trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA
GIẢI Ở CƠ SỞ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Khái niệm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Theo Đại học Luật Hà Nội thì thực hiện pháp luật là “hoạt động có mục
đ ch nh m hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [29,
tr.185]; tương tự Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: thực hiện
pháp luật là “một quá trình hoạt động có mục đ ch làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” Ngoài ra cũng còn rất nhiều tác giả khác đề cập đến khái
niệm thực hiện pháp luật với nội dung tương tự như: Nguyễn Minh Đoan [32, tr.15], Ngọ Văn Nhân [33, tr.278] hay Nguyễn Thị Hồi có khái niệm khác hơn
cho rằng thực hiện pháp luật là hành vi “hành động hoặc hông hành động) hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật” [35, tr.12-16]
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trách nhiệm thực hiện pháp luật
mang tính nguyên tắc được Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội
b ng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [44, Điều 12] và sau đó được cụ thể hơn tại Hiến pháp 2013: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội b ng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [53, Điều 8], cụ thể hơn “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân hông được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” [53, Điều 15] Vì phải
quản lý nhà nước bằng pháp luật nên Nhà nước phải ban hành pháp luật, nếu ban
Trang 16hành nhiều quy phạm pháp luật nhưng không đi vào đời sống xã hội dẫn đến
hiệu quả điều chỉnh không cao phải chỉnh sửa hoặc thậm chí hủy bỏ [Error! Reference source not found.] Như vậy rõ ràng có mối quan hệ nhận quả giữa
xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật, là đòi hỏi khách quan của quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù có những ý kiến khác nhau khi định nghĩa thực hiện pháp luật nhưng các tác giả đều nhận thấy thực hiện pháp luật có
các đặc điểm cơ bản sau đây: “(i) Thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc hông hành động) hợp pháp, nghĩa là hành vi đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật; (ii) Thực hiện pháp luật phải là hành vi xác định hay xử sự thực tế của con người và (iii) Thực hiện pháp luật là
xử sự của các chủ thể nh m hiện thực hóa các quy định pháp luật.”[36] Và như
vậy, thực hiện pháp luật được thể hiện dưới 4 hình thức là: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Mặc dù thực hiện pháp luật được thể hiện ở nhiều hình thức nhưng nó đều là hành động có mục đích nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống
Khái niệm hòa giải cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo Tự
điển Tiếng Việt thì khái niệm hòa giải được hiểu là “thuyết phục các ên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [41, tr.446]; Hiệp hội Hòa giải Hoa Kỳ quan niệm hòa giải có thể xem là một quá trình, theo đó ên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ [4], một quan điểm khác thì cho rằng “mục đ ch của hòa giải là chuyển cuộc đấu tranh hai bên thành cuộc khảo cứu ba bên nh m kiến tạo một kết quả chung”[4] Tự điển Luật học cho rằng hòa giải là: “thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa” [74]
Từ các khái niệm, cách hiểu đã phân tích có thể nói hòa giải là hình thức
Trang 17giải quyết tranh chấp giữa các bên, trong đó có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian Bên thứ ba không áp đặt ý chí của mình lên sự thỏa thuận của hai bên tranh chấp mà chỉ giải thích, thuyết phục, giúp hai bên đạt được sự thỏa thuận, chấm dứt bất đồng, mâu thuẫn Sự thỏa thuận đó là kết quả đạt được trên
sự tự nguyện của mỗi bên, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
Với nhiều khái niệm về hòa giải như trên, chúng ta khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung, thống nhất cho tất cả các loại hình hòa giải do các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hoặc các cá nhân tiến hành trong đời sống xã hội Chính vì vậy, do các cách hiểu, khái niệm khác nhau mà hiện nay trên thế giới và ở nước ta có nhiều hình thức hòa giải với phạm vi, đối tượng, phương pháp, trình tự và thủ tục hòa giải khác nhau như: hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án, hòa giải thương mại, hòa giải trong tố tụng trọng tài, hòa giải tranh chấp lao động, hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, Hòa giải ở cơ
sở…[15,tr.2-4][Error! Reference source not found.]
Vì vậy để phân biệt Hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khác
chúng ta cần làm rõ nghĩa của thuật ngữ “cơ sở” Theo tự điển Tiếng Việt, thuật ngữ “cơ sở” có rất nhiều nghĩa, nhưng trong luận văn này cơ sở được hiểu là đơn vị cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác v.v… của một hệ thống, tổ chức trong quan hệ với các bộ phận cấp trên [41, tr.216] Hay nói cách khác thuật ngữ “cơ sở” ở đây được hiểu là thôn phố thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư hác như các chợ cố định, chung
cư, tụ điểm du lịch, vui chơi giải tr Nó hông được hiểu là một cấp chính quyền
thấp nhất như cấp xã [Error! Reference source not found.]
Trên thực tế thuật ngữ Hòa giải ở cơ sở chính thức được quy định trong
Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở cụ thể “Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các ên đạt được thoả thuận, tự nguyện
Trang 18giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nh m giữ gìn đoàn ết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạmpháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư”[68, Điều 1] Do đó từ năm
1998, thuật ngữ Hòa giải ở cơ sở xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách báo và tạp chí với cách hiểu thống nhất như trên Tiếp đó Luật hòa giải ở
cơ sở tiếp tục xác định:“Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp
đỡ các ên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của luật”[52, khoản 1 - Điều 2] và xác định “Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư hác”[52, khoản 2 – Điều 2]
Từ những lý giải trên có thể định nghĩa “Thực hiện pháp luật về hòa giải
ở cơ sở là quá trình hoạt động có mục đ ch của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các chủ thể khác nh m đưa pháp luật về hòa giải cơ sở đi vào cuộc sống với mục đ ch hòa giải viên giúp đỡ các ên đạt được thỏa thuận, tự giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư hác theo quy định pháp luật”
Đặc điểm của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
Là phương thức giúp các bên thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư, có thể rút ra một số đặc điểm của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở như sau:
Thứ nhất, hòa giải ở cơ sở là một chế định mang đậm tính chất tự nguyện,
là một biểu hiện của xã hội dân sự ở cơ sở vì vậy thực hiện pháp luật hòa giải ở
cơ sở mang tính tự nguyện cao nên bên cạnh cơ quan Nhà nước các cấp thì Mặt
Trang 19trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đóng vai trò nòng cốt trong thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Theo các khái niệm về hòa giải được luận văn nêu, có thể thấy rằng nếu ở góc độ đời sống xã hội thì hòa giải là một chế định xã hội mang tính tự nguyện cao ở mỗi quốc gia trên thế giới và nếu ở góc độ khác là một biểu hiện của xã hội dân sự ở cơ sở Người dân thành lập các tổ chức tự quản đời sống của mình trong đó có các tổ chức hòa giải và có nhiều nội dung nằm ngoài sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước mà họ tự giải quyết với nhau Yếu tố tự quản này cùng với các giá trị nhân văn của hòa giải như đã nêu ở phần khái niệm sẽ là một biện pháp hợp lý, ít tốn kém, dễ dàng đạt được sự đồng thuận cao để điều hòa những lợi ích trong các tranh chấp, xích mích từ đó làm giảm sự khác biệt của mỗi người dân trong cộng đồng dân cư từ đó góp phần xây dựng đồng thuận
xã hội Cụ thể ở Việt Nam, một hình thức thường thấy nhất là hòa giải cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của các hòa giải viên của tổ hòa giải hoặc
các tổ chức hòa giải khác (nếu có) của nhân dân ở cộng đồng dân cư (thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân cư và các cụm dân cư hác như chợ cố định tụ điểm du lịch, vui chơ giải trí) phù hợp với pháp luật cũng là một chế định tự nguyện và là một
biểu hiện của xã hội dân sự ở cơ sở của Việt Nam
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khoá VII, xác định “Coi trọng vai trò hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở
cơ sở”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VIII, trong đó nêu rõ
“Tổ chức và hướng dẫn các hình thức nhân dân tự quản ở cơ sở và khu vực dân
cư đối với những việc dân tự làm hoặc do Nhà nước uỷ thác do dân làm với sự
hỗ trợ của Nhà nước như: hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ trật tự an ninh…” Tiếp đó, Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đổi mới và nâng
cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã yêu cầu: “Mặt
Trang 20trận và các đoàn thể nhân dân thúc đẩy việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…; tham gia hoà giải các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, bày tỏ thái độ đối với những khiếu kiện của dân để góp phần giải quyết từ gốc”
Thứ hai, hòa giải ở cơ sở xuất phát từ yếu tố lịch sử, truyền thống văn
hóa, cội nguồn của dân tộc vì vậy thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở cũng có tính lịch sử, kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc Hay nói cách khác việc giải quyết các xung đột, tranh chấp thông qua hoạt động hòa giải nói chung, hòa giải ở cơ sở nói riêng được người Châu Á nói riêng, người Việt Nam nói chung chấp nhận từ xa xưa, theo truyền thống văn hóa của khu vực, của đất nước, dân tộc
Có thể nói hòa giải ở cơ sở mang bản chất và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của con người Việt Nam vì vậy sẽ tiếp tục phát triển và vượt qua các thử thách của thời gian, những biến cố thăng trầm của lịch sử Do ảnh hưởng của văn hóa lúa nước đã xây dựng xã hội Việt Nam cổ truyền hình thành từ đơn vị làng tương đối khép kín, mang tính tự quản cao do đặc thù nền kinh tế nông nghiệp
tự cung, tự cấp “Trong các làng xã cổ truyền, cả cuộc đời người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm giềng, huyết thống ràng buộc nhau một cách bền chặt” [31, tr.134], do đó người Việt Nam rất coi trọng “tình làng, nghĩa xóm”,
“tối lửa tắt đèn” có nhau Mặt khác, do ý thức tâm lý của người Phương Đông
nói chung, người Việt Nam nói riêng việc giải quyết các mâu thuẫn bằng cách
đưa nhau ra chốn “công đường” là điều rất không mong muốn, xui rủi “vô phúc đáo tụng đình”, tốn kém “Được kiện thì mười bốn quan năm, thua iện thì mười lăm quan chẵn” Vì vậy “họ thích giải quyết b ng “tình làng, nghĩa xóm” hơn
là giải quyết theo pháp luật” [27, tr.45] Điều này khác hẳn với tư duy của
người các nước Phương Tây có thói quen sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình do đó họ coi việc khởi kiện ra Tòa án là điều rất bình thường Tuy nhiên việc hòa giải nội bộ giữa các thành viên cũng được thực hiện thông qua hệ
Trang 21thống Phường hội (Guild) với sự tham gia đông đảo của nhiều người thuộc các
ngành nghề, tầng lớp khác nhau trong xã hội Phương Tây
Hiện nay các phường hội này đã phát triển thành các Hiệp hội hoặc các tổ chức tương tự như vậy và tiếp tục hòa giải nội bộ khi có tranh chấp giữa các thành viên
Thứ ba, hòa giải cơ sở thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc” vì vậy thực
hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở phải mang tính dân chủ, xã hội hóa Điều này đã được thể hiện lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI cũng như các Đại hội Đảng tiếp theo đã tiếp tục khẳng định nội dung này Những tranh chấp, xích mích nhỏ trong nhân dân sẽ do nhân dân tự nguyện đứng ra giải quyết mà không có kẻ thắng, người thua Sức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh, đúng đắn sẽ là cơ sở quan trọng để giải quyết tốt những xung đột xã hội nhỏ này Nhà nước luôn khuyến khích động viên các cá nhân, tổ chức có điều kiện trong việc tham gia thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trực tiếp bằng việc xin trở thành các hòa giải viên, các bên tranh chấp đến yêu cầu tổ hòa giải hòa giải các tranh chấp, vi phạm hành chính nhỏ của họ hay gián tiếp thông qua việc hỗ trợ bằng nhiều hình thức như cung cấp sách, báo pháp luật, hỗ trợ tài chính cho các tổ hòa giải, hòa giải viên
Thứ tư, hòa giải không chỉ có ở Việt Nam mà còn được thừa nhận và
khuyến khích ở nhiều nơi trên thế giới với hình thức tương tự vì vậy thi hành pháp luật hòa giải cơ sở cần quan tâm kinh nghiệm thực tiễn của nhiều nước khác trên thế giới với xu hướng Nhà nước thay đổi phương pháp quản lý xã hội tôn trọng quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt của nhân dân thông qua hòa giải cơ
sở Ở Trung Quốc, hệ thống hòa giải nhân dân được coi là lớn nhất và lâu đời
nhất trên thế giới, “Hòa giải thời phong kiến Trung Quốc có chức năng chủ yếu
là duy trì một trật tự xã hội phù hợp với tư tưởng của Nho giáo” [8, tr.54]
Truyền thống này tiếp tục được duy trì thông qua ghi nhận về việc thành lập các
Trang 22Ủy ban hòa giải nhân dân trong bản Hiến pháp năm 1982 và sau đó là “Các quy tắc hòa giải của nhân dân” năm 1989 do Ủy ban thường vụ Quốc vụ viện ban
hành là căn cứ pháp lý cho thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở của Trung Quốc hiện nay và là sự thừa nhận của Chính phủ Trung Quốc về sự tồn tại lâu dài và vai trò to lớn của hòa giải nhân dân trong hệ thống pháp luật của nước này Phillipin cũng ban hành Lệnh số 1508 (hay còn gọi là Luật Công lý Barangay) với mục đích nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa sự quá tải, chậm trễ của tòa án với vai trò không chính thức nhưng lại tác động rộng rãi của hòa giải góp phần giảm bớt gánh nặng của tòa án và tăng cường chất lượng xét xử, tăng cường giải quyết tranh chấp một cách hòa bình theo truyền thống giữa các gia đình và thành
viên làng, xã Cụ thể Hệ thống hòa giải ở cấp làng, xã “sẽ thúc đẩy nền hành
ch nh tư pháp, phát triển văn hóa Philippin và củng cố gia đình với tư cách là nền tảng của xã hội” [8, tr.60] Tương tự ở Thái Lan bên cạnh hệ thống pháp
luật và tòa án chính thức, để giải quyết tranh chấp, người dân Thái Lan vẫn coi hòa giải là phương pháp chính, đặc biệt là ở nông thôn Vì vậy ở nông thôn Thái Lan hiếm khi người dân kiện nhau ra tòa
Ý nghĩa của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Cùng với các quá trình thực hiện pháp luật khác, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng góp phần vào công cuộc đổi mới ở nước ta Cụ thể:
Một là, góp phần xây dựng, bảo đảm, giữ gìn bản chất nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa lấy dân làm gốc “Của dân, do dân, và vì dân” Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở nói riêng là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở được thực thi trên thực tế Các cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải ở
cơ sở; các tổ chức và công dân khác phải có trách nhiệm thực hiện tốt các quy
Trang 23định pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần bảo đảm, giữ gìn bàn chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bên cạnh đó, hòa giải ở cơ sở ở nước ta là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của các hòa giải viên, các tổ hòa giải và sự hướng dẫn, quản lý của chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan,
tổ chức khác có liên quan đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên Hòa giải ở cơ sở không chỉ là là hoạt động đơn thuần của riêng hòa giải viên mà còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng Thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò trách nhiệm của các hòa giải viên, tổ hòa giải cũng như của các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác được nâng lên, tạo niềm tin của mọi tầng lớp Nhân dân vào pháp luật
về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 thông qua các chỉ tiêu về hòa giải cơ sở Đồng thời qua công tác tập huấn đội ngũ hòa giải viên, hoạt động hòa giải ở cơ sở cũng sẽ giúp cho hòa giải viên, các bên tham gia hòa giải nắm thêm quy định pháp luật trên các lĩnh vực nói chung, về thủ tục hành chính nói riêng
có liên quan trong quá trình hòa giải Kết quả hòa giải thành cũng góp phần làm
Trang 24giảm tải bớt các vụ tranh chấp phải xét xử tại tòa án cũng như thông qua các biên bản hòa giải không thành cũng sẽ giúp cho các cơ quan tư pháp thuận lợi hơn trong việc xác minh, giải quyết các tranh chấp Vì vậy có thể nói thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có đóng góp không nhỏ trong công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Ba là, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở cộng đồng dân cư Trên thực tế, nơi nào thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở thì
tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân Ngược lại, những địa phương thực hiện không tốt, người dân không tín nhiệm các hòa giải viên nên không có yêu cầu hòa giải hoặc được hòa giải nhưng không thành thì các tranh chấp ban đầu rất nhỏ như bờ ranh, mâu thuẫn nhỏ trong gia đình… nhiều lúc sẽ trở nên nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến chửi bới nhau, ẩu đả gây thương tích… gây mất trật tự, an toàn ở khu dân cư và thường phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể là UBND và Tòa án nhân dân các cấp giải quyết và nếu không được xử lý kịp thời
có thể xuất hiện những điểm nóng về khiếu kiện, tố cáo ảnh hưởng đến an ninh,
trật tự của địa phương
Chính vì vậy thực hiện pháp luật hòa giải về cơ sở tốt sẽ giúp giải quyết các mâu thuẫn ngay từ khi nó mới phát sinh không để các mâu thuẫn này kéo dài dẫn đến các phát sinh hậu quả phức tạp vì vậy tạo sự đồng thuận xã hội, giữ gìn
an ninh trật tự ở cộng đồng dân cư
Bốn là: Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Hoạt động hòa giải ở cơ
sở có lịch sử phát triển hết sức lâu đời dưới chế độ phong kiến đặc biệt là thời
Lê [34, tr.233] rồi chế độ thực dân nửa phong kiến do tính tự quản của làng xã khá cao, việc hòa giải những mâu thuẫn nhỏ trong nội bộ nhân dân chủ yếu do các hương ước, khoán ước của mỗi làng được quy định khá chặt chẽ [15, tr.5-6] Sau khi cách mạng tháng Tám thành công (1945), ngay từ những ngày đầu thiết
Trang 25lập chính quyền dân chủ nhân dân, Nhà nước ta cũng đã từng bước xây dựng quy định pháp luật về hòa giải đặc biệt là hòa giải ở cơ sở Từ thời điểm này thông qua hoạt động thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở hệ thống pháp luật nói chung, về hòa giải cơ sở nói riêng từng bước được củng cố hoàn thiện hơn Từ
đó nhiều quy định về hòa giải ở cơ sở được quy định như:
- Năm 1946, chế định hòa giải được duy trì do Ban Tư pháp xã thực hiện [20, khoản 1- Điều thứ 3], [21, Điều thứ 3 - 4] và năm 1964 việc xây dựng tổ hòa giải và kiện toàn tổ tư pháp, xã khu phố cũng được hướng dẫn [64] Theo
đó, tổ hòa giải là một tổ chức xã hội, không phân xử mà chỉ giải thích, thuyết phục để giúp đỡ các bên tự nguyện giải quyết những xích mích, tranh chấp một cách có tình, có lý;
- Đến năm 1980, chế định này được ghi nhận là một nguyên tắc Hiến
định, cụ thể: “Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” [43, Điều 128] Từ quy định này, năm 1982, Bộ Tư pháp
hướng dẫn các cơ quan tư pháp địa phương đặc biệt là huyện, xã trực tiếp quản
lý và hướng dẫn hoạt động hòa giải [7]
- Năm 1998, lần đầu tiên Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ
sở được ban hành [68] và đến năm 1999 được Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết [16] Nếu so sánh với các văn bản trước đây, có thể nói hai văn bản này lần đầu tiên quy định đầy đủ và đồng bộ các vấn đề về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở vừa có tính kế thừa, thể hiện tính liên tục của truyền thống hòa giải của nước ta, dân tộc ta từ thời phong kiến đến nay; vừa tạo cơ sở pháp lý vững chắc để củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ hòa giải viên và tăng cường vai trò trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức đối với công tác hòa giải ở
cơ sở
- Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng
Trang 26Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ vị trí, vai trò và ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, Năm 2013, Luật hòa giải ở cơ sở được ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014 [52]; được Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành [18]; phối hợp Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành [19] với các quy định cụ thể, hợp lý, khắc phục được các khó khăn, vướng mắc trong công tác này khi triển khai thực hiện Pháp lệnh Sau đó, việc lập dự toán, quản lý sử dụng
và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở cũng được Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể hơn [6]
Như vậy rõ ràng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở với các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện đã tạo điều kiện để Nhà nước từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như về hòa giải ở cơ sở nói riêng
Năm là: củng cố, bảo vệ và phát triển các giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Trong quá trình hòa giải, tùy thuộc vào vụ, việc cụ thể, các hòa
giải viên không chỉ áp dụng các quy định của pháp luật mà còn vận dụng các phong tục, tập quán, giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc để hòa giải các tranh
chấp của vợ chồng “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi ớt lửa chẳng đời nào hê”, anh em “Anh em như thể tay chân”, hàng xóm “Bán họ hàng xa, mua láng giềng gần”, chia sẻ nguồn nước “Ruộng trong nong ruộng ngoài”… Việc
áp dụng này tương đối thuận lợi và dễ dàng hơn so với việc áp dụng tại các cơ quan tư pháp khi tranh chấp không được tiến hành hòa giải ở cơ sở vì hòa giải viên là người có uy tín ở địa phương nên dễ được chấp nhận Nhờ thế các giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc tiếp tục được phát huy, gìn giữ ở các cộng đồng dân cư
Nội dung thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Hòa giải ở cơ sở là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt
Trang 27Nam với các mục tiêu cụ thể như sau:
- Giải quyết kịp thời, từ gốc mâu thuẫn, xích mích, các tranh chấp trong
gia đình, cộng đồng dân cư, từ đó khôi phục, duy trì, củng cố tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, tội phạm, bảo đảm trật
tự, an toàn xã hội, tránh để chuyện bé xé ra to, “cái sảy nảy cái ung”, từ tranh
chấp dân sự chuyển thành phạm tội hình sự Giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, quan hệ tốt đẹp giữa các bên được duy trì, góp phần giảm bớt khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện của nhân dân, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của nhân dân cũng như của Nhà nước
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý xã hội Trước hết tổ
hòa giải là một tổ chức tự quản được nhân dân thành lập ở cộng đồng dân cư với hòa giải viên là những người có uy tín, hiểu biết về pháp luật được cộng đồng dân cư tín nhiệm, bầu Mặt khác, đặc trưng cơ bản của hòa giải đặc biệt là hòa giải ở cơ sở là người dân yêu cầu hòa giải viên giải thích pháp luật, hòa giải các xích mích, mâu thuẫn của mình một cách tự nguyện, không ép buộc và các bên tranh chấp có toàn quyền định đoạt trên cơ sở giải thích, gợi ý của hòa giải viên Như vậy rõ ràng hòa giải ở cơ sở là một phương thức dễ dàng nhất để người dân thực hiện dân chủ, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
- Giáo dục, phổ biến giáo dục pháp luật và từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Trong quá trình hòa giải, bên cạnh việc vận dụng các công cụ khác (văn hóa, đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đạo lý, truyền thống ), các hòa giải viên còn vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật để họ tự lựa chọn, tự dàn xếp ổn thỏa với nhau mâu thuẫn, tranh chấp Các nội dung quy định pháp luật này được hòa giải viên giải
Trang 28thích cho các bên giúp cho họ biết được cái đúng, cái sai của mình và đôi lúc là các chế tài, thiệt hại cho cả hai bên nếu họ không hòa giải mà tiếp tục khiếu kiện tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Từ đó hòa giải viên giáo dục, phổ biến pháp luật cho mọi người dân tham gia buổi hòa giải, giúp họ hiểu quy định pháp luật một cách tự nhiên, trực tiếp và từ đó tự nguyện chấp hành để đảm bảo quyền lợi của họ, của người khác cũng như toàn xã hội
- Duy trì và phát huy đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc Do pháp luật có lúc không bao quát hết các mặt của đời sống xã hội, vì vậy trong một số trường hợp, người dân không vi phạm pháp luật nhưng chưa phù
hợp các quy định đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, vùng miền (VD: Hàng xóm đang có đám tang nhưng nhà ên lại mở tiệc ca hát; Trẻ con hỗn láo, chửi bới hàng xóm…) từ đó dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp Một số trường hợp
khác các bên đều biết rõ các quy định của pháp luật nhưng không chịu nhường nhịn nhau mà muốn tranh chấp, bảo vệ quyền lợi của mình làm ảnh hưởng đến cộng đồng Khi hòa giải các xích mích này, hòa gải viên không thể chỉ dựa trên các quy định pháp luật mà còn phải dựa vào những chuẩn mực đạo đức, văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán tốt đẹp để tác động tới tâm tư, tình cảm của các bên,
khơi dậy trong họ những suy nghĩ, tình cảm tích cực (VD: nhà hàng xóm có tang thì không nên mở tiệc, ca hát lớn tiếng; trẻ nhỏ thì phải ngoan, thưa gửi người lớn, hông được hỗn láo, chửi bới người hác…) Như vậy qua hòa giải ở cơ sở
sẽ giúp cho các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy
Nguyên tắc của hòa giải ở cơ sở
Theo Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở, có các nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở sau:
Thứ nhất, tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở
Có thể nói đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hòa giải ở cơ sở
Trang 29Vì bản chất của hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên có tranh chấp trong việc giải quyết các vi
phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ Như luận văn đã tích, “Hòa giải viên chỉ đóng vai trò là người trung gian hướng dẫn, giúp đỡ các bên giải quyết tranh chấp b ng con đường hòa giải chứ hông áp đặt, bắt buộc các bên phải tiến hành hòa giải [15, tr.15], do đó hòa giải viên phải tôn trọng sự tự nguyện, ý chí
của các bên tranh chấp; hướng dẫn, giúp họ tìm được tiếng nói chung để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một cách ổn thỏa
Người làm công tác hòa giải phải hiểu được tâm lý của những người đang
có mâu thuẫn, đang có tranh chấp vì giữa họ ai cũng có những lý lẽ cho rằng mình đúng và không chấp nhận lý lẽ của bên kia Do đó khi hòa giải, Hòa giải viên phải giúp họ bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận ra sự thật, thấy rõ cái đúng, cái sai của cả hai bên Chỉ khi nào họ hiểu đúng đắn và thông cảm với nhau thì họ mới tự nguyện cùng nhau giải quyết mọi mâu thuẫn Trường hợp, tiến hành hòa giải các bên có thể chưa chấp nhận ngay thì Hòa giải viên phải dùng phương pháp thuyết phục để hai bên đi đến thỏa thuận mà không được tìm cách áp đặt ý chỉ chủ quan của mình Mọi tác động như cưỡng ép, làm cho một trong hai bên
bị lừa dối hay nhầm lẫn để bắt buộc họ phải hòa giải đều không thể hiện tính tự nguyên của các bên và vi phạm nguyên tắc này Một trong những phương pháp
để hai bên đi đến thoả thuận trong trường hợp họ không chấp nhận thì tổ viên tổ hoà giải có thể nhờ đến sự trợ giúp của người đại diện chính quyền như công an hay đại diện của tổ chức xã hội để tạo nên một tâm lý nhất định đối với một hoặc các bên tranh chấp, để họ đồng ý chấp nhận việc hoà giải Đương nhiên sự tác động tâm lý này không được mang tính ép buộc mà chỉ là sự hỗ trợ cho hoà giải viên thực hiện thành công việc hoà giải
Thứ hai, bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo
Trang 30đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn
kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi
“Pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện b ng nhà nước nh m điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đ ch trật tự và
ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội”[30, tr.288] hay nói cách
khác chính sách pháp luật nhà nước là những chuẩn mực cho các hành vi xử sự
và các hoạt động xã hội Bên cạnh đó, “Đạo đức là hệ thống những quy tắc chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội và tự nhiên và với cả bản thân mình” [3, tr.4], “Phong tục là thói quen, tục lệ đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo” [41, tr.783], “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được mọi người công nhận và làm theo” [41, tr.901] do đó đạo đức, phong tục, tập quán tuy
không được nhà nước quy định như pháp luật nhưng lại được xem là chuẩn mực,
là sự tự giác, ăn sâu, thành nếp trong đời sống xã hội mà được mọi người công nhân và làm theo Vì vậy, hòa giải ở cơ sở phải được tiến hành phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân, đồng thời là biện pháp quan trọng trực tiếp đưa chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phát huy truyền thống đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc
Như vậy, Để thực hiện nguyên tắc này, mỗi hòa giải viên phải hiểu và nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trước hết,
Trang 31cần nắm vững các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở và các văn bản có liên quan mật thiết đến công tác hòa giải ở cơ sở như pháp luật dân sự (như quan hệ tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế ); pháp luật hôn nhân và gia đình (như quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, quan hệ cha, mẹ, con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng ); pháp luật đất đai, bảo vệ môi trường; pháp luật hành chính và pháp luật hình sự…
Trong một số trường hợp pháp luật không quy định đầy đủ các mặt đời sống của xã hội, lúc này phong tục, tập quán được áp dụng để khắc phục những
lỗ hổng, những “kẽ hở” này của pháp luật Tuy nhiên không phải phong tục, tập quán nào cũng có thể được áp dụng để “thay thế” cho những khiếm khuyết của quy phạm pháp luật mà chỉ các nội dung nào thể hiện được tính hợp lý, tiến bộ
và không trái đạo đức xã hội mới được áp dụng Vì vậy, bbên cạnh việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hòa giải viên cần nắm vững các phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương để động viên, khuyên nhủ các bên dàn xếp mâu thuẫn, tranh chấp, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng
xa, đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, việc vận dụng các phong tục, tập quán, câu ca dao, tục ngữ, phải có sự chọn lọc cho phù hợp, tránh các giáo lý, hủ tục lạc hậu
Ví dụ, ở vùng đồng bằng, có thể dùng các lời dặn của ông bà từ ngàn xưa
như “ruộng trong nong ruộng ngoài”, bắt buộc chia sẻ nguồn nước cho nhau để hòa giải các tranh chấp về đường nước, “ án anh em xa, mua láng giềng gần”
để hòa giải tranh chấp hàng xóm láng giềng với nhau; ở Tây Nguyên có thể áp dụng luật tục người Ê-đê để hòa giải các vấn đề về hôn nhân gia đình như:
“Trâu ò hông ai ép thừng/ trai gái không ai ép duyên/ Nếu trai gái ưng nhau
tự họ sẽ cầm lấy vòng”[57, điều 95] để hòa giải ép gả cưới, “Có dưa có ắp là
có người trồng/Có con cái là do cha mẹ sinh ra/có người phải được coi trọng”[57, điều 143] để hòa giải tranh chấp giữa cha mẹ con Đây là các quy
Trang 32định tiến bộ, hòa giải viên cần khai thác và vận dụng hợp lý vào từng vụ việc cụ thể để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhằm củng cố, giữ gìn hạnh phúc trong mỗi gia đình, dòng họ
Thứ ba, nguyên tắc khách quan, công b ng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên
Khi mâu thuẫn, xích mích xảy ra, mỗi bên tranh chấp đều đưa ra lý lẽ để
tự bảo vệ, cho mình là đúng, không tự nhìn nhận được cái sai của mình đã gây ra cho người khác Do đó, người hòa giải phải thực sự khách quan, vô tư, công minh, đề cao lẽ phải, tìm cách thuyết phục để mỗi bên hiểu rõ sai trái, không xuề
xòa “dĩ hòa vi quý” cho xong việc Hơn nữa, sự công minh, khách quan, vô tư
của người hòa giải sẽ là yếu tố để hai bên đặt lòng tin và cùng nhau giải quyết
vụ việc
Nguyên tắc “có lý, có tình” có thể xem là là một trong những nguyên tắc
đặc trưng nhất của hoạt động hòa giải ở cơ sở so với loại hình hòa giải khác Vì vậy hòa giải viên cần cần tuân theo các quy phạm đạo đức, đề cao yếu tố tình cảm, khuyên nhủ các bên tranh chấp ứng xử theo các chuẩn mực đạo đức như:
con cái phải có hiếu với cha mẹ, “tội lỗi lớn nhất của con người là bất hiếu”; anh chị em phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau “như thể tay chân”, “chị ngã, em nâng”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”; vợ chồng sống với nhau phải có tình, có nghĩa, “đạo vợ, nghĩa chồng”; xóm giềng thì “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”… Ngoài ra, trong từng
trường hợp cụ thể Hòa giải viên cần phải hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật để giải quyết sự việc và hướng dẫn các bên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật
Thông thường, khi có mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật xảy ra
trong xã hội nếu không được giải quyết kịp thời dễ dẫn đến “việc bé xé ra to”,
việc đơn giản thành việc phức tạp, phạm vi ảnh hưởng cũng như hậu quả của các
Trang 33vi phạm pháp luật và tranh chấp ngày càng lớn Do đó, đòi hỏi hoà giải viên phải tiến hành chủ động, kịp thời để phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm pháp luật
Trong quá trình hoà giải, hoà giải viên phải tìm hiểu ngọn ngành của vụ việc như: Nguyên nhân phát sinh, diễn biến của vụ việc, thái độ mong muốn của các bên… Một điều đặc biệt cần lưu ý là trong quá trình thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải phải giữ bí mật thông tin về đời tư của các bên tranh chấp Khi
đã được các bên tranh chấp tin tưởng và thổ lộ thông tin thầm kín về đời tư của mình cho hoà giải viên, thì hoà giải viên không được phép tiết lộ thông tin đó cho người khác Song cũng cần phân biệt giữa bí mật thông tin đời tư cá nhân và thông tin bí mật của các bên tranh chấp về hành vi bất hợp pháp mà họ đã thực hiện
Thứ tư, tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng
Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được áp dụng cho mọi loại hình hoà giải các tranh chấp kể cả việc hoà giải được thực hiện bởi Toà án
và tổ chức trọng tài Đối với hoà giải ở cơ sở, các tranh chấp, xích mích trong đời sống sinh hoạt hàng ngày liên quan đến sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường… thường liên quan đến nhiều người khác ngoài các bên tranh chấp, do đó Tổ hoà giải không thể vì mục đích đạt được hoà giải thành mà làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Việc hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng
Thứ năm, ảo đảm ình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở
cơ sở
Thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở thời gian qua cho thấy, ở nơi này, nơi khác vẫn còn xảy ra tình trạng bất bình đẳng giới, bị ảnh hưởng bởi tư tưởng
Trang 34phong kiến “trọng nam, khinh nữ”, gây nhiều khó khăn cho công tác hòa giải ở
cơ sở… Nội dung của nguyên tắc này như sau:
- Bình đẳng giới trong các quy định đối với hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải: Về tiêu chuẩn, phương thức bầu hòa giải viên, quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, tổ hòa giải và tổ trưởng tổ hòa giải đều không phân biệt nam nữ; và ở
quy định về cơ cấu tổ hòa giải, bảo đảm có hòa giải viên nữ: “Mỗi tổ hòa giải có
từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ”;
- Bình đẳng giới còn được thể hiện trong các quy định về yêu cầu hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình hòa giải, thủ tục tiến hành hòa giải, văn bản hòa giải, thực hiện các thỏa thuận hòa giải, theo dõi, đôn đốc thực hiện kết quả hòa giải thành đối với các bên là như nhau không phân biệt nam, nữ
Thứ sáu, không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử
lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự
Để bảo đảm tôn trọng sự tự nguyện của các bên, tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, hòa giải viên và các bên liên quan không được lợi dụng việc hòa giải để ngăn cản các bên bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật
Đặc biệt, để bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật thì hòa giải viên, các bên liên quan phải tuân thủ nguyên tắc không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để tự giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật nhằm trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình
sự
Nội dung quy định của pháp luật hòa giải ở cơ sở
Như luận văn đã nêu, dù hòa giải ở cơ sở trên thực tế đã có từ thời phong kiến cho đến nay nhưng một thời gian dài không có quy định cụ thể về hoạt
Trang 35động này trong hệ thống pháp luật Việt Nam Vì vậy đến năm 1998, Pháp lệnh
về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định hướng dẫn số 160/1999/NĐ-CP chính là hai hai văn bản có hiệu lực pháp lý cao lần đầu tiên quy định chi tiết các vấn đề về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở Chế định
về hòa giải ở cơ sở chính thức được ra đời
Tuy nhiên, các văn bản này chưa quy định đầy đủ, cụ thể về cơ chế, chính sách cho công tác hòa giải ở cơ sở, trong đó có quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên; năng lực của đội ngũ hòa giải viên nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến kết quả hòa giải ở một số địa phương; việc khen thưởng, chế độ đãi ngộ, thù lao đối với hòa giải viên chưa được ghi nhận; chính sách hỗ trợ về kinh phí cho hoạt động của Tổ hòa giải chưa được quy định, do đó, hoạt động của tổ hòa giải gặp nhiều khó khăn; vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở chưa được quy định rõ, việc phân định trách nhiệm và cơ chế phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận với cơ quan Tư pháp từ Trung ương đến địa phương không rõ ràng, dẫn đến tình trạng nhiều nơi cho rằng công tác hòa giải ở cơ sở là công việc, trách nhiệm của ngành Tư pháp; trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan trong hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa được quy định; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải còn chung chung
Từ các vấn đề thực tiễn nêu trên, việc ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở là hết sức cần thiết Ngày 20/6/2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở, hòa giải viên, tổ hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở, cụ thể:
(i) Về phạm vi hòa giải ở cơ sở Đây là điểm mới quan trọng của Luật so
Trang 36với Pháp lệnh trước đây Luật quy định phạm vi hoà giải ở cơ sở theo hướng loại trừ, chỉ quy định các trường hợp không được hòa giải Phạm vi hòa giải ở cơ sở được quy định với yêu cầu bảo đảm các vấn đề sau: Việc hòa giải ở cơ sở không được ảnh hưởng đến quá trình cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật, không được lợi dụng hòa giải ở cơ sở để trốn tránh trách nhiệm hành chính, hình sự
Đối tượng của hòa giải được quy định tại Điều 3 của Luật, quy định việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau: Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị
xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải Điều
đó có nghĩa là, đối tượng hòa giải ở cơ sở là các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm
mà theo quy định của pháp luật chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính; hòa giải ở cơ sở nhằm góp phần giảm nguy cơ phát sinh phức tạp từ các tranh chấp, mâu thuẫn; hướng đến xây dựng lối sống văn hóa, chia sẻ, đoàn kết trong cộng đồng dân cư; hạn chế các vụ, việc phải đưa đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết
(ii) Về tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên Các quy định về
tiêu chuẩn hòa giải viên; quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên; thủ tục bầu, công nhận hòa giải viên và các trường hợp thôi làm hòa giải viên trong Luật cũng có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh trước đây
Hòa giải viên là những người trực tiếp thực hiện hoạt động hòa giải và là trung tâm của hoạt động này Luật quy định các tiêu chuẩn cơ bản của hòa giải
Trang 37viên người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại
cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn: Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật
Ngoài ra, Luật đã bổ sung quy định về trách nhiệm của tổ hòa giải và các quyền, nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hòa giải Bổ sung một số quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, trong đó có quyền được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp
vụ, kỹ năng hòa giải ở cơ sở; được hưởng thù lao khi thực hiện vụ, việc hòa giải; được khen thưởng; được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải… cũng như một số nghĩa vụ cho phù hợp với tình hình mới, khắc phục hạn chế, bất cập của đội ngũ hòa giải viên hiện nay Luật bỏ quy định về nhiệm kỳ của hòa giải viên nhưng quy định về thời điểm để kiện toàn tổ chức hòa giải ở cơ sở theo hướng hằng năm rà soát, đánh giá về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải
Việc quy định nhiều quyền lợi của hòa giải viên hơn so với Pháp lệnh xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của hoạt động hòa giải cơ sở thời gian qua, đồng thời khẳng định những đóng góp không nhỏ của hòa giải viên trong việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư
(iii) Về tổ hòa giải Một điểm mới trong Luật là đưa vấn đề bình đẳng
giới vào nguyên tắc hoạt động hòa giải Theo đó công tác hòa giải phải bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động Nguyên tắc này nhằm thực hiện pháp luật bình đẳng giới, đồng thời khắc phục tình trạng có nơi, có lúc còn phân biệt đối xử về giới trong thực tiễn hoạt động hòa giải: Luật bổ sung quy định về thành phần tổ hòa giải phải có hòa giải viên nữ Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải cần có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ
Trang 38hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương
và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã
(iv) Về chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở Với chủ trương
khuyến khích cá nhân tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở, xây dựng đội ngũ hòa giải viên có chất lượng, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Các tiêu chuẩn quy định trong Luật về cơ bản đã thể hiện bao quát các yêu cầu trên cũng như tạo sự linh hoạt trong quá trình bầu, lựa chọn hòa giải viên Luật đã kế thừa các quy định về bầu hòa giải viên trong Pháp lệnh và sửa đổi một số quy định nhằm đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, thể hiện rõ hơn bản chất của hòa giải ở cơ sở là hoạt động xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, do nhân dân thực hiện
Hơn nữa, theo quy định tại Điều 8 của Luật, hòa giải viên do chính người dân ở cơ sở tiến hành bầu, lựa chọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, được sự đồng thuận và ủng hộ tối đa của người dân Việc chủ trì, tổ chức thực hiện bầu hòa giải viên do Trưởng ban công tác Mặt trận tiến hành cùng với sự phối hợp của trưởng thôn, tổ trưởng dân phố Luật quy định cụ thể hình thức tổ chức bầu hòa giải viên thông qua việc tổ chức cuộc họp đại diện các hộ gia đình hoặc phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận hòa giải viên [52, khoản 3 – Điều 8] Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng
Trang 39thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố [52, khoản 3 – Điều 8]
Với quy định trên, khi người dân trực tiếp tham gia bầu hòa giải viên, nếu
có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra, họ cũng dễ dàng chấp nhận hoặc tự nguyện nhờ hòa giải viên tiến hành hoà giải; hòa giải viên sẽ dễ dàng tiếp cận các bên để tìm hiểu thông tin, phân tích, hướng dẫn các bên tự nguyện hòa giải với nhau hoặc thoả thuận được về việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh Thông qua việc bầu hoà giải viên sẽ giúp cho hòa giải viên nhận thức được ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của việc hòa giải ở cơ sở, từ đó có ý thức nâng cao trách nhiệm của mình Qua hoạt động bầu hòa giải viên sẽ góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân, tạo điều kiện để người dân tham gia, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
(v) Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải Một số điểm được
cho là tiến bộ trong luật cũng có liên quan đến vai trò, trách nhiệm của hòa giải viên, cụ thể như quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình hòa giải, phân công hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải; hòa giải giữa các bên; trách nhiệm thực hiện hòa giải thành của các bên, quy định rõ hơn quy trình hòa giải, bảo đảm tính linh hoạt trong hoạt động hòa giải, phát huy vai trò chủ động của hòa giải viên trong việc đôn đốc, theo dõi việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành
Điều 17 của Luật quy định các bên có quyền lựa chọn, đề xuất hòa giải viên, địa điểm, thời gian để tiến hành hòa giải; đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải; yêu cầu việc hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai; được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung giải quyết hòa giải Luật bổ sung quy định mới này nhằm bảo đảm cho việc thực hiện kết quả hòa giải được hiệu quả, thiết thực
(vi) Về căn cứ tiến hành hòa giải Điều 16 của Luật quy định căn cứ tiến
Trang 40hành hòa giải như sau: “Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải; hòa giải viên chứng kiến hoặc biết vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải; theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan” Quy định như vậy là nhằm đề cao tính tự nguyện, chủ động của các bên khi có nhu cầu hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp và vi phạm pháp luật
(vii) Về hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở Đây là điểm mới
nổi bật so với Pháp lệnh và là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả cho hoạt động hòa giải ở cơ sở Điều 6 của Luật quy định: “Nhà nước
hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở”
Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở Nhà nước có chính sách để phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở, thể hiện đúng bản chất của hòa giải ở cơ sở là tự nguyện, tự quản Đặc biệt, Luật đã quy định
cụ thể trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của mặt trận đối với việc tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở [52, điều 30]
Hòa giải ở cơ sở với tính chất là hoạt động tự nguyện, tự quản của cộng đồng dân cư Nhà nước chỉ thực hiện quản lý và hỗ trợ cho công tác này Nếu Nhà nước bao cấp hoàn toàn cho hoạt động này thì sẽ làm mất đi tính xã hội