1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn các huyện miền tây tỉnh nghệ an

86 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Tác giả luận văn

Lãnh Văn Mùi

Trang 4

trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn

thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy cô, các cán bộ quản lý

và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên thực hiện

Lãnh Văn Mùi

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số 5

1.2 Vai trò, ý nghĩa của bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số 8

1.3 Nội dung của bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số 13

1.4 Một số yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số 18

Tiểu kết chương 1 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC HUYỆN MIỀN TÂY TỈNH NGHỆ AN 26

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An 26

2.2 Thực tiễn bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An 28

2.3 Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An 35

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC HUYỆN MIỀN TÂY TỈNH NGHỆ AN 56

3.1 Những quan điểm cơ bản về bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số 56

3.2 Một số giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An 63

3.2.3 Giải pháp về mặt tuyên truyền 65

3.2.4 Giải pháp về tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ 66

3.2.5 Các giải pháp khác 66

Tiểu kết chương 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bình đẳng giới (BĐG) là triết lý mà nhân loại đã theo đuổi nhiều thế kỷ qua Ngày nay, bình đẳng giới là vấn đề có tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại, là một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Nhiều văn bản quan trọng đã ra đời và quy định cụ thể về nội dung này như: Hiến pháp, Luật Lao động, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Bình đẳng giới

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, vấn đề bình đẳng giới ngày càng nhận được sự quan tâm của các nước trên thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam Hơn thế nữa, việc bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào các dân tộc thiểu số còn được quan tâm hơn cả Trong gia đình nam giới vẫn được coi là trụ cột, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng, còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình vẫn được coi là “thiên chức” của phụ nữ, được coi là việc vặt, không tên, không có giá trị Vậy là ngoài giờ đi làm, tham gia hoạt động sản xuất như nam giới, phụ nữ còn phải gánh trách nhiệm chính trong hoạt động tái sản xuất của gia đình, điều này đã hạn chế cơ hội được tiếp cận và khả năng tìm được chỗ đứng trong thị trường lao động, ảnh hưởng tới việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, sức khỏe, tâm lý và thời gian nghỉ ngơi, giải trí để đảm bảo tái sản xuất, tham gia hoạt động xã hội của phụ nữ Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS, bất BĐG còn diễn ra mạnh mẽ, vị thế của người phụ nữ trong gia đình còn thấp kém Miền tây Nghệ An là nơi cư trú của nhiều đồng bào DTTS, với sự đa dạng về bản sắc văn hóa tộc người Do trình độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa còn thấp kém, bất BĐG còn khá phổ biến và nặng nề hơn so với nhiều vùng khác trong cả nước Tính chất bảo thủ của phân công lao động truyền thống theo giới, vẫn đang thể hiện rõ nét Vai trò của người phụ nữ bị xem nhẹ, thậm chí họ phải chịu những tư tưởng lạc hậu, chịu nhiều thiệt thòi không được học hành, giao lưu, tiếp xúc với xã hội

Phụ nữ DTTS ở miền Tây Nghệ An thường phải lao động với cường độ lớn, thời gian làm việc kéo dài, điều kiện nghỉ ngơi dường như không có, ít có cơ hội tiếp cận các nguồn lực để phát triển, nâng cao năng lực của bản thân, khả năng ra quyết định và

Trang 8

2 hưởng thụ lợi ích của họ nhìn chung thấp hơn nhiều so với nam giới Một bộ phận không nhỏ phụ nữ DTTS miền Tây tỉnh Nghệ An vẫn còn đứng bên lề của sự phát triển Nghèo đói, rào cản của luật tục, hạn chế về kiến thức, không chỉ làm gia tăng thêm gánh nặng cho phụ nữ trong lao động sản xuất, tái sản xuất để duy trì cuộc sống gia đình, mà còn làm cho những cơ hội để họ tham gia hòa nhập với dòng chảy của xã hội ít hơn so với nam giới Vì vậy, phụ nữ DTTS chính là nhóm xã hội cực khổ nhất, chịu nhiều sự bất bình đẳng nhất ở miền Tây tỉnh Nghệ An Bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số miền tây tỉnh Nghệ An chính là góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững hiện nay, góp phần thu hẹp dần khoảng cách về sự phân biệt

Từ những lí do trên, việc nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới để đề xuất giải pháp thúc đẩy thực hiện BĐG cho đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây tỉnh Nghệ An

hiện nay được đặt ra cấp thiết Do vậy, tác giả chọn vấn đề “Bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Bảo đảm quyền Bình đẳng giới là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta

trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lý quan tâm

Trong lĩnh vực này có một số công trình nghiên cứu liên quan Cụ thể như: Đề án

“Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 - 2025" của Chính phủ, 2017; “Bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số miền núi

phía bắc Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Lệ Thu, 2017

Trong phạm vi tỉnh Nghệ An có đề tài: “Bảo đảm bình đẳng giới trong lao động việc làm ở Nghệ An” Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Nguyệt, 2015 tại Trường đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong bảo đảm quyền bình đẳng giới trên nhiều góc độ, tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về bảo đảm quyền bình đẳng giới ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay Vì vậy tôi đã chọn

Trang 9

Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, những vấn đề đặt ra của

việc thực hiện BĐG cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ

An, luận văn đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu để thúc đẩy, bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền Tây tỉnh Nghệ

An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền

BĐG trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

- Phân tích thực trạng, chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với việc bảo đảm quyền BĐG trong đồng bào DTTS miền Tây tỉnh Nghệ An hiện nay

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm quyền BĐG cho đồng bào DTTS miền Tây tỉnh Nghệ An hiện nay

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu Quyền bình đẳng giới cho đồng bào

dân tộc thiểu số tại miền Tây tỉnh Nghệ An

4.2 Khách thể nghiên cứu: Đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền Tây tỉnh Nghệ

An

4.3 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn này tập trung nghiên cứu Quyền bình đẳng giới

cho đồng bào dân tộc thiểu số tại miền Tây tỉnh Nghệ An Cụ thể là các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu, Qùy Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa Từ đó đưa ra các giải pháp để bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại miền Tây tỉnh Nghệ

An

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để luận giải, phân tích vấn đề Ngoài ra đề tài còn sử dụng

Trang 10

4 phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp thống kê, kết hợp logíc với lịch sử…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Luận văn là công trình bước đầu nghiên cứu vấn đề một cách có hệ thống việc bảo đảm quyền BĐG cho đồng bào DTTS ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, do vậy luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau:

- Làm rõ hơn lý luận về bình đẳng giới; nội dung, thực trạng của BĐG trong đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây tỉnh Nghệ An

- Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, chính sách đến việc thực hiện BĐG của đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây tỉnh Nghệ An

- Đánh giá một cách cụ thể thực trạng BĐG trong đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Tây tỉnh Nghệ An trên các lĩnh vực: sản xuất, tái sản xuất, tham gia hoạt động cộng đồng, văn hóa, xã hội

- Phát hiện những vấn đề đặt ra trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp để thúc đẩy BĐG cho đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

Chương 3 Quan điểm và một số giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

Trang 11

5

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH

ĐẲNG GIỚI TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm bảo đảm quyền bình đẳng giới

Bình đẳng giới là mối quan hệ không có sự phân biệt đối xử với phụ nữ, nam và

năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình Nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Bình đẳng giới

là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội và là một tiêu chí văn hóa Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện cụ thể như: Bình đẳng trong đối xử, bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về hưởng thụ lợi ích,…

nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội Nam, nữ có điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng khi họ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quyền bình đẳng giới cần quán triệt một số quan điểm:

Quan điểm thứ nhất, bảo đảm quyền bình đẳng giới là một trong các nguyên tắc

cơ bản trong bảo đảm quyền con người Trong xã hội dân chủ, quyền này luôn đựơc coi trọng Ở Việt Nam, chủ trương bình đẳng giới là hành trang xuyên suốt của chính sách bình đẳng qua các thời kỳ phát triển của Nhà nước ta Quyền bình đẳng giới đã được quy định ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta (1946) Vị trí, vai trò của

nữ giới được xã hội tôn trọng và pháp luật tạo điều kiện thuận lợi để nữ giới phát triển tài năng và tham gia hoạt động chính trị, hoạt động xã hội

Quan điểm thứ hai, bảo đảm quyền bình đẳng giới trong quá trình xây dựng,

thực hiện chính sách pháp luật Pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của con người,

Trang 12

6

trong đó có quyền bình đẳng của phụ nữ Do đó, việc hoàn thiện bộ phận pháp luật này không thể tách ra khỏi việc hoàn thiện hệ thống pháp luật chung Điều này có nghĩa là hoàn thiện bộ phận pháp luật về bình đẳng giới cũng phải đặt trong mối quan hệ với hoàn thiện pháp luật chung và căn cứ vào những đặc điểm riêng của phụ nữ Điều này đòi hỏi việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trước hết phải bắt đầu từ việc rà soát lại toàn bộ các văn bản liên quan đến bình đẳng giới, tập trung trong các văn bản luật Đồng thời, việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới đòi hỏi phải chú trọng mối quan hệ giữa nội dung các quy định của pháp luật với cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm nội dung đó được thực hiện trong thực tế Nội dung của pháp luật về bình đẳng giới phải được thể chế hóa đầy đủ chủ trương và chính sách của Đảng đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, thể hiện đầy đủ các quyền chính trị của phụ nữ Cùng với nội dung của pháp luật, cơ chế pháp lý cũng phải bảo đảm chuyển tải những nội dung trên bởi các quy định, thủ tục đơn giản, thuận tiện và thể hiện được nguyên tắc bình đẳng và dân chủ của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật bình đẳng giới

Quan điểm thứ ba, củng cố cơ chế bảo đảm quyền bình đẳng giới Quốc hội cần rà

soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các văn bản pháp luật phù hợp với đặc điểm đặc thù giới của phụ nữ, đặc điểm riêng của từng ngành, nghề theo hướng: Bảo đảm tính khả thi, dễ hiểu, quy định cụ thể để giảm bớt tình trạng phải chờ quá nhiều văn bản hướng dẫn mới thi hành được Đồng thời, để các văn bản pháp luật dễ đi vào cuộc sống, Chính phủ và các cơ quan hành chính ở địa phương tăng cường những nghiên cứu liên quan tới bình đẳng giới nhằm cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật liên quan đến bình đẳng giới Các tổ chức chính trị - xã hội cần mạnh dạn hơn nữa trong quá trình tham gia quản lý nhà nước trong vấn đề bảo đảm quyền bình đẳng giới

Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ là, tiếp tục “ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” [ 8, tr 135] Trong phương hướng xây dựng cơ chế quản lý

xã hội bằng pháp luật thì giáo dục pháp luật cho nhân dân giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là khâu tiền đề tạo ra ý thức cho phương hướng có khả năng thành hiện thực trong đời sống xã hội

Trang 13

7 Thực tế cho thấy, sự coi nhẹ và thiếu năng động trong công tác thực hiện pháp luật là nguyên nhân dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật của cán bộ, công chức còn thấp Điều đó đòi hỏi chúng ta cần thiết phải nhận thức ý nghĩa mang tầm chiến lược của công tác giáo dục pháp luật trong suốt cả quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân

1.1.2 Đặc điểm bảo đảm quyền bình đẳng giới

Bình đẳng giới thể hiện vị trí, vai trò của nam và nữ ngang nhau trong các quan

hệ xã hội, do đó bình đẳng giới có các đặc điểm sau:

Tính ngang quyền: để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và

cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cụ thể Nhà nước cần có quy định chung về bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về hưởng thụ các quyền

và gánh vác các nghĩa vụ Đó là các quy định bình đẳng mang tính tối thiểu, không thể thiếu để đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam, nữ như: công dân nam và nữ đều có quyền bầu cử, ứng cử; có quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn; có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật

Tính ưu đãi: do đặc điểm truyền thống và đặc điểm sinh học của phụ nữ khác biệt

so với nam giới nên để đạt được bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ Ví dụ, phụ nữ phải đảm nhận chức năng sinh đẻ và nuôi con nhỏ, vì vậy pháp luật lao động cần thiết phải quy định khi nữ lao động nghỉ thai sản họ vẫn được hưởng nguyên lương đồng thời được trợ cấp thai sản

Tính linh hoạt: việc đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong

từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến Cụ thể, phụ nữ thường có thể chất yếu hơn và sức chịu đựng kém hơn so với nam giới, vì vậy luật nhiều nước quy định cấm tuyển dụng nữ lao động trong các ngành nghề nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại Khi khoa học kỹ thuật phát triển, điều kiện lao động được cải thiện thì cần có sự điều chỉnh sao cho phù hợp nhằm loại bỏ quy định cấm này đối với các ngành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện về điều kiện lao động để tạo thêm cơ hội việc làm cho phụ

nữ

Tính phân loại: bình đẳng giới không chỉ được xem xét vị thế của phụ nữ và

nam giới trong xã hội mà còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành

Trang 14

8 phần xã hội khác nhau trong phạm vi quốc gia và trên thế giới Cụ thể, quy định tăng

độ tuổi nghỉ hưu đối với phụ nữ, thì có thể có lợi cho nữ giới lao động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giảng dạy nhưng lại bất lợi đối với nữ giới ở một số lĩnh vực như: phụ nữ nông thôn, lao động nặng nhọc,…Vì vậy, quy định trên chỉ đem lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp, dẫn đến làm giãn khoảng cách đối xử và tạo ra phân biệt đối xử trong nữ giới nói chung

Như vậy, bình đẳng giới cần được hiểu dưới các khía cạnh sau:

Thứ nhất, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và nữ giới được công nhận, được hưởng các vị thế trong xã hội ngang nhau Thứ hai, bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống y hệt nhau mà sự tương đồng và khác biệt tự nhiên tự nhiên giữa nam và nữ được công nhận và có giá trị như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng Bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người, là yêu cầu về sự phát triển bền vững của xã hội

1.2 Vai trò, ý nghĩa của bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Vai trò của bảo đảm quyền bình đẳng giới

Bảo đảm quyền bình đẳng giới là một trong những mục tiêu cơ bản của việc bảo đảm công bằng xã hội nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số Đảng và Nhà nước ta nhận thức được tầm quan trọng của bình đẳng giới và luôn ghi nhận vấn đề này trở thành cơ sở pháp lý quan trọng Dựa vào Hiến pháp, vấn đề bình đẳng giới đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật, làm cơ sở để thực hiện và bảo đảm vấn đề bình đẳng giới trong thực tế Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI kì họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, quy định về bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực, là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện vấn đề bình đẳng giới Luật Bình đẳng giới được ban hành thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta tới việc bảo đảm bình đẳng giới, ngoài ra còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng góp phần đưa các quy định của pháp luật về bình đẳng giới vào cuộc sống Nhưng để thực hiện các quy định về bình đẳng giới trong đời sống xã hội là vấn đề không đơn giản Một trong những vấn đề đáng quan

Trang 15

9 tâm hiện nay đó là bảo đảm quyền bình đẳng giới vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là bảo đảm quyền bình đẳng giới, đặc biệt bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa và tầm quan trọng thiết thực nhất

Bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quyền con người

Quyền con người là những quyền cơ bản và tuyệt đối mà mọi người được hưởng Ở từng quốc gia mỗi con người đều được hưởng quyền con người cho dù mức

độ được hưởng của họ là khác nhau Theo tiêu chuẩn Quốc tế, hầu hết nhưng không phải tất cả các quyền được mô tả trong Tuyên ngôn về nhân quyền (1948) Ở cấp quốc gia quyền của con người được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật, Luật khác của quốc gia đó Trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều chỉnh có rất nhiều quyền của con người được ghi nhận, trong đó có quyền như quyền được bầu cử

và ứng cử, quyền quản lý nhà nước và xã hội, quyền được tự do kinh doanh, quyền học tập, nghiên cứu khoa học, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được hưởng bảo vệ chế độ bảo vệ sức khỏe, quyền bình đẳng ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình … có hiệu lực đối với mọi công dân Việt Nam bất kể giới tính, dân tộc, tôn giáo của họ Tuy nhiên, các quyền của con người thường bị vi phạm bởi các nguyên tắc, lề thói hay định kiến xã hội

Bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số gắn với sự phát

triển của xã hội

Bình đẳng giới về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của phụ nữ với nam giới là sự bình đẳng về cơ hội và vị thế của phụ nữ với nam giới nhằm đem lại sự tương xứng về quyền nam và nữ Vì vậy ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho bình đẳng giới cũng là đấu tranh cho các quyền của con người, thiết lập sự bình đẳng nam nữ là

sự phấn đấu để tiến tới công bằng xã hội Công bằng xã hội ngày nay nhiều khi chưa được thỏa đáng trong phân công lao động, phân phối và thu nhập Công bằng xã hội, bình đẳng nam nữ chính là hạt nhân của chính sách xã hội Là một đất nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp Đảng và Nhà nước ta luôn coi phụ nữ là lực lượng quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội, khuyến khích phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã

Trang 16

10 hội và các chính sách đang thực hiện, đã có một cách nhìn nhận tương đối toàn diện về các vai trò khác nhau mà người phụ nữ gánh vác trong xã hội Trong Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đã đưa ra mục tiêu tổng quát: “Đến năm

2020, về cơ bản bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” [19] Vai trò và địa vị của phụ nữ dân tộc thiểu số được quan tâm qua từng giai đoạn phát triển của đất nước Bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân gây cản trở lớn đối với phát triển kinh tế xã hội Thực tiễn chứng minh điều đó, do sự phân biệt và đối xử trong phân công lao động nên làm giảm năng suất trong các cơ quan, xí nghiệp Những cái giá phải trả cho sự bất bình đẳng giới rất nặng nề, nhất là những tổn hại về cuộc sống và chất lượng cuộc sống Thực tế cho thấy từ các nước trên thế giới đã chứng tỏ xã hội nào có sự bất bình đẳng giới gay gắt và dai dẳng thì xã hội đó sẽ phải trả giá đắt hơn bằng sự nghèo đói, ốm đau và những sự bần cùng khác trong xã hội

Bảo đảm quyền bình đẳng giới gắn với pháp lý quốc tế

Trên bình diện pháp lý quốc tế vấn đề bảo vệ phụ nữ đã trở thành trọng tâm của nhiều Công ước quốc tế thế kỷ XX Khi Liên hợp quốc ra đời thì quyền bình đẳng giới của phụ nữ mới được chính thức đề cập trong pháp luật quốc tế Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 lần đầu tiên khẳng định quyền bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và nam giới trong “Lời nói đầu”: “nhân dân các quốc gia liên hiệp quyết tâm khẳng định lại sự tin tưởng vào những quyền cơ bản của con người…vào quyền bình đẳng giữa nam và nữ” Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người năm 1948 cũng xác lập nguyên tắc nền tảng là tất cả mọi người đều được hưởng các quyền tự do một cách bình đẳng, không có bất kì sự phân biệt nào về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, quan điểm chính trị và các yếu tố khác Nguyên tắc bình đẳng nam nữ cũng được khẳng định trong cả hai Công ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người năm

1966 là Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế

về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) Các văn kiện kể trên bước đầu đã xác lập vị thế chủ thể bình đẳng của quyền con người, của quyền phụ nữ so với nam giới nhưng chưa đưa ra được những giải pháp bảo đảm cho phụ nữ được thụ hưởng

Trang 17

11 đầy đủ các quyền bình đẳng đó trên thực tế Vì vậy, năm 1967 Liên hợp quốc đã thông qua tuyên bố về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ Đây chính là nền tảng cho sự ra đời của Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18 tháng 12 năm 1979 Một trong những thành tựu của bản “Hiến chương về bình đẳng giới” đó là Công ước đã xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ một văn bản pháp lý quan trọng, trực tiếp nhất về bảo đảm bình đẳng giới Việt Nam là nước sớm tham gia Công ước vào ngày 29 tháng 7 năm 1980

và đã được phê chuẩn vào ngày 17 tháng 2 năm 1982 Từ khi tham gia đến nay, Việt Nam đã rất nỗ lực và đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thực hiện Công ước

Bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho người dân

Pháp luật của Nhà nước đưa ra không phải lúc nào cũng được mọi người trong xã hội tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh Bản chất pháp luật của Nhà nước ta là phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội

Pháp luật của Nhà nước được một số người quan tâm tìm hiểu và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu nào đó của họ Họ luôn theo sát những quy định pháp luật mới được ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhưng số lượng đối tượng này ít trong điều kiện trình độ dân trí còn chưa cao, đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật

Bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng

Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật

Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác

Trang 18

12 Tình cảm pháp luật là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng pháp luật và lên án các hành vi vi phạm pháp luật

Bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào DTTS trong việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang

có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật

1.2.2 Ý nghĩa của bảo đảm quyền bình đẳng giới

Bảo đảm quyền bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời đại, đặc biệt là trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Bình đẳng giới là môi trường lành mạnh để con người, đặc biệt là trẻ em được đối xử bình đẳng, được giáo dục về quyền bình đẳng, được hành động bình đẳng; là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; góp phần tăng chất lượng cuộc sống của các thành viên gia đình, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước; góp phần giải phóng phụ nữ và góp phần xây dựng thể chế gia đình bền vững Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới như: Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình…mà trọng tâm là Luật bình đẳng giới và thông qua các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em… nhờ đó mà phụ nữ và trẻ em đều được bảo vệ

Bình đẳng giới là nam và nữ đều được tiếp cận với giáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, tham gia vào các hoạt động kinh

tế, văn hóa, xã hội, chính trị, Bình đẳng giới có nghĩa rằng không còn sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, phụ nữ và nam giới cùng có địa vị bình đẳng trong xã hội Bình đẳng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ hoàn toàn như nhau mà là các điểm

đảm bình đẳng giới là đảm bảo quyền con người Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Thực hiện bình đẳng giới đem lại lợi ích cho phụ nữ và xã hội

Bảo đảm quyền bình đẳng giới là yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, của gia đình và toàn xã hội Chiến lược quốc gia về bình

Trang 19

13

đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày

24-12-2010 với 2 quan điểm:

Thứ nhất, là xem Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người Công tác bảo đảm quyền bình đẳng giới là một trong những yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi con người, của gia đình và toàn xã hội

Thứ hai, là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, cùng sự phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, sự tham gia của mỗi cá nhân, từng gia đình và cả cộng đồng đối với công tác bình đẳng giới; huy động tối đa mọi nguồn lực

để thực hiện có hiệu quả công tác bình đẳng giới

Thúc đẩy bảo đảm quyền bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Chiến lược quốc gia, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình và xã hội

1.3 Nội dung của bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số 1.3.1 Bảo đảm quyền Bình đẳng giới trong lĩnh vực Chính trị

Quyền bình đẳng giới trong đời sống chính trị là quyền quan trọng để xây dựng một xã hội công dân, thể hiện quyền làm chủ của công dân với Nhà nước Bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ không còn là vấn đề riêng của nữ giới, của một quốc gia,

mà là mục tiêu phấn đấu thúc đẩy thực hiện của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được xem là một trong những nội dung quan trọng, cốt lõi, tạo cơ hội cho phụ nữ được thể hiện tiếng nói đại diện cho giới của mình, được phát huy trình độ năng lực, kinh nghiệm, thể hiện quan điểm trong quyết định các chính sách về các lĩnh vực khác nhau của quốc gia Thông qua đó, góp phần tạo nên nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” của Đảng, Bác Hồ

đã khẳng định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là “đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn được độc lập, nam nữ bình quyền” Chính vì

Trang 20

14

vậy, ngay sau khi giành độc lập Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc đảm bảo quyền con người của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng, coi đó là một trong những mục tiêu lớn, một chương trình hành động thiết thực nhằm đảm bảo quyền con người Để bảo đảm quyền bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị của phụ nữ, trước hết phải kể đến quyền bầu cử và ứng cử Đây là quyền lợi chính trị cực kỳ quan trọng của phụ nữ Việt Nam Điều 6, Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

“Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại

diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”; Điều 27 quy định: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do luật định" [14] Điều 8, Điều 9, Luật bầu cử đại biểu Quốc

hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: “Số lượng phụ nữ được giới

thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do UBTV Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch BCH Trung ương Hội LHPN Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ” Tại khoản 5, Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2007 quy định các

biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, bao gồm: a) Bảo đảm tỷ lệ

thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.”[15]

Có thể nói, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo ra một bước chuyển biến mới cả về lượng và chất trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ nước ta, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền bình đẳng nam nữ trên thực

tế Để tăng cường nữ giới trong lĩnh vực chính trị, đòi hỏi chúng ta cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền hơn nữa nhằm nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong việc nhìn nhận vai trò, vị trí của phụ nữ; sự cam kết và đầu tư mạnh mẽ của Chính phủ, sự tham gia của các cấp, ngành, đoàn thể và mỗi cá nhân trong việc nâng cao vị thế, vai trò người phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị

Trang 21

15

1.3.2 Bảo đảm quyền Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm

Theo Luật Bình đẳng giới (2007), bình đẳng giới trong lao động, việc làm được xác định:

“Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong ngành ghề có tiêu chuẩn chức danh” [15,tr.5]

Bình đẳng giới trong lao động, việc làm là đảm bảo cơ hội ngang bằng nhau cho cả nữ giới và nam giới trong lĩnh vực lao động và việc làm Điều này bao gồm cơ hội tiếp cận các nguồn lực đầu tư cho “vốn con người”, các nguồn lực sản xuất, cơ hội được tham gia thị trường lao động và có được việc làm phù hợp với khả năng, sở thích

và có thể phát huy hết tiềm năng của bản thân

Tuy nhiên, cùng với việc bảo đảm cơ hội ngang nhau giữa nam, nữ là việc cần thấy rõ vai trò giới, nhu cầu giới của nam, nữ có thể giống và khác nhau, chỉ có một phần nhỏ sự khác biệt này là do những khác nhau về đặc điểm sinh học giữa nam và

nữ, còn phần lớn là do những định kiến và quan niệm xã hội tạo nên Mức độ ảnh hưởng của những điểm bất lợi này đối với những tầng lớp phụ nữ khác nhau là khác nhau Chẳng hạn như, mức độ ảnh hưởng sẽ trầm trọng nhất và sâu sắc nhất là đối với những em bé gái phải bỏ học hay đi làm sớm do gia đình quá nghèo, do đông an hem, hay do quan niệm là con gái không cần học nhiều…Trong tương lai, các em sẽ phải chịu những rủi ro thất nghiệp cao hoặc làm những công việc đem lại thu nhập thấp Những phụ nữ đã có gia đình, những phụ nữ ở nông thôn, trong những hộ gia đình nghèo là những người chịu nhiều thiệt thòi nhiều hơn trước những bất lợi này

Không có công việc hay nghề nghiệp nào chỉ dành riêng cho nam hay cho nữ mà chỉ có công việc phù hợp với khả năng và sở thích của mỗi người Nếu có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào cũng có thể dẫn tới những hậu quả xấu, chẳng hạn như với quan niệm nam giới không nên làm công việc bán hàng trong điều kiện nam giới đang thất nghiệp nhiều sẽ khiến cho tỷ lệ thất nghiệp càng tăng, mức thu nhập của nhiều hộ gia đình do vậy sẽ bị ảnh hưởng

Trang 22

16 Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ, đặc biệt là lao động nữ DTTS đã được tỉnh quan tâm triển khai Chủ trương phát triển và mở rộng các khu công nghiệp

và đưa người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đã tạo điều kiện cho nhiều lao động, trong đó có lao động nữ, có việc làm mới và thu nhập ổn định

1.3.3 Bảo đảm quyền Bình đẳng giới trong lĩnh vực Giáo dục và đào tạo

Bình đẳng giới là vấn đề được cả xã hội quan tâm Nếu vấn đề giải phóng phụ nữ

là vấn đề cơ bản nhất trong các vấn đề của phụ nữ thì quyền bình đẳng giữa nam và nữ lại là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đề này Chính vì vậy mà Bác Hồ

đã khẳng định: “Công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình” Trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa sâu sắc cụ thể:

Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung bình của xã hội

Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như nhau

và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên

vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế

Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai

Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo,

tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đối với con cái

Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái Về lâu dài, các tác động này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình của toàn xã hội

sẽ được nâng lên

Trang 23

17

1.3.4 Bảo đảm quyền Bình đẳng giới trong lĩnh vực Y tế

Đảm bảo quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe là một vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay Do địa vị thấp kém của bé gái và phụ nữ nên khả năng tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ thấp hơn so với nam giới và điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của các bé gái và phụ nữ Nhận thức được vấn đề này hiện nay, mục tiêu bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đã và đang được thực hiện Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em đã được chú trọng Cùng với những tiến bộ của y học nước nhà, sức khỏe phụ nữ tiếp tục được cải thiện Chính sách mới về y tế đã tạo điều kiện cho phụ nữ được tiếp cận tốt hơn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt khi mang thai Bước đầu triển khai nhiều can thiệp hiệu quả như quản lý thai, phát hiện thai có nguy cơ, chuyển tuyến kịp thời, nâng cao chất lượng chăm sóc tại các cơ sở y tế đồng thời truyền thông giáo dục cho người dân tại cộng đồng về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em Chú trọng tới việc phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ ở các vùng đặc biệt khó khăn như hỗ trợ nữ hộ sinh/y

sỹ sản nhi của trạm y tế xã tại địa bàn trọng điểm, đào tạo và sử dụng cô đỡ thôn bản người dân tộc, hỗ trợ triển khai nhiều dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở các trạm y

tế xã để từng bước phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại y tế tuyến cơ

sở Ngoài các hoạt động trên, các cấp Hội phối hợp với Trung tâm Y tế, Ủy ban Dân

số giúp đỡ trẻ em, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tổ chức các hoạt động truyền thông kiến thức, kỹ năng về chăm sóc sức khỏe, thực hiện công tác dân số - KHHGĐ, phòng chống các bệnh lây nhiễm, phòng chống HIV/AIDS cho chị em; tổ chức tư vấn, khám phụ khoa và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho chị em và các cặp vợ chồng trong

độ tuổi sinh đẻ, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, sử dụng các biện pháp tránh thai

1.3.5 Bảo đảm quyền Bình đẳng giới trong lĩnh vực Văn hóa, thông tin – truyền thông

Với chủ trương xã hội hoá văn hoá đã tạo thêm nhiều cơ hội cải thiện, nâng cao đ

ời sống tinh thần cho phụ nữ và hướng tới mục tiêu bình đẳng giới Các loại hình hoạt động văn hoá phát triển ngày một phong phú, đa dạng mang đậm bản sắc dân tộc 100% Đài PT-TH các tỉnh, huyện có chuyên mục nâng cao nhận thức về BĐG; bộ chỉ

Trang 24

về bình đẳng giới trên kênh phát sóng của mình Đặc biệt, tỉnh Nghệ An rất chú trọng đến đời sống văn hoá của đồng bào ở các vùng dân tộc thiểu số qua việc tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ, đầu tư kinh phí để xây dựng nhà văn hoá Các chương trình phát thanh và truyền hình về bình đẳng giới đã được thực hiện bằng cả tiếng Việt

và tiếng dân tộc đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn các chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng giới

Trong các năm qua, các cơ quan thông tấn báo chí đã quan tâm thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới thông qua việc tổ chức các lớp tập huấn kiến thức giới cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên Mạng lưới cán bộ truyền thông về bình đẳng giới được duy trì, tiếp tục là kênh thông tin quan trọng giữa cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới với các cơ quan thông tấn báo chí Nhờ có các hoạt động này, các sản phẩm văn hoá, thông tin mang định kiến giới đã từng bước giảm dần so với trước đây, ý thức pháp luật bình đẳng giới đã có nhiều chuyển biến tích cực

1.4 Một số yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.4.1 Định kiến giới và sự phân biệt giới tính

Định kiến giới: là một tập hợp các đặc điểm được số đông gán cho là thuộc về nam hay nữ, các quan niệm này đôi khi sai lầm và hạn chế những điều mà một cá nhân

có thể làm Những định kiến như trên không chỉ tồn tại nhiều từ thời xã hội phong kiến

mà ở xã hội ngày nay thì những quan niệm đó vẫn còn hiện hữu Định kiến giới vừa phản ánh sự bất bình đẳng giới, vừa củng cố duy trì thực trạng bất bình đẳng giới trong

Trang 25

19

xã hội Thể hiện rõ nhất của định kiến giới phải kể đến tư tưởng “trọng nam khinh nữ”

đã ăn sâu bám rễ lâu đời Mặc dầu, những năm gần đây cái nhìn về “con gái” trong xã hội đã cởi mở hơn Nhưng tư tưởng thích con trai hơn nên nhiều phụ nữ sẵn sàng phá thai nếu biết thai nhi là con gái bất chấp điều đó có hại như thế nào đối với sức khỏe Còn ở các vùng nông thôn không có khả năng tiếp cận dịch vụ chẩn đoán giới tính thai nhi sớm đã xảy ra tình trạng có nhiều gia đình vẫn tiếp tục sinh tiếp con thứ 4, thứ 5 cho đến khi sinh đươc con trai mới thôi

Giới tính: là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được Cuộc đấu tranh chống lại sự phân biệt giới tính, mà trọng tâm là phong trào nữ quyền diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú

Nhiều chỉ trích đã phê phán quan niệm cho rằng các đặc tính giới khác nhau giữa nam và nữ đã dẫn đến sự phân chia các vai trò khác nhau trong xã hội, gia đình, kinh doanh hay chính trị Trong lịch sử đã có nhiều tư tưởng cho rằng nam và nữ có vai trò đặc trù trong xã hội, trong đó nam giới thường đảm nhiệm các công việc về nghệ thuật, kỹ nghệ, quân đội trong khi phụ nữ đảm nhận việc nội trợ gia đình và chăm sóc trẻ em Sự chuyên môn hóa về vai trò này đã dẫn đến sự hình thành quan niệm rằng phụ nữ không có khả năng thực hiện các công việc đòi hỏi trí tuệ

Hiện nay tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới bất chấp một số nỗ lực về pháp luật đã được đưa ra để thu hẹp khoảng cách

về thu nhập Theo kết quả của những nghiên cứu gần đây cho thấy, sự khác nhau về thu nhập vẫn còn tồn tại, phụ nữ có thu nhập thấp hơn nam giới tồn tại trong mọi ngành nghề Kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2015 cho thấy: thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ chiếm 85% thu nhập của nam (tỷ lệ này ở khu vực nông nghiệp chỉ là 66% và ở khu vực công nghiệp là 78%) Trong khi sự bất bình đẳng về thu nhập trong lao động có thể phản ánh sự kết hợp của các yếu tố có sự khác nhau về trình độ văn hóa, chuyên môn, kinh nghiệm công tác Lao động nữ chỉ được nhận 86% so với mức tiền lương cơ bản của nam giới Tiền lương cơ bản của lao động nữ trong tổng thu nhập là (71%) thấp hơn so với nam giới (73%) Phân biệt giới hiện nay phản ánh trên một số mặt sau: sự bình đẳng về chính trị, quyền bỏ phiếu cho phụ nữ, xóa bỏ các chế

độ phân biệt giới, bạo lực gia đình mà đối tượng thường là nữ, những chỉ trích về các

Trang 26

20 quảng cáo có tính phân biệt giới, các chỉ trích về sự thể hiện vai trò của phụ nữ trong nghiên cứu khoa học

Chính những tư tưởng này đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam Theo kết quả điều tra mới nhất về các vấn đề nóng của dân số Việt Nam của Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho thấy, năm 2007 cứ 112 bé trai ra đời mới có

100 bé gái được sinh ra, cao hơn năm 2006 và hơn mức bình thường (tỷ lệ 107/103) Đáng chú ý, năm 2007 có tới 35 tỉnh có tỷ lệ giới tính khi sinh là 110 bé trai/100 bé gái trở lên, trong khi đó năm 2006 có 19 tỉnh

Trong quan niệm của người Việt Nam, xã hội đặt những chuẩn mực riêng đối với các em gái như chăm làm, duyên dáng, nấu ăn giỏi, biết may vá, thêu thùa Phụ nữ cũng không được khuyến khích tham gia vào lĩnh vực chính trị hay trở thành lãnh đạo, bởi theo quan niệm của nhiều xã hội, đó vẫn là vai trò của nam giới Khi phụ nữ tham gia vào những lĩnh vực này, họ sẽ mất đi vẻ "nữ tính" Những chuẩn mực đó đã khiến các em gái tập trung phát triển các kỹ năng để sau này làm một người nội trợ giỏi hơn

là chú ý đến những kỹ năng để sau này kiếm được việc làm tốt hay đóng góp cho sự phát triển của xã hội Bởi vậy, khi ra trường và tham gia vào thị trường lao động, phụ

nữ nói chung sẽ thấp kém hơn nam giới cùng lứa

Trong xã hội Việt Nam, phụ nữ có gia đình phải dành thời gian chăm sóc cho gia đình nhiều hơn là dành thời gian cho xã hội Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc chọn nghề của người phụ nữ Ví dụ, nghề giáo viên được coi là thích hợp với nữ giới một phần vì có nhiều thời gian chăm sóc cho gia đình Trong giai đoạn hiện nay, phụ

nữ tham gia vào việc tạo thu nhập ở nhiều lĩnh vực như nam giới nhưng xã hội vẫn yêu cầu họ phải làm tốt cả công việc nội trợ trong gia đình, chăm sóc con cái, chăm lo việc

họ hàng Bởi mong muốn làm tốt cả hai vai trò, trong khi qũy thời gian có hạn, phụ nữ phải gồng mình để học tập, lao động và phấn đấu nếu muốn có vị trí ngang bằng với nam giới; hoặc đây là quyết định của phần đa phụ nữ, hy sinh phát triển nghề nghiệp

để có thời gian chăm sóc gia đình Để phát triển nghề nghiệp được tốt, ai cũng cần phải cập nhật kiến thức, trao dồi kỹ năng thường xuyên Thời gian nghỉ ngơi, giải trí hàng ngày cũng rất cần thiết để tinh thần và thể chất được hồi phục để có thể tiếp tục làm việc Đương nhiên khoảng thời gian nghỉ ngơi này phải phù hợp đối với nam giới

Trang 27

21 Nhưng quan niệm xã hội lại không cho phép phụ nữ được hưởng quyền đó vì mong đợi họ cống hiến tiếp cho các công việc gia đình Rõ ràng, quan niệm của xã hội về một người phụ nữ tốt và hạnh phúc đã tước đoạt đi quyền phát triển nghề nghiệp, thể chất và trí tuệ của chị em

1.4.2 Bạo lực gia đình

Theo Công ước CEDAW của Liên hợp quốc thì bạo lực giới có thể được hiểu là

“bất kì hành động nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, về tình dục hay tâm lí, hoặc đau khổ cho phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành vi như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù xẩy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư”

Theo kết quả khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước do Uỷ ban về các đề xã hội của Quốc hội tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2006: có 2,3% gia đình có bạo lực về thể chất Thực trạng trên đã phản ánh tình trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra phổ biến ở tất cả mọi nơi từ thành thị tới nông thôn

Vấn đề nổi cộm, gây nhức nhối dư luận thời gian gần đây là tình trạng bạo lực tình dục Việc thừa nhận đó là hình thức bạo lực độc lập hay không cũng còn nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, do mức độ nghiêm trọng cũng như tính nhân văn, tính đột phá của vấn đề, pháp luật vẫn đề cập tới vấn đề này, coi đó là một dạng của bạo lực Theo điểm đ Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định “cưỡng ép quan hệ tình dục” là một trong những hành vi của bạo lực gia đình Bạo lực tình dục thường thể hiện dưới dạng: cưỡng ép quan hệ tình dục, hiếp dâm, cưỡng dâm, quấy rối tình dục, ép buộc sử dụng văn hóa đồi trụy để thỏa mãn nhu cầu tình dục Và thực tế cho thấy tình trạng này không còn là quá mới mẻ Theo tờ trình của Uỷ ban các vấn đề

xã hội của Quốc hội về Dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì có tới 30% các cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục

Bên cạnh hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực tình dục thì các hành vi về bạo lực tinh thần (người vợ bị chồng chửi mắng, xỉ vả, cấm tham gia công tác xã hội, cấm quan hệ với mọi người) và bạo lực về kinh tế (chồng kiểm soát vợ về thu nhập, không chịu đóng góp vào kinh tế chung của gia đình) cũng đang diễn ra ngày càng phổ biến gây ra hậu quả xấu đối với gia đình và toàn xã hội

Trang 28

22

1.4.3 Các yếu tố khác

Yếu tố giáo dục, địa lý và kinh tế cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới Qua khảo sát có thể thấy ở các vùng thành thị, tỉ lệ bất bình đẳng giới cũng ít hơn so với các vùng nông thôn, nơi còn chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Ở những nơi điều kiện giáo dục tốt, nam giới và cả nữ giới được tiếp xúc với kiến thức một cách dễ dàng, hiểu biết pháp luật thì tình trạng bất bình đẳng giới cũng được hạn chế hơn Điều kiện kinh tế cũng ảnh hưởng khá lớn đến vấn

đề bình đẳng giới, đặc biệt là tình trạng vi phạm pháp luật về bình đẳng giới Cuộc sống kinh tế khó khăn, áp lực cuộc sống nặng nề dẫn đến việc không làm chủ được bản thân và có những hành vi trái pháp luật

Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác rất quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới, đó là:

Yếu tố sản xuất: Là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ để

tiêu dùng và trao đổi thương mại Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau Đối với phụ nữ ở vùng nông thôn, miền núi, DTTS phần lớn phụ nữ phải gánh vác công việc gia đình, đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình Nếu xét tương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giới cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm các công việc gia đình nhiều hơn, nhưng công việc của họ không được xem là tạo ra của cải vật chất, kinh tế

Qua tìm hiểu hiện nay, đa số nữ giới trong độ tuổi lao động ở nông thôn, miền núi, DTTS có trình độ học vấn thấp Trong nhóm dân số ở độ tuổi lao động khu vực nông thôn, miền núi có tới 80% nữ giới chưa qua đào tạo, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Họ là những người quanh năm suốt tháng chỉ biết công việc đồng áng, nương rẫy Họ không được đề cao là do quan niệm phụ nữ chỉ lo tề gia nội trợ, chăm sóc nuôi dạy con cái đã ăn sâu vào nếp nghĩ của cộng đồng, xã hội nơi đây Họ ít có cơ hội học nghề, tìm kiếm việc làm, nhiều phụ nữ đi làm nương rẫy cả ngày, về nhà vẫn phải đảm đương việc nội trợ, chăm sóc con cái nhưng vẫn không được cho là lao động

Trang 29

23 chính trong nhà Đặc biệt, đa phần phụ nữ ở miền núi, vùng sâu, vùng xa họ chỉ biết sinh con, nấu cơm, đi rẫy, kém hiểu biết về Luật Bình đẳng giới, cho dù cán bộ xã, huyện đã tích cực giải thích, tuyên truyền Đối với bản thân phụ nữ miền núi, họ còn

tự ti, mặc cảm, nhiều người tỏ sự bằng lòng với cuộc sống hiện có, và họ cũng không muốn đấu tranh để thay đổi cuộc sống hiện tại Điều này cho thấy, để tạo được động lực thúc đẩy sự thay đổi, phấn đấu vươn lên của cộng đồng các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa không phải là chuyện dễ, nhất là thay đổi những quan niệm, sinh hoạt của

họ đã ăn sâu bám rễ bao đời nay

Trên thực tế, phụ nữ đóng vai trò là lực lượng sản xuất ra của cải vật chất hết sức quan trọng, không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống mà còn trong cả lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Với định kiến giới đang tồn tại như hiện nay, thì lực lượng lao động nữ, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, khó bứt phá để tham gia vào các lĩnh vực sản xuất có tay nghề kỹ thuật, có thu nhập cao Vì vậy, từ gia đình đến xã hội đều bị kìm hãm phát triển vì không thể phát huy hết tiềm năng của hơn 50% dân số trong độ tuổi lao động

Yếu tố tái sản xuất: Là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp tái

sản xuất dân số và sức lao động

Ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS trong vai trò tái sản xuất, phụ nữ thường được gắn với việc sinh con, nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu

ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình….Gánh nặng gia đình đã làm cho nhiều phụ nữ không thể vươn xa hơn và thường chấp nhận tụt hậu, không thoát ra khỏi lũy tre làng Đó là chưa kể đến vấn đề, người phụ nữ phải tổn hao sức lực, tinh thần vì việc sinh nhiều con, cố gắng sinh bằng được con trai Những hoạt động này tuy là thiết yếu đối với cuộc sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động; tiêu tốn nhiều thời gian nhưng ít khi được coi là “công việc thực sự”,

xã hội không coi trọng và đánh giá cao vai trò này, và bị cho là công việc không tạo ra thu nhập Trong khi đó, phần lớn phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất

Xuất phát từ quan điểm và nhận thức nêu trên, nên vai trò tái sản xuất vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ, và có nhiều phụ nữ và trẻ em gái không được

Trang 30

24 đầu tư, tạo điều kiện để học hành phấn đấu vươn lên trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ Phụ nữ thường phát triển kém hơn nam giới, có vị trị thấp hơn trong gia đình, do vậy, giảm khả năng đóng góp nhiều hơn về sức lực và trí tuệ cho xã

hội

Yếu tố cộng đồng: Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát

triển văn hoá tinh thần của cộng đồng Có lúc nó đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được Có lúc nó lại được trả công và có thể nhìn thấy được

Cũng vì sự phân công lao động ngầm định trong xã hội từ trước đến nay, phần lớn nam giới và kể cả phụ nữ ít ủng hộ phụ nữ tham gia vào hoạt động cộng đồng, công tác xã hội, dẫn tới tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ Phụ nữ chiếm tỷ lệ trung bình 50% ở các vùng, miền, địa phương, nhưng số nữ tham gia hoạt động cộng đồng, tham gia với các vai trò lãnh đạo, quản lý đạt tỷ lệ thấp

Ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS vẫn còn quan niệm cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đại sự”, phụ nữ thì chỉ nên làm việc công việc đơn giản, kiêm nhiệm để có thời gian chăm lo cho gia đình Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, và đặc biệt, ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với giới nữ của mình Vì vậy, trong các kỳ bầu

cử hoặc khi cần đề cử cán bộ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý của cộng đồng, cơ quan,

tổ chức, phụ nữ thường bị đưa ra khỏi danh sách bầu cử, đề cử, trong đó có cả việc nữ không bầu cho nữ, chứ không phải chỉ là nam giới không bầu nữ giới

Trang 31

25

Tiểu kết chương 1

Thực hiện bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào DTTS là một tình trạng

lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó Bình đẳng giới không chỉ là việc thực hiện đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội, theo phương châm phụ nữ có thể có quyền làm tất cả những gì nam giới có thể và có quyền làm Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ Do vậy, nước ta đang nỗ lực nâng cao ý thức pháp luật, giáo dục pháp luật bình đẳng giới đạt hiệu quả Bình đẳng giới là vấn đề cơ bản đảm bảo quyền của con người đặc biệt là quyền của người phụ nữ, đồng thời cũng

là yêu cầu về sự phát triển xã hội một cách công bằng, hiệu quả và bền vững

Trang 32

26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC HUYỆN MIỀN TÂY TỈNH

NGHỆ AN

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

- Vị trí địa lý

Miền núi miền Tây Nghệ An gồm 10 huyện và 1 thị xã: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu, Qùy Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa; có tổng diện tích tự nhiên 13.755km2, chiếm 83,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Phía Bắc giáp Thanh Hóa, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp các huyện đồng bằng ( Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương và Nam Đàn )

Các huyện miền núi tỉnh Nghệ An có vị trí địa lý rất quan trọng, thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế Nằm gần bờ biển Đông với nhiều cảng biển, tuyến quốc

lộ 1A, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc Nam và sân bay Vinh, với một mạng lưới sông ngòi dày đặc, vùng có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không rất thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa kinh tế giữa các huyện trong vùng và toàn quốc, ngoài ra còn có hệ thống cửa khẩu với nước bạn Lào anh em

- Đặc điểm địa hình

Các huyện miền núi Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi các hệ thống núi đồi, sông suối và có chiều hướng dốc từ Tây - Bắc xuống Đông – Nam

- Đặc điểm khí hậu

Miền Tây Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu tác động trực tiếp của gió mùa Tây Nam khô nóng ( từ tháng 4 đến tháng 8 ) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt ( từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau )

Đặc điểm tự nhiên của các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An có tác động rất lớn đến việc bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số Chính những đặc

Trang 33

27 điểm vị trí địa lý, địa hình và khí hậu là những yếu tố tác động sâu sắc, có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề này

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

2013, năm 2014 giảm xuống còn 22,35% (theo tiêu chí 2011-2015)

- Về văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng

Văn hóa – xã hội các huyện miền núi Nghệ An có bước phát triển mới Giáo dục và đào tạo được quan tâm, có mặt chuyển biến Cơ sở vật chất, mạng lưới trường lớp, đội ngũ cán bộ, giáo viên được tăng cường, xóa phòng học tranh tre nứa lá, có 70

% phòng học kiên cố hóa, thu hút 60 % trẻ em đến nhà trẻ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở ở tất cả các huyện trong vùng Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được thực hiện tích cực, mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư và phân bổ đến các vùng dân cư, tỷ lệ xã có bác sĩ tăng từ 20 % năm 2010 lên 65 % năm 2012, tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi đạt 95% Công tác xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà tranh tre tạm bợ cho đồng bào dân tộc đạt kết quả khá, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từ 27,3 % năm 2010 xuống còn 17,4 % năm 2012 Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao có nhiều khởi sắc, các huyện đều có đài phát thanh và truyền hình, các xã có máy thu thanh sóng FM Tỷ lệ hộ được nghe đài đạt 92% ( năm 2010 ), xem truyền hình đạt 81% Chương trình truyền thanh bằng tiếng dân tộc (Mông, Thái) đã phát triển cả về thời lượng và chất lượng Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được đẩy mạnh, bản sắc văn hóa các dân tộc được phát huy, một số hủ tục, tập quán lạc hậu được hạn chế Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 68%, có 52% số xã có các thiết chế văn hóa, thông tin, thể thao

Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia được tăng cường từng bước hạn chế được hiện tượng di cư trái phép Tập trung phòng ngừa và đấu tranh với

Trang 34

28 tội phạm ma túy Chương trình phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng được phát triển, xây dựng và củng cố khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện Duy trì và phát triển tốt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt – Lào Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự

an toàn xã hội được đảm bảo

- Về hệ thống chính trị cơ sở

Hệ thống chính trị cơ sở được củng cố và đạt nhiều kết quả Tỉnh đã tập trung củng cố các cơ sở yếu kém, tích cực phát triển Đảng viên ở các xã đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc từ năm 2008 đến nay, tỉnh đã đào tạo ngắn hạn cho 4.763 người, trung cấp chuyên môn

832 người, đại học 274 người, trung cấp chính trị 613 người, phát triển 22 chi bộ, kết nạp 8.197 người vào Đảng,… bên cạnh công tác đào tạo, tỉnh tập trung làm tốt công tác quy hoạch, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ, nhất là thực hiện có hiệu quả chủ trương tăng cường sĩ quan biên phòng về làm Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy các xã biên giới, tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về xã công tác Tỉnh

đã luân chuyển 10 cán bộ của tỉnh về các huyện miền núi, huyện tăng cường 66 cán bộ

về các xã khó khăn, tăng cường 19 sĩ quan biên phòng về 19 xã vùng biên giới, tiếp nhận 563 sinh viên về công tác ở xã,… chính quyền cấp xã đã đổi mới phương thức quản lý, điều hành, các phong trào của quần chúng đã được khơi dậy, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo ở địa phương Những thay đổi về hệ thống chính trị cơ sở đã có tác động rất lớn đến việc bảo đảm quyền bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An Người phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội làm việc tại các cơ quan nhà nước, góp phần phát triển kinh

tế - xã hội địa phương

2.2 Thực tiễn bảo đảm quyền bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An

Nghệ An được Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ ngành Trung ương quan tâm chỉ đạo, tập trung đầu tư phát triển, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/7/2014 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm

2020 Các cấp, các ngành, cán bộ, nhân dân đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm khắc

Trang 35

29 phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, XVII, XVIII

Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi cũng có không ít khó khăn: Tình hình chính trị quốc tế, tình hình biển Đông diễn biến phức tạp Kinh tế đất nước phục hồi chậm, thiên tai, dịch bệnh bất thường, gây ảnh hưởng không thuận lợi đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân Khu vực miền Tây rộng lớn và một số vùng đặc thù trong tỉnh kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, làm phân tán nguồn lực đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh xã hội Các điều kiện và hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút nhiều dự án lớn tạo bước đột phá phát triển của nền kinh tế

Là một tỉnh nghèo, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn Lao động thiếu việc làm lớn; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp Trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng Điều kiện vật chất cơ sở hạ tầng, giao thông, nhất là các huyện miền núi còn nhiều khó khăn Khí hậu khắc nghiệt, thường xẩy ra thiên tai bão lũ đây thực sự là những điều kiện trở ngại đối với việc thực hiện công tác bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

2.2.1 Công tác ban hành chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Luật Bình

đẳng giới

Trên cơ sở Luật bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã ban hành các văn bản như: Chương trình hành động số 16/Ctr-TU của Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27/4/2007 của của Bộ chính trị

về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước; Chỉ thị số 07/CT-TU ngày 14/8/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác bình đẳng giới; Chỉ thị số 18/2010/CT-UBND ngày 15/9/2010 của UBND tỉnh về tăng cường thực hiện Nghị định số 70/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới; Quyết định số 2573/QĐ-UBND ngày 05/7/2011 của UBND tỉnh về phê duyệt “Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 07/01/2016 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai

Trang 36

30 đoạn 2016-2020; Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 26/4/2016 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020 và nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện

Hằng năm, UBND tỉnh giao cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Trong 10 năm, Sở Lao động-TB&XH đã tham mưu UBND tỉnh ban hành 1 chỉ thị, 29 quyết định, 7

kế hoạch, 20 báo cáo và hơn 100 công văn nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động quản lý nhà nước về công tác bình đẳng giới Vì vậy, hàng năm và giai đoạn, mỗi Sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương đã tập trung xây dựng và thực hiện tốt Kế hoạch thực hiện Chiến lược, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới tại Sở, ngành, đơn vị, địa phương, nổi bật là các ngành: Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo,

Sở Tư pháp, Cục Thống kê, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Tỉnh đoàn, Các địa phương nổi bật là các huyện: Quế Phong, Qùy Châu, Qùy Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn,

2.2.2 Công tác quán triệt, phổ biến, giáo dục và nâng cao nhận thức pháp luật về bình đẳng giới

Để Luật bình đẳng giới có thể phát huy được hiệu lực và hiệu quả trong đời sống nhân dân, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương

đã thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhân thức cho mọi tầng lớp nhân dân qua nhiều hình thức Cụ thể:

- Các cơ quan: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Tư pháp, Sở Thông tin - Truyền thông, Sở Lao động - TB&XH, Công An tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Nghệ An thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền về Luật bình đẳng giới; Chiến lược, Chương trình quốc gia và các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác bình đẳng giới và trên các phương tiện thông tin đại chúng nhất là trong những dịp truyền thông cao điểm như ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3), ngày Gia đình Việt Nam (28/6), ngày Phụ nữ Việt Nam ( 20/10), Tháng hành động về bình đẳng giới; Xây dựng chuyên trang, chuyên mục về hoạt động VSTBPN và công

Trang 37

31 tác bình đẳng giới hàng tháng trên Báo Nghệ An, hàng tuần trên kênh NTV và thường xuyên trên trang thông tin điện tử của Sở LĐ-TB&XH và của Ban VSTBPN tỉnh; Phát hành Tập san Pháp luật và Đời sống mỗi năm 8 số, mỗi số 1.600 cuốn; biên soạn

2 bộ tài liệu, 8 chuyên đề, in 5.000 cuốn sổ tay công tác về bình đẳng giới và VSTPN phát miễn phí xuống tận cơ sở xã, phường

Tổ chức 10 Hội nghị tuyên truyền, phổ biến các nội dung cơ bản của Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành luật; 20 cuộc Hội thảo về các giải pháp thực hiện có hiệu quả các lĩnh vực về bình đẳng giới với gần 6000 cán bộ làm công tác bình đẳng giới và VSTBPN của các cấp, ngành, cấp huyện tham dự

Nhằm tạo ra các đợt sinh hoạt chính trị xã hội sâu rộng trong nhân dân về công tác bình đẳng giới và VSTBPN, toàn tỉnh đã thực hiện cuộc khảo sát điều tra nhận thức

về bình đẳng giới cho các đối tượng cán bộ quản lý các cấp, ngành, hộ gia đình và lứa tuổi vị thành niên; Hàng năm tổ chức Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, chiến dịch truyền thông về bình đẳng giới, “Đối thoại chính sách về bình đẳng giới"

Tổ chức các cuộc thi: “ Tìm hiểu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới” với gần 25.000 thí sinh tham dự; Thi tìm hiểu pháp luật cho đội ngũ Hòa giải viên cơ sở, Báo cáo viên pháp luật, Cán bộ tư pháp-hộ tịch; Thi tìm hiểu pháp luật dành cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An; Tổ chức 02 hội thi Hòa giải viên giỏi lần thứ 3 (2011) và lần thứ 4 (2016); Hội thi Tìm hiểu kiến thức pháp luật về gia đình và phòng chống bạo lực gia đình tỉnh Nghệ An từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh để tuyên truyền phổ biến các quy định pháp luật về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình và công tác hòa giải mâu thuẫn trong gia đình nhằm phòng chống và ngăn chặn các hành vi vi phạm có thể xẩy ra; tổ chức Hội nghị “ Gặp mặt biểu dương Đại biểu phụ nữ trên các lĩnh vực”…

Nhằm góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia vào đại biểu quốc hội, HĐND các cấp trong các nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021, tỉnh đã tổ chức 6 cuộc hội thảo, 8 đợt tập huấn về nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng, hỗ trợ vận động bầu cử cho gần

2000 nữ ứng cử viên tiềm năng; xây dựng các phóng sự với nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị; Nhân bản 800 cuốn Sổ tay “Cẩm nang dành cho nữ ứng cử

Trang 38

32 viên đại biểu HĐND cấp huyện, xã”; 500 quyển tài liệu “Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị”; 5.000 tờ áp phích truyền thông với nội dung ủng hộ những phụ nữ ưu tú tham gia Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp phát đến tận các tổ bầu cử

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội nông dân, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh, Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh đã thực hiện công tác thông tin, giáo dục về công tác bình đẳng giới có hiệu quả, thiết thực và phù hợp với các thành viên, hội viên thuộc quyền phụ trách 21/21 huyện, thành, thị xây dựng kế hoạch, chương trình tổ chức thực hiện có hiệu quả việc tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và VSTBPN; 100% các huyện

tổ chức các đợt truyền thông về bình đẳng giới, quan tâm tổ chức Tháng hành động vì bình đẳng giới; 10/21 huyện tổ chức “ Đối thoại chính sách về bình đẳng giới”; 100% các huyện hàng năm xây dựng phóng sự, chuyên đề về bình đẳng giới và VSTBPN phát trên đài Phát thanh-Truyền hình huyện, Đài phát thanh của các phường, xã, thị trấn

Nhìn chung, công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền đã phát triển mạnh về cả chất lượng, số lượng và hình thức thực hiện, từ đó, làm chuyển biến nhận thức, trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng, các gia đình, mỗi cá nhân và toàn xã hội đối với công tác bình đẳng giới và VSTBPN trên địa bàn tỉnh

2.2.3 Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế tại địa phương để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại địa phương

Trang 39

33 hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ Hiện nay, phòng được phân bổ 04 biên chế, trong đó, 01 trưởng phòng, 01 phó trưởng phòng, 02 chuyên viên

Thực hiện Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 11/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở UBND cấp tỉnh và cấp huyện, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 6120/QĐ-UBND ngày 05/12/2016 của UBND tỉnh về việc kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Nghệ An gồm 26 thành viên là Giám đốc, Phó giám đốc các sở, ban, ngành đoàn thể cấp tỉnh do đồng chí Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh làm trưởng ban, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH là Phó trưởng ban thường trực tham mưu phối hợp liên ngành để triển khai thực hiện công tác vì sự tiến bộ phụ nữ của tỉnh Hiện nay, tỉnh Nghệ An đang bố trí 01 cán bộ chuyên trách thực hiện công tác VSTBPN thuộc Ban VSTBPN của tỉnh, sinh hoạt ghép tại phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới, Sở LĐ-TB&XH tỉnh

100% các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, các trường cao đẳng, đại học, các Tổng công ty đóng trên địa bàn tỉnh thành lập Ban vì sự tiến bộ phụ nữ tại cơ quan, đơn vị do đồng chí Giám đốc hoặc thủ trưởng cơ quan làm trưởng ban, trưởng phòng

tổ chức cán bộ là phó trưởng ban, các thành viên là trưởng các bộ phận, phòng, ban và

có 1 đồng chí làm Thư ký Ban

Cấp huyện:

21/21 huyện, thành, thị thành lập Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ huyện do đồng chí chủ tịch/phó chủ tịch phụ trách văn xã làm trưởng ban và các thành viên là trưởng phòng, ban, đoàn thể trên địa bàn huyện, Phó trưởng ban thường trực là trưởng phòng LĐ-TB&XH tham mưu phối hợp liên ngành để triển khai thực hiện công tác vì sự tiến

bộ phụ nữ trên địa bàn huyện; Đồng thời lãnh đạo phòng LĐTBXH được giao phụ trách công tác bình đẳng giới kiêm thường trực của Ban VSTBPN huyện, và có 01 chuyên viên giúp lãnh đạo phòng trong việc thực hiện công tác bình đẳng giới và VSTBPN trên địa bàn địa phương

Cấp xã:

480/480 xã, phường, thị trấn thành lập Ban VSTBPN do đồng chí chủ tịch/phó chủ tịch phụ trách văn xã làm trưởng ban và các thành viên là trưởng phòng, ban, đoàn

Trang 40

34 thể trên địa bàn xã, Phó trưởng ban thường trực là cán bộ chính sách tham mưu phối hợp liên ngành để triển khai thực hiện công tác vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn xã và

là cán bộ tham mưu thực hiện công tác bình đẳng giới tại cơ sở

Thời gian qua, công tác tổ chức và bộ máy cán bộ làm công tác bình đẳng giới và

vì sự tiến bộ của phụ nữ của các ngành, các cấp đã được quan tâm kiện toàn, phù hợp với thực tế của từng địa phương, đơn vị, đảm bảo mỗi cấp, ngành đều có cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ

2.2.4 Công tác đào tạo, bồi dƣỡng, tập huấn nâng cao năng lực về bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bình đẳng giới

Xác định đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bình đẳng giới là nhiệm vụ quan trọng, những năm qua, tỉnh đã

đa dạng hóa nội dung các lớp tập huấn nâng để cao nhận thức, năng lực, kỹ năng về giới, bình đẳng giới và VSTBPN cho đội cán bộ làm công tác bình đẳng giới và VSTBPN các Sở, ban, ngành, các huyện, thành, thị, và cho đội ngũ cán bộ nữ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp qua các nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021 Kết quả:

Hàng năm, tỉnh tổ chức tập huấn Luật bình đẳng giới và nghiệp vụ công tác bình đẳng giới, hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ cho 6.390 lượt cán bộ tham gia; Tổ chức các khóa tập huấn về lồng ghép giới trong 8 lĩnh vực vực đời sống xã hội, gia đình cho

2680 cán bộ làm công tác bình đẳng giới và VSTBPN các cấp, các ngành Từ đó, các

Sở, ban, ngành, địa phương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình tiến hành tập huấn, lồng ghép vào các chương trình đào tạo nhiệm vụ chuyên môn hàng năm phù hợp với tình hình hình thực tiễn cơ quan, đơn vị, địa phương Kết quả:

Sở Tư pháp tổ chức gần 300 cuộc hội nghị tập huấn về Luật bình đẳng giới và các văn bản có liên quan, thu hút hàng trăm ngàn lượt người tham dự; Công an tỉnh tổ chức 06 lớp tập huấn, 04 hội nghị chuyên đề cho 1.435 lượt cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cán bộ hội phụ nữ, cán bộ làm công tác bình đẳng giới và VSTBPN công an các đơn

vị, địa phương; Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức 03 lớp tập huấn về bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo cho 600 lãnh đạo của Ban giám hiệu các trường học; Sở Y tế

tổ chức 06 lớp tập huấn về lồng ghép giới trong lĩnh vực y tế cho 1.200 cán bộ thuộc Ban VSTBPN các cơ sở y tế; Sở Văn hóa và Thể thao tổ chức 05 lớp tập huấn về

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm