1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam của công an tỉnh nghệ an

99 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 698,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mối quan hệ nhạy cảm này, có nhiều vấn đề cần tiếp tục được làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là những khoảng trống liên quan đến cơ chế bảo đảm QCN của người bị tạm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Ngọc Thắng

Nghệ An, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam tại trại giam của công an tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không đạo văn hay lạm dụng nội

dung của các công trình nghiên cứu khác Các nguồn tài liệu tham khảo được đề cập,

sự dụng trong luận văn được tác giả trích dẫn trung thực, đảm bảo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung lời cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 4

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Tòa án nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân

Quyền con người

Công an nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ DẦU

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM

GIAM TẠI CÁC TRẠI TẠM GIAM

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm

giữ, tạm giam trong các trại tạm giam

1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền con người của người bị tạm giữ, tạm

giam

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM

QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM TẠI

TRẠI TẠM GIAM CỦA CÔNG AN TỈNH NGHỆ AN

2.1 Khái quát chung về tình hình tạm giữ, tạm giam và công tác tổ chức cán bộ

tại Trại tạm giam của công an tỉnh Nghệ An

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm

giữ, tạm giam tại Trại tạm giam của công an tỉnh Nghệ An

2.3 Đánh giá chung về thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm

giữ, tạm giam tại Trại tạm giam của công an tỉnh Nghệ An

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON

NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM TẠI TRẠI TẠM GIAM

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Quyền con người (QCN) là những giá trị vốn có thuộc về mọi cá nhân, cộng đồng, dân tộc mà không có bất kỳ sự phân biệt Những giá trị này được thừa nhận và thể chế hóa trong hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật các quốc gia

Ở cấp độ quốc tế, QCN đã trở thành một hệ thống các chuẩn mực quốc tế,

có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia thông qua các điều ước Việc tôn trọng, bảo vệ các QCN hiện đã trở thành thước đo căn bản về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới Cho đến nay, nhiều điều ước quốc tế nhằm pháp điển hóa các chuẩn mực về QCN trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được Liên hợp quốc thông qua và được đông đảo các quốc gia thành viên phê chuẩn, gia nhập Ở cấp độ quốc gia, hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới đều được xây dựng và phát triển theo hướng nhằm bảo đảm ngày một tốt hơn các QCN

Việt Nam là quốc gia thành viên của 7/9 điều ước cơ bản về QCN và là quốc gia có cam kết tích cực đối với nhiều tuyên ngôn, tuyên bố, chương trình quốc tế về QCN Kể từ thời kỳ đổi mới, hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện theo hướng ngày càng ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ tốt hơn các QCN

Trên lĩnh vực pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, Việt Nam không chỉ quy định những trường hợp, phạm vi, nội dung QCN bị hạn chế mà còn quy định việc bảo vệ các quyền ấy trên tinh thần, chủ trương, chính sách nhân đạo của Đảng, nhà nước và pháp luật đối với từng trường hợp vi phạm pháp luật hình sự cụ thể Đó là những quy định về tội phạm và hình phạt, về những biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tư pháp, về trách nhiệm hình sự, về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt… đối với người có hành vi bị nghi là thực hiện tội phạm hoặc là tội phạm

Trang 7

Tạm giữ, tạm giam là chế định pháp luật rất quan trọng trong Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam, trực tiếp tác động đến QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phản ánh mối quan hệ giữa một bên là cơ quan bảo vệ pháp luật với một bên là người dân Tạm giữ, tạm giam cũng là một trong những biện pháp ngăn chặn, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành

án hình sự Đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc do nhà nước đặt ra và chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà

cụ thể ở đây là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp, trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình được Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định, mới được phép áp dụng Cho nên, khi việc thực hiện pháp luật (THPL) về tạm giữ, tạm giam không tốt, QCN của người bị tạm giữ, tạm giam sẽ bị xâm hại

Ở Việt Nam, nhất là sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, nhận thức, tư duy về QCN; về nội hàm của tạm giữ, tạm giam; về thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam… đã

có sự chuyển biến rõ nét Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật thực định nói riêng ngày càng hoàn thiện, theo hướng ngày càng tương thích với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế về QCN

Quyền con người luôn là chế định quan trọng, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 của Nhà nước Việt Nam độc lập Đặc biệt, đến Hiến pháp năm 2013, QCN được ghi nhận và quy định rõ tại Chương II về QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân So với các bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 được đánh giá như là một bộ luật về quyền, với nhiều bước phát triển mới, cả về trách nhiệm của nhà nước, chủ thể quyền, số lượng quyền được ghi nhận và nội dung cụ thể của từng quyền Để tiếp tục thể chế hóa Hiến

Trang 8

pháp năm 2013, với tinh thần đề cao, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm ở cấp độ cao nhất QCN, năm 2015, Quốc hội Việt Nam đã tiến hành sửa đổi và thông qua một loạt các bộ luật quan trọng như: Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình

sự (BLTTHS), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam…

Quá trình điều chỉnh, sửa đổi Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam trong những năm gần đây, đã góp phần tích cực vào việc ghi nhận và bảo đảm QCN của các đối tượng khác nhau trong xã hội, đặc biệt là nhóm đối tượng liên quan đến quá trình tố tụng là người bị tạm giữ, tạm giam Đây là bước cải cách quan trọng, nhằm góp phần đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án, góp phần tạo dựng trật tự, kỷ cương pháp luật trong xây dựng và phát triển đất nước

Tuy nhiên, hoạt động THPL về bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam đang đặt ra rất nhiều vấn đề, bởi đó là mối quan hệ giữa chủ thể mang sức mạnh cưỡng chế nhà nước với một bên được coi là

"nhóm yếu thế" - chịu sự cưỡng chế, điều chỉnh của chủ thể quản lý Trong mối quan hệ nhạy cảm này, có nhiều vấn đề cần tiếp tục được làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là những khoảng trống liên quan đến cơ chế bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam; QCN của người bị tạm giữ, tạm giam; Các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể quyền lực nhà nước khác đã THPL đến đâu để bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam; Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tạm giữ, tạm giam…, nhất là khi Việt Nam đang tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong khu vực và trên thế giới

Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và chế độ chính sách cho cán bộ cũng như đối với người bị tạm giữ, tạm giam dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Chất lượng và ý thức trách nhiệm, năng lực, trình

Trang 9

độ của đội ngũ cán bộ thực thi công vụ có lúc, có nơi còn thấp Trình độ, ý thức pháp luật của người dân về tạm giữ, tạm giam chưa cao Với nhận thức đó, học

viên lựa chọn đề tài:

“Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm

giữ, tạm giam tại trại tạm giam của công an tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc

sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về bảo vệ quyền con người nói chung và vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là các nhóm chủ đề lớn, khá phổ biến ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài Có thể nhận thấy trong những năm gần đây, các nhà khoa học chính trị, pháp lý ở Việt Nam đã và đang rất quan tâm đến lĩnh vực quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự, đã có nhiều công trình khoa học được công bố trong lĩnh vực này, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về quyền con người:

Vũ Công Giao, Tường Duy Kiên, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), “Giới

thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”, Nhà xuất bản Hồng

Đức, 2012;

Vũ Công Giao, Nghiêm Kim Hoa (đồng chủ biên), “Giới thiệu công ước

quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, Nhà xuất bản Hồng Đức,

2012;

Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)

“Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nhà xuất bản ĐHQG Hà

Nội, 2010, tái bản năm 2011, 2015;

Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Luật nhân quyền quốc tế: Những vấn đề

cơ bản” Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, N B Lao động – xã hội, 2011

Võ Khánh Vinh (chủ biên), “Quyền con người”, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, năm 2011

Về cơ bản các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu một cách hệ

Trang 10

thống, tiếp cận dưới phương diện lý luận về vấn đề quyền con người, quyền công dân Bên cạnh đó các công trình này đã đề cập cơ bản đến cơ chế pháp lý quốc tế và quốc gia trong vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân

2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự:

Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì thực hiện

đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia năm 2005, “Bảo vệ quyền con người bằng

pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Hà Nội, năm 2005

Lê Văn Cảm, "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự", Tạp chí Khoa học - Luật học của

ĐHQG Hà Nội, số 3/2011;

Trần Quang Tiệp, "Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố

tụng hình sự Việt Nam", sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

năm 2004;

Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lã

Khánh Tùng (đồng chủ biên), “Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn 4 thương trong tố

tụng hình sự”, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội, 2011;

Nguyễn Thái Phúc, “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam",

Hội thảo về Quyền con người trong tố tụng hình sự (do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân quyền ustralia tổ chức tháng 3-2010);

Nguyễn Huy Hoàng, Luận án Tiến sĩ Luật học, "Bảo đảm quyền con

người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ tại Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007;

Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Huy Hiếu, “Bảo đảm quyền con

người trong điều tra vụ án hình sự của cơ quan công an – từ thực tiễn Thành phố Hải Phòng”, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016

Trang 11

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận chuyên ngành, đa ngành để giải quyết vấn đề bảo đảm quyền con người trong các hoạt động khác nhau của tố tụng hình sự Các công trình nghiên cứu đó có giá trị khoa học mang tầm thời đại và sẽ được kế thừa để nghiên cứu thực trạng bảo đảm quyền con người trong các hoạt động cụ thể của tư pháp hình sự ở Việt Nam hiện nay

2.3 Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu về bảo đảm quyền con người khi bị tạm giữ, tạm giam:

Nguyễn Hữu Duyện, “Tổ chức quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam hiện

nay và những vấn đề đặt ra khi triển khai Luật thi hành tạm giữ, tạm giam”, Tạp

chí Cảnh sát nhân dân, số 3(130) – 2017

Nguyễn Quang Phục, “Một số vấn đề về công tác kiểm tra, hướng dẫn

bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam theo Luật thi hành tạm giữ, tạm giam”, Tạp chí Công an nhân dân, số 92-kỳ 2 – tháng 5/2017

Vũ Đức Khiên, “Một số vấn đề bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị

tạm giữ, tạm giam, bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”,

Tạp chí Công an nhân dân, số 54-kỳ 2 – tháng 5/2017

Nguyễn Thanh Trường, “Công tác kiểm tra, hướng dẫn trong tổ chức

thực hiện tạm giữ, tạm giam của lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp”, Tạp chí Cảnh sát Nhân dân, số 3(130) – 2017

Những công trình nêu trên, ở những góc độ, khía cạnh nhất định, đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc THPL về bảo đảm QCN trong quá trình tố tụng, đặc biệt là của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam Đó là những cách nhìn, cách đánh giá, phân tích rất có

ý nghĩa về một đối tượng, một vấn đề theo nhiều chiều, nhiều cách tiếp cận nhằm làm rõ chân giá trị Tuy nhiên cho đến nay, chưa một công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề THPL về bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam trên một địa bàn cụ thể đó là tỉnh Nghệ n Do vậy, các

Trang 12

kết quả nghiên cứu trên là những tư liệu quý, giúp học viên có thể tham khảo,

vận dụng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Mục đích nghiên cứu: Trên sở sở đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật

về bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam tại các trại tạm giữ, tạm giam

công an tỉnh Nghệ An trong những năm vừa qua, luận văn xác định quan điểm

và có những kiến nghị, đề xuất các giải pháp, nhằm thực hiện pháp luật về bảo

đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam của công an

tỉnh Nghệ n đạt hiệu quả tốt hơn đáp ứng yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp

quyền ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ một số vấn đề lý luận bảo vệ quyền con

người nói chung, bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, tạm giam khi điều tra vụ

án hình sự trong tố tụng hình sự; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bảo

đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam của Công an tỉnh

Nghệ An; đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm

giam tại các trại tạm giam của Công an tỉnh nói chung, Công an tỉnh Nghệ An

nói riêng

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận liên quan đến QCN; pháp

luật và THPL đối với người bị tạm giữ, tạm giam; nội dung THPL về bảo đảm

QCN của người bị tạm giữ, tạm giam; thực trạng việc THPL về bảo đảm QCN

của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam của Công an tỉnh; quan

điểm và các giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả việc THPL về bảo đảm

QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam của Công an tỉnh

hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn tỉnh

Nghệ An, bao gồm hoạt động tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam của Công an

tỉnh Nghệ An Hoạt động tạm giữ của trại tạm giữ ở các đơn vị hành chính cấp

Trang 13

huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Phạm vi thời gian: nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2017

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta

Mác-về vấn đề bảo vệ quyền con người, cải cách tư pháp trong tố tụng hình sự trong yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ, nhân quyền ở nước ta hiện nay Trên cơ sở phương pháp luận trên, đề tài này sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp, thống kê; phương pháp phân tích, đánh giá…

6 Những đóng góp và ý nghĩa của đề tài

Khi hoàn thành, luận văn có những đóng góp mới sau đây:

Thứ nhất, góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật nói

chung và thực hiện pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong các hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay Trong đó đặc biệt là hoạt động

áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước mà trực tiếp là các cơ quan tiến hành tố tụng đối với công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam

Thứ hai, luận văn tập trung phân tích có tính hệ thống, khoa học về các

báo cáo, số liệu một cách đầy đủ, toàn diện và chi tiết về thực trạng thực hiện pháp luật bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam tại công an tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây Đây là kết quả nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên về vấn đề này ở tỉnh Nghệ An trong thời gian hiện nay Kết quả phản ánh thực trạng đó là cơ sở thực tiễn quan trọng để chính quyền tỉnh nhìn nhận khách quan, đánh giá trung thực về vai trò của mình trong công tác thực hiện chức năng bảo đảm quyền của người dân trong yêu cầu và tình hình mới

Thứ ba, trên cơ sở phương pháp luận đã được luận và kết quả phân tích về

mặt thực trạng, luận văn sẽ nêu ra nhiều quan điểm, giải pháp mới có tính đột phá, tính thời sự nhằm góp phần vào mục đích bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình thực hiện pháp luật về tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay, từ thực tiễn tỉnh Nghệ An trong những năm tơi đây

Trang 14

Kết quả của luận văn giúp cho những nhà quản lý có thêm thông tin, vận dụng vào việc tổ chức, quản lý hoạt động này tại các địa phương nói chung và tại tỉnh Nghệ An nói riêng trong yêu cầu, nhiệm vụ chính trị mới

7 Kết cấu của của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được thiết kế gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam tại các trại tạm giam;

Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam của công an tỉnh Nghệ An;

Chương 3 Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền con người của người

bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam từ thực tiễn tỉnh Nghệ An

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM

GIAM TẠI CÁC TRẠI TẠM GIAM

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quan điểm chung của cộng đồng quốc tế về vấn đề QCN chính là sự ghi nhận những giá trị phổ quát của QCN, là văn hóa toàn cầu và cần phải được tôn trọng, bảo đảm và thực thi như nhau ở mọi nền văn hóa, hệ thống pháp luật quốc gia QCN gắn liền với dân chủ, nhà nước pháp quyền, đoàn kết, phát triển, hòa bình và hợp tác QCN là mục tiêu và động lực để phát triển xã hội Như vậy, QCN là phẩm giá vốn có của mỗi người với tư cách vừa là cá nhân, vừa là thành viên của nhóm, xã hội và nhân loại; là các quyền mang tính phổ quát, vốn có, không chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau; là các nguyên tắc, tiêu chuẩn và quy phạm quốc tế và quốc gia

Quyền con người hay nhân quyền là một phạm trù mở, được nghiên cứu dưới góc độ của nhiều ngành khoa học khác nhau như: luật học, chính trị học, triết học… Theo nghiên cứu của Liên hợp quốc thì có gần 50 định nghĩa khác nhau về QCN Mỗi định nghĩa tiếp cận từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của QCN

Ngoài ra, khái niệm QCN còn được ghi nhận trong các Công ước quốc tế khác về QCN như: Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948, Công ước về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước về ngăn ngừa và trừng trị

Trang 16

tội ác pacthai năm 1973, Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối

xử chống lại phụ nữ năm 1979, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989

Một số định nghĩa cơ bản về QCN thường được viện dẫn bao gồm:

Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN năm 2006 thì:

"Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm, chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người" [21]

Hoặc quan niệm khác cho rằng, QCN là những giá trị và nhu cầu xuất phát từ phẩm giá vốn có của mỗi người, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm [21]

Ngoài ra, một định nghĩa khác cũng thường được sử dụng là: "Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người" [21]

Ở Việt Nam, khái niệm QCN cũng được định nghĩa trong nhiều tài liệu

khác nhau Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì QCN là "tổng hợp

các quyền và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lí của cá nhân" [84]

Còn theo Bộ Tư pháp Việt Nam (năm 2005) quan niệm: "Quyền con người là

những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người) được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Quyền con người là quyền của tất cả mọi người" [13]

Trong Giáo trình Lý luận về QCN dành cho hệ Cử nhân chính trị năm

2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008, 2010) của Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, QCN được ghi nhận như sau: "Quyền con người với tư cách là quyền cá nhân, đó là quyền của tất cả mọi người, là những giá trị không thể chuyển nhượng Quyền con người là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hóa bằng các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia" [86]

Trang 17

Mặc dù có sự khác biệt nhất định song các khái niệm về QCN ở Việt Nam đều hàm chứa những nội dung cơ bản là:

+ Quyền con người là quyền mang tính tự nhiên nhưng đồng thời được quy định và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật, bao gồm cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

+ Quyền con người là quyền gắn với mỗi con người, vừa với tư cách cá nhân, vừa với tư cách thành viên xã hội Quyền của mỗi cá nhân được đặt trong mối quan hệ với lợi ích quốc gia, dân tộc và cộng đồng

+ Quyền con người là quyền mà tất cả mọi người, không phân biệt độ tuổi, giới tính, thành phần xuất thân, tôn giáo, ngôn ngữ , đều được tiếp cận và hưởng thụ một cách bình đẳng [80]

Từ bình diện quốc tế đến quan niệm của các học giả, nhà nghiên ở Việt Nam như đã trình bày trên, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì QCN cũng được xác định như những chuẩn mực, kết tinh những tinh hoa văn hóa nhân loại qua từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử khác nhau, chỉ áp dụng với con người và cho tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ

Trong luận văn này, trên cơ sở định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc và các định nghĩa khác, tác giả sử dụng khái niệm QCN như sau:

Quyền con người là các quyền vốn có, dành cho tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu

da, tôn giáo, ngôn ngữ hay tình trạng nào khác Mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng quyền con người mà không có sự phân biệt đối xử Quyền con người thường được thể hiện và bảo đảm bằng các quy định của pháp luật, dưới các hình thức điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn khác của luật quốc tế [887]

1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ, tạm giam và quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam

Theo quy định tại Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam) thì:

Trang 18

Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời

hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của BLTTHS

Người bị tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời

hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS, bao gồm: bị can;

bị cáo; người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ

Cơ sở giam giữ là nơi tổ chức giam giữ, quản lý người bị tạm giữ, người

bị tạm giam, bao gồm Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng [52]

Quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam: Có thể hiểu một cách

chung nhất, QCN của người bị tạm giữ, tạm giam là những quyền, những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có, khách quan cần các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhà nước bảo đảm cho người bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình thi hành tạm giữ, tạm giam, thể hiện ở các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam được quy định trong hệ thống pháp luật

1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật

Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định những khả năng xử sự của mọi cá nhân, tổ chức Khả năng đó chỉ trở thành hiện thực trong đời sống khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật

Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật Pháp luật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản lý nhà nước kém hiệu quả Chính vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước sử dụng pháp luật như là phương tiện để thực hiện sự quản lý đối với xã hôị, và đây là nguyên tắc hiến định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 19

Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp

Nói cách khác, việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật, đó là bằng hành vi cụ thể của mình, các chủ thể pháp luật khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, đã bằng các hành vi của mình thực hiện các quy phạm pháp luật phù hợp với các quy định đã được đưa ra

Các quy phạm pháp luật hết sức phong phú cho nên hình thức thực hiện chúng cũng rất phong phú Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động, ví dụ như không tiến hành những hành vi trôm cắp tài sản, cướp của, giết

người chính là đã tuân thủ pháp luật

Thứ hai, thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động

tích cực Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi

chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực, chẳng

Trang 20

hạn như cá nhân thực hiện nghĩa vụ quân sự, ghi tên vào danh sách nhập ngũ, hoặc người kinhn doanh thực hiện nghĩa vụ thuế chính là đã thi hành pháp

luật

Thứ ba, sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó

các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành

vi mà pháp luật cho phép) Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ

thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện, chẳng hạn như

công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo

Thứ tư, áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó

nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát

sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì

áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền, đó là sự can thiệp từ phía nhà nước đối với các chủ thể khác

1.1.4 Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam trong các Trại tạm giam

Theo từ điển Việt Nam, "bảo đảm" có nghĩa là "làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết; là sự bảo đảm thực hiện hoặc giữ được" [36]

Với ý nghĩa đó, bảo đảm QCN hay bảo đảm thực hiện QCN là việc sử dụng các công cụ, yếu tố, biện pháp, cách thức để QCN được ghi nhận, bảo vệ, tôn trọng, thực thi trên thực tế một cách đầy đủ, chắc chắn, và thúc đẩy QCN

Trang 21

phát triển Đây là trách nhiệm của nhà nước và tất cả các chủ thể pháp luật khác trong quá trình thực hiện QCN

Người bị tạm giữ, tạm giam là đối tượng đặc thù, phản ánh mối quan hệ bất bình đẳng giữa nhà nước với con người nên việc bảo đảm QCN cũng có những đặc trưng riêng, tập trung vào những bảo đảm pháp lý Do vậy, nó được hiểu là trách nhiệm trực tiếp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhà nước tham gia thi hành tạm giữ, tạm giam, người bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam

Từ những phân tích trên có thể kết luận rằng: Thực hiện pháp luật về bảo

đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong Trại tạm giam là quá trình hoạt động, thể hiện rõ ý chí của nhà nước, mang tính nhân văn, khoa học sâu sắc, do

cơ quan, tổ chức, cá nhân nhà nước có thẩm quyền, bằng hành vi của mình, làm cho những quy định của pháp luật về QCN của người bị tạm giữ, tạm giam đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp Trực tiếp nhất ở đây chính

là tại các Trại tạm giam

1.2 NỘI DUNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG CÁC TRẠI TẠM GIAM

1.2.1 Quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Tôn trọng, bảo vệ và thực thi QCN là một nội dung quan trọng trong quan điểm của Đảng và hệ thống pháp luật của nhà nước Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới

Đại hội II của Đảng tháng 01/2016 xác định:

Thực hiện QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức

xã hội Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt QCN, quyền công dân, theo phương hướng: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp

Trang 22

pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về QCN mà nước ta ký kết [24]

Hệ thống pháp luật trong nước về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam cũng đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, thông qua mới để phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các chuẩn mực được ghi nhận trong điều ước

mà Việt Nam là thành viên

Hiến pháp năm 2013 gồm 120 điều, được chia thành 11 chương, trong đó quyền con người, quyền công dân được quy định chủ yếu tại chương II, với 36 điều, từ Điều 14 đến Điều 49 bằng tên gọi là Quyền con người, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về QCN, quyền công dân cũng đã được triển khai đồng bộ và xuyên suốt thông qua các chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội và các chính sách, cơ chế, nhằm triển khai các Luật và văn bản luật này trên thực tế Chỉ tính

từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2015, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành 255 luật, pháp lệnh; Chủ tịch nước đã ban hành 23 Lệnh, quyết định; Ủy ban thường vụ Quốc hội với Chính phủ và các cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành

22 nghị quyết liên tịch; Chính phủ ban hành 1.213 nghị định, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 921 quyết định, các Bộ, ban, ngành Trung ương đã ban hành 7.486 thông tư, 1.293 thông tư liên tịch Trong đó có 72 văn bản luật và pháp lệnh, chiếm 28,2% tổng số luật và Pháp lệnh do Quốc hội ban hành có nội dung bảo đảm QCN, quyền tự do, dân chủ của công dân [3]

Theo đó, pháp luật về bảo đảm QCN, quyền tự do, dân chủ của công dân

đã có những bước phát triển vượt bậc Các quyền về dân sự, chính trị; kinh tế, xã hội và văn hóa của người dân tiếp tục được hoàn thiện, cơ bản đã được luật hóa

và có cơ chế bảo đảm thực thi Thể hiện rõ chính sách ưu việt của Đảng và nhà nước, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong phát triển kinh

Trang 23

tế, quan tâm đến nhóm đối tượng yếu thế, tạo mọi điều kiện để mọi người dân được tự do, bình đẳng trong cống hiến và hưởng thụ…

Qua bức tranh sinh động về việc bảo đảm QCN ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2016, có thể thấy rằng, vấn đề ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ, thực thi QCN, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Việt Nam là vấn đề rất khó khăn, phức tạp bởi nhiều nhân tố chủ quan và khách quan cũng như các điều kiện bảo đảm khác, nên các thế lực thù địch lợi dụng, tạo cớ, nhằm đe dọa sự tồn vong của chế độ ã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, bảo đảm QCN là trách nhiệm chung của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao các QCN, vì lợi ích của nhân dân

Quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam là một phần của QCN nói chung, phản ánh những quyền, những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có, khách quan của người bị tạm giữ, tạm giam Người bị tạm giữ, tạm giam cũng là con người nên họ cũng có những nhu cầu, lợi ích như tất cả người khác, đó là nhu cầu sống, nhu cầu tự do, nhu cầu nghỉ ngơi, nhu cầu được tôn trọng về danh

dự, tính mạng, nhân phẩm, sức khỏe, hưởng thụ các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần… Cụ thể những quyền ấy, phạm vi, khả năng, mức độ hưởng thụ quyền và các cơ chế bảo đảm do pháp luật quy định

Người bị tạm giữ, tạm giam cần được quan tâm, bảo vệ và bảo đảm QCN trong suốt quá trình bị tạm giữ, tạm giam Theo quy định của pháp luật, họ chưa

là người có tội nhưng bị nghi thực hiện tội phạm nên pháp luật hạn chế QCN của

họ Trên thực tế, họ là người đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam Vì vậy, địa vị pháp lý của họ thấp hơn những người bình thường khác và QCN của họ rất dễ bị xâm hại bởi các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhà nước Điều này cũng đảm bảo lẽ công bằng, tính nhân đạo của pháp luật bởi vì họ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ; thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS Họ là bị can, bị cáo, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có

Trang 24

hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ

Quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam được pháp luật ghi nhận một cách cụ thể và có cơ chế để bảo vệ các quyền ấy được thực thi Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, là chủ thể ban hành luật, nên nhà nước vừa thực hiện luật hóa các QCN, vừa có trách nhiệm bảo đảm và bảo vệ các QCN ấy, trong đó có quyền của người bị tạm giữ, tạm giam Thông qua hệ thống pháp luật như Luật Hiến pháp, BLTTHS, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Quy chế

về tạm giữ, tạm giam…, nhà nước khẳng định vai trò làm chủ của mình, điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã hội Và người bị tạm giữ, tạm giam, cùng nhà nước và các chủ thể khác, thông qua các quy định của pháp luật, thực hiện bảo

vệ QCN uất phát từ mục đích bảo đảm và bảo vệ QCN, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các QCN, quyền công dân

về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng [48]

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 16) [48]

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ

về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định (Điều 20) [48]

Hiến pháp khẳng định: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã

Trang 25

có hiệu lực pháp luật Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị

xử lý theo pháp luật (Điều 31) [48]

Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đặc điểm nhân thân… của người bị tạm giữ, tạm giam khác nhau mà pháp luật quy định mức độ QCN khác nhau ở những giai đoạn tố tụng khác nhau

Trên thực tế pháp lý, những nội dung liên quan tới QCN của người bị tạm giữ, tạm giam, trước đây đã được quy định ở Hiến pháp năm 1992, BLTTHS năm

2003, Nghị định 89, Nghị định 98, Nghị định 09 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của BC , Tổng cục Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, BC VN…

Để phù hợp với những quy định mới trong Hiến pháp năm 2013, Quốc hội

đã ban hành BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm

2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tất cả có hiệu lực từ ngày 01/01/2018

Các văn bản luật nêu trên và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác, đã tạo thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tạm giữ, tạm giam, trong đó

có các quy định về QCN của người bị tạm giữ, tạm giam

Như vậy, pháp luật về QCN của người bị tạm giữ, tạm giam là hệ thống các quy phạm pháp luật, điều chỉnh những quan hệ xã hội nhằm tổ chức thực hiện QCN của người bị tạm giữ, tạm giam

Theo BLTTHS năm 2003, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn

cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc

sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra,

Trang 26

Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người

có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS, có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn như: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [3; 44]

Bản chất của biện pháp ngăn chặn là nhằm tạm thời hạn chế sự tự do của người bị áp dụng - tức là hạn chế QCN, quyền công dân của người bị áp dụng nên hoạt động này phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật Tuy nhiên, các biện pháp này không có tính chất trừng phạt, chỉ mang tính chất hỗ trợ cho việc thực hiện trách nhiệm hình sự

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng, do những người có thẩm quyền quyết định, hạn chế tự do thân thể trong thời hạn nhất định đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cắp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã, nhằm đảm bảo cho cơ quan có thẩm quyền có điều kiện đi xác minh lý lịch, lấy lời khai, thu thập chứng cứ…, để có cơ sở ra quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc ra quyết định trả tự do Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa… (Điều 48 BLTTHS) Người có thẩm quyền quyết định việc tạm giữ là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời khỏi sân bay, bến cảng; chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển Việc tạm giữ phải được thực hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền Trong quyết định phải ghi rõ lý do, thời gian tạm giữ; tên, địa chỉ người bị tạm giữ và cấp bậc, chức vụ người ra quyết định… và giao cho người bị tạm giữ một bản Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, phải gửi một bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát thực hiện chức năng giám sát (Điều 86 BLTTHS) Thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt Trường hợp cần

Trang 27

phải có thêm thời gian để xác minh, củng cố chứng cứ, tài liệu… thì có thể gia hạn thời gian tạm giữ, nhưng không quá 03 ngày; trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tạm giữ lần thứ 2, không quá 03 ngày Như vậy, thời gian tối đa một người

bị tạm giữ là không quá 09 ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ, đều phải được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn Khi đã hết hạn tạm giữ mà không đủ căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam hoặc không đủ căn cứ khởi tố bị can, cơ quan điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Trường hợp đủ căn cứ khởi

tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam thì trước khi hết hạn tạm giữ, cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố bị can và quyết định tạm giam, chuyển đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét phê chuẩn (Điều 87 BLTTHS) [3; 44]

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng, do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm mà BLHS quy định hình phạt trên hai năm tù

và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra truy tố, xét

xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Đây là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, cách ly người bị tạm giam ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số QCN, quyền công dân Tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với bị can,

bị cáo nhưng không phải trong mọi trường hợp mà chỉ khi không có căn cứ để

áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Bị can có các quyền như: biết mình bị khởi

tố về tội gì; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; được nhận quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản cáo trạng, quyết định truy tố, các quyết định tố tụng khác theo quy định; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng… (Điều 49 BLTTHS) Người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án

Trang 28

quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp - trong trường hợp này, lệnh tạm giam phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành (Điều 88 BLTTHS) [3; 44]

Chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù Nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các chế độ khác thực hiện theo quy định của Chính phủ (Điều 89 BLTTHS) [3; 44]

Theo quy định tại Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì: Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của BLTTHS

Người bị tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS, bao gồm: bị can; bị cáo; người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ

Chế độ tạm giữ, tạm giam là chế độ quản lý giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam và chế độ ăn, ở, mặc, tư trang, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo và tài liệu, gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, tạm giam

Cơ sở giam giữ là nơi tổ chức giam giữ, quản lý người bị tạm giữ, người

bị tạm giam, bao gồm Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng [52]

Theo Nghị định 89, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án

áp dụng, nhằm buộc những người có Lệnh tạm giữ hoặc Lệnh tạm giam cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định, để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành

vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt

tù hoặc án tử hình

Trang 29

Người bị tạm giữ, tạm giam đều phải ở trong buồng giam, giữ Chỉ khi có lệnh của Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam cho ra họ mới được ra khỏi buồng giam, giữ để thực hiện Lệnh trích xuất hay để thay đổi không khí, tắm giặt, khám, chữa bệnh, làm vệ sinh buồng giam, giữ (Điều 18)

Nghị định 89 còn quy định: Trại tạm giam là nơi giam, giữ những người

là bị can; bị cáo; người bị kết án phạt tù; người bị kết án tử hình mà bản án chưa

có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ

Trại tạm giam thuộc BC và Trại tạm giam ở Công an cấp tỉnh giam, giữ những người thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra,

Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân (Điều 4)

Nhà tạm giữ, Trại tạm giam chỉ tiếp nhận giam, giữ những người đã có lệnh tạm giữ, lệnh tạm giam hoặc Lệnh truy nã Người bị tạm giữ và người bị tạm giam không được giam, giữ chung trong cùng một buồng Việc tạm giữ, tạm giam phải theo đúng quy định của pháp luật Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của những người bị tạm

giữ, tạm giam (Điều 5)

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, mỗi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Công an cấp tỉnh), Quân khu, Quân đoàn và cấp tương đương trong Quân đội nhân dân được tổ chức một hoặc hai Trại tạm giam Trại tạm giam có buồng riêng để giam người có án tử hình và có một số buồng để tạm giữ những người có Lệnh tạm giữ, người đã có quyết định thi hành án phạt

tù đang chờ chuyển đi Trại giam Những buồng giam, giữ này phải được treo biển "Buồng tạm giữ", "Buồng giam người có án tử hình", "Buồng giam người chờ chuyển đi Trại giam" (Điều 10)

Trại tạm giam được thiết kế, xây dựng kiên cố, có đủ ánh sáng bảo đảm vệ sinh môi trường và sức khỏe cho người bị tạm giam, tạm giữ, an toàn phòng cháy, chữa cháy, phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng địa phương và yêu cầu

Trang 30

an toàn của công tác quản lý giam, giữ Tiêu chuẩn cụ thể của Trại tạm giam do

Bộ trưởng BC , Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định (Điều 13)

Trại tạm giam được tổ chức bệnh xá để khám và chữa bệnh cho người

đang bị tạm giữ, tạm giam… (Điều 14) [15]

Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã quy định rõ quyền và nghĩa

vụ của người bị tạm giữ, tạm giam tại Điều 9 như sau:

1 Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

a) Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

b) Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

d) Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

đ) Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

e) Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

g) Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam; h) Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

i) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

k) Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam

2 Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

Trang 31

b) Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định của Luật này và pháp luật có liên quan [52]

Để hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam đạt hiệu quả, trong đó

có bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam, thì người bị tạm giữ tạm giam, cán bộ, chiến sỹ ở các cơ sở giam giữ và những chủ thể khác khi tham gia vào mối quan hệ thi hành tạm giữ, tạm giam phải quán triệt các nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm QCN, lợi ích của

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Thứ hai: Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh lệnh, quyết định về tạm giữ,

tạm giam, trả tự do của cơ quan, người có thẩm quyền

Thứ ba: Bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay

bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Thứ tư: Bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện

QCN, quyền và nghĩa vụ của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan

Thứ năm: Áp dụng các biện pháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính

chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 4) [52]

Các chủ thể, nhất là cán bộ, chiến sỹ, người bị tạm giữ, tạm giam, để bảo

vệ QCN của người bị tạm giữ, tạm giam ở các cơ sở giam giữ, khi tham gia vào mối quan hệ thi hành tạm giữ, tạm giam nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau:

Một là: Tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng

phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Hai là: Không chấp hành lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm

quyền về tạm giữ, tạm giam, trả tự do

Trang 32

Ba là: Giam giữ người trái pháp luật; trả tự do trái pháp luật người bị tạm

giữ, người bị tạm giam; vi phạm quy định trong quản lý, canh gác, áp giải người

bị tạm giữ, người bị tạm giam

Bốn là: Cản trở người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền

thăm gặp thân nhân, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, tiếp xúc lãnh sự, khiếu nại, tố cáo, QCN, quyền và nghĩa vụ khác của công dân theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan

Năm là: Phá hủy cơ sở giam giữ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

của cơ sở giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khỏi nơi giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị áp giải; đánh tháo người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Sáu là: Không chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam

giữ hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam

Bảy là: Thực hiện hoặc tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp

sức, che giấu, ép buộc người khác vi phạm pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của

người khác trong thi hành tạm giữ, tạm giam (Điều 8) [52]

1.2.2 Các nội dung bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền con người tại các trại tạm giam

Nội dung THPL về bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong Trại tạm giam có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Căn cứ vào luật thực định thì có thực hiện bảo đảm QCN theo luật Hiến pháp, BLHS, Bộ luật tố Tụng hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam… Căn cứ vào hình thức THPL, thực hiện bảo đảm QCN có các nội dung tuân thủ pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng về QCN của người bị tạm giữ, tạm giam

Nếu luận văn nghiên cứu đề tài theo các cách tiếp cận trên thì sẽ rất khó khăn vì luật thực định rất đa dạng, phong phú Khi đi vào từng ngành luật cụ thể thì vấn đề được giải quyết sẽ thiếu tính toàn diện, đầy đủ Khi giải quyết vấn đề

Trang 33

theo hình thức THPL thì luận văn mang nặng lý luận, khó phân tách rõ ràng từng hình thức THPL

Để giải quyết những khó khăn đó, luận văn lựa chọn cách tìm hiểu trực diện, cụ thể các QCN của người bị tạm giữ, tạm giam, chia thành nhóm quyền

và làm rõ những cách thức làm cho các quyền đó đi vào thực tế

Căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, nội dung THPL về bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, tạm giam trong Trại tạm giam bao gồm:

- Thứ nhất, thực hiện pháp luật về quyền được giam giữ đúng quy định, quyền không bị tra tấn, đối xử vô nhân đạo hay hạ nhục và được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể, tài sản

Tổ chức giam giữ đúng quy định là quyền đầu tiên mà người bị tạm giữ, tạm giam được hưởng Giam, giữ đúng quy định là tiền đề bảo đảm cho người bị tạm giữ, tạm giam được đối xử nhân đạo, không bị phân biệt đối xử, bị đe dọa, xâm hại danh dự, tính mạng, nhân phẩm, sức khỏe, quyền sở hữu được bảo đảm…

Theo đó, việc giam giữ phải đảm bảo đầy đủ các thủ tục, giấy tờ, theo đúng quy trình, trình tự được pháp luật quy định, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, bố trí giam giữ, quản lý giam giữ và thi hành giam giữ

Trại tạm giam thực hiện việc giam, giữ, trả tự do cho người bị tạm giam, tạm giữ khi có lệnh hoặc quyết định của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Tổ chức cho người đang bị giam, giữ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật; chuyển kiến nghị, kháng cáo đối với bản án xét xử sơ thẩm, phúc thẩm của người bị tạm giam tới cơ quan

có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn luật định Thông báo bằng văn bản cho

cơ quan đang thụ lý vụ án có người bị tạm giữ, tạm giam, biết việc hết thời hạn tạm giữ trước 1 ngày, việc hết thời hạn tạm giam lần thứ nhất trước 5 ngày, việc hết thời hạn tạm giam lần thứ hai trước 10 ngày và yêu cầu cơ quan thụ lý vụ án đến nhận hoặc giải quyết các trường hợp hết thời hạn tạm giam, tạm giữ Trường hợp cơ quan đang thụ lý vụ án không giải quyết các trường hợp hết hạn tạm giam, tạm giữ thì kiến nghị ngay lên cấp trên có thẩm quyền của cơ quan đó giải

Trang 34

quyết Giao người bị tạm giữ, tạm giam theo Lệnh trích xuất của người có thẩm quyền Báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền đối với các trường hợp xét thấy quyết định giam, giữ, trả tự do là trái pháp luật [15]

Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam, Trại tạm giam xem xét lệnh tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh truy nã và các tài liệu, thủ tục cần thiết khác để bảo đảm giam giữ đúng người, đúng pháp luật Lập biên bản giao nhận hồ sơ và giao nhận người bị tạm giữ, tạm giam, đồng thời xác định tình trạng sức khoẻ của họ Vào sổ theo dõi danh sách người bị tạm giữ, tạm giam Phổ biến nội quy tạm giữ, tạm giam cho người bị tạm giữ, tạm giam, kiểm tra thân thể và đồ vật mang theo của họ trước khi đưa họ vào buồng giam, giữ Việc kiểm tra thân thể người

bị tạm giữ, tạm giam là nam giới do cán bộ nam thực hiện, là nữ giới do cán bộ

nữ thực hiện và được tiến hành ở phòng kín Đối với những tài sản, đồ vật của người bị tạm giữ, tạm giam có giá trị như tiền, kim khí quý, đá quý, vàng…, Trại phải tiếp nhận, niêm phong và vào sổ lưu ký, có ký nhận của người bị tạm giữ, tạm giam để quản lý theo quy định hoặc ủy quyền cho thân nhân của họ quản lý Phải hoàn trả hoặc bồi thường cho người bị tạm giữ, tạm giam khi họ được trả tự

do hoặc chuyển nơi giam giữ khác hoặc do bị làm hư hỏng, mất mát [15]

Sau khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam, phải bố trí giam, giữ theo khu vực và phân loại: tạm giữ, tạm giam; phụ nữ; người chưa thành niên; người nước ngoài; người có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; người thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ hung hãn, giết người, cướp tài sản, tái phạm nguy hiểm…; người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia; người bị kết án tử hình; người đang chờ chấp hành án phạt tù và người thường xuyên vi phạm nội quy cơ

sở giam giữ [15]

Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, thân thể, tài sản là những quyền cơ bản của QCN, được ghi nhận không chỉ trong Hiến pháp mà nhiều ngành luật thực định khác Tính mạng, sức khỏe, thân thể, tài sản là những thứ vốn quý, những thứ luôn gắn liền với con người, nên dễ bị xâm hại bởi các chủ thể pháp luật khác Người bị tạm giữ, tạm giam ở trong môi trường cách ly với

Trang 35

xã hội nên việc bị xâm hại dễ dàng hơn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, từ phía người cùng buồng giam, giữ, hoặc từ những cán bộ, chiến sỹ Công an hoặc những người có thẩm quyền khác, thậm chí do chính người bị tạm giữ, tạm giam gây nên Nhiều trường hợp, ở nhiều cơ sở giam giữ để xảy ra tình trạng "đại ca",

"đại bàng", "ma cũ bắt nạt ma mới"…, khi người bị tạm giữ, tạm giam mới vào buồng giam, đã bị những người giam cũ đánh đập, hành hạ, làm cho người bị tạm giữ, tạm giam hoảng sợ, suy kiệt, nhiều trường hợp dẫn đến tử vong

Do vậy, bảo đảm những quyền trên là rất quan trọng Pháp luật yêu cầu Trại tạm giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt, bố trí cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm

vụ 24/24 giờ trong ngày để quản lý, tuần tra, canh gác, kiểm tra từng buồng giam, giữ và toàn bộ khu vực giam, giữ, giải quyết kịp thời các việc thường xuyên cũng như đột xuất xảy ra Nghiêm cấm cán bộ, chiến sỹ C ND và người

có thẩm quyền khác tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam Nếu có những hành vi xâm hại, tùy theo tính chất và mức độ, cán bộ, chiến sỹ Công an và người có thẩm quyền sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc có thể bị xử lý

về mặt hình sự Không được sử dụng người bị tạm giữ, tạm giam làm các việc trái quy định của pháp luật [15]

Như vậy, Trại tạm giam thực hiện tốt các quy định của pháp luật thì QCN

về tính mạng, danh dự, nhân, phẩm, sức khỏe… của người bị tạm giữ, tạm giam được bảo đảm

- Thứ hai, thực hiện pháp luật về quyền được bảo đảm các chế độ về: ăn, mặc, ở, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, sinh hoạt tinh thần, thăm gặp thân nhân, nhận quà, gửi, nhận thư, nhận sách, báo, tài liệu; sống trong môi trường an toàn

Đây là những quyền cơ bản, tối thiểu, thường xuyên, gần gũi nhất của người

bị tạm giữ, tạm giam Nếu làm tốt, QCN của người bị tạm giữ, tạm giam sẽ được bảo đảm; mục đích của công tác tạm giữ, tạm giam là phục vụ cho công tác điều

Trang 36

tra, truy tố, xét xử, và thi hành án hình sự sẽ đạt được Ngược lại, nếu làm không tốt, các mục đích trên đều không đạt được và gây ra nhiều hậu quả tiêu cực khác

Dưới góc độ tâm lý tội phạm và tội phạm học, những người bị tạm giữ, tạm giam luôn luôn có nhu cầu chối tội, thoát tội, ra khỏi nơi giam giữ, thông tin với bên ngoài…, nên họ tìm mọi cách để thông cung với nhau, thông tin trái phép với thân nhân, trốn khỏi nơi giam giữ, tự gây thương tích, tự sát…

Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền được hưởng đầy đủ các chế độ về

ăn, mặc, ở, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, sinh hoạt tinh thần, thăm gặp thân nhân, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu, sống trong môi trường bảo đảm

là trách nhiệm trực tiếp của cơ sở giam giữ, của các cán bộ Công an thực hiện công tác này Do vậy, pháp luật quy định khá chi tiết, cụ thể các cơ chế, biện pháp, yêu cầu để bảo đảm các quyền này của người bị tạm giữ, tạm giam

Về điều kiện môi trường giam giữ và sinh hoạt tinh thần: Trại tạm giam phải được thiết kế, xây dựng kiên cố, có đủ ánh sáng, đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam, an toàn trong phòng chống cháy nổ, phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng địa phương (Điều 13 Nghị định 89) Phối hợp với các cơ sở y tế thực hiện việc khám, chữa bệnh trong trường hợp dịch bệnh, ngộ độc hàng loạt tại các Trại tạm giam, Nhà tạm giữ và tổ chức các phòng điều trị riêng để tiếp nhận bệnh nhân là người bị tạm giam, tạm giữ tại các bệnh việc hoặc cơ sở y tế khác Tổ chức phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định Định kỳ có kế hoạch phun thuốc diệt ruồi, muỗi Khi có dịch bệnh xảy ra phải thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất để phối hợp dập tắt dịch bệnh Các Trại tạm giam phải tổ chức tốt hoạt động căng tin trên cơ sở công khai, minh bạch, giá bán được lãnh đạo Trại tạm giam phê duyệt trên tinh thần phục vụ là chính

Trại tổ chức cho người bị tạm giữ, tạm giam nghe Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh hoặc truyền thanh địa phương, đọc báo Nhân dân hoặc báo địa phương Người nước ngoài bị giam, giữ được nhận sách, báo bằng tiếng nước họ mang quốc tịch khi được cơ quan thụ lý vụ án cho phép

Trang 37

Về ăn: Trại phải tổ chức bếp ăn cho người bị tạm giữ, tạm giam đúng tiêu chuẩn, chế độ, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm Thực phẩm, tài chính phải

có sổ sách theo dõi công khai hàng ngày Các khâu từ chế biến, nấu ăn đến chia khẩu phần ăn cho người bị tạm giữ, tạm giam phải có cán bộ giám sát chặt chẽ, đúng định lượng, không để xảy ra thất thoát, mất vệ sinh

Chế độ ăn của người bị tạm giữ, tạm giam được quy định: Tiêu chuẩn ăn trong một tháng của một người bị tạm giữ, tạm giam được tính theo định lượng

là 17 kg gạo thường, 0,7 kg thịt và 0,8 kg cá, 01 kg muối, 0,5 kg đường loại trung bình, 0,75 lít nước mắm, 0,1 kg bột ngọt, 15 kg rau xanh và 15 kg củi hoặc

17 kg than Định lượng này do Nhà nước cấp và quy ra tiền theo thời giá thị trường ở địa phương nơi Trại tạm giam đóng quân Ngày lễ, ngày Tết (theo quy định của Nhà nước), người bị tạm giữ, tạm giam được ăn thêm không quá 5 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường Trại tạm giam có thể hoán đổi định lượng ăn nêu trên cho phù hợp với thực tế để bảo đảm người bị tạm giữ, tạm giam ăn hết tiêu chuẩn [17]

Về mặc, ở và đồ dùng sinh hoạt cá nhân: Trong thời gian bị giam, giữ, người bị tạm giữ, tạm giam được sử dụng quần áo, chăn, chiếu, màn của cá nhân, nếu thiếu thì Trại tạm giam cho mượn theo tiêu chuẩn mỗi người gồm: 01 chiếu, 01 màn (loại cá nhân), 1 chăn (đối với các Nhà tạm giữ, Trại tạm giam từ thành phố Đà Nẵng trở vào dùng chăn sợi, từ Huế trở ra dùng chăn trần bông loại 02 kg), 01 đôi dép và 02 bộ quần áo dài theo mẫu thống nhất do Bộ trưởng

BC , Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định Hàng tháng người bị tạm giữ, tạm giam được cấp 0,2 kg xà phòng giặt, 02 tháng được cấp 01 khăn rửa mặt Người

bị tạm giữ, tạm giam là nữ được cấp thêm một số tiền (tương đương 02 kg gạo tính theo thời giá thị trường ở từng địa phương) để mua những đồ dùng cần thiết cho vệ sinh phụ nữ Trại tạm giam tổ chức thu hồi và bảo quản chu đáo đồ đã cho mượn khi người bị tạm giữ, tạm giam ra khỏi cơ sở giam giữ [15]

Trang 38

Bình quân diện tích tối thiểu nơi giam, giữ đối với người bị tạm giữ, tạm giam là 2m2/1 người, có bệ nằm bằng xi măng hoặc gạch men và có chiếu trải để nằm [15]

Về việc thăm gặp thân nhân, nhận quà: Thân nhân của người bị tạm giữ, tạm giam gồm bố, mẹ đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng, con Trường hợp đặc biệt, để động viên người bị tạm giữ, tạm giam như khai báo thành khẩn, không còn người thân thích khác… thì Thủ trưởng cơ quan đang thụ

lý vụ án có thể cho người khác thăm gặp khi có đơn được cấp có thẩm quyền xác nhận Việc thăm gặp thân nhân của người bị tạm giữ, tạm giam phải được sự đồng ý cho phép của cơ quan thụ lý vụ án, diễn ra trong phòng thăm gặp của Trại tạm giam và có sự giám sát của đại diện cơ quan điều tra hoặc cán bộ của Trại tạm giam Mỗi lần thăm gặp thân nhân tối đa không quá 01 giờ [8]

Một tháng không quá 03 lần người bị tạm giữ, tạm giam được nhận quà và

đồ dùng sinh hoạt do gia đình, thân nhân gửi đến theo quy định; lượng quà không được vượt quá 03 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường Quà bao gồm tiền, đồ

ăn uống, đồ dùng sinh hoạt cá nhân thiết yếu, quần, áo, chăn, màn, thuốc bổ Tiền phải được gửi lưu ký và sử dụng theo quy định Thuốc, đồ dùng sinh hoạt không tính vào định lượng quà [17]

Người bị tạm giữ, tạm giam được ăn theo tiêu chuẩn, uống nước bảo đảm

vệ sinh, được sử dụng quà của gia đình, thân nhân để ăn thêm nhưng không được quá 03 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường Nghiêm cấm người bị tạm giữ, tạm giam dùng rượu, bia, thuốc lá và các chất kích thích độc hại khác [17]

Người bị tạm giữ, tạm giam đã hoàn cung chờ xét xử, chấp hành tốt nội quy Trại tạm giam thì có thể xét tăng gấp đôi số lần gặp thân nhân, nhận thư và nhận quà theo quy định Người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm kỷ luật nhiều lần thì hạn chế số lần gặp thân nhân, gửi và nhận thư, quà; nếu đang trong thời gian

bị kỷ luật thì không được gửi và nhận thư, quà, thăm gặp thân nhân Trại tạm giam phải mở sổ theo dõi và ghi rõ ràng đầy đủ việc người bị tạm giữ, tạm giam thăm gặp thân nhân, nhận quà, nhận tiền lưu ký [15]

Trang 39

Về gửi, nhận thư, nhận sách, báo, tài liệu: Người bị tạm giữ, tạm giam được gửi, nhận thư, sách báo và những đồ vật, tư trang không sử dụng đến thông qua cán bộ quản lý giam giữ Thư chỉ được gửi và nhận khi cơ quan đang thụ lý

vụ án cho phép và phải để mở Trại tạm giam có trách nhiệm tiếp nhận, chuyển đến các cơ quan chức năng, người có liên quan để giải quyết theo thẩm quyền Theo Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì người bị tạm giữ, tạm giam được nhận, gửi tài liệu Đây là một quy định mới, một quyền mới của người bị tạm giữ, tạm giam [15; 52]

- Thứ ba, thực hiện pháp luật về quyền bào chữa, tiếp xúc luật sư

Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định Trại tạm giam quyết định thời gian gặp nhưng không quá một giờ mỗi lần gặp, trường hợp cần thiết Giám thị

có thể quyết định thời gian gặp dài hơn Trại tạm giam phải bố trí buồng thăm gặp trong khu vực quản lý của mình để người bị tạm giữ, tạm giam gặp luật sư hoặc người bào chữa khác

Việc người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với tổ chức nhân đạo được thực hiện theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo sự thoả thuận trực tiếp về từng trường hợp cụ thể giữa Nhà nước Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam hoặc với tổ chức nhân đạo [15]

- Thứ tư, thực hiện pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe

Cũng như các quyền cơ bản khác của con người, quyền được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh của người bị tạm giữ, tạm giam nói riêng được Đảng, nhà nước ta hết sức quan tâm Cho đến nay, đã có hệ thống văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh để điều chỉnh vấn đề này như: BLTTHS; Nghị định 89, Nghị định 98, Nghị định 09; Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT-BCA-BTC-BYT ngày 24/02/2003 của BC , Bộ Tài chính và Bộ Y tế, hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/ IDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo

Trang 40

dục, trường giáo dưỡng do BC quản lý; Thông tư liên tịch số BCA-BYT ngày 09/8/2010 của liên Bộ: BC , Bộ Y tế, hướng dẫn việc khám chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục, học sinh trường giáo dưỡng tại bệnh viện nhà nước…

04/2010/TTLT-Theo đó, Trại phải tổ chức bệnh xá, bố trí cán bộ y tế để khám chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam 24/24 giờ trong ngày (Điều 14 Nghị định 89) Tiền thuốc chữa bệnh tương đương 2 kg gạo/1 người/1 tháng Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam, Trại phải tiến hành mở sổ sách, hồ sơ thăm khám, xác định, ghi nhận tình trạng sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam Người bị tạm giữ, tạm giam được nhận thuốc bổ, thuốc chữa bệnh do thân nhân và gia đình gửi đến Thuốc phải có nhãn mác và còn thời hạn sử dụng Cán bộ y tế có trách nhiệm kiểm tra, tiếp nhận và quản lý Việc sử dụng thuốc theo phác đồ điều trị của bác sỹ và phải có ký nhận việc sử dụng thuốc hàng ngày [15; 17]

Trong quá trình giam giữ, nếu người bị tạm giữ, tạm giam bị bệnh nặng vượt quá khả năng của Trại, Trại phải có văn bản gửi cơ quan thụ lý hồ sơ vụ án

ra lệnh trích xuất, trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam đến bệnh viện của nhà nước khám và điều trị Kinh phí khám, chữa bệnh do ngân sách nhà nước cấp, Trại tạm giam có trách nhiệm thanh toán với bệnh viện [15; 17]

Trường hợp cấp cứu, cần khám chữa bệnh ngay thì Giám thị Trại tạm giam phải ra lệnh trích xuất để chuyển người bị tạm giữ, tạm giam đến cơ quan y

tế chuyên môn, sau đó phải thông báo ngay cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết Đối với người bị tạm giữ, tạm giam nghi mắc bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, Trại tạm giam phải yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án trưng cầu giám định pháp y Đối với người bị tạm giữ, tạm giam nhiễm HIV/ IDS bệnh nặng, Trại tạm giam phải thông cho cơ quan thụ lý vụ án, gia đình, thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị; trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, không cản trở hoạt động điều tra, không khả năng phạm tội mới, Trại báo cáo cơ quan thụ lý điều tra

vụ án biết để xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn [15; 17]

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w