Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau: - Làm sáng tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản của xét xử p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN QUỐC CƯỜNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN ĐÁNH BẠC TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGHỆ AN, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN QUỐC CƯỜNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN ĐÁNH BẠC TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 838.01.06
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM THỊ HUYỀN SANG
NGHỆ AN, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Để thực hiện thành công luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Luật trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
để tài Xin trân trọng cảm ơn TS Phạm Thị Huyền Sang đã dành thời gian, trực tiếp hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành việc thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản luận văn
Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian cũng như khả năng của bản thân nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô để luận văn này được hoàn thiện hơn
TÁC GIẢ
Trần Quốc Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN ĐÁNH BẠC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 9
1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc 9 1.1.1 Áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 9
1.1.2 Tính chất, phạm vi và thẩm quyền của xét xử phúc thẩm 14
1.1.3 Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 20
1.1.4 Áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm vụ án đánh bạc 23
1.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự 24
1.2.1 Chủ thể áp dụng pháp luật và giới hạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự24 1.2.2 Áp dụng các nguyên tắc của tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm 26
1.2.3 Thụ lý phúc thẩm vụ án hình sự và chuẩn bị xét xử 27
1.2.4 Quá trình xét xử phúc thẩm tại phiên tòa 30
1.3 Các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật xét xử phúc thẩm án hình sự 32
1.3.1 Đảm bảo về mặt pháp lý 32
1.3.2 Đảm bảo về mặt tổ chức 33
1.3.3 Các đảm bảo khác 37
Tiểu kết Chương 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN ĐÁNH BẠC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN 40
2.1 Tình hình tội phạm đánh bạc trên địa bàn tỉnh Nghệ An 40
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc 46
Trang 52.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án
đánh bạc 54
2.3.1 Những kết quả đạt được 54
2.3.2 Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân 58
Tiểu kết Chương 2 67
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN ĐÁNH BẠC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 68
3.1 Quan điểm áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân 68
3.2 Phương hướng để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An 71
3.3 Một số giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm vụ án đánh bạc 73
3.3.1 Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với hoạt động của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 73
3.3.2 Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và hoàn thiện các quy định pháp luật 74
3.3.3 Kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy 82
3.3.4 Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ Thẩm phán, mỗi Thẩm phán không ngừng tự rèn luyện bản lĩnh, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ 83
3.3.5 Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Tòa án, chế độ chính sách và tiền lương cho đội ngũ cán bộ Tòa án nhất là Thẩm phán 86
3.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, kiểm tra hoạt động của các Tòa án nhân dân 87
Tiểu kết Chương 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 66 NQHĐTP Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 7hai cấp tỉnh Nghệ An đã xét xử từ năm 2013 đến năm 2017 46Bảng 2.4 Tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị các vụ án đánh bạc so với tội phạm
khác 49Bảng 2.5 Thống kê số vụ án hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc Tòa án nhân
dân tỉnh Nghệ An đã giải quyết từ năm 2013 đến năm 2017 49Bảng 2.6 Thống kê số vụ án hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc Tòa án nhân
dân tỉnh Nghệ An đã xét xử từ năm 2013 đến năm 2017 50
Biểu
Biểu đồ 2.1 So sánh tội phạm đánh bạc với tổng số tội phạm các năm từ 2013
đến 2017 45
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác
tư pháp, nhất là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về
"Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, công cuộc cải cách tư pháp của nước ta đã được tổ chức thực hiện với tinh thần quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả Nhận thức về công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; chất lượng hoạt động
tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển
và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Quyền tư pháp đã được đề cập trong Hiến pháp 2013, trong đó:
“Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1, Điều 102 Hiến pháp 2013)
Chế định xét xử phúc thẩm - một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng
Việt Nam được quy định tại khoản 6, Điều 103 Hiến pháp: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” Đối với pháp luật tố tụng hình sự, chế định
này chính là sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc khách quan và nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, góp phần đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc của luật hình sự một cách toàn diện Trên
cơ sở đó góp phần vào việc để Tòa án đưa ra một quyết định đúng đắn, một bản án công minh, đúng người đúng tội và đúng pháp luật, để người bị xét xử thực sự “tâm phục, khẩu phục” với phán quyết của Tòa án Việc nghiên cứu, làm rõ những vấn đề xung quanh chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là quan trọng và cần thiết
Trang 9Những quy định về xét xử phúc thẩm cơ bản đã được quy định trong
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, cũng đã có các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư "Xét xử phúc thẩm" của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003) nhưng cũng chưa đầy đủ Những hạn chế đó cơ bản đã được khắc phục trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nhiều nội dung của Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP đã được đưa vào trong bộ luật
Mặc dù đã có quy định cụ thể cũng như văn bản hướng dẫn việc áp
dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhưng thực tiễn áp dụng các quy định về xét xử phúc thẩm còn nhiều vướng mắc Báo cáo tổng kết công tác Tòa án nhân dân mấy năm gần đây, khi đề cập đến các vụ án hình sự, quyết định của Tòa án bị sửa, hủy (đa số là do thiếu kỹ năng và chuyên nghiệp trong các giai đoạn chuẩn bị xét xử, nghiên cứu hồ sơ vụ án) nên dẫn đến tình trạng hủy, sửa án, bồi thường oan sai cho người vô tội
Trong những năm qua, tình hình tội phạm về đánh bạc trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp; quy mô, mức độ ngày càng lớn, tính chất, thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi, xuất hiện nhiều hình thức đánh bạc sử dụng phương tiện điện tử, mạng Internet thu hút được nhiều người tham gia, nhưng gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tố tụng Đặc thù của các đối tượng tham gia đánh bạc, số vụ đánh bạc và số bị cáo bị xét xử chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ án hình sự, lý do kháng cáo trong các vụ án đánh bạc chủ yếu theo hướng giảm nhẹ hình phạt, quy định pháp luật về tội đánh bạc trong Bộ luật hình sự hiện nay, nhận thức của người dân về loại tội phạm này trong điều kiện một số loại hình đánh bạc đã được hợp pháp… Từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm về án đánh bạc và qua nghiên
Trang 10cứu, nhận thấy cẫn còn có những vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất, còn
bỏ ngỏ và cần tiếp tục nghiên cứu tiếp Số vụ án đánh bạc bị cấp phúc thẩm hủy, sửa, đặc biệt là sửa án vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn, tình trạng vụ án đánh bạc (nhiều vụ đơn giản) nhưng quá trình xét xử phúc thẩm kéo dài làm ảnh hưởng đến các quyền của người có hành vi phạm tội, cũng như tiến độ giải quyết các loại án của Tòa án, vi phạm quy tắc hiến định tại khoản 2 Điều 31 Hiến pháp:
“Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định…” Nhất là trong giai đoạn hiện nay, do yêu cầu của cải cách tư pháp thì
việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về xét xử phúc thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự là điều cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xét xử phúc thẩm đối với tội đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời gian qua, tác giả lựa chọn
đề tài: “Áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc từ
thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An” làm Luận văn Thạc
sỹ của mình
Nghiên cứu chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự nói chung và xét
xử phúc thẩm án hình sự về tội đánh bạc ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học, luật gia quan tâm, nghiên cứu và được đề cập trong các công trình, trong các tạp chí, trong một số sách chuyên khảo và giáo trình
Để giải quyết các vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong giải quyết, xét xử phúc thẩm án hình sự, có thể thấy các công trình đã đề cập đến các nội
dung về cơ sở lý luận của để tài như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2017; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013; Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự của Võ Khánh Vinh 2009; Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 của
đồng tác giả Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài…
Trang 11Bên cạnh đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu, liên quan trực tiếp về Phúc thẩm trong tố tụng hình sự: Luận văn
thạc sĩ Luật học “Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự”, của Nguyễn Hồng Phương năm 2012; Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến phúc thẩm trong Tố tụng hình sự: "Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tựng hình sự năm 2015" của PGS.TS Nguyễn
Hòa Bình chủ biên năm 2016; Một số bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân; Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân liên quan về giai đoạn xét xử phúc thẩm, như:
Một số nội dung sửa đổi về xét xử phúc thẩm trong BLTTHS năm 2015” của Nguyễn Quang Lộc; “Quy định mới về thẩm quyền phúc thẩm” của tác giả
Nguyễn Văn Thuân…
Trong các công trình, tạp chí, sách chuyên khảo và giáo trình này đã phân tích và làm rõ những vấn đề xung quanh chế định xét xử phúc thẩm vụ
án hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, đồng thời đưa ra mô hình
lý luận lập pháp về các quy phạm của chế định này trong hệ thống luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu được nghiên cứu trước khi Bộ luật
Tố tụng hình sự 2015 ban hành, chưa thực sự toàn diện và đầy đủ về xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự theo đúng tinh thần cải cách tư pháp hiện nay, mặt khác đặt vấn đề nghiên cứu từ góc độ một loại tội phạm cụ thể (tội đánh bạc), và gắn liền với thực tiễn xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ
An có thể được khẳng định là chưa từng được nghiên cứu cho đến nay
2 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ và hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về áp dụng
pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân
Thứ hai, đánh giá được thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử phúc
thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Trang 12Thứ ba, đề xuất được giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét
xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm
các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
3.2 Khách thể nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu: quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là vấn đề có nội dung rộng và phức tạp Vì vậy trong phạm vi luận văn không thể xem xét toàn diện tất cả các nội dung của vấn đề Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, về áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án đánh bạc từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, những tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử
Luận văn nghiên cứu chế định xét xử phúc thẩm trên cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tại Phần thứ tư, Chương 22 (từ Điều 330 đến Điều 362) và các quy định chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Có sự so sánh với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 về xét xử phúc thẩm được quy định tại Phần thứ tư, Chương 23 (từ Điều
230 đến Điều 254)
Các quy định liên quan đến tội đánh bạc được quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự năm 2009 và Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015
Trang 13Mặt khác, từ thực tiễn giải quyết các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nghệ An, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đề cập đến phúc thẩm các bản án sơ thẩm (các quyết định sơ thẩm thực tế không
có kháng cáo, kháng nghị)
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc áp dụng pháp luật
trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017 (Từ ngày 01/01/2013
đến 31/12/2017)
4 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, do đó Luận văn có thể có một số đóng góp mới như sau:
- Cung cấp hệ thống cơ sở lý luận về vấn đề áp dụng pháp luật trong giải quyết, xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự về tội đánh bạc trên cơ sở thực tiễn xét xử phúc thẩm về loại tội này tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Cung cấp thông tin và đánh giá được thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm về tội đánh bạc tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Luận văn xây dựng được hệ thống các giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc
Vì thế, Luận văn có thể là cẩm nang hỗ trợ về mặt chuyên môn nghiệp
vụ trong công tác nghiên cứu cũng như thực hiện áp dụng pháp luật khi xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc Nhằm nâng cao chất lượng giải quyết đối với công tác xét xử các vụ án đánh bạc, góp phần đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Nghệ An; góp ý một số giải pháp hoàn thiện xây dựng pháp luật, đồng thời cũng giúp cho công tác áp dụng pháp luật có
tính thực thi cao
Trang 145 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản của xét xử phúc thẩm: Bản chất của phúc thẩm, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm…
- Khái quát lịch sử phát triển của chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự và phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử phúc thẩm
- Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự về đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Phân tích những tồn tại và xác định của những tồn tại trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội đánh bạc
- Xác định được các quan điểm đảm bảo áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết, xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc
- Đưa ra kiến nghị, giải pháp để khắc phục và hoàn thiện các quy định của pháp luật về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về cải cách tư pháp, về tính nhân đạo của pháp luật…
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, v.v…
Trang 157 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong xét xử
phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân
Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các
vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Chương 3 Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong
xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc của Tòa án nhân dân
Trang 16CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN ĐÁNH BẠC
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ
án đánh bạc
1.1.1 Áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc
tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể (Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật 2006 - Đại học Luật Hà Nội, trang 469) Hoạt
động áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý hình sự đối với chủ thể có hành vi phạm quy định của Bộ luật hình
sự Hoạt động ADPL trong xét xử hình sự có những đặc điểm chung của hoạt động ADPL như: mang tính quyền lực nhà nước; tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; điều chỉnh có tính cá biệt, cụ thể; đòi hỏi tính sáng tạo Tuy nhiên, tư pháp hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện quyền lực nhà nước - quyền tư pháp Đây là lĩnh vực rất nhạy cảm vì nó động chạm trực tiếp đến các quyền tự do và dân chủ của công dân Mọi sai lầm dù lớn hay nhỏ trong quá trình xử lý đối với người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí có thể không khắc phục được Bởi vậy, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 17của công dân, đặc biệt là của bị can, bị cáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm mục đích đặt ra của tố tụng hình sự là "phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân" Đây cũng là một nội dung cấp thiết của việc bảo vệ quyền con người nói chung mà mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đều quan tâm giải quyết
Sự hình thành và phát triển của xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ
và tiến bộ của tố tụng hình sự như: nguyên tắc công bằng, nhân đạo, suy đoán
vô tội, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp
và bằng lời nói… Vì vậy các quốc gia đều chú ý điều chỉnh bằng pháp luật quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi bị coi
là tội phạm, đặc biệt là hoạt động xét xử các vụ án hình sự nhằm tạo ra một cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ có hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót về xét xử của các Tòa án cấp dưới (Tòa án cấp sơ thẩm)
Trong công tác xét xử của Tòa án, nguyên tắc công bằng là một trong những nguyên tắc cơ bản khi áp dụng pháp luật hình sự Nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt phải bảo đảm sự tương xứng của hình phạt được tuyên với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
đã thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm, với dư luận xã hội, với ý thức pháp luật Mặt khác, nguyên tắc công bằng cũng đòi hỏi trong những điều kiện và hoàn cảnh phạm tội giống nhau, thì người phạm tội phải bị kết án và xử phạt như nhau Tuy nhiên, trên thực tế đòi hỏi này lại rất khó đạt được do những nguyên nhân khách quan và chủ quan rất khác nhau: không thống nhất giữa
Trang 18các Thẩm phán, giữa các Tòa án về nhận thức và áp dụng pháp luật, đặc biệt
là các quy định mang tính chất đánh giá tùy nghi Để giảm bớt sự khác biệt trong việc tuyên phạt đối với người phạm tội giữa các Tòa án và giữa các Thẩm phán với nhau, cần có một trình tự (thủ tục tố tụng) mà theo đó nếu bị cáo và đương sự không đồng ý với bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới, thì có thể yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xem xét lại phán quyết đó Thủ tục tố tụng này chính là thủ tục xét xử phúc thẩm
Sự ra đời của Tòa án cấp phúc thẩm cũng xuất phát từ quan niệm của các nhà lập pháp cho rằng việc xét xử lại các vụ án có kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp trên sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các Thẩm phán Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án cấp trên sẽ xử đúng công lý hơn vì Tòa này gồm những Thẩm phán cao niên, có kinh nghiệm hơn và ở xa các đương sự nên không chịu ảnh hưởng địa phương Việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử còn bắt buộc các Thẩm phán tòa án cấp dưới phải thận trọng trong việc xét xử
Sự ra đời của chế định xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự là một nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội Nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của tố tụng hình sự Với ý nghĩa đó, xét xử phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện:
Một là, thông qua việc xét xử lại vụ án mà bản án hoặc quyết định chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà còn phát hiện và khắc phục kịp thời các vi phạm nghiêm trọng về xét xử của Tòa án cấp dưới
Hai là, xét xử phúc thẩm là một trong những chế định thể hiện rõ nét
nhất bản chất dân chủ và tiến bộ trong tố tụng hình sự Chế định này buộc các Tòa án cấp sơ thẩm phải thận trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các yêu cầu về
Trang 19tính hợp pháp và có căn cứ khi ra bản án hoặc quyết định về vụ án Nó không cho phép người đã kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã kháng nghị được bổ sung thay đổi kháng cáo, kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, không cho phép cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị theo hướng đó
Ba là, khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án quyết định chưa có
hiệu lực pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm phải đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn nhất định Vì vậy, xét xử phúc thẩm là một trong các phương tiện hữu hiệu, kịp thời bảo vệ và có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Bốn là, thông qua việc xét xử các vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm hướng
dẫn cho các Tòa án cấp sơ thẩm và các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong việc nhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật
và củng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân, đấu tranh phòng chống tội phạm
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, khái niệm "xét xử phúc thẩm" có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau Khái niệm xét xử phúc thẩm có thể được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự (giai đoạn phúc thẩm); phúc thẩm là một chế định (chế định xét xử phúc thẩm) của Tố tụng hình sự và phúc thẩm là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm) Xét xử phúc thẩm cũng có thể được hiểu bao gồm cả ba nội dung nêu trên tức là xét xử phúc thẩm là một giai đoạn, một chế định của tố tụng hình sự đồng thời là một thủ tục xét xử Trong cuốn từ điển Tiếng Việt từ “phúc thẩm” được giải
thích như sau: “Phúc thẩm là tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới
đã xử sơ thẩm mà có chống án” (Từ điển Tiếng Việt - NXB Đà Nẵng 1998)
Trang 20Các quy phạm pháp luật về phúc thẩm từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước khi ban hành BLTTHS năm 1998 cũng đều dùng thuật ngữ “xét xử” để chỉ hoạt động của tòa án cấp phúc thẩm Sắc lệnh số 13/SL ngày 21/1/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức tòa án và ngạch Thẩm phán, quy định về thẩm quyền của tòa án khi xét xử phúc thẩm đã quy định
Tòa thượng phẩm có quyền “…quyết nghị về tất cả những vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng nặng và trường hợp giảm nhẹ” Thông tư
số 1459/HCTP của Bộ tư pháp ngày 19/8/1955 đã nhấn mạnh: “Nguyên tắc hai lần xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của nhân dân cần phải được bảo đảm” Điều 9 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 đã quy định
nguyên tắc này trở thành nguyên tắc luật định Năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao xây dựng bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 2/10/1974) quy định rõ chức năng của
tòa án cấp phúc thẩm là “xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự
sơ thẩm, khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay kháng nghị”
Sau khi BLTTHS 1988 được ban hành, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của tòa án cấp phúc thẩm vẫn được duy trì như trước đây Tuy vậy điều 204
BLTTH lại quy định về tính chất của phúc thẩm như sau: “Phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” Điều 241 BLTTHS quy
định về tính chất của giám đốc thẩm cũng dùng thuật ngữ “xét lại” để chỉ hoạt
động của tòa án cấp giám đốc thẩm như sau: “Giám đốc thẩm là xét lại bản
án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị khánh nghị vì phát hiện
có vi phạm pháp luật trong việc xử lí vụ án” Việc quy định không rõ ràng
như vậy dẫn đến nhiều quan điểm không thống nhất về tính chất của phúc thẩm là “xét xử lại vụ án…” hay là “xét xử lại bản án và quyết định”
Trang 21Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm nhƣ sau: Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ
án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ
án đó chƣa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc bảo đảm Về nội dung tính chất xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 330 Bộ luật tố tụng năm 2015 giữ nguyên nhƣ quy định tại
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Bên cạnh quy định đối tƣợng kháng cáo phúc thẩm là các bản án, đối với các quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị bao gồm: quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này
Xét xử hình sự phúc thẩm là cấp xét xử độc lập đối với bất kỳ vụ án nào Đây cũng là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng và đƣợc bắt đầu bằng việc thụ lý vụ án và kết thúc bằng bản án, quyết định hình sự phúc thẩm
1.1.2 Tính chất, phạm vi và thẩm quyền của xét xử phúc thẩm
Một trong những vấn đề cần đƣợc quan tâm đầu tiên khi nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm đó là tính chất phúc thẩm Tính chất của phúc thẩm sẽ quyết định đến những vấn đề khác của phúc thẩm nhƣ phạm vi xét xử phúc thẩm, những quy định chung về thủ tục tại phiên tòa phúc thẩm, trình tự phiên tòa phúc thẩm cũng nhƣ quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm… Mặt khác, tính chất của phúc thẩm cũng là một trong những điểm khác biệt để có thể phân biệt giữa thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm
Tính chất của phúc thẩm đƣợc thể hiện rõ qua những nét đặc trƣng cơ bản của phúc thẩm Đồng thời qua những nét đặc trƣng đó, có thể thấy rõ sự khác biệt về tính chất của phúc thẩm với các thủ tục giải quyết vụ án Đó là những nét đặc trƣng sau:
Trang 22- Căn cứ làm phát sinh trình tự phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, trong đó, quyền kháng cáo là nét đặc trưng của phúc thẩm Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án, quyết định của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, bị cáo và những người tham gia tố tụng còn có quyền được yêu cầu xét
xử lại một lần nữa ở tòa án cấp trên trực tiếp Nếu như căn cứ để tiến hành xét
xử sơ thẩm là quyết định truy tố của viện kiểm sát, căn cứ để tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm là kháng nghị của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền là những căn cứ mang tính quyền lực nhà nước thì trình tự phúc thẩm
có thể được phát sinh bởi kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật
- Quyền kháng cáo được thể hiện qua việc bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo đối với bất kì bản án sơ thẩm nào, trừ trường hợp xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm tại Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương Quy định này hiện nay đã được bãi bỏ theo tinh thần Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng
khóa 8 đã nêu rõ: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, bỏ thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương”, nhằm
mục đích đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Thông qua kháng cáo, họ thể hiện sự bất đồng và những quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm đồng thời đề đạt những nguyện vọng, những yêu cầu của mình đối với tòa án cấp phúc thẩm
Để tạo điều kiện cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thực hiện tốt quyền kháng cáo của mình, khi tuyên án, hội đồng xét xử phải giải thích cho bị cáo và những người khác về quyền kháng cáo và họ phải được giao bản sao bản án trong thời hạn 15 ngày Đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ được giao nhận bản sao bản án hoặc trích lục bản án hoặc từ ngày
Trang 23bản sao bản án được niêm yết tại trụ sở chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc làm việc cuối cùng của họ
Quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không chỉ được thể hiện qua các quyền của họ mà còn thể hiện qua nghĩa vụ của tòa án trong việc giải quyết kháng cáo của họ Trong trường hợp kháng cáo hợp lệ về hình thức, tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa để giải quyết, việc chấp nhận hay bác bỏ kháng cáo về nôi dung phải được xem xét, giải quyết tại phiên tòa Nếu không chấp nhận kháng cáo, tòa án cấp phúc thẩm cũng phải nói rõ lí do của việc không chấp nhận
Tòa án cấp phúc thẩm không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo nếu không có kháng nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại theo hướng bất lợi cho bị cáo Quy định này đảm bảo cho bị cáo yên tâm thực hiện quyền kháng cáo mà không lo sợ điều đó có thể gây hậu quả bất lợi cho mình Thực tế cho thấy, hầu hết các vụ án phải xử phúc thẩm phát sinh từ kháng cáo của bị cáo và những người có quyền kháng cáo khác, số vụ án bị Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ
Nhiệm vụ của tòa án cấp phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có căn
cứ của bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời xét xử lại về mặt nội dung tính hợp pháp của bản án thể hiện ở chỗ không những nó phải phù hợp với pháp luật hình sự về mặt nội dung trong việc giải quyết vụ án đồng thời còn phải phù hợp với những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về mặt hình thức Tính có căn cứ của bản án và quyết định thể hiện ở chỗ các chứng cứ đưa ra
để chứng minh vụ án phải phù hợp với những sự kiện thực tế của vụ án đã xảy ra
Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ xem xét lại bản án mà còn xét xử lại vụ án Xét xử lại vụ án về mặt nội dung ở cấp phúc thẩm là đi sâu xác định lại thực chất của vụ án Trên cơ sở đánh giá lại những chứng cứ mới,
Trang 24cấp phúc thẩm có thể có được những quyết định về những vấn đề về nội dung
vụ án và những quyết định khác có liên quan, những quyết định này có thể giống hoặc khác so với quyết định tòa án cấp sơ thẩm Đây là điểm khác biệt của phúc thẩm so với giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của những bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà không xét xử lại về nôi dung Trong trường hợp tòa án cấp giám đốc thẩm sửa án theo hướng giảm nhẹ, tòa án cấp giám đốc thẩm chỉ xem xét trên cơ sở hồ sơ, tài liệu nếu thấy có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng các điều khoản của BLHS thì sửa lại cho đúng (chỉ trong trường hợp có thể sửa theo hướng giảm nhẹ) Thực chất, đó cũng chỉ là xem xét lại vụ án về mặt áp dụng luật chứ không phải là xét xử lại nội dung của vụ án
Phạm vi xét xử phúc thẩm
Phạm vi xét xử phúc thẩm tại Điều 241 BLTTHS 2003 và BLTTHS
năm 2015 đều xác định: Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì tòa án cấp phúc thẩm để xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án Theo quy định này,
việc xem xét trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị là trách nhiệm còn việc xem xét ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị là quyền của tòa án cấp phúc thẩm Đây cũng là điểm khác biệt của phúc thẩm so với các thủ tục khác của tòa án Khi xét xử sơ thẩm, tòa án không được xét xử ngoài phạm vi quyết định truy tố của viện kiểm sát, còn khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, phạm
vi xét xử là toàn bộ vụ án, không phụ thuộc vào nội dung của kháng nghị
Nếu như đặc thù của giám đốc thẩm là tòa án chủ yếu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phúc thẩm tiến hành
Trang 25xét xử lại vụ án bằng phiên tòa công khai, xét xử theo nguyên tắc trực tiếp và bằng lời nói
Bị cáo và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị bắt buộc phải được tòa án triệu tập đến phiên tòa để hội đồng xét xử xét hỏi Tòa
án cấp phúc thẩm thông qua những chứng cứ, tài liệu được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa và qua việc nghe lời trình bày và những lí lẽ tranh luận của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đồng thời xem xét ý kiến của kiểm sát viên để ra bản án và những quyết định cần thiết khác Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của BLTTHS như bị cáo có quyền được đưa chứng cứ và yêu cầu, tranh luận tại phiên tòa, quyền bào chữa…
Do việc phúc thẩm không chỉ là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung, nghĩa là xem xét tính đúng đắn của vụ án về mặt thực chất Vì vậy, pháp luật quy định bị cáo và những người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền xuất trình những chứng cứ mới để bảo vệ quyền lợi cho mình, không phải phụ thuộc vào những chứng cứ đã đưa ra tại phiên tòa sơ thẩm Họ có quyền thay đổi lời khai, có quyền yêu cầu mời thêm nhân chứng mới, có quyền đưa ra những vật chứng mới… Tất cả các chứng cứ mới và chứng cứ cũ đều được đưa ra xem xét trực tiếp tại phiên tòa và là căn cứ để tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định Tính chất của phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những vụ án mà một phần hay toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật do bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm là sự phân định thẩm quyền giải quyết các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát, nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử
Trang 26phúc thẩm là sau khi xét xử sơ thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm của những người có quyền kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì vụ án sẽ được Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử
Như vậy, khác với thẩm quyền xét xử sơ thẩm được xác định trực tiếp trong pháp luật thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án được xác định gián tiếp trên cơ sở thẩm quyền xét xử sơ thẩm Có thể nói "Thẩm quyền xét
xử sơ thẩm là cơ sở để xác định thẩm quyền của Tòa án các cấp" (TS Nguyễn Văn Huyên - Luận án Tiến sỹ Luật học 2002) Vì vậy, việc xác định thẩm
quyền của Tòa án cấp phúc thẩm là căn cứ thẩm quyền xét xử sơ thẩm Hầu hết pháp luật của các nước đều quy định Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm
vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo, kháng nghị Trên cơ sở thẩm quyền xét xử phúc thẩm xác định được thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong vụ án hình sự: là toàn bộ các quyền hạn mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự do các Tòa án cấp dưới xét xử, mà bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Trong
tố tụng hình sự, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm bao gồm hai yếu tố (nội dung) cấu thành là thẩm quyền xem xét (thẩm quyền về hình thức) và thẩm quyền quyết định các vấn đề về vụ án (thẩm quyền về nội dung)
Thẩm quyền xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm bao gồm thẩm quyền
xét xử phúc thẩm; phạm vi các vụ án hình sự có thể được xem xét lại ở cấp thứ hai (các vụ án có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm) và phạm vi xét xử phúc thẩm (đối với các vụ án thuộc thẩm quyền)
Thẩm quyền quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện ở các quyền
hạn của Tòa án khi xét xử theo thủ tục phúc thẩm các vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Trang 27Theo quy định tại Điều 335 BLTTHS 2015 thì Tòa án cấp phúc thẩm
xử lại các vụ án hình sự ở Tòa án cấp phúc thẩm thường được thể hiện ở 3 hình thức:
áp dụng đối với phiên tòa phúc thẩm
Trang 28Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành cũng quy định thủ tục xét xử phúc thẩm bắt buộc phải tiến hành tại phiên tòa theo hướng áp dụng tương tự các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đồng thời quy định bổ sung một số thủ tục tố tụng khác so với phiên tòa sơ thẩm Tại Điều 354 Bộ luật Tố tụng hình
sự 2015 quy định: Phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo, kháng nghị hi tranh tụng tại phiên tòa, iểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; iểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án
* Thủ tục phúc thẩm rút gọn
Thủ tục phúc thẩm rút gọn là một dạng đặc biệt của thủ tục xét xử phúc thẩm tại phiên tòa Theo thủ tục này thì trong một số trường hợp pháp luật quy định, việc xét xử phúc thẩm vụ án vẫn được tiến hành tại phiên tòa nhưng được lược bỏ một số thủ tục tố tụng không cần thiết để rút ngắn thời gian giải quyết vụ án
Trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, thủ tục rút gọn được quy định tại Thông tư số 19/TATC ngày 12/10/1974 của Tòa án tối cao và được áp dụng để xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự trong trường hợp mà vấn
đề thẩm vấn và tranh luận (về nội dung sự việc, cũng như về mặt vận dụng pháp luật, đường lối, chính sách) ở phiên tòa không đặt ra Theo thông tư này, thì phiên tòa phúc thẩm rút gọn được tiến hành không cần sự có mặt của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhưng vẫn phải tiến hành công khai Bị cáo được báo và có thể đến dự phiên toà hoặc gửi đơn trình bày thêm
về lý do kháng cáo Và thủ tục phúc thẩm rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ
các điều kiện như: Bị cáo nhận tội trước tòa sơ thẩm, chỉ kháng cáo xin
Trang 29khoan hồng, giảm án; những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị; vụ án đã rõ ràng, chứng cứ đầy đủ; vụ án không thuộc loại quan trọng; khi xét xử sơ thẩm bị cáo có mặt; Viện kiểm sát cũng đồng ý là không cần gọi bị cáo
Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 ban hành, thủ tục xét xử phúc thẩm này đã bị bãi bỏ Và trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 thì thủ tục này không áp dụng để xử phúc thẩm mà chỉ áp dụng trong xét xử sơ thẩm đối với một số vụ án hình sự có đủ các điều kiện sau: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng (Chương XXIV Bộ luật Tố tụng hình sự 2003)
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm rút gọn tại Điều 456, Điều 464, Điều 465 Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành Đây là quy định mới nhằm giải quyết nhanh, kịp thời các vụ án hình sự có tính chất đơn giản, trong đó có xét
xử phúc thẩm về tội đánh bạc
* Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm
Khi phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải triệu tập người kháng cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp Trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành phiên họp Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có
Trang 30mặt tại phiên họp và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định
1.1.4 Áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm vụ án đánh bạc Như đã phân tích trên, hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật từ khi bản án, quyết định sơ thẩm xét xử có kháng cáo, kháng nghị đến khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án, quyết định đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị Hoạt động này do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; việc áp dụng pháp luật căn cứ vào quy định pháp luật nội dung trong Bộ luật hình sự
Đối với tội đánh bạc, tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự (Điều 248 BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009, Điều 321 Bộ luật hình sự năm
2015 sửa đổi năm 2017) Đặc thù của các vụ án đánh bạc là số bị cáo trong các vụ án là tương đối đông, việc áp dụng pháp luật, quyết định hình phạt phải có sự tương xứng với hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để đảm bảo tính công bằng đối với các bị cáo Kháng cáo, kháng nghị của các vụ án đánh bạc chủ yếu là về nội dung mức hình phạt nặng hay nhẹ, kháng cáo của các bị cáo đều chủ yếu là xin giảm nhẹ hình phạt, không có kêu oan Đối với tội phạm đánh bạc, bên cạnh hành vi đánh bạc, còn có các hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc rất dễ nhầm lẫn trong quá trình áp dụng pháp luật Vì vậy, hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án đánh bạc có những đặc đặc điểm chung như hoạt động
áp dụng trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự thì cũng có nhưng đặc điểm riêng: như xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với mức hình phạt của các bị cáo trong vụ án đã tương xứng với hành vi phạm tội hay chưa, có sự công bằng đối với các bị cáo hay không, có sự nhầm lần trong áp dụng tội danh đối với bị cáo hay không…
Trang 311.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
1.2.1 Chủ thể áp dụng pháp luật và giới hạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Nếu chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm là quyết định của Tòa án đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị thì chủ thể của
áp pháp luật trong hoạt động này chỉ là (Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký; Kiểm sát viên tham gia tố tụng tại phiên tòa) Tuy nhiên, xét xử phúc thẩm không chỉ giới hạn tại phiên tòa mà là một quá trình từ khi có kháng cáo, kháng nghị đến khi có quyết định, bản án của Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, hoạt động áp dụng pháp luật trong xét
xử phúc thẩm phải được tính từ giai đoạn khi có kháng cáo, kháng nghị đến khi có quyết định, bản án của Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết kháng cáo, kháng nghị và các chủ thể tham gia hoạt động áp dụng pháp luật trong quá trình này
Trước hết là Tòa án, Thẩm phán cấp sơ thẩm thực hiện trách nhiệm thông báo việc bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị; Viện kiểm sát, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp sơ thẩm trong việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Viện kiểm sát, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong việc thực hiện quyền kháng nghị, cũng như việc tham gia phiên tòa phúc thẩm; Thẩm phán Tòa án cấp phúc thẩm được phân công xét kháng cáo quá hạn; Thẩm phán cấp phúc thẩm được phân công làm Chủ tọa phiên tòa thực hiện các quyền về áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn (trừ tạm giam) ban hành các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền trong thời gian chuẩn bị xét xử; Chánh án, Phó chánh án trong việc phân công Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, phân công Hội đồng xét xử; áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn
là tạm giam; quyết định trưng cầu giám định; Hội đồng xét xử phúc thẩm (đối
Trang 32với các vụ án xét xử theo thủ tục bình thường); Trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì chỉ có 01 Thẩm phán (Đây là quy định mới về việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn) Ngoài ra theo quy định còn có Thư ký phiên tòa phúc thẩm
Giới hạn áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm
Đối với xét xử sơ thẩm, theo quy định tại Điều 298 BLTTHS: Tòa án
xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử; Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố; Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố
Đối với xét xử phúc thẩm, theo quy định tại Điều 345 BLTTHS Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể xét xử và quyết định về một tội danh nặng hơn cấp sơ thẩm xét xử, trong trường hợp cáo trạng của VKS cấp sơ thẩm truy tố về một tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội danh nhẹ hơn cáo trạng truy tố; vụ án bị kháng nghị theo tội danh (ban đầu).Theo quy định tại Điều 357, khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo kể
cả trường hợp bị cáo không có kháng cáo (trừ trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị tăng hình phạt) Đối với trường hợp tăng hình phạt đối với bị cáo chỉ được quyết định khi có kháng cáo của người bị hại, kháng nghị của Viện kiểm sát
Trang 331.2.2 Áp dụng các nguyên tắc của tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm
Về cơ bản, các nguyên tắc của tố tụng hình sự (như nguyên tắc suy đoán vô tội; xác định sự thật khách quan về vụ án; Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; xét xử công khai; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; tranh tụng ) áp dụng cho giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng ở giai đoạn phúc thẩm nhưng ở mức độ và phạm vi khác nhau Chỉ có một số trong các nguyên tắc (như: suy đoán vô tội, Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo) được áp dụng đầy đủ ở giai đoạn phúc thẩm như ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án Ví dụ: nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn được áp dụng triệt để ở giai đoạn phúc thẩm, bởi vì, cho đến khi tuyên án phúc thẩm, bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo chưa có hiệu lực pháp luật và bị cáo vẫn được coi là vô tội
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có quyền tự do kháng cáo đối với bản án
sơ thẩm, bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng cáo; có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình trước Tòa án cấp phúc thẩm, được nói lời sau cùng; Tòa án và các cơ quan có trách nhiệm bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền này và phải cử người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp pháp luật quy định Vì vậy, ở giai đoạn phúc thẩm, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo vẫn được áp dụng đầy đủ
Bên cạnh đó, do tính chất và đặc điểm của phúc thẩm nên trong giai đoạn tố tụng này một số nguyên tắc của tố tụng hình sự (như nguyên tắc xác định sự thật khách quan về vụ án, xét xử công khai, tranh tụng, ) có thể được
áp dụng đầy đủ trong trường hợp này nhưng ở trường hợp khác lại chỉ ở một phạm vi và mức độ hạn chế Ví dụ, nguyên tắc xác định sự thật khách quan về
vụ án chỉ có thể áp dụng triệt để ở giai đoạn phúc thẩm trong trường hợp bản
án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ theo hướng không có lợi cho bị
Trang 34cáo Trong các trường hợp khác, nguyên tắc này sẽ bị hạn chế bởi nội dung của kháng cáo, kháng nghị và yêu cầu không làm xấu hơn tình tình trạng của
bị cáo trong xét xử phúc thẩm Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội "đánh bạc", Viện kiểm sát không kháng nghị, chỉ có bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, mặc dù có căn cứ xác định bị cáo phạm tội "Tổ chức đánh bạc", thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có quyền xác định lại sự thật khách quan này, mà chỉ có thể y án sơ thẩm (nếu không có các căn cứ khác để hủy án sơ thẩm) và kiến nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Nguyên tắc xét xử công khai và tranh tụng chỉ có thể áp dụng trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án tại phiên tòa với sự có mặt đầy
đủ của những người tham gia tố tụng như ở phiên toà sơ thẩm Nhưng các nguyên tắc này không thể áp dụng đối với trường hợp phúc thẩm vụ án theo thủ tục bút lục (không mở phiên tòa) Nguyên tắc tranh tụng cũng không thể
áp dụng đối với thủ tục xét xử phúc thẩm rút gọn, bởi vì, ở các phiên tòa này, vấn đề thẩm vấn và tranh luận (về nội dung sự việc, cũng như về mặt vận dụng pháp luật, đường lối, chính sách) không đặt ra
1.2.3 Thụ lý phúc thẩm vụ án hình sự và chuẩn bị xét xử
Thụ lý phúc thẩm vụ án hình sự
Sau khi xét xử, thời hạn kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án Đối với bị cáo vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, của Viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Quy định về người có quyền kháng cáo (Điều 331), Thủ tục kháng cáo (Điều 332), Thời hạn kháng cáo (Điều 333), Thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo (Điều 334), Kháng cáo quá hạn (Điều 335), Kháng nghị của Viện kiểm sát (Điều 336), Thời hạn kháng nghị (Điều
Trang 35337), Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị (Điều 339), Thụ lý vụ án (Điều 340), Thời hạn xét xử phúc thẩm (Điều 346)
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm phải phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, phiên họp để kịp thời nghiên cứu hồ sơ và giải quyết những vấn đề khác theo quy định của pháp luật
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp Trong thời hạn 15 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Tòa án
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật
bổ sung trước khi xét xử thì phải chuyển chứng cứ, tài liệu, đồ vật này cho Viện kiểm sát cùng cấp Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng
cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung thì Viện kiểm sát phải trả lại cho Tòa án (Khoản 2 Điều 341)
Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm là giai đoạn từ khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận hồ sơ đó Tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên do có kháng cáo, kháng nghị đến trước ngày khai mạc phiên tòa Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với TAND cấp tỉnh là 60 ngày (khoản 1 Điều 346); Trường hợp vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn thì thời hạn là 10 ngày (khoản 1 Điều 462) Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử theo đúng thời hạn và thủ tục luật định, nếu trong quá trình chuẩn bị xét xử người kháng cáo, rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ra quyết định
Trang 36đình chỉ xét xử phúc thẩm, nếu không có thì Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Việc xét xử tại phiên tòa đạt chất lượng hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào giai đoạn chuẩn bị xét xử này Thẩm phán phải nghiên cứu toàn bộ
hồ sơ và các tình huống có thể xẩy ra tại phiên tòa, chuẩn bị các nội dung thẩm vấn tại phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn, giấy triệu tâp, giấy mời những người tham gia tố tụng và chuẩn bị các công việc cần thiết khác để đưa vụ án ra xét xử
Việc nghiên cứu hồ sơ không phải chỉ để ra các quyết định được quy định tại Điều khoản 2 Điều 346 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 mà còn những vi phạm tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, những tình tiết của vụ
án cần phải làm sáng tỏ và cũng là những tài liệu quan trọng được sử dụng trong quá trình xét xử vụ án Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phúc thẩm, trước hết Thẩm phán chủ tọa cần phải xem xét các tài liệu liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, trường hợp có kháng nghị thì đã được gửi cho những người liên quan đến kháng nghị chưa, vai trò các bị cáo trong vụ án và vai trò của bị cáo
có kháng cáo, kháng nghị trong vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm đối với
bị cáo có kháng cáo và các bị cáo khác trong vụ án, căn cứ, lý do kháng cáo của bị cáo, các tài liệu chứng cứ được cung cấp trong quá trình xét xử phúc thẩm liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị, các thủ tục tố tụng trong quá trình truy tố có đúng pháp luật hay không, các tài liệu chứng cứ thu thập được, việc thu thập nó có đúng trình tự, thủ tục có đúng quy định của pháp luật hay không Nghiên cứu toàn bộ nội dung của vụ án được kết luận trong cáo trạng và kết quả điều tra, kết quả xét xử sơ thẩm Qua đó, Thẩm phán có thể nắm bắt được nội dung của vụ án, hiểu được bản chất của vấn đề để có thông tin cần thiết và dự liệu được các tình huống có thể xẩy ra tại phiên tòa
Trang 37Sau khi nghiên cứu hồ sơ, (nếu không thuộc các trường hợp tạm đình
chỉ, đình chỉ) Thẩm phán phải quyết định đưa vụ án ra xét xử (khác với cấp sơ thẩm, nếu thấy chưa đủ căn cứ, Thẩm phán có thể ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung) Lên kế hoạch mở phiên tòa và thực hiện các biện pháp
cần thiết để mở phiên tòa và các vấn đề khác cần làm sáng tỏ tại phiên tòa, xác định người có mặt tại phiên tòa, mời hoặc triệu tập họ tới tham dự Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
Trong giai đoạn này Hội đồng xét xử, đặc biệt là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải đầu tư thời gian, trí tuệ nghiên cứu hồ sơ của vụ án, giúp hội đồng xét xử chủ động hơn tại phiên tòa cũng như giúp hội đồng xét xử chuẩn
bị tốt các điều kiện cần thiết để tổ chức phiên tòa để phiên tòa xét xử đạt kết quả cao
1.2.4 Quá trình xét xử phúc thẩm tại phiên tòa
Đây là quá trình quan trọng nhất trong việc áp dụng pháp luật của Tòa
án nhân dân Các nội dung kháng cáo kháng nghị cũng như các vấn đề liên quan đến kháng cáo kháng nghị trong vụ án được làm sáng tỏ tại phiên tòa, qua việc thẩm tra công khai những tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố cũng như những chứng cứ mới tại phiên tòa Quá trình này được tiến hành bởi các bước: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án
Khác với phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 3 Thẩm phán Quy định về Hội đồng xét xử phúc thẩm theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khác so với quy định của BLTTHS 2003: Đó là theo Điều 244 BLTTHS 2003: Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm
Trang 38Thủ tục bắt đầu phiên tòa Theo quy định thì thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm Cụ thể, khi bắt đầu phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc và đọc quyết định đưa vụ án ra xét
xử sau đó thư kí Tòa án báo cáo danh sách những người được triệu tập có mặt Chủ tọa phiên tòa kiểm tra sự có mặt của những người đó và giải thích quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa; Giải thích yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng; Xem xét quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt;
Thủ tục hỏi tại phiên tòa: Khác với phiên tòa sơ thẩm ( iểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung nếu có) thì tại phiên tòa phúc
thẩm, trước khi xét hỏi, một thành viên Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị
Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo
Chủ toạ phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
Chủ tọa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi
Tranh luận tại phiên tòa: Theo quy định tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên, người khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến
về nội dung kháng cáo, kháng nghị; kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Sau khi những người tham gia tranh luận không còn ý kiến
gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận và bị cáo được nói lời sau cùng trước khi nghị án;
Trang 39Nghị án và tuyên án Sau khi kết thúc tranh luận, Hội đồng xét xử nghị
án để đưa ra phán quyết Khi nghị án Hội đồng xét xử phải xem xét tất cả các vấn đề trong vụ án và giải quyết bằng cách thảo luận dân chủ, biểu quyết theo
xử phúc thẩm), chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội đến việc ADPL của TAND, ý thức pháp luật, ý thức của mọi người về sự cần thiết của ADPL… Các yếu tố bảo đảm ADPL trong xét
xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân đan xen ảnh hưởng lẫn nhau, mỗi yếu tố lại có vai trò, tác dụng nhất định tương đối nhưng tập trung lại có thể xác định những yếu tố sau:
1.3.1 Đảm bảo về mặt pháp lý
Bảo đảm về mặt pháp lý bao gồm chất lượng của hệ thống pháp luật thực định quy định về các tội phạm, về tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn thi hành đảm bảo thống nhất và không vi phạm nguyên tắc trong xây dựng pháp luật Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm tại Toà án nhân dân nói riêng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình sự và hệ thống các văn bản pháp luật khác có liên quan đặc biệt là Bộ luật hình sự… nhằm đưa ra bản án và quyết định chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lực cao Chính vì vậy, nếu hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động
Trang 40áp dụng pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự không hoàn thiện, thì chất lượng áp dụng pháp luật sẽ không cao, thậm chí không thực hiện được
Vì vậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết giải quyết xét xử phúc thẩm tại Toà án nhân dân đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định, nhất là các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự… được thể hiện ở những tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật
Chất lượng của hệ thống pháp luật là một trong những cơ sở để bảo đảm cho việc ADPL đạt được kết quả cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép
dự báo được khả năng hiện thực hóa các quy định pháp luật trong đời sống xã hội Nếu chất lượng của pháp luật thấp, tính khả thi kém thì việc thực hiện chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có những quy định pháp luật nhiều khi không thể thực hiện được trên thực tế Tuy nhiên, nhiều quy định hay văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể thực hiện được khi có những văn bản hướng dẫn thi hành, do vậy, việc tồn tại đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành cũng là một trong những bảo đảm về mặt pháp luật trong ADPL xét xử phúc thẩm của TAND
1.3.2 Đảm bảo về mặt tổ chức
Áp dụng pháp luật vốn là hoạt động do các cơ quan hoặc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành như cơ quan hành chính, Tòa án, Viện kiểm sát, Công an Do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạt động áp dụng pháp luật nên chủ thể bị áp dụng có thể được hưởng lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràng cơ
sở, điều kiện, trình tự thủ tục của chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật Chính vì vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần được tổ chức một cách khoa học, có sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm