“Giáo dục pháp luật” là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Ngọc Thắng
NGHỆ AN, 8-2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn với đề tài: “PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN” là kết quả từ sự cố gắng của bản thân cùng
với sự giúp đỡ, khích lệ động viên từ Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp, Nay luận văn đã hoàn thành, qua trang viết này, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp,… đã cùng đồng hành và giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất đến Thầy, T.S Đinh Ngọc Thắng – Trưởng khoa Luật trường
Đại học Vinh, người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn và góp ý những kiến
thức quý báu cần thiết không chỉ cho việc viết luận văn mà còn cho cả quá trình vận dụng đề tài này vào công việc chuyên môn của tôi trong thời gian tới
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Quý Thầy Cô các Khoa, Phòng, Giảng viên bộ môn của Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Kinh
tế Công nghiệp Long An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cũng như truyền tải những kiến thức, những bài học, những kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành chương trình học một cách tốt nhất
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, đơn vị công tác, các đơn vị có liên quan, đã quan tâm, nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn./
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Cẩm Nhan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Nguyễn Thị Cẩm Nhan
Trang 5Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho cho người lao động trong các khu công nghiệp tại tỉnh Long An: 36
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội tỉnh Long An: 36 2.2 Thực tiễn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp .42 2.3 Kết quả và hạn chế trong hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An: 55
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp ở tỉnh Long An: 69
3.1 Quan điểm chung về công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động trong các khu công nghiệp: 69 3.2 Chủ trương của tỉnh Long An về phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động trong các khu công nghiệp: 73 3.3 Các giải pháp để bảo đảm phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp hiện nay: 78
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATLĐ: an toàn lao động
BCH: ban chấp hành
BLLĐ: bộ luật lao động
CĐCS: công đoàn cơ sở
CĐCKCN: công đoàn các khu công nghiệp
CNH–HĐH: công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CNLĐ: công nhân lao động
DN: doanh nghiệp
ĐVCĐ: đoàn viên công đoàn
HĐLĐ: hợp đồng lao động
LĐLĐ: Liên đoàn Lao động
GCCN: giai cấp công nhân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và là một trong những công tác quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH), xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế PBGDPL là chiếc cầu nối và là phương tiện không thể thiếu trong việc nâng cao tri thức pháp luật, ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng pháp luật trong quản lý nhà nước và
xã hội, mặt khác Người quan tâm đặc biệt đến giáo dục ý thức tiến bộ cho nhân dân trong đó bao gồm ý thức về pháp luật, Người kêu gọi: "Mọi người dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc xây dựng nhà nước" [39; tr 212] Người cũng cho rằng chấp hành pháp luật là nghĩa vụ cao cả của công dân và đòi hỏi công dân phải cùng nhau ra sức giữ gìn trật tự, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của chính phủ
Công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Nền kinh tế đất nước ta đã có sự phát triển vượt bậc Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần với các loại hình doanh nghiệp (DN) khác nhau Sự phát triển các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta hiện nay là tất yếu, khách quan phù hợp với mục tiêu CNH - HĐH đất nước, đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ, tỉnh Long An có nhiều lợi thế phát triển kinh tế đặc biệt là các ngành công nghiệp Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh Long An, lãnh đạo tỉnh đã thể hiện sự quyết tâm xây dựng tỉnh Long An trở thành tỉnh công nghiệp
Trang 8trước năm 2020 Để đạt được mục tiêu đó, tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách
để thực hiện, trong đó có chính sách tạo điều kiện cho các DN thành lập, hoạt động, phát triển Vì lẽ đó, hiện nay trên địa bàn tỉnh Long An có một lượng lớn DN đang hoạt động, thu hút hàng vạn lao động vào làm việc
Doanh nghiệp phát triển ổn định không những góp phần quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế của tỉnh mà còn quyết định đến sự ổn định
và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội Tuy nhiên, thực tế cho thấy do nhận thức, ý thức pháp luật của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) ở nhiều DN còn thấp đã dẫn đến sự vi phạm pháp luật từ cả hai phía, gây ra căng thẳng, bức xúc trong quan hệ lao động (QHLĐ), phát sinh tranh chấp lao động, làm xáo trộn hoạt động kinh doanh và thiệt hại cho DN, gây mất ổn định an ninh trật tự xã hội trên địa bàn
Để xây dựng QHLĐ hài hòa tại các DN, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định xã hội, xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, lãnh đạo tỉnh Long An đã chú trọng việc giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của NLĐ, NSDLĐ trong các DN Tuy nhiên, công tác PBGDPL trong các loại hình DN hoạt động trên địa bàn tỉnh vẫn chưa đạt hiệu quả cao, nhiều khi còn mang tính hình thức, chưa có sự quan tâm đầu tư thỏa đáng của các ngành, các cấp trong tỉnh, thậm chí là của chính các DN; chưa thật sự huy động được sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tỉnh Long An
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Phổ biến, giáo
dục pháp luật lao động cho người lao động ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An” làm luận văn tốt nghiệp của mình Tác giả hy vọng với
việc nghiên cứu, phân tích thực trạng, cũng như những giải pháp, kiến nghị được đưa ra trong luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện công tác PBGDPL lao động trong các DN hoạt động trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng và công tác PBGDPL lao động nói chung
Trang 92 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thực tế, đề tài PBGDPL từ lâu cũng đã thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục pháp luật được đăng trên các tạp chí khoa học, được nghiệm thu về vấn đề giáo dục pháp luật nói chung Các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy giáo dục pháp luật tuy được đề cập dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, song về cơ bản bao gồm ba nhóm vấn đề sau:
Nhóm 1: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tuyên truyền, giáo dục pháp luật gồm khái niệm, mục đích, đối tượng, nội dung, hình thức của giáo dục pháp luật
- Một số v n đ v l luận và thực ti n v giáo d c pháp luật trong công cuộc đ i m i của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
- "Giáo d c pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam của Dương Thị
- Ph biến, giáo d c pháp luật cho thanh thiếu niên trong giai đoạn hiện
nay" của Ngô Quỳnh Hoa
- “Ph biến giáo d c pháp luật cho thanh niên ở đô thị từ thực ti n
Thành phố Hà Nội” của Trần Thị Bích Hạnh
- "Giáo d c pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở
Thành phố Hà Nội hiện nay" của Phạm Kim Dung
- “Ph biến giáo d c pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của
Nguyễn Xuân Hạnh
- “Công tác PBGDPL trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Thực trạng và giải pháp” của Dương Thị Thu Hiền
Trang 10Nhóm 3: Nghiên cứu giáo dục pháp luật trong mối quan hệ với các nội dung khác: đạo đức, ý thức pháp luật, tăng cường pháp chế
- "Giáo d c pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam của Dương Thị
Thanh Mai
- "Công tác tuyên truy n, giáo d c pháp luật ở nư c ta - thực trạng và giải pháp của Hồ Quốc Dũng
- Xã hội hóa công tác ph biến, giáo d c pháp luật trong tình hình m i
của Hồ Việt Tiệp
Như vậy, các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả từ trước đến nay về tuyên truyền, PBGDPL đã đóng góp rất nhiều các vấn đề cơ bản
cả về vấn đề lý luận và thực tiễn dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau về giáo dục pháp luật Tuy nhiên, cho đến hiện tại, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về giáo dục pháp luật lao động trong các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh Long An Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu có
hệ thống vấn đề này trên địa bàn tỉnh Long An
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận của hoạt động PBGDPL lao động nói riêng
và pháp luật nói chung cho NLĐ ở các DN trong các KCN
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng PBGDPL lao động trong các
KCN trên địa bàn tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ nghiên cứu, đánh giá thực trạng, tìm và phân tích nguyên nhân, thực trạng của công tác PBGDPL lao động trong các KCN của tỉnh Long An
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL trong các KCN trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 11Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động PBGDPL lao động cho NLĐ, NSDLĐ, cán bộ công đoàn trong các
DN trên địa bàn tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi v không gian: hoạt động PBGDPL tại các DN trong các
KCN trên địa bàn của tỉnh Long An
4.2.2 Phạm vi v thời gian: thu thập các số liệu có liên quan bắt đầu từ
tháng 01 năm 2013 đến 31 tháng 3 năm 2018
4.2.3 Phạm vi v nội dung: pháp luật lao động, công tác PBGDPL lao
động cho NLĐ trong các KCN trên địa bàn của tỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận
lịch sử về nhà nước và pháp luật; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; các quan điểm của Đảng, các văn bản pháp luật quy định về công tác PBGDPL nói chung, pháp luật lao động
nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp: nghiên cứu thu thập, tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu; phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận: phân tích, làm rõ hơn cơ sở lý luận về PBGDPL,
đặc biệt là pháp luật về lao động tại các KCN; đánh giá đúng thực trạng và tìm ra nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng; đồng thời xác định những vấn đề trọng tâm nhằm làm tốt hơn nữa công tác này trong thời gian tới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho NLĐ và NSDLĐ tại
Trang 12các KCN, góp phần gắn kết giữa phân tích lý luận và tổng kết thực tiễn về công tác này trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách về PBGDPL trong các KCN trên địa bàn tỉnh Long An trong những năm tới, cũng như là nguồn tư liệu tham khảo cho công việc nghiên cứu các đề tài liên quan đến PBGDPL Luận văn còn có thể dùng để làm tư liệu cho việc giảng dạy, tập huấn cho các Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; cho cán bộ công đoàn; NSDLĐ, NLĐ ở các DN trong và ngoài các khu, cụm
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương, 09 tiết
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Những khái niệm chung liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một thuật ngữ được ghép lại giữa các
từ “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật” Trong đó, “phổ biến” là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một sự kiện, một thông điệp, một tri thức … bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua những hình thức khác để làm cho mọi người đều biết đến; “giáo dục” là quá trình hoạt động có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn Xét dưới góc
độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể
“Phổ biến pháp luật” là giới thiệu, triển khai những nội dung của pháp luật đến với đối tượng của nó Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc Ở những mức độ khác nhau, phổ biến giáo dục pháp luật còn làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thông suốt các quy định của pháp luật để rồi thực hiện cho nghiêm túc
“Giáo dục pháp luật” là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của quy định pháp luật hiện hành
Tóm lại, PBGDPL hiểu theo nghĩa rộng là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL như xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng
Trang 14dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch PBGDPL Hiểu theo nghĩa hẹp là: truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng được tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành Có thể thấy, PBGDPL có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân Bên cạnh đó, PBGDPL còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể Ở những mức độ khác nhau, PBGDPL còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thông suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế
1.1.2 Khái niệm pháp luật lao động
Pháp luật lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh QHLĐ giữa NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ
và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với QHLĐ Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là QHLĐ và những quan hệ liên quan đến QHLĐ
Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người hình thành nên
trong quá trình lao động, nghĩa là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ Tại điều 7 bộ luật lao động (BLLĐ) quy định: QHLĐ giữa NLĐ hoặc tập thể lao động với NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Công đoàn, tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ, xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ
Quan hệ xã hội liên quan trực tiếp v i QHLĐ là các quan hệ về việc
làm; học nghề; bồi thường thiệt hại; bảo hiểm xã hội; quan hệ giữa NSDLĐ
và đại diện của tổ chức công đoàn; giải quyết tranh chấp lao động và các cuộc đình công; quản lý lao động Tuy nhiên, trong số các QHLĐ tồn tại trong đời
Trang 15sống xã hội, luật lao động chủ yếu điều chỉnh QHLĐ được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động (HĐLĐ)
1.1.3 Khái niệm khu công nghiệp và người lao động trong các khu công nghiệp
Khu công nghiệp là khu tập trung các DN có quy mô tương đối lớn,
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của chính phủ KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập
V không gian: các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ
thống hàng rào KCN Mọi hoạt động sản xuất bên trong KCN không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ những quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật trong KCN được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp
và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp
V chức năng hoạt động: lĩnh vực sản xuất chủ yếu của các DN trong
khu công nghiệp là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp Vì thế mà trong KCN sẽ không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ phục vụ cho các loại hình sản xuất này
Người lao động trong các KCN là người tham gia vào QHLĐ, làm
công hưởng lương từ NSDLĐ ở các DN trong các KCN, còn được gọi là công nhân lao động (CNLĐ), bao gồm lao động gián tiếp và lao động trực tiếp Lao động gián tiếp hầu hết là có trình trình độ học vấn, chuyên môn cao, thực hiện công tác quản lý và những công việc quan trọng như nhân sự, kế toán, kinh doanh, xuất nhập khẩu, kỹ thuật, quản lý – điều hành sản xuất…, số lượng này chỉ chiếm từ 5% đến 15%/ tổng số lao động trong DN Lao động trực tiếp là lao động phổ thông, chiếm đa số trong DN Lực lượng này thường trẻ tuổi, học vấn thấp, tay nghề chưa cao, chủ yếu thành thạo một vài thao tác
Trang 16nhất định để thực hiện công việc hàng ngày do DN hướng dẫn, đào tạo mà thôi Hiện nay, tại các KCN, cũng có một số lượng lớn lao động là người nước ngoài vào làm việc có thời hạn với công việc là quản lý điều hành, chuyên gia, cố vấn kỹ thuật,…
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật
lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật lao động cho người lao động tại các khu công nghiệp
Ph biến, giáo d c pháp luật lao động cho NLĐ tại các KCN là hoạt
động tuyên truyền, giới thiệu, chuyển tải những thông tin, các quy định của pháp luật lao động, các nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ trong QHLĐ nhằm giúp cho NLĐ hiểu biết và chấp hành đúng với quy định của pháp luật lao động Cũng có thể hiểu PBGDPL lao động là việc truyền bá, cung cấp những kiến thức về pháp luật, những nội dung quy định của pháp luật tới NLĐ bằng các hình thức, phương pháp phù hợp để họ có được những nhận thức đúng đắn, khoa học về pháp luật lao động Từ đó mà hình thành niềm tin, thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn để thực hiện pháp luật lao động một cách nghiêm chỉnh và thống nhất
1.2.2 Đặc điểm phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động tại các khu công nghiệp
Từ cách hiểu như trên về khái niệm PBGDPL lao động, chúng ta có thể thấy công tác PBGDPL lao động cho NLĐ trong các KCN có một số đặc điểm
cơ bản sau đây:
Thứ nh t: PBGDPL lao động là hoạt động nhằm vào những đối tượng cụ
thể, đó là những chủ thể trong QHLĐ Trước khi thực hiện công tác PBGDPL lao động, người làm công tác này cần phải biết đối tượng được PBGDPL lao động là ai, họ cần gì, công việc của họ ra sao, họ đang cần lĩnh vực pháp luật nào và mình phải quan hệ cộng tác với họ như thế nào cho đúng Ví dụ: đối tượng PBGDPL là lao động gián tiếp hay trực tiếp, lao động có trình độ chuyên môn hay lao động phổ thông, giới tính là nam hay nữ,…
Trang 17Đối tượng của PBGDPL được xác định là trung tâm của hoạt động PBGDPL, vì vậy, chỉ khi xác định được đối tượng của PBGDPL chúng ta mới xác định các vấn đề khác như chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp PBGDPL một cách phù hợp nhất Việc xác định đúng đối tượng là cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng
Thứ hai: PBGDPL lao động là hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất
định, đó là giúp nâng cao hiểu biết pháp luật cho NLĐ, góp phần hình thành lòng tin vào pháp luật của NLĐ và nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của NLĐ
Pháp luật của nhà nước nói chung, pháp luật lao động nói riêng không phải khi nào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình, ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh, chỉ khi mà xảy ra tranh chấp, xung đột thì mới vỡ lẽ Đôi khi do chủ quan và thiếu hiểu biết, NLĐ rất dễ
vi phạm pháp luật lao động một cách đáng tiếc Pháp luật của Nhà nước nói chung, pháp luật lao động nói riêng có thể được một số người tìm hiểu, quan tâm và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu công việc của họ Nhưng trên thực tế, số lượng đối tượng này không nhiều Họ chỉ quan tâm, theo sát những quy định của pháp luật mới được ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của cá nhân hoặc người thân trong gia đình mà thôi Trong điều kiện trình độ dân trí chưa cao, đời sống kinh tế của lực lượng CNLĐ nói chung còn gặp nhiều khó khăn, cho nên số đông NLĐ trong xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật, do vậy PBGDPL lao động chính là phương thức truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với CNLĐ, giúp cho họ hiểu biết, nắm bắt kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập Đó còn là phương thức hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật lao động cho NLĐ
Pháp luật lao động chỉ có thể được CNLĐ thực hiện nghiêm chỉnh khi
họ tin tưởng vào những quy định của nó Pháp luật lao động được xây dựng là
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ, đảm bảo lợi ích
Trang 18chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Và chỉ khi CNLĐ nhận thức đúng mục đích và ý nghĩa của pháp luật lao động thì sẽ không còn những tranh chấp lao động không đáng có, không xảy ra đình công chưa đúng với quy định của pháp luật
Có thể khẳng định rằng, tạo lập niềm tin vào pháp luật cho CNLĐ nói chung, CNLĐ trong các KCN nói riêng đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố, một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là PBGDPL lao động để mọi NLĐ hiểu biết về nó, để rồi điều chỉnh hành vi, cách xử sựcủa mình khi tham gia vào QHLĐ một cách tốt nhất Pháp luật lao động cũng mang tính giai cấp, đồng thời cũng như mọi hiện tượng xã hội khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt Không phải lúc nào các quy định của pháp luật lao động cũng thỏa mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất
cả mọi NLĐ Quá trình điều chỉnh của pháp luật lao động sẽ lấy lợi ích của đa sốNLĐ trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó sẽ có một số đối tượng không thõa mãn được Chính các yếu tố hạn chế và mặt trái của các quy định pháp luật Lao động càng tạo nên sự cần thiết của công tác PBGDPL lao động
để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo CNLĐ
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật lao động của NLĐ chỉ có thể được nâng cao khi hoạt động PBGDPL lao động cho CNLĐ được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục PBGDPL lao động không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành
vi vi phạm pháp luật,đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ hành vi hợp pháp, lên án các hành vi phi pháp Bên cạnh đó, PBGDPL lao động nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của NLĐ với pháp luật lao động, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của CNLĐ với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật khác có liên quan chặt chẽ đến đời sống thường nhật, từ đó nâng cao ý thức tự giác và chấp hành pháp luật của NLĐ
Trang 19Thứ ba: PBGDPL lao động được tiến hành thông qua những hình thức
và phương pháp nhất định Trên thực tế, có nhiều hình thức đã và đang được
sử dụng trongPBGDPL lao động nói riêng, pháp luật nói chung Chúng ta có thể thấy: có nhiều hình thức PBGDPL lao động khác nhau, mỗi hình thức có sự phù hợp riêng với một hoặc một số đối tượng nhất định, do đó khi PBGDPL lao động phải xuất phát từ đối tượng được PBGDPL để chọn lựa được hình thức tối
ưu Ngoài ra, trong sử dụng hình thức PBGDPL, để có thể phát huy hiệu quả thì hình thức đó cần phải phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế, xã hội nhất định, do vậy khi PBGDPL lao động cũng phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh
tế của nơi tiến hành PBGDPL Trong rất nhiều hình thức PBGDPL được quy định, khi tiến hành hoạt động PBGDPL cần chọn một hình thức phù hợp hoặc kết hợp đan xen các hình thức để có thể đạt được hiệu quả cao nhất của hoạt động PBGDPL tại địa bàn, khu vực được xác định cụ thể
Các phương pháp trong PBGDPL, nhất là pháp luật lao động cũng đa dạng, phong phú Trong PBGDPL, các chủ thể PBGDPL cần lựa chọn được những phương pháp phù hợp đối với từng hoạt động PBGDPL cụ thể Điều
đó đòi hỏi người làm công tác PBGDPL phải nắm vững những kỹ năng nhất định để sử dụng trong các phương pháp như: kỹ năng nói và viết, ngôn ngữ cơ thể, khả năng hòa đồng và giao tiếp, Hoạt động PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng là truyền đạt thông tin pháp luật và giải thích pháp luật cho người khác, nhất là đối tượng CNLĐ phổ thông trong các KCN, chính vì thế ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, khả năng hòa đồng và giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của người làm công tác PBGDPL, sự kết hợp giữa khả năng nói và viết trong bản thân mỗi người làm công tác PBGDPL sẽ là điều kiện quan trọng để đem lại hiệu quả cao trong công tác này Đồng thời, PBGDPL cần bảo đảm tính liên tục, tính hệ thống Bảo đảm tính hệ thống tức là đặt văn bản vào vị trí của nó trong hệ thống pháp luật, trong ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật có liên quan đến văn bản Điều đó giúp cho đối tượng hiểu vấn đề sâu hơn Bảo đảm tính thường xuyên nghĩa là theo phương châm "mưa dầm thấm lâu", việc PBGDPL phải được tiến hành
Trang 20liên tục, có hệ thống, tránh hình thức, làm theo phong trào Bên cạnh đó, việc
sử dụng các hình thức, phương pháp trong PBGDPL cần gắn với các yếu tố
xã hội, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, vùng miền nhất định Trong PBGDPL lao động, việc vận dụng bất kỳ các hình thức, phương pháp nào cũng cần mang tính đại chúng, đảm bảo hình thức, phương pháp đó phù hợp với khả năng tiếp nhận của CNLĐ như dễ nhớ, dễ hiểu, dễ áp dụng, ngôn ngữ thông dụng, hành văn giản dị, ngắn gọn, súc tích… nhất là đối với các quy định có tính chung chung, không cụ thể, hiểu sao cũng đúng Do vậy, bám sát những nội dung này sẽ giúp đạt được mục đích là truyền tải thông tin pháp luật lao động đến NLĐ
Thứ tư: đảm bảo tính Đảng trong PBGDPL lao động PBGDPL là hoạt
động truyền tải thông tin pháp lý đảm bảo đúng với nội dung, tinh thần của pháp luật thực định, đồng thời phải luôn đề cao tính Đảng trong PBGDPL, nhất là đối với pháp luật lao động Hoạt động PBGDPL không giống với việc tuyên truyền, phổ biến về văn hóa, văn nghệ Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hóa, văn nghệ, người ta có thể nhân cách hóa, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của hoạt động văn nghệ PBGDPL lao động khác với loại hình phổ biến, giáo dục khác ở chỗ: nội dung được phổ biến, giáo dục ở đây là pháp luật lao động, là những quy tắc xử sự được nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ đến nội dung và yêu cầu của các quy định đó Do đó, PBGDPL lao động phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa hoc, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản
Phổ biến giáo dục pháp luật lao động không chỉ thông tin cho CNLĐ về pháp luật, truyền đạt cho họ biết được các văn bản quy phạm pháp luật và những điều luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về các văn bản pháp luật và các điều luật đó Một trong những yêu cầu đã trở thành nguyên tắc trong tuyên truyền, giải thích pháp luật là phải đảm bảo tính khoa học Tính khoa học ở đây trước hết đòi hỏi phải có trình độ pháp lý, chẳng hạn hiểu rõ thành phần của quy phạm pháp luật để hiểu được quy phạm, hiểu nội
Trang 21dung của quan hệ pháp luật để phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể,
từ đó nêu lên được ý nghĩa của quy phạm trong việc điều chỉnh QHLĐ
Phổ biến giáo dục pháp luật lao động phải đảm bảo, đề cao tính Đảng là vì: pháp luật và đường lối, chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, pháp luật là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng cầm quyền; đường lối, chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật; PBGDPL lao động cũng chính là việc phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới nhà nước và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng Pháp luật lao động nếu được thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội càng được khẳng định Do đó, công tác PBGDPL, nhất là pháp luật lao động bao giờ cũng phải đề cao tính Đảng, sự lơ là, coi thường và không quán triệt đầy đủ tính Đảng sẽ rơi vào chủ quan, duy ý chí, phiến diện
Phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho CNLĐ là một lĩnh vực công tác khó, có tính đặc thù, là hoạt động có những đặc điểm riêng, có những yêu cầu và đòi hỏi cụ thể đối với người làm công tác PBGDPL Nắm bắt những vấn đề cơ bản về đặc điểm của PBGDPL lao động trên đây sẽ giúp cho người làm công tác PBGDPL có cơ sở để tiếp cận, từng bước tham gia và làm tốt công tác này trọng thực tiễn hoạt động
1.2.3 Vai trò phổ biến, giáo dục pháp luật Lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp
Có thể thấy rằng PBGDPL lao động là một bộ phận của công tác giáo dục trính trị, tư tưởng; có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật lao động; được tổ chức thực hiện bởi những chủ thể xác định (Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương, UBNB các cấp) nhằm truyền đạt thông tin, nội dung của pháp luật lao động giúp NLĐ có những hiểu biết nhất định về pháp luật lao động, góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho NLĐ Phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện rõ nét trên hai khía cạnh sau:
Trang 22Thứ nh t, PBGDPL góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, quản lý xã hội Vai trò này bắt nguồn từ vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Một trong những vai trò cơ bản của pháp luật trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội là: pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước Một nguyên lý đã được khẳng định là nhà nước không thể tồn tại thiếu pháp luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của bộ máy nhà nước Thông qua quyền lực nhà nước, pháp luật mới có thể phát huy tác dụng trong đời sống xã hội, phát huy vai trò quản lý nhà nước, quản lý xã hội Hệ thống pháp luật là “con đường”,
là cái “khung pháp lý” do nhà nước vạch ra để mọi tổ chức, mọi công dân dựa vào đó mà tổ chức, hoạt động và phát triển Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần đem lại cho mọi người có ý thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật đúng đắn và có hành vi hợp pháp, biết sử dụng pháp luật làm phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Thứ hai, PBGDPL góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá pháp
lý của mọi thành viên trong xã hội, nhất là đối với lực lượng công nhân Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang là một vấn đề cấp thiết Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện nhà nước quản lý bằng pháp luật,
mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của người lao
động, Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Quan tâm giáo
d c, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai c p công nhân, cả v số lượng và
ch t lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị; trình độ học v n, chuyên môn, kỹ năng ngh nghiệp, tác phong công nghiệp; kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Phát huy vai trò của giai c p công nhân là giai c p lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; sửa đ i, b sung các chính sách, pháp luật v ti n lương, bảo hi m xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm th t nghiệp, cải thiện đi u kiện nhà ở, làm việc, để bảo vệ quy n lợi, nâng cao đời sống
Trang 23vật ch t và tinh thần của công nhân” Để củng cố và tăng cường pháp chế đòi
hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ trong đó có việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý, xây dựng ý thức pháp luật ở mỗi người CNLĐ Chỉ khi nào trong xã hội mọi công dân đều có ý thức pháp luật, luôn tuân thủ pháp luật và
có hành vi phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống pháp luật, mới có thể thực hiện quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật và điều này chỉ có thể hình thành và thực hiện được trên cơ sở tiến hành tuyên truyền giáo dục pháp luật
Đối v i CNLĐ, công tác PBGDPL lao động lại càng có vai trò to lớn
hơn Trước hết, PBGDPL lao động để giúp NLĐ hiểu được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với công việc đang làm trong DN Bên cạnh đó, NLĐ nắm vững cơ sở pháp lý để kiến nghị, đề đạt nguyện vọng của mình đối với
DN, tự tin khi đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng nếu như bị xâm phạm Chính từ việc hiểu biết pháp luật lao động, xử sự đúng đắn các hành vi trong QHLĐ làm cho NLĐ ngày càng khẳng định chính mình với NSDLĐ Trong các DN có một số NLĐ ở tỉnh xa vào Long An làm việc, còn
có những thái độ nghịch phá, lôi kéo xúi giục CNLĐ ngừng việc tập thể để đòi tăng lương, tăng thưởng và các phụ cấp khác; không thông cảm và chia sẻ cùng những DN mới thành lập chưa có lợi nhuận; từ đó làm cho các DN vốn nước ngoài ngại vào đầu tư ở đây Do vậy, nếu làm tốt công tác tuyên truyền, kịp thời giải quyết những ý kiến thắc mắc của CNLĐ, thì sẽ hạn chế được những vụngừng việc tập thể và không có những điểm nóng trong việc khiếu nại tố cáo xảy ra
Không chỉ đơn giản là việc tuyên truyền, PBGDPL lao động để cho NLĐ hiểu biết về pháp luật lao động mà kể cả NSDLĐ vẫn là đối tượng được PBGDPL Khi các bên trong QHLĐ có nhận thức đúng đắn, từ đó điều chỉnh hành vi, sẽ hạn chế được xung đột, tranh chấp không đáng có QHLĐ hài hòa,
ổn định, tiến bộ trong DN là góp phần rất lớn trong quá trình cùng nhau phát triển sản xuất kinh doanh, qua đónâng cao đời sống vật chất tinh thần cho NLĐ để họ gắn bó lâu dài cùng với DN
Trang 241.2.4 Những hệ lụy khi tham gia quan hệ lao dộng mà không am hiểu pháp luật về lao động
Trong QHLĐ, NLĐ và NSDLĐ đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật, không được xử sự tùy tiện Người nào có hành vi vi phạm các quy định của bộ luật Lao động thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý
kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 239)
Ở các DN, thường xảy ra các tranh chấp về HĐLĐ, việc làm và một số chế độ chính sách có liên quan Nguyên nhân là do một trong hai bên không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia QHLĐ Có lúc, có nơi, chỉ vì mâu thuẫn không đáng có từ một hành vi xử sự nào đó của chủ thể QHLĐ mà tình hình trở nên phức tạp Bao giờ cũng vậy, khi có TCLĐ xảy ra thì ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của DN, căng thẳn trong QHLĐ, giảm thiện cảm giữa các bên, đôi khi còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, tạo tâm lý lây lang từ DN này sang DN khác,
là cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng kích động, phá hoại, xúi giục CNLĐ ngừng việc tập thể
Nếu DN không thực hiện tốt pháp luật Lao động thì khó có thể phát triển bền vững vì QHLĐ không hài hòa, tranh chấp, xung đột dễ xảy ra Mặt khác, NLĐ, nhất là lao động có trình độ, tay nghề sẽ không gắn bó, từ đó sức cạnh tranh của DN sẽ kém đi
Đối với NLĐ, nếu không am hiểu pháp luật Lao động sẽ dễ rơi vào vi phạm, từ đó bị kỷ luật lao động, rồi mất việc làm hoặc là không đáp ứng được yêu cầu của công việc, rơi vào thất nghiệp, ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân, phiền lụy đến gia đình và hơn thế nữa là gánh nặng cho xã hội
Trong thời gian gần đây, các phần tử xấu thường xuyên len lõi, trà trộn vào lực lượng công nhân, nhất là công nhân trong các KCN, lợi dụng việc thiếu hiểu biết và nhẹ dạ, cả tin của NLĐ để thông tin sai lệch, xuyên tạc sự thật, xúi giục, kích động, lôi kéo đình công, ngừng việc tập thể trên diện rộng
và kéo dài gây thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế nước ta, nhất là việc thu hút
Trang 25đầu tư nước ngoài Như vụ “giàn khoan 981” của những năm trước (2014), một số DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là quốc gia Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, bị đập phá, gỡ bảng hiệu công ty, đốt tài sản, ngừng việc kéo dài, gây thiệt hại rất nhiều cho cả DN, Nhà nước và NLĐ Hoặc khi Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi, bổ sung, NLĐ đồn thổi vấn đề rồi “rủ nhau” xin nghỉ việc để hưởng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, sau đó xin làm việc như người mới gây tâm lý hoang mang trong dự luận Và trong thời gian tới, tình hình sẽ ngày càng phức tạp hơn; tâm trạng, tư tưởng CNLĐ sẽ có những diễn biến khó lường; chính quyền địa phương cũng như tổ chức công đoàn trong tỉnh sẽ gặp nhiều thách thức, nếu không có những biện pháp hữu hiệu trong quá trình tuyên truyền, PBGDPL nói chung, pháp luật Lao động nói riêng cho NLĐ am hiểu thì nguy cơ tổn thất trong lao động – việc làm, mất trật tự - an toàn xã hội, ảnh hưởng nặng nề đến phát triển kinh tế là điều không tránh khỏi.
1.3 Công tác phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp
1.3.1 Chủ thể của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp
Về chủ thể, trong khoa học pháp lý, chủ thể giáo dục pháp luật được
hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng: là tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình giáo dục pháp luật Nghĩa hẹp:
là con người cụ thể có năng lực pháp luật, có trình độ chuyên môn, có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách Theo nghĩa hẹp thì chủ thể giáo dục pháp luật có hai loại, đó là:
Chủ thể chuyên nghiệp: là những người có chức năng, nhiệm vụ chủ
yếu là giáo dục pháp luật, trực tiếp thực hiện giáo dục pháp luật như các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, giảng viên pháp luật trong các nhà trường, cán bộ chỉ đạo ở hệ thống các cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức xã hội,… đây là những chủ thể quan trọng và chủ yếu của PBGDPL
Trang 26Chủ thể không chuyên nghiệp: là những cá nhân và tổ chức tuy chức
năng chính không phải là giáo dục pháp luật nhưng thông qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình đã tham gia tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu, nội dung của giáo dục pháp luật Những người này bao gồm: đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhândân các cấp, các cán bộ của các cơ quan hành pháp, tư pháp, những người làm công tác trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật…
Ngoài hai chủ thể trên, chủ thể của giáo dục pháp luật còn là các công dân, bằng sự tôn trọng pháp luật và ý thức trách nhiệm, gương mẫu thực hiện pháp luật mà có ảnh hưởng đến các công dân khác trong xã hội Có thể nhận định rằng, chủ thể của công tác PBGDPL lao động đó là 2 nhóm: đối tượng thực hiện PBGDPL lao động và đối tượng tiếp nhận việc PBGDPL lao động, bao gồm:
- Nhóm đối tượng thực hiện PBGDPL lao động: là tuyên truyền viên, báo cáo viên, cơ quan quản lý về lĩnh vực lao động ở địa phương, cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện, triển khai PBGDPL,
- Nhóm đối tượng tiếp nhận việc PBGDPL lao động: là NLĐ, NSDLĐ
và cán bộ quản lý, cán bộ Công đoàn cơ sở (CĐCS) trong các DN Tuy nhiên, cần phải phân loại đối tượng giáo dục để có các nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cho phù hợp để đạt được các mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật Có thể chia đối tượng PBGDPL như sau:
Người lao động: là đối tượng tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp tác động
của các hoạt động PBGDPL lao động, tiến hành tổ chức với nhiều hình thức tuyên truyền giáo dục, nhằm đạt được mục đích đề ra
Người ph trách nhân sự, nhân viên văn phòng trong các DN: loại đối
tượng này có đặc điểm là theo sự nhận thức của họ, là đối tượng cần được giáo dục pháp luật, tức là cần được trang bị những kiến thức cơ bản về hệ thống pháp luật các ngành luật, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của DN,
về quy chế hoạt động, trình tự, thủ tục, chức năng, nhiệm vụ DN mà họ đang làm việc, bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và thái độ tôn trọng
Trang 27pháp luật, đảm bảo pháp chế khi thi hành nhiệm vụ, … Đồng thời, họ vừa là chủ thể giáo dục pháp luật trong mối quan hệ với NLĐ trong các DN; thông qua việc giải thích và áp dụng điều luật để giải quyết các công việc cụ thể trên tất cả các lĩnh vực thường gặp trong DN Từ đó tác động đến tình cảm, lòng tin và cách ứng xử của đông đảo NLĐ nơi họ thường xuyên làm việc
Đối tượng là các chủ DN, NSDLĐ, người quản l lao động thay cho chủ sử d ng lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau: đây cũng là
đối tượng chính trong QHLĐ Phải phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng cho các chủ DN, NSDLĐ, các chuyên gia, quản
lý lao động của DN để họ am hiểu, áp dụng và thực hiện cho đúng pháp luật Việt Nam nhằm hạn chế tranh chấp lao động xảy ra, đặc biệt đối với chuyên gia, quản lý là người nước ngoài
Trong DN và nhất là đối với hoạt động PBGDPL lao động cho NLĐ không thể thiếu chủ thể là cán bộ CĐCS Bởi vì cán bộ CĐCS được bầu chọn
từ Đại hội Công đoàn, được đoàn viên tính nhiệm; gần gũi, sâu sát hàng ngày với công nhân, rất am hiểu tình hình sản xuất kinh doanh của DN cũng như mối QHLĐ, việc thực hiện chế độ chính sách cho NLĐ tại nơi đó
1.3.2 Nội dung cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật lao động
Nội dung của pháp luật lao động rất rộng, thể hiện ở rất nhiều loại văn bản như luật, nghị định, thông tư, hướng dẫn,… Để PBGDPL lao động cho NLĐ am hiểu hết mọi vấn đề liên quan đến pháp luật là điều không đơn giản, chỉ có thể truyền tải những nội dung cơ bản, chủ yếu, có liên quan trực tiếp đến công việc thường nhật của NLĐ mà thôi, cụ thể là các nhóm nội dung sau:
* Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn,
sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ Trong đó: Người lao động
là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng
lao động (HĐLĐ), được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ Người sử d ng lao động là DN, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá
Trang 28nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
QHLĐ giữa NLĐ hoặc tập thể lao động với NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tông trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Trong QHLĐ, NLĐ và NSDLĐ đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật, không được
xử sự tùy tiện Người nào có hành vi vi phạm các quy định của BLLĐ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 239)
* Việc làm, học ngh
Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm Nhà nước, NSDLĐ và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm NLĐ được làm việc cho bất kỳ NSDLĐ nào và bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Pháp luật lao động nghiêm cấm việc lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật Khi học nghề, tập nghề, NLĐ vẫn được hưởng các chế độ theo quy định
* Tuyển d ng và hợp đồng lao động
Khi tuyển dụng lao động, NSDLĐ không được phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn
Trước khi nhận NLĐ vào làm việc, NSDLĐ và NLĐ phải trực tiếp giao kết HĐLĐ Trong trường hợp NLĐ từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì việc giao kết HĐLĐ phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của NLĐ (khoản 1 Điều 18)
Việc đầu tiên để xác lập mối QHLĐ là ký kết HĐLĐ Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều
Trang 29kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ (Điều 15) Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành hai bản, NLĐ giữ một bản, NSDLĐ giữ một bản Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới ba tháng thì các bên có thể giao kết HĐLĐ bằng lời nói (Điều 16) Nguyên tắc giao kết HĐLĐ là tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; các bên tham gia QHLĐ được tự do giao kết HĐLĐ nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội (Điều 17)
Trên thực tế cho thấy, nếu HĐLĐ được ký kết đầy đủ, rõ ràng, chi tiết các nội dung thì rất thuận lợi trong việc thực hiện cũng như giải quyết vấn đề khi có tranh chấp Bởi vì căn cứ vào những nội dung đã được ký kết, đối chiếu với quy định của pháp luật lao động, chúng ta dễ dàng nhận ra các hành
vi vi phạm, từ đó xác định được quyền lợi và trách nhiệm của các bên Trong QHLĐ, việc thực hiện HĐLĐ là cơ bản nhất và mọi vấn đề đều phát sinh từ đây Nếu một trong các bên tham gia QHLĐ không tuân thủ một trong các nội dung của HĐLĐ là sẽ dẫn đến tranh chấp ngay Ví dụ như: NSDLĐ không trả lương đúng hạn, không tham gia các loại bảo hiểm theo quy định cho NLĐ, chấm dứt HĐLĐ trái luật, , hoặc là NLĐ vi phạm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; không tuân thủ sự điều hành hợp pháp của NSDLĐ, thực hiện công việc không được phân công, không phải là nhiệm vụ của mình
* Thỏa ư c lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao
động và NSDLĐ về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể Nội dung thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật Thỏa ước lao động tập thể sẽ vô hiệu khi có nội dung trái pháp luật, người ký kết không đúng thẩm quyền, việc ký kết không đúng quy trình thương lượng tập thể
* Tranh ch p lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát
sinh giữa các bên trong QHLĐ Tranh chấp lao động bao gồm TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và TCLĐ tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ
Trong đó, tranh ch p lao động tập thể v quy n là tranh chấp giữa tập thể lao
Trang 30động với NSDLĐ phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, NQLĐ, quy chế và thỏa
thuận hợp pháp khác; Tranh ch p lao động tập thể v lợi ích là TCLĐ phát
sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, NQLĐ hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với NSDLĐ
* Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công
nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong NQLĐ Điều 125 BLLĐ quy định các hình thức xử lý kỷ luật đó là: khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng, cách chức; sa thải Những quy định cấm khi xử lý
kỷ luật: Xâm phạm thân thể, nhân phẩm của NLĐ; Dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động; Xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ có hành vi vi phạm không được quy định trong NQLĐ
* V trách nhiệm vật ch t: NLĐ làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có
hành vi khác gây thiệt hại tài sản của NSDLĐ thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm (Điều 130) Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của NLĐ (Điều 131)
* T chức đại diện người lao động tại cơ sở là ban chấp hành (BCH)
công CĐCS hoặc BCH công đoàn cấp trên cơ sở ở nơi chưa thành lập CĐCS Tại chương XIII (Điều 188) BLLĐ hiện hành quy định vai trò của tổ chức công đoàn trong QHLĐ như sau:
Một là, CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn (ĐVCĐ), NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang
Trang 31lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở DN, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với NSDLĐ xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ tại DN, cơ quan, tổ chức
Hai là, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trách nhiệm hỗ trợ CĐCS
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hiểu biết về pháp luật lao động, pháp luật công đoàn cho NLĐ
Ba là, ở những nơi chưa thành lập CĐCS, công đoàn cấp trên trực tiếp
cơ sở (CĐCKCN tỉnh) thực hiện nhiệm vụ giống như BCH CĐCS
Bốn là, tổ chức công đoàn các cấp tham gia với cơ quan quản lý nhà
nước cùng cấp và tổ chức đại diện NSDLĐ để trao đổi, giải quyết các vấn đề
về lao động
* T chức đại diện NSDLĐ là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại
diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong QHLĐ
* V An toàn lao động, vệ sinh lao động
Mọi DN, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo quy định của pháp luật về an toàn lao động (ATLĐ), vệ sinh lao động (VSLĐ) (Điều 133) Căn cứ vào tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật địa phương về ATLĐ, VSLĐ, NSDLĐ xây dựng nội quy, quy trình làm việc bảo đảm ATLĐ, VSLĐ phù hợp với từng loại máy móc, thiết bị, nơi làm việc trong DN (khoản 2, điều 136) NSDLĐ, NLĐ đều phải nghiêm chỉnh chấp hành tuyệt đối những quy định, nghĩa vụ của mình đối với công tác ATLĐ, VSLĐ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản cho chính mình Các hành vi bị cấm trong ATLĐ, VSLĐ đó là: trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật; Che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Điều 146)
* Chế độ bảo hiểm
NSDLĐ, NLĐ phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ quy định của pháp
Trang 32luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế Trong thời gian NLĐ nghỉ việc được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, thỉ NSDLĐ không phải trả lương cho NLĐ
Nói chung, khi tham gia vào QHLĐ thì cả NLĐ và NSDLĐ đều phải
có hiểu biết nhất định về các nội dung, những quy định, nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi tham gia QHLĐ Có như thế thì mới xây dựng được mối QHLĐ hài hòa, ổn định, hạn chế được TCLĐ và NLĐ sẽ ngày càng tiến bộ hơn về mọi mặt Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, các DN FDI vào Việt Nam
để đầu tư sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận, qua đó cũng có góp phần đào tạo ngành nghề, giải quyết việc làm cho số lượng khá lớn CNLĐ Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi việc bóc lột sức lao động, vi phạm chế độ chính sách đối với NLĐ Do vậy, NLĐ trong các DN cần phải hiểu biết về pháp luật, nhất là pháp luật lao động, để tự bảo vệ mình và tuân thủ quy phạm pháp luật, nâng cao tác phong công nghiệp để dễ dàng tìm được việc làm phù hợp, thu nhập đảm bảo cho cuộc sống tốt hơn
1.3.3 Hình thức và phương pháp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp
Trong hoạt động PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng được các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và tổ chức công đoàn quan tâm triển khai thực hiện Thời gian qua, có thể thấy rằng công tác này đã có những chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả từ sự vận dụng linh hoạt các hình thức PBGDPL Cụ thể:
- Xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, trong đó có cán bộ công đoàn các cấp;
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật;
- Lồng ghép tuyên truyền, PBGDPL vào hoạt động tư vấn pháp luật; hoạt động hòa giải ở cơ sở;
- Áp dụng tuyên truyền miệng vào công tác tuyên truyền, PBGDPL bằng một số kỹ năng: gây thiện cảm ban đầu cho người nghe; tạo sự hấp dẫn,
Trang 33gây ấn tượng trong khi nói; bảo đảm các nguyên tắc sư phạm và sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng;
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, việc biên soạn tài liệu pháp luật, xây dựng tủ sách pháp luật;
- Phối hợp PBGDPL thông qua hoạt động xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở; tổ chức các hội thi và xã hội hóa các hoạt động tuyên truyền, PBGDPL
cho NLĐ
Tùy theo từng đối tượng lao động cụ thể và điều kiện vật chất của từng địa phương, đơn vị, DN, có thể áp dụng một hoặc một số những hình thức cơ bản sau đây:
1.3.3.1 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua tuyên truy n miệng
Là hình thức người nói chuyện trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật lao động trong đó chủ yếu là phổ biến, giới thiệu các quy định có liên quan đến QHLĐ nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về lao động cho CNLĐ để họ hiểu và hành động cho đúng chuẩn mực
Tuyên truyền miệng là một công đoạn không thể thiếu trong phần lớn các hình thức tuyên truyền, PBGDPL pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng Chủ yếu được thực hiện thông qua hội nghị, hội thảo, tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật; là hình thức tuyên truyền linh hoạt, có nhiều ưu thế,
có thể tiến hành ở bất cớ nơi nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào với
số lượng người nghe không bị hạn chế Khi thực hiện việc tuyên truyền miệng, báo cáo viên, tuyên truyền viên có đủ điều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, làm sáng tỏ nội dung cần tuyên truyền, phổ biến giáo dục
1.3.3.2 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Hiện nay, báo chí, mạng internet, đài phát thanh truyền hình (có thể gọi tắt là báo đài), là công cụ, phương tiện hữu hiệu đưa pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng đến với CNLĐ nhanh nhất Các phương tiện đó góp phần phản ánh thực tiễn thi hành pháp luật và hướng dẫn dư luận xã hội
Trang 34ủng hộ, biểu dương người tốt, việc tốt trong chấp hành pháp luật; lên án, phê phán những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội; tạo niềm tin vào pháp luật trong mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có CNLĐ
Trong công tác tuyên truyền, PBGDPL nhất là pháp luật lao động, báo đài đóng vai trò là cầu nối giữa Đảng, nhà nước, tổ chức công đoàn với nhân dân, CNLĐ Qua đó phản ánh những đề xuất, kiến nghị của người dân, của CNLĐ với Đảng, nhà nước, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) về các chính sách, các quy định pháp luật chưa thật sự phù hợp,
về những bất cập, vướng mắc, bức xúc trong thực tiễn chấp hành, thi hành pháp luật Báo chí có nhiều loại: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử Trong mỗi loại hình đó lại có rất nhiều cách thể hiện như: tin bài, tọa đàm, diễn đàn, truyện ngắn, tiểu phẩm, phim truyền hình, phim tài liệu, Hình thức của nó
có thể là mở chuyên trang, chuyên mục, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật trên báo chí hoặc đưa tin phản ánh lồng ghép với các chuyên mục khác
1.3.3.3 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua hoạt động tư v n pháp luật
Tư vấn pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức, NSDLĐ, NLĐ xử sự đúng pháp luật, nhất là trong QHLĐ; cung cấp dịch vụ pháp lý giúp cho các tổ chức, cá nhân, NSDLĐ, NLĐ thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Phương thức tư vấn pháp luật rất đa dạng, có thể tư vấn bằng miệng, bằng văn bản, qua thư tín, điện thoại, hướng dẫn, soạn thảo văn bản hoặc góp
ý kiến vào đơn từ, văn bản có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia QHLĐ; hướng dẫn những thủ tục cần thiết và cung cấp địa chỉ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc, hoặc tạo điều kiện cho NSDLĐ, NLĐ được tiếp cận những văn bản luật cần thiết nhằm giúp họ nâng cao nhận thức
và vận dụng pháp luật
Phương thức tư vấn và giúp pháp lý còn được thể hiện bằng việc đại diện hoặc trực tiếp tham gia trong các hoạt động thương lượng, ký kết, hòa giải giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến pháp luật lao động
Trang 35theo quy định của pháp luật, tham gia bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các bên tham gia QHLĐ trước tòa Lao động khi NLĐ hoặc NSDLĐ có yêu cầu
1.3.3.4 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở
Là việc các hòa giải viên, bằng hoạt động hòa giải của mình, hướng dẫn, giải thích và cung cấp các kiến thức pháp luật lao động cho các bên tranh chấp và những người khác có cùng đối tượng nhằm hình thành ở họ sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật Tuyên truyền, PBGDPL lao động thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở
dễ đi vào lòng người, phù hợp với đối tượng và rất có hiệu quả Hình thức này góp phần giữ gìn tình cảm đồng nghiệp, làm giảm bớt căng thẳn, xung đột trong QHLĐ, nhất là khi có tranh chấp xảy ra Ở hình thức này, hòa giải viên cần quán triệt tinh thần: giáo dục, thuyết phục, cảm hóa, công bằng, khách quan, thận trọng, kiên nhẫn, trên tinh thần xây dựng, vận dụng mọi mối quan
hệ để giải quyết mâu thuẫn, hạn chế đình công, lãn công
1.3.3.5 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua tài liệu và công c , d ng c trực quan
Đây là hình thức tuyên truyền, PBGDPL được sử dụng thường xuyên Tài liệu tuyên truyền pháp luật được thể hiện dưới nhiều dạng: đề cương, sổ tay, sách bỏ túi, tờ gấp, pano, áp phích, đĩa CD, VCD, để CNLĐ có thể tận dụng thời gian tìm hiểu pháp luật mọi lúc, mọi nơi Biên soạn và phát hành tài liệu cho CNLĐ cần phù hợp với trình độ, nhu cầu, quỹ thời gian của CNLĐ
Ví dụ: tờ gấp có thể dùng để phát đại trà cho NLĐ trong quá trình tuyên truyền miệng Tài liệu bỏ túi có thể chuyển đến từng chuyền sản xuất để CNLĐ tranh thủ đọc những lúc rảnh rỗi Đĩa CD có thể dùng cho hệ thống loa truyền thanh nội bộ vào giờ nghỉ giữa ca, nghỉ trưa hay trên xe đưa đón công nhân mỗi ngày Pano, khẩu hiệu, tranh cổ động, bảng tin là những phương tiện tuyên truyền mang tính trực quan sinh động, thông qua hình ảnh để nắm bắt nội dung
Trang 361.3.3.6 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua xây dựng tủ sách pháp luật
Tủ sách pháp luật là nơi lưu giữ, khai thác và sử dụng sách, báo, tài liệu pháp luật để phục vụ nhu cầu công tác, nghiên cứu và tìm hiểu của người đọc Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa, giải trí lành mạnh và nâng cao ý thức pháp luật trong CNLĐ Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, NLĐ có căn cứ
để đòi hỏi quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình
Tủ sách pháp luật cần được đặt ở vị trí thuận lợi để CNLĐ tự tìm hiểu Bên cạnh những văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của NLĐ, cũng cần có những văn bản pháp luật chung để NLĐ hiểu biết và làm tốt trách nhiệm công dân
1.3.3.7 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua hội thi, hội di n, các hoạt động sân kh u hóa
Thi tìm hiểu pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng có ưu thế là dễ dàng mở rộng được phạm vi đối tượng (bao gồm cả người dự thi và người theo dõi cuộc thi); có thể tổ chức được ở nhiều nơi, nhiều lúc, với phạm
vi mức độ khác nhau tùy theo yêu cầu và tình hình đặc điểm cụ thể, phát huy được tính tích cực, chủ động của đối tượng dự thi và giúp họ nhận thức sâu sắc hơn nội dung pháp luật cần tìm hiểu, từ đó nâng cao ý thức pháp luật cho
họ Thông qua các hình thức thi, những nội dung pháp luật được chuyển tải đến NLĐ một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, sinh động hơn, tránh
sự cứng nhắc, khô khan; NLĐ khi tiếp nhận kiến thức pháp luật sẽ rất thoải mái và hoàn toàn chủ động; khả năng hiểu biết và áp dụng pháp luật lao động
1.3.3.8 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua hệ thống loa truy n thanh cơ sở
Là phương thức truyền tải những quy định của pháp luật lao động có liên quan thiết thực đến đời sống hàng ngày của CNLĐ, đoàn viên công đoàn
ở cơ sở, những sự việc, con người được phản ánh trong thực tiễn; nội dung, sự việc đó có thật tại địa phương, đơn vị, DN; những băn khoăn, thắc mắc của NLĐ ở cơ sở về chính sách, pháp luật được giải đáp kịp thời Ưu điểm của
Trang 37hình thức này là hoàn toàn chủ động về thời gian, nội dung tuyên truyền, thu hút đông đảo người nghe, có thể phát thanh được nhiều lần, tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc
1.3.3.9 Hình thức ph biến giáo d c pháp luật lao động thông qua t
tự quản khu nhà trọ công nhân
Tổ tự quản nhà trọ công nhân là hoạt động tự nguyện có ý nghĩa xã hội của NLĐ cùng cư trú trên địa bàn dân cư nhất định Thông qua tổ tự quản, CNLĐ xây dựng được mối quan hệ bền chặt, gắn kết, giúp đỡ nhau những lúc khó khăn Đồng thời xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa CNLĐ với chính quyền, công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, giúp cho chính quyền địa phương quản lý địa bàn tốt hơn, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội PBGDPL lao động thông qua tổ tự quản khu nhà trọ công nhân có thể áp dụng nhiều hình thức: tuyên truyền miệng; sử dụng tài liệu (bảng tin, pa nô, áp phích, tờ gấp, băng đĩa CD, ); xây dựng túi sách, giỏ sách pháp luật, các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao,
1.3.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho người lao động
Công tác PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng phải đảm bảo tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản Đảm bảo tính đại chúng, phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng Bảo đảm tính liên tục, tính hệ thống và lựa chọn được hình thức phù hợp trong việc PBGDPL Trong thời gian qua, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này là:
- V cơ chế chính sách: hiện nay, cũng có nhiều văn bản quy định về
công tác PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng, tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế thì vẫn còn nhiều vướng mắc Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động ở các DN của cơ quan quản lý nhà nước đôi khi còn xuề xòa, nể nang Chính từ đó, DN cũng lờ đi nghĩa vụ phải tổ chức tuyên truyền, PBGDPL lao động cho NLĐ trong DN Mặc khác, DN sợ NLĐ biết luật sẽ đòi hỏi nhiều hơn Những DN làm tốt công tác tuyên truyền,
Trang 38PBGDPL, trong đó có pháp luật lao động ít khi là chủ ý của tự DN mà là có sức ép từ phía khách hàng, từ việc nhắc nhở của cơ quan quản lý lao động địa phương sau khi hòa giải TCLĐ, theo yêu cầu của công đoàn cấp trên,
Bộ Tư pháp vừa mới ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BTP quy định
bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL Đối tượng áp dụng của bộ tiêu chí là bộ, cơ quan ngang bộ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Như vậy trong thời gian tới, các cấp, các ngành, các địa phương sẽ có những giải pháp đồng bộ, hiệu quả cho công tác này
- V cơ sở vật ch t, trang thiết bị: hầu hết ở các KCN hiện nay chưa có
hội trường lớn để làm nơi tập trung sinh hoạt hay tổ chức các hoạt động tuyên truyền, PBGDPL cho NLĐ Trong từng DN, tùy theo số lượng công nhân, doanh nghiệp có xây dựng nhà ăn tập thể Khi cần triển khai nội dung gì thì tổ chức ở nhà ăn Do nhà ăn chỉ có bàn ghế để ăn trưa, các điều kiện hỗ trợ khác rất thiếu nên rất ảnh hưởng đến việc tổ chức, thực hiện PBGDPL cho CNLĐ
Để cho công tác này đạt hiệu quả, về cơ sở vật chất và trang thiết bị cơ bản phải được đảm bảo Ví vụ như: hội trường sạch sẽ, mát mẻ, bàn ghế đúng chuẩn để người ngồi tham dự cảm thấy thoải mái; hệ thống âm thanh, ánh sáng, máy chiếu, phục vụ tốt cho việc PBGDPL Nếu PBGDPL bằng các hoạt động khác như hội thi, sân khấu hóa, thì phải đảm bảo sân bãi, các máy móc thiết bị phù hợp để sử dụng việc việc tổ chức ngoài trời
- V yếu tố thời gian: công tác PBGDPL lao động cho CNLĐ trong các
KCN thời gian qua còn hạn chế về thời gian Bởi do DN chưa quan tâm tạo điều kiện và NLĐ thì thờ ơ, chưa mặn mà tham gia, tham dự vào công tác này Với vai trò là chủ thể chính trong QHLĐ, NSDLĐ và NLĐ phải ý thức được việc tự sắp xếp dành ra một khoảng thời gian nhất định, phù hợp để thực hiện, tiếp nhận công tác PBGDPL lao động Qua đó, cả hai bên sẽ hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia QHLĐ, để rồi từ đó chấp hành nghiêm túc Người lao động hay CNLĐ trong các công ty, DN phải nâng cao
ý thức trong việc tự bảo vệ mình khi tham gia QHLĐ Tối thiểu cũng phải có hiểu biết cơ bản về các nội dung, những quy định, nghĩa vụ và quyền lợi của
Trang 39bản thân mình khi tham gia QHLĐ Có như thế thì mới xây dựng được mối QHLĐ hài hòa, ổn định, hạn chế được TCLĐ và NLĐ sẽ ngày càng tiến bộ hơn về mọi mặt
- V kinh phí t chức thực hiện: bất kỳ hoạt động nào cũng cần có kinh
phí, công tác PBGDPL nói chung, pháp luật lao động nói riêng không là ngoại lệ Để đạt hiệu quả như mong muốn, công tác này cần phải có nhiều kinh phí để trang bị công cụ, phương tiện, mua sắm thiết bị, in ấn tài liệu, pa
nô áp phích tuyên truyền, Mặc khác, hỗ trợ chi phí, thanh toán chế độ cho báo cáo viên, tuyên truyền viên theo quy định, Thời gian các cấp, các ngành, tổ chức công đoàn cũng đã có quan tâm, đầu tư, tuy nhiên kinh phí còn hạn hẹp so với nhu cầu cần thiết Điều đó cũng là một trong các nguyên nhân
mà công tác PBGDPL lao động cho NLĐ trong các KCN còn hạn chế
Để công tác PBGDPL lao động cho CNLĐ trong các KCN đạt hiệu quả, cần có các điều kiện như sau:
- Một là, phải có các quy định pháp luật liên quan đến việc PBGDPL
nói chung, pháp luật lao động nói riêng Trong đời sống xã hội, bất kỳ vấn đề
gì cũng cần có pháp luật để điều chỉnh Trên cơ sở đó, các đối tượng, chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội mới xác định tư tưởng, hành vi và hoạch định cho mình cách thức, phương pháp thực hiện PBGDPL lao động cho CNLĐ cũng vậy, nhất thiết là phải có chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước điều chỉnh Ví dụ như: đặt ra mục tiêu, định hướng phải thực hiện; quy định về nội dung, phương thức, khen thưởng – kỷ luật, ràng buộc trách nhiệm, tiêu chuẩn, chế độ chính sách cho người tham gia vào các hoạt động này,
- Hai là, cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết Đối với PBGDPL lao
động cho NLĐ phải có nơi để tổ chức, có máy móc thiết bị, có tài liệu, hình ảnh trực quan, Tùy vào từng hình thức tổ chức PBGDPL cụ thể mà cần có những phương tiện đi kèm phù hợp
- Ba là, yếu tố con người Con người ở đây là các chủ thể tham gia vào
công tác PBGDPL lao động cho NLĐ Bao gồm người PBGDPL (báo cáo
Trang 40viên, tuyên truyền viên, hòa giải viên, cán bộ CĐCS, ) và người tiếp nhận quá trình PBGDPL (NLĐ, NSDLĐ, cán bộ quản lý của DN, ) Đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật lao động phải có đủ trình độ, năng lực, khả năng thuyết phục và kỹ năng sư phạm, nếu được thì nên tuyển chọn những cá nhân tiêu biểu, trưởng thành từ công nhân để đào tạo, bồi dưỡng theo hướng “chuyên môn hóa” nhằm phục vụ lâu dài cho công tác này Còn
về đối tượng tiếp nhận PBGDPL lao động, ít nhất cũng phải biết đọc, biết viết, nghe hiểu các nội dung vấn đề mà người tuyên truyền phổ biến
- Bốn là, phải có thời gian Thường thì cả NSDLĐ và NLĐ đều chưa
chủ động dành thời gian để thực hiện, tham gia vào các hoạt động PBGDPL, nhất là pháp luật lao động Đa số các công ty, DN chủ yếu lo sản xuất kinh doanh, quan tâm đến lợi nhuận là chính; còn NLĐ thì cũng tất bật với tăng ca, thờ ơ với việc tìm hiểu, nắm bắt các quy định của pháp luật lao động Chỉ khi nào xảy ra xung đột, tranh chấp mới cuống cuồng tìm đến CĐCS nhưng có khi vỡ lẽ ra, NLĐ vi phạm nghiêm trọng bởi vì thiếu hiểu biết pháp luật lao động