1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảm bảo quyền công dân về hộ tịch từ thực tiễn hoạt động của sở tư pháp tỉnh đồng tháp

107 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Nhà nước, việc đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo vệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH TÂM

BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂNVỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄNHOẠT ĐỘNG CỦA SỞ TƯ PHÁPTỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Nghệ An, tháng 6/2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH TÂM

BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA SỞ TƯ PHÁPTỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Dũng

Nghệ An, tháng 6/2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đồng Tháp, tháng 6 năm 2018

TÁC GIẢ

Nguyễn Thanh Tâm

Trang 4

Đặc biệt, tôi trân trọng cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến hộ tịch và quản lý hộ tịch 17

1.1.2 Quản lý về hộ tịch và vai trò của Sở Tư pháp về quản lý hộ tịch 25

1.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền công dân về hộ tịch 28

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền công dân về hộ tịch 31

1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật quản lý 34

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN VỀ HỘ

TỊCH TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA SỞ TƯ PHÁP TỈNH ĐỒNG

THÁP

36

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp có ảnh hưởng đến bảo

đảm quyền công dân về hộ tịch

36

Trang 6

2.2 Tình hình thực hiện pháp luật bảo đảm quyền công dân về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

2.2.3 Công tác đào tạo nguồn nhân lực làm công tác hộ tịch 42

2.2.6 Các hình thức đăng ký “mang nét đặc trưng” của tỉnh Đồng Tháp 53

2.3 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật bảo đảm quyền công dân về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

3.1.1 Thực hiện pháp luật về hộ tịch phải quán triệt các quan điểm của

Đảng, Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

75

3.1.2 Thực hiện pháp luật về hộ tịch phải đề cao quyền con người, quyền,

nghĩa vụ cơ bản của công dân

77

Trang 7

3.1.3 Thực hiện pháp luật hộ tịch phải bảo đảm phù hợp với các quy định

pháp luật có liên quan

78

3.2 Giải pháp bảo đảm quyền công dân về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

79

3.2.1 Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật

phù hợp với Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành

79

3.2.2 Tiếp tục tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật Hộ tịch và các

văn bản hướng dẫn thi hành với nội dung và hình thức phù hợp, nâng cao nhận thức, hiểu biết của nhân dân

80

3.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch 82

3.2.4 Kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch bảo đảm đủ tiêu

chuẩn được quy định trong Luật Hộ tịch

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện Hoạt động này còn là cơ sở để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh

tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước Tại hầu hết các nước, các sự kiện hộ tịch của con người từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử đều được đăng ký và được quản lý chặt chẽ

Đối với Nhà nước, việc đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về

hộ tịch, trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân và gia đình, ngoài việc góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, quản lý tốt đăng ký hộ tịch còn có ý nghĩa trong công tác theo dõi biến động dân số, kế hoạch hóa gia đình Vì vậy, thực hiện pháp luật về hộ tịch không chỉ có ý nghĩa đối với từng con người cụ thể mà nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý xã hội Đặc biệt, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi mà quyền con người được công nhận như một giá trị chung của nhân loại thì hầu hết các quốc gia đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch

Ở Việt Nam, quản lý hộ khẩu, hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn

bộ hoạt động quản lý dân cư Với những giá trị như vậy, công tác quản lý hộ tịch đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội Nhận thức được vấn đề này, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về quản lý hộ tịch bước đầu tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này

Thực hiện pháp luật về hộ tịch là một trong những nội dung đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản của công dân trên thực tế Qua các kỳ Đại hội, bằng các văn kiện, Đảng ta đã xác định việc phải phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ

Trang 10

thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển Thể chế hoá đầy đủ và kịp thời đường lối, chính sách của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020), Nhà nước ta đã chú trọng trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm ghi nhận và bảo vệ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên thực tế Đặc biệt là việc Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013, vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận ngay tại chương II của Hiến pháp và bổ sung thêm một số quyền mới Cụ thể hóa đường lối của Đảng về việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, thực hiện pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách thủ tục hành chính, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc thực hiện pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch, trong từng giai đoạn đã ban hành các văn bản pháp lý khác nhau

Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện từ rất sớm (thời nhà Trần) Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn với vấn đề quản lý con người (“đinh”) bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“điền”) - là hai vấn đề đã từng được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng

ký và quản lý hộ tịch được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục duy trì và phát triển Theo tinh thần Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt Hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ tiếp tục được

áp dụng ở Việt Nam Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào

Ngày 08/5/1956, Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế Nghị định số 764/TTg Bước vào thời kỳ đổi mới, căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình và các luật liên quan khác, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch (Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch; Nghị định số

Trang 11

77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết

số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình; Nghị định

số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân gia đình và chứng thực; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài), đặc biệt ngày 20 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử pháp luật quản lý Nhà nước về hộ tịch ở nước ta

Thực hiện các văn bản nêu trên, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta

đã có những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng Công tác xây dựng thể chế được tăng cường; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng Hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch, đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch từ Trung ương đến cơ sở không ngừng được củng cố, kiện toàn, nhờ đó đã giải quyết được số lượng lớn yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, trong

đó nhiều việc có yếu tố nước ngoài Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa, ngày càng tạo thuận lợi cho người dân Dữ liệu hộ tịch được hình thành với hệ thống sổ sách hộ tịch được lưu trữ, sử dụng lâu dài Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch được triển khai ở nhiều địa phương Với những kết quả đã đạt được, công tác hộ tịch ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý Nhà nước và xã hội, góp phần bảo đảm ngày một tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Trang 12

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, với việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, thì công tác đăng

ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, thậm chí yếu kém, trong đó nổi lên là:

- Chất lượng công tác đăng ký hộ tịch chưa cao, vẫn còn nhiều sai sót, có việc gây bức xúc, nhất là tình trạng lợi dụng đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước có dấu hiệu gia tăng;

- Hiệu quả công tác quản lý hộ tịch chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều trường hợp

cơ quan quản lý và đăng ký hộ tịch không nắm được đầy đủ dữ liệu hộ tịch cá nhân; công tác hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, thanh tra chưa được tiến hành thường xuyên, kịp thời;

- Công tác cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa giấy tờ hộ tịch tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho người dân trong giải quyết các yêu cầu hộ tịch;

- Phương thức đăng ký hộ tịch còn mang tính thủ công; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch chưa đồng đều, cơ sở dữ liệu hộ tịch còn phân tán, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau, khả năng tra cứu, khai thác phục vụ yêu cầu của người dân và của cơ quan, tổ chức rất hạn chế;

- Trình độ năng lực của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch chưa đáp ứng được yêu cầu…

Những hạn chế, yếu kém trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, làm giảm hiệu quả quản lý dân cư, quản lý Nhà nước và xã hội Trên phương diện quốc tế, trong nhiều trường hợp, giấy tờ hộ tịch chưa có sự tin cậy cao đối với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, thậm chí một số nước chưa tin tưởng giấy tờ hộ tịch của Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 13

Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân xuất phát từ chính các quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch, cụ thể là:

Thứ nhất, đăng ký, quản lý hộ tịch là hoạt động nhằm tạo điều kiện cho người

dân trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cơ bản của mình được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật dân sự, các đạo luật có liên quan, trước khi có Luật Hộ tịch, lĩnh vực này mới chỉ được điều chỉnh bằng các Nghị định, Thông tư, chưa được điều chỉnh ở tầm pháp lệnh, nên tính ổn định thấp, hiệu lực thi hành còn hạn chế

Thứ hai, quy định của pháp luật hiện hành về phân cấp quản lý, đăng ký hộ

tịch còn nhiều bất cập Trước khi có Luật hộ tịch, cả ba cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) đều có thẩm quyền đăng ký hộ tịch dẫn đến chồng chéo, không rõ ràng giữa chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch Ở nhiều địa phương, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp chỉ chú ý đến nhiệm vụ đăng ký, ít quan tâm đến nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình thực hiện quản lý Nhà nước về công tác hộ tịch

Thứ ba, trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch theo pháp luật hiện hành còn

rườm rà, bất cập, nhiều quy định còn thiên về việc tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý Nhà nước hơn là tạo thuận lợi cho người dân Việc tồn tại nhiều loại sổ sách, giấy tờ

về hộ tịch đã gây bất lợi, tạo nhiều áp lực cho cả cơ quan Nhà nước và người dân trong việc lưu giữ, bảo quản, sử dụng

Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa có quy định mang tính đột phá, tạo hành lang

pháp lý trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký, quản lý hộ tịch và xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử nhằm tăng cường khả năng tra cứu, khai thác dữ liệu

hộ tịch phục vụ yêu cầu của người dân và của cơ quan, tổ chức

Nằm trong thực trạng chung của cả nước, việc thực hiện pháp luật về hộ tịch của UBND các cấp ở tỉnh Đồng Tháp đã và đang tác động tích cực đến đời sống pháp luật của các tầng lớp dân cư; đồng thời, tác động đến chất lượng thực thi công vụ của chính quyền địa phương Các quyền nhân thân của công dân được đáp ứng kịp thời khi

họ có nhu cầu đăng ký các sự kiện hộ tịch Vì thế, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã khẳng định được vị trí, vai trò trong thực tế cuộc

Trang 14

sống, bảo đảm quyền con người, tạo được niềm tin của nhân dân vào cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương Tuy nhiên, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch còn bộc lộ những hạn chế và những khó khăn, vướng mắc nhất định cần phải nghiên cứu để đưa

ra các giải pháp khắc phục, đó là: vì có quá nhiều văn bản cùng điều chỉnh trong lĩnh vực hộ tịch đã tạo nên độ phức tạp, gây khó khăn cho cơ quan hộ tịch khi áp dụng, người dân cũng khó phân biệt việc hộ tịch của mình sẽ được áp dụng theo văn bản nào Phương thức đăng ký hộ tịch của UBND chủ yếu được thực hiện bằng thủ công, mức

độ tin học hóa còn rất hạn chế; còn tình trạng sự kiện hộ tịch phát sinh nhưng đăng ký không kịp thời, chưa đầy đủ và thiếu chính xác; đăng ký quá hạn, đăng ký lại còn chiếm tỷ lệ tương đối cao, một số tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch của UBND chưa có cách giải quyết; một bộ phận công chức Tư pháp –

Hộ tịch hạn chế trình độ, năng lực, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân chưa cao; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch đôi lúc còn mang tính hình thức; số người di cư tự do từ Campuchia trở về Việt Nam sinh sống trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày càng nhiều, trong khi họ không có bất cứ giấy tờ tùy thân nào, từ đó đã phát sinh vướng mắc trong việc xác định quốc tịch, đăng ký hộ tịch, hộ khẩu… điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm quyền lợi cho người dân cũng như thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

2 Tình hình nghiên cứu

Thời gian qua, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết, luận văn thạc

sĩ về công tác hộ tịch, như :

- Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài “CCTTHC trong đăng ký và quản

lý hộ tịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, năm 2010

- Ủy ban thường vụ Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp, chuyên đề “Một số

vấn đề lý luận và so sánh pháp luật về hộ tịch”, năm 2013

- Bài tham luận: Thực trạng công tác đăng ký và quản lý hộ tịch và việc thực

hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch của Nguyễn Thị Hoa, Cục Hộ tịch,

Trang 15

Quốc tịch, Chứng thực, Bộ Tư pháp, trình bày tại Diễn đàn đối thoại chính sách pháp luật lần thứ nhất 2014

- Bài tham luận: Dự án luật Hộ tịch - bước tiến mới trong việc hoàn thiện hệ

thống pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của Nguyễn Công Khanh, Cục trưởng

Cục Hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực, Bộ Tư pháp, trình bày tại Diễn đàn đối thoại chính sách pháp luật lần thứ nhất 2014

- Bài tham luận: Đơn giản hóa thủ tục hành chính và giấy tờ công dân trong Dự

án Luật Hộ tịch của Ngô Hải Phan, Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ

Tư pháp, trình bày tại Diễn đàn đối thoại chính sách pháp luật lần thứ nhất 2014

- Đề cương giới thiệu Luật Hộ tịch, do Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật và Cục

Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực – Bộ Tư pháp phát hành năm 2015

- Nguyễn Thị Hạnh, luận văn thạc sỹ “Pháp luật quản lý Nhà nước về hộ tịch từ

thực tiễn quận Hai Bà Trung, thành phố Hà Nội”, năm 2016

Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chưa có một luận văn, đề tài nghiên

cứu một cách toàn diện công tác hộ tịch, vì thế tôi đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền công dân về hộ tịch từ thực tiễn hoạt động của Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp” làm đề

tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Luật, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ lý luận về quản lý hộ tịch, pháp luật quản lý về hộ tịch, quyền công dân về hộ tịch; thực tiễn pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Từ đó đánh giá thực trạng pháp luật quản lý về hộ tịch thời gian qua, những kết quả đạt được và hạn chế, nguyên nhân hạn chế

Trên cơ sở xây dựng lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý

về hộ tịch, luận văn hướng tới việc đề xuất những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch, quyền công dân về hộ tịch nói chung, những giải pháp bảo đảm

Trang 16

thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận của pháp luật quản lý về hộ tịch thông qua

việc xác định các khái niệm có liên quan như: Khái niệm hộ tịch; khái niệm quản lý hộ tịch; khái niệm pháp luật quản lý về hộ tịch; quyền công dân về hộ tịch; xác định đặc điểm, nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý về hộ tịch

Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn tỉnh

Đồng Tháp, từ đó đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Thứ ba, đề xuất phương hướng, hệ thống giải pháp đủ cơ sở khoa học để bảo

đảm thực hiện quản lý về hộ tịch, bảo đảm quyền công dân về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định, chế định pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30 tháng 6 năm 2016 của liên bộ Bộ Ngoại giao và Bộ

Tư pháp Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ

Trang 17

quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài và các văn bản pháp luật khác có liên quan

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian được giới hạn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; về thời gian được giới hạn trong 5 năm, từ đầu năm 2013 đến cuối năm

2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính Nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch, xây dựng pháp luật quản lý hộ tịch

Các phương pháp được tác giả sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật quản lý về hộ tịch; đánh giá thực trạng pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua Từ đó đề xuất những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch, bảo đảm quyền công dân về hộ tịch nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính quyền ở tỉnh Đồng Tháp nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý hộ tịch Luận văn cũng có thể là tài liệu cho các học viên, sinh viên tham khảo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận bảo đảm quyền công dân về hộ tịch

Trang 18

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền công dân về hộ tịch từ thực tiễn hoạt động của Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền công dân về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Trang 19

B NỘI DUNG

Chương 1

LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN VỀ HỘ TỊCH

1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến hộ tịch và quản lý hộ tịch

1.1.1 Hộ tịch và quyền công dân về hộ tịch

- Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển: “Hộ tịch:

Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người”

- Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong cuốn Hán - Việt từ điển, cho rằng: “Hộ tịch:

Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”

- Tác giả Bửu Kế trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên, giải thích: “Hộ

tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”

- Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân chủ biên, viết: “Hộ tịch:

Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”

Như vậy, xét về góc độ ngôn ngữ nghĩa của từ “Hộ tịch” còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí, có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “Hộ tịch” và “Hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ biến

Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “Hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong

Trang 20

các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau:

- Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm “Hộ

tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 như sau: “Hộ tịch - còn gọi

là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử”

- Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về

khái niệm “Hộ tịch”: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong

nhà Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử”

- Tác giả Trần Thúc Linh, trong cuốn Danh từ pháp luật lược giải - vốn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không đưa ra

định nghĩa về “Hộ tịch” mà chỉ định nghĩa “Chứng thư Hộ tịch”: “Chứng thư Hộ tịch

là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay đổi

về thân trạng người ta nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hoá con tư sinh, khước từ phụ hệ, ly thân ”

Khái niệm “Hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách minh bạch Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản

Tại Điều 1, Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTG

Trang 21

ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Bản điều lệ này quy định những

nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy” Điều lệ

đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng

Chính phủ cũng quy định: “Đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ

sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh ” Đến, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998

của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005

của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch cũng quy định hộ tịch là những sự kiện

cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết Cách

định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ước định Về giá trị biểu đạt, với cách định nghĩa như vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “Hộ tịch”

Kế thừa khái niệm về hộ tịch trong các văn bản trước đó, Luật Hộ tịch năm

2014 ra đời quy định: “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật

này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết ” (Khoản 1,

Điều 2)

Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định nội dung đăng ký hộ tịch gồm có:

- Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch gồm: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin

hộ tịch; khai tử

- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám

Trang 22

hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, Luật Hộ tịch đã quy định cụ thể hơn về khái niệm hộ tịch so với Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Điều này là cần thiết bởi cần phải có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật

Từ quan niệm trên, có thể thấy hộ tịch có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người, bởi

vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết Các dấu hiệu về cha đẻ,

mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết;

Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho người

khác Đặc điểm này là hệ quả của đặc điểm thứ nhất Do đó, việc thực hiện các sự kiện

hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử);

Thứ ba, hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lượng hoá được thành tiền

Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường

1.1.1.2 Khái niệm quyền công dân về hộ tịch

* Khái niệm công dân

Khái niệm “công dân” ra đời từ lâu trong lịch sử nhưng nó chỉ trở thành thuật ngữ pháp lý khi Nhà nước tư sản ra đời và được sử dụng rộng rãi trong xã hội tư sản

và xã hội xã hội chủ nghĩa Trên thực tế khái niệm “công dân” được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháp lý Thuật ngữ “công dân”, theo Từ điển Merriam Webster’s

Trang 23

Collegiate Dictionary, “Công dân là một thành viên của một Nhà nước mà người đó

có nghĩa vụ trung thành và được hưởng sự bảo vệ” Đây là khái niệm luôn gắn liền

với khái niệm Nhà nước, với chính thể có khả năng bảo đảm thực hiện và tôn trọng các quyền đó Trong quan hệ với Nhà nước và pháp luật thì công dân là cá nhân, là sự xác định về mặt pháp lý một thể nhân thuộc về một Nhà nước nhất định Từ sự xác định này mà con người có các quyền do Nhà nước ghi nhận, được Nhà nước bảo đảm, bảo

hộ các quyền, lợi ích ở trong nước cũng như khi ở nước ngoài và phải làm các nghĩa

vụ công dân đối với Nhà nước Ngược lại, Nhà nước có những quyền yêu cầu công dân của mình thực hiện các nghĩa vụ công dân và Nhà nước có những nghĩa vụ đối với công dân của mình Do vậy, trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước - các quyền cơ bản của công dân luôn được xác định bởi chế định quốc tịch Theo đó, chỉ những người mang quốc tịch của một quốc gia mới được hưởng các quyền công dân

mà pháp luật quốc gia đó quy định và thừa nhận

Một cá nhân muốn trở thành công dân thì cần những điều kiện nhất định Những điều kiện đó có thể giống hoặc khác nhau tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia nhất định Khoản 1, Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam 2013 quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người

có quốc tịch Việt Nam” Như vậy, theo quy định này thì điều kiện để một người trở

thành công dân Việt Nam là người đó phải có quốc tịch Việt Nam Hay nói cách khác

ai có quốc tịch Việt Nam thì người đó là công dân Việt Nam Theo quy định tại Điều

1, Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 thì: “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn

bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam” Qua đó

có thể thấy khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch; muốn xác định người nào đó có phải là công dân Việt Nam hay không thì phải xem họ có quốc tịch Việt Nam hay không Quốc tịch Việt Nam là căn cứ duy nhất để xác định một người nào đó

là công dân Việt Nam Việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam liên quan trực tiếp đến việc xác định quyền công dân của họ trong mối quan hệ với Nhà nước Việt Nam

Trang 24

* Khái niệm quyền công dân

Cuộc cách mạng tư sản đã đưa những người dân từ địa vị thần dân trong chính thể Nhà nước quân chủ sang địa vị công dân của một Nhà nước cộng hòa Có thể khẳng định rằng quyền công dân là một khái niệm xuất hiện cùng với cách mạng tư sản và chỉ tồn tại trong xã hội công dân Hay nói theo cách khác, nói đến khái niệm công dân là nói đến một bộ phận con người, họ là những thành viên có tư cách bình đẳng trong Nhà nước theo quy định của pháp luật Và chính từ đó mà quyền con người được thừa nhận một cách rộng rãi và bình đẳng với ý nghĩa là quyền công dân Quyền con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau vì vậy quyền công dân không phải và không bao giờ trở thành hình thức cuối cùng của quyền con người, đó là sự thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước và mối quan hệ đó được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định Quốc tịch

Khái niệm “Quyền công dân” hiện nay vẫn là một khái niệm còn gây nhiều tranh cãi, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Có thể nói tới một số quan điểm như:

- Quyền công dân - đó là sự thể chế hóa về mặt Nhà nước bằng pháp luật địa vị con người trong khuôn khổ Nhà nước, là sự thừa nhận trong chừng mực mà Nhà nước chấp nhận, địa vị con người của cá nhân trong Nhà nước

- Quyền công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền

về kinh tế - văn hóa xã hội

- Quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước quy định, mà tất cả những người có chung quốc tịch của nước đó được hưởng một cách bình đẳng

- C.Mác cho rằng: “Quyền công dân là những quyền chính trị, những quyền cá

nhân con người, với tư cách là thành viên xã hội công dân”

Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, không nên phân biệt quyền con người và quyền công dân, bởi lẽ không thể có công dân mà không phải là con người Cái gì con người có thì công dân cũng có và ngược lại, bao gồm cả quyền Xét về mặt sinh học, đúng là như vậy Thực tế tất cả đều là con người không phụ thuộc vào việc

Trang 25

có hay không qui chế công dân Ý kiến này càng có căn cứ hơn khi xuất hiện những khái niệm mới như “công dân toàn cầu”, “công dân điện tử”

Tuy nhiên, dưới góc độ quyền, việc phân biệt quyền con người, quyền công dân

có ý nghĩa chính trị, dân sự rất quan trọng và đặc biệt để thiết lập cơ chế hữu hiệu, phù hợp đảm bảo thực hiện các quyền của các công dân khi các công dân đó phải thực hiện nghĩa vụ đối với quốc gia mà người đó là thành viên

Theo qui ước chung trên thế giới hiện nay, quyền con người mang bản chất tự nhiên và mỗi cá nhân có được các quyền đó kể từ khi được sinh ra Thực hiện quyền con người được giới hạn bởi thực hiện các quyền của người khác Trong khi đó, quyền công dân lại gắn liền với việc có được qui chế công dân của một Nhà nước Quyền công dân là những khả năng, sự được phép (bổ sung) mà Nhà nước với tư cách là tổ chức mà cá nhân đó là thành viên trao cho cá nhân đó như là “phần thưởng” (khả năng

bổ sung) tương xứng cho việc người đó phải thực hiện những trách nhiệm, nghĩa vụ trước Nhà nước Vì vậy, quyền công dân của mỗi cá nhân là không giống nhau ở mọi quốc gia và tùy vào điều kiện của mỗi Nhà nước, quyền công dân được ghi nhận, tôn trọng và đảm bảo thực thi là không giống nhau

Từ đó có thể rút ra khái niệm về quyền công dân như sau: “Quyền công dân là

tập hợp những quyền con người được pháp luật của một quốc gia ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch của nước đó thì mới được hưởng các quyền công dân mà pháp luật nước đó quy định Quyền công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là tập hợp những quyền được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch Việt Nam mới được hưởng”

* Quyền công dân về hộ tịch

Việc đăng ký và quản lý các sự kiện nhân thân của mỗi cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết như: sinh, kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi hộ tịch, khai tử… Các sự kiện này có liên quan trực tiếp và chặt chẽ với nhân thân của cá nhân; việc đăng ký hộ tịch tạo cơ sở pháp lý để người dân hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp của

Trang 26

công dân, đồng thời tạo cơ sở để Nhà nước bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp đó

Quyền công dân về hộ tịch là quyền của cá nhân công dân – người có quốc tịch Việt Nam được nhà nước bảo đảm thực hiện đăng ký các sự kiện hộ tịch một cách đầy

vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể

và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước

Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do Nhà nước quản lý Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản

lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của

hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nuớc Đồng thời, các cơ quan Nhà nuớc nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nuớc nhằm xây dựng

tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thuởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nuớc theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nuớc

Trang 27

Là một nội dung trong quản lý hành chính nhà nuớc về hành chính - tư pháp,

quản lý về hộ tịch có thể hiểu là một hình thức hoạt động của Nhà nước, do các chủ

thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội

Vai trò của Sở Tư pháp về quản lý hộ tịch

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1 Thông tư liên tịch số BNV ngày 22/12/2014 của liên Bộ Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thì : Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; pháp chế; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; nuôi con nuôi; lý lịch tư pháp; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật

23/2014/TTLT-BTP-Trong công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực và nuôi con nuôi (khoản 12, Điều

2 Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của liên Bộ Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ), Sở Tư pháp có những nhiệm vụ sau:

- Chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, quốc tịch tại địa phương; hướng dẫn nghiệp vụ cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công chức Tư pháp – Hộ tịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký;

Trang 28

- Xây dựng hệ thống tổ chức đăng ký và quản lý hộ tịch; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định; thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật;

- Giải quyết các việc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Thẩm định hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết các việc về nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;

đề nghị Ủy ban dân nhân cấp tỉnh quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi, hủy bỏ, những giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trái với quy định của pháp luật (trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật);

- Thực hiện các nhiệm vụ để giải quyết hồ sơ xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam; xác nhận có quốc tịch Việt Nam; xin cấp giấy xác nhận là người có quốc tịch Việt Nam; thông báo có quốc tịch Việt Nam; quản lý và lưu trữ hồ sơ về quốc tịch theo quy định của pháp luật

Theo Điều 69, Luật Hộ tịch 2014 thì Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau :

- Hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch;

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch;

- Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định;

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về

hộ tịch theo thẩm quyền;

- Định kỳ tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác

hộ tịch;

- Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định

1.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền công dân về hộ tịch

Trang 29

Theo Từ điển tiếng Việt, “bảo đảm” là tạo điều kiện cần thiết để thực hiện được những nguyên tắc; bảo đảm theo nghĩa chung nhất là “Làm cho chắc chắn thực hiện

được những gì cần thiết, là trách nhiệm của mọi chủ thể phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn”

Như đã phân tích ở phần trên, “Quyền công dân là tập hợp những quyền con

người được pháp luật của một quốc gia ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch của nước đó thì mới được hưởng các quyền công dân mà pháp luật nước đó quy định” Như vậy, quyền công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tập

hợp những quyền được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch Việt Nam mới được hưởng

Hộ tịch được hiểu “là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của

một người từ khi sinh ra đên khi chết, bao gồm những sự kiện hộ tịch như: khai sinh, kết hôn, nhận cha mẹ, con, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử ”

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Bảo đảm quyền công dân về hộ tịch là

tạo các điều kiện cần và đủ nhằm bảo đảm hiện thực hóa tập hợp những quyền con người được pháp luật của một quốc gia ghi nhận về những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết, bao gồm những sự kiện

hộ tịch như: khai sinh, kết hôn, khai tử, nhận cha mẹ, con, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch

1.2 Nội dung bảo đảm quyền công dân về hộ tịch

Trên cơ sở xác định quản lý và đăng ký hộ tịch là một trong những lĩnh vực quan trọng của quản lý nhà nước, có liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, Luật Hộ tịch đã dành riêng một điều (Điều 6) để xác định quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của công dân Theo đó, các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam, công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam đều phải được cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký

hộ tịch Ngoài ra, để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch, Luật Hộ

Trang 30

tịch cũng quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm điều kiện thuận lợi nhất để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch cũng như điều kiện về ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn lực để cơ quan đăng ký hộ tịch có điều kiện thực thi tốt nhiệm vụ của mình trong đăng ký và quản lý hộ tịch (Điều 8)

Xuất phát từ quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch quy định rõ: khi đăng ký hộ tịch, người dân phải được tiếp cận các thủ tục đăng ký một cách công khai, minh bạch; cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm ghi vào sổ hộ tịch và cập nhật vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ các nội dung đăng ký hộ tịch Luật cũng quy định mỗi loại việc hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật

Hộ tịch Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch, Luật cũng quy định rõ cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống (Điều 5) Việc quy định người dân có quyền lựa chọn nơi đăng ký hộ tịch là điểm mới cơ bản so với các quy định về xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP

Để bảo đảm nguyên tắc mỗi loại việc hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng

ký hộ tịch, Luật Hộ tịch cũng đã quy định trách nhiệm thông báo của cơ quan đăng ký

hộ tịch sau khi đăng ký các sự kiện hộ tịch cho người dân, theo đó: “Trường hợp cá

nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú” (Khoản 4, Điều 5)

Để hạn chế những hành vi tiêu cực có thể phát sinh tại cơ quan đăng ký hộ tịch, nâng cao ý thức trách nhiệm của người đi đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch đã đưa

ra các quy định cấm đối với cá nhân khi đăng ký hộ tịch, bao gồm 9 nhóm hành vi sau đây (Điều 12):

- Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; làm hoặc sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ của người khác để đăng ký hộ tịch;

- Đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch;

Trang 31

- Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch;

- Cam đoan, làm chứng sai sự thật để đăng ký hộ tịch;

- Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong

- Người có thẩm quyền quyết định đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho bản thân hoặc người thân thích theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Truy cập trái phép, trộm cắp, phá hoại thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch Giấy tờ hộ tịch được cấp cho trường hợp đăng ký hộ tịch vi phạm quy định nêu trên đều không có giá trị và phải thu hồi, hủy bỏ Cá nhân thực hiện hành vi quy định trên thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Trường hợp cán bộ, công chức vi phạm, ngoài bị xử lý như trên còn bị xử lý kỷ luật theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức

Bảo đảm cho việc thực hiện quyền công dân phụ thuộc vào những bảo đảm về kinh tế, chính trị, văn hóa và các điều kiện cụ thể của mỗi cá nhân công dân song bảo đảm về mặt pháp lý có ý nghĩa trực tiếp trong việc thực hiện trên thực tế các quyền tự

do trên

Sự phân định các thành tố trong hệ thống bảo đảm chỉ là tương đối Việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân không chỉ là những biện pháp mang tính pháp lý mà trước hết là bằng những chính sách, cơ chế của Nhà nước, tạo điều kiện cho con người phát triển về mọi mặt, làm chủ xã hội và làm chủ chính mình

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền công dân về hộ tịch

Trang 32

Pháp luật về hộ tịch trong thời gian qua cho thấy, mặc dù pháp luật đã quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và công dân trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch, đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác hộ tịch, nhưng trên thực tế hoạt động này còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế Do vậy, cần xác định rõ những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc bảo đảm quyền công dân về hộ tịch để xây dựng những giải pháp hiệu quả cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong tình hình hiện nay Đó là các yếu tố:

1.3.1 Ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là “một hình thái ý thức xã hội, gồm những quan điểm, khái

niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người thể hiện thái độ, sự đánh giá của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, pháp chế, về tính công bằng, hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua

và pháp luật trong tương lai, về hành vi hợp pháp, hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế” Đây là yếu tố quan

trọng ảnh hưởng sâu sắc tới việc thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch Yếu tố này được nhìn nhận từ phía chủ thể có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như ý

thức tự giác, chủ động đăng ký hộ tịch của người dân

Cùng với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế tri thức, người dân và các cơ quan, tổ chức ngày càng coi trọng hơn những giá trị của các giấy tờ hộ tịch và tầm quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch Ý thức thực hiện trách nhiệm đăng ký các sự kiện hộ tịch và giữ gìn giấy tờ hộ tịch được nâng lên rất nhiều Mỗi người dân đã hiểu rõ sự cần thiết của việc đăng ký các sự kiện hộ tịch để được Nhà nước bảo hộ các quyền công dân cơ bản Các cơ quan Nhà nước được giao quyền cũng xác định rõ trách nhiệm của mình trong công tác hộ tịch, coi đó là cơ sở cần thiết để thực hiện quản lý dân cư và xây dựng các chính sách xã hội phù hợp

Mặc dù vậy, hiện nay tình trạng vi phạm pháp luật trong đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn xảy ra, nhất là trong lĩnh vực khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi Đối tượng vi phạm cũng khá đa dạng, từ cá nhân có trách nhiệm đi đăng ký đến công chức thực hiện việc đăng ký hộ tịch Có nhiều nguyên nhân để lý giải tình trạng này

Trang 33

trong đó có nguyên nhân xuất phát từ ý thức pháp luật của những chủ thể liên quan như do hạn chế hiểu biết pháp luật, xuất phát từ cách nghĩ đơn giản của người dân không tự giác đi đăng ký khai sinh hoặc khai tử đúng thời hạn vì cho rằng không liên quan đến các chế độ thanh toán nên cũng chẳng cần phải thực hiện đăng ký ngay; hoặc công chức tùy tiện sửa chữa, cải chính làm sai lệch nội dung đăng ký hộ tịch như khai tăng tuổi để đi học sớm, khai giảm tuổi để đủ tuổi được nhận làm con nuôi

1.3.2 Chất lượng văn bản pháp luật về hộ tịch

Chất lượng văn bản pháp luật là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho pháp luật được triển khai có hiệu quả Hiện nay hệ thống văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch đã phát huy hiệu quả, góp phần tích cực cho công tác đăng ký và quản lý về hộ tịch, cụ thể: Pháp luật quản lý về hộ tịch đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về hộ tịch; bảo đảm sự thống nhất trong việc thực hiện các văn bản về hộ tịch; bảo đảm công khai, minh bạch về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch; tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi có yêu cầu đăng

ký hộ tịch; pháp luật quản lý về hộ tịch góp phần định hướng lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp thuần phong mỹ tục của dân tộc, góp phần hội nhập quốc tế

Bên cạnh những mặt đạt được đó, pháp luật quản lý về hộ tịch ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập như: các quy định về quản lý hộ tịch còn tản mát trong nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng để giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân

Cơ chế điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch vẫn mang tính bị động, giải quyết sự

vụ, nhiều tình huống phát sinh trên thực tế chưa có quy phạm điều chỉnh, Bộ Tư pháp phải hướng dẫn các địa phương bằng công văn hành chính hướng dẫn nghiệp vụ

Vì vậy, để quản lý hộ tịch được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn thì văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch cần phải có chất lượng cao thể hiện tính đồng bộ, thống nhất trong nội dung của văn bản; không mâu thuẫn, chồng chéo, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, đồng thời đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về hộ tịch

Trang 34

1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch

Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch thể hiện qua các biện pháp, chính sách mà Nhà nước ban hành để có thể đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác các sự kiện hộ tịch phát sinh

Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng như trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, hệ thống chế tài xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật quản lý về hộ tịch cũng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch

Trình độ, năng lực quản lý và phẩm chất chính trị, đạo đức, tinh thần trách nhiệm, tính chủ động của công chức là những yếu tố quyết định đảm bảo việc tổ chức thực hiện pháp luật đúng đắn, có hiệu quả

1.3.4 Kinh phí và cở sở vật chất

Pháp luật nói chung, pháp luật quản lý về hộ tịch nói riêng đòi hỏi những điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí nhất định phục vụ triển khai tổ chức thực hiện từ khâu tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến các hoạt động triển khai thực hiện pháp luật, kiểm tra, xử lý vi phạm Việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả pháp luật về hộ tịch ở các địa phương

Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày khái quát về cơ sở lý luận bảo đảm quyền công dân về

hộ tịch Thông qua việc tìm hiểu các khái niệm có liên quan trong phạm vi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, tác giả đã đưa ra được nhận thức chung nhất về khái niệm và bản chất của hộ tịch, quyền công dân về hộ tịch, tạo ra cơ sở lý luận quan trọng để cơ quan Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân và đảm bảo quyền công dân trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách

Trang 35

phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng đất nước

Đồng thời, với những phân tích về ý nghĩa, vai trò đăng ký và quản lý hộ tịch trong việc đảm bảo thực hiện quyền công dân về hộ tịch, giúp chúng ta hiểu rõ hộ tịch

là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia hiện đại đều phải quan tâm Bên cạnh đó phân tích những điều kiện cần và đủ để bảo đảm quyền công dân về hộ tịch đi vào đời sống xã hội, phân tích những kinh nghiệm của một số nước phát triển trong vấn đề bảo đảm quyền công dân về hộ tịch đem lại những giá trị và bài học để Nhà nước Việt Nam đút kết kinh nghiệm, đưa ra chính sách, pháp luật phù hợp để việc bảo đảm quyền công dân về hộ tịch đạt hiệu quả cao nhất

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC

TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA SỞ TƯ PHÁP TỈNH ĐỒNG THÁP

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp có ảnh hưởng đến bảo đảm quyền công dân về hộ tịch

2.1.1 Về đặc điểm tự nhiên

Đồng Tháp là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, cách trung tâm thành phố

Hồ Chí Minh 165 km về phía Tây Nam Diện tích tự nhiên là 3.283 km2, phía Bắc (8

xã biên giới nằm trên địa bàn huyện Hồng Ngự, Tân Hồng và thị xã Hồng Ngự) giáp tỉnh Prây-Veng, Vương quốc Campuchia, phía Nam giáp với tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh An Giang, phía Đông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

Dân số khoảng 1,7 triệu người Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 99,3 dân số, các dân tộc còn lại như dân tộc Hoa, Khơme chiếm 0,7 dân số Ở Đồng Tháp có nhiều tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Phật Giáo, Công Giáo, Tinh Lành Tính cách người dân Đồng Tháp mang đậm nét đặc trưng chung của đồng bằng Nam Bộ: cần cù, hiền lành, phóng khoáng, cởi mở và giàu lòng mến khách

Đồng Tháp có 9 huyện, 01 thị xã và 02 thành phố, 144 xã, phường, thị trấn; 7 cửa khẩu, trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế là Thường Phước và Dinh Bà, trung tâm tỉnh

lỵ đặt tại thành phố Cao Lãnh Đồng Tháp được bao bọc bởi 2 con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, phù sa bù đắp, đất đai màu mỡ, nước ngọt quanh năm Hệ thống kênh rạch chằng chịt rất thuận lợi cho giao thông đường thủy và kết nối với trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sang Campuchia Hai bến cảng Cao Lãnh và Sa Đéc nằm bên bờ sông Tiền giúp vận chuyển hàng hóa dễ dàng ra Biển Đông và nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á

2.1.2 Về kinh tế - xã hội

Theo báo cáo chính trị nhiệm kỳ 2010 – 2015 của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, tốc

độ tăng tưởng kinh tế đạt khá, bình quân 5 năm đạt 9,5 /năm; GRDP bình quân đầu

Trang 37

người năm 2015 đạt 32,6 triệu đồng/năm, tăng gần 1,6 lần so với năm 2010 Sản lượng lúa đạt bình quân 3,28 triệu tấn, sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 469 ngàn tấn; kim ngạch xuất khẩu 777 triệu USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo 55,5 , trong đó đào tạo nghề đạt 40,0%; bình quân 1 vạn dân có 6,67 bác sĩ và 24 giường bệnh; tỷ lệ đô thị hóa 32,8 ; hàng năm tạo việc làm cho 33.240 lao động và tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,34%

Hoạt động thương mại - dịch vụ duy trì phát triển khá, mặc dù thị trường có nhiều biến động nhưng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng khá Kết quả thực hiện năm 2015: tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 59.530 tỷ đồng, tăng bình quân 17,35 /năm Tỉnh có 01 khu kinh tế cửa khẩu, 08 khu công nghiệp, 31 cụm công nghiệp Đến nay đã thu hút 146 dự án (có 86 dự án đi vào hoạt động), với tổng vốn đầu tư 14.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho trên 43.000 lao động Công tác an sinh xã hội, ưu đãi người có công được thực hiện bằng nhiều giải pháp hiệu quả, gắn với mô hình giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới mang lại kết quả thiết thực Đến nay, tổng số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh còn gần 32.000 hộ, chiếm khoảng 7,5% và gần 30.000 hộ cận nghèo, xấp xỉ 7%

Công tác cải cách hành chính tiếp tục nâng cao hiệu quả, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng phầm mềm quản lý văn bản eOffice, sử dụng văn bản điện tử…, nhằm rút ngắn thời gian xử lý công việc, hạn chế hồ sơ tồn đọng

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ X, nhiệm kỳ

2015 - 2020 xác định nhiệm vụ trọng tâm là tạo sự thống nhất trong toàn Đảng bộ và đồng thuận xã hội, đồng lòng thực hiện các chủ trương, quyết sách phát triển quê hương; xây dựng phong cách lãnh đạo của các cấp uỷ sâu sát, quyết đoán, tiên phong, gương mẫu; chính quyền phục vụ nhân dân, điều hành năng động, quản lý hiệu quả… Theo đó, tỉnh đề ra tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt từ 10 /năm trở lên; tổng vốn đầu tư phát triển đạt khoảng 25% GRDP Đến năm 2020, GRDP bình quân đầu người đạt trên 65 triệu đồng; tỷ lệ đô thị hóa đạt 38,0% Về xã hội, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội còn dưới 50%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 70 (trong đó, lao động qua đào tạo nghề 50 ); có 8 bác sĩ và 26

Trang 38

giường bệnh trên 1 vạn dân; tỷ lệ dân cư tham gia bảo hiểm y tế đạt 80% dân số; tỷ lệ

hộ nghèo giảm bình quân 1,5 /năm; có 50 xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới, 02 đơn

vị cấp huyện cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới Về môi trường, có 98 dân cư thành thị

và 97,5 dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch và nước hợp vệ sinh; 80% chất thải rắn ở đô thị được thu gom và 100% chất thải y tế được xử lý

Về hạn chế của tỉnh Đồng Tháp là : Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, cơ cấu kinh tế còn nặng thuần nông, khả năng thu hút nguồn vốn (kể cả trong và ngoài nước) còn khó khăn; kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, thiếu đồng bộ chưa đủ đáp ứng cho yêu cầu phát triển nền kinh tế mở Hàng năm thường xảy ra lũ lụt lớn, làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhân dân và các công trình kết cấu hạ tầng của Nhà nước; nghèo về tài nguyên khoáng sản; cơ cấu công nghiệp còn giới hạn ở một số ngành chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng; đất đai phần lớn có kết cấu yếu, không thuận lợi cho việc xây dựng các công trình qui mô lớn, các khu công nghiệp chưa có sức hấp dẫn vốn đầu tư nước ngoài

Điều này chứng minh rằng Đồng Tháp vẫn còn là một tỉnh nghèo; muốn phát triển kinh tế - xã hội cho những năm tới, nhất là việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà, lãnh đạo tỉnh cần tập trung đúng mức đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra

2.2 Tình hình thực hiện pháp luật bảo đảm quyền công dân về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

2.2.1 Công tác ban hành văn bản quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Để điều chỉnh vấn đề tăng cường quản lý nhà nước về công tác đăng ký và quản

lý hộ tịch trên địa tỉnh Đồng Tháp, Sở Tư pháp đã tham mưu với Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về công tác nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền công dân về hộ tịch, về quản lý và đăng ký hộ tịch, như :

Trang 39

- Kết luận số 25-KL/TU ngày 27 tháng 10 năm 2016 của Ban Thường vụ Tỉnh

ủy về nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và các tổ chức trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp;

- Kế hoạch số 118/KH-UBND ngày 13 tháng 4 năm 2017 của UBND tỉnh Đồng Tháp về thực hiện Kết luận số 25-KL/TU ngày 27 tháng 10 năm 2016 của Ban Thường

vụ Tỉnh ủy về nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và các tổ chức trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp;

- Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 03 tháng 8 năm 2015 của UBND tỉnh về triển khai thi hành Luật Hộ tịch năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp;

- Nghị quyết số 102/2016/NQ-HĐND ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng

lệ phí đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp;

- Kế hoạch 146/KH-UBND ngày 01 tháng 6 năm 2016 của UBND tỉnh thực hiện Đề án tổng thể đối với người dân di cư tự do từ Campuchia trở về Việt Nam; kế hoạch thực hiện Tiểu Đề án “Giải quyết các vấn đề về quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân khác cho người dân di cư tự do từ Campuchia về nước” trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo trên, Sở Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch cho UBND cấp huyện, cấp xã, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch; các Sở, ngành, UBND các cấp tùy theo tình hình thực tế của ngành, địa phương mình đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch, công văn chỉ đạo thực hiện công tác đăng ký và quản lý tịch tại địa phương, ngành mình

2.2.2 Công tác tập huấn, phổ biến, tuyên truyền Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành

Thực hiện Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 03 tháng 8 năm 2015 của UBND

tỉnh về việc triển khai thi hành Luật Hộ tịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và chương

trình công tác tư pháp năm 2016, Sở Tư pháp đã tổ chức 01 lớp tập huấn công tác đăng

Trang 40

ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài và phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức 12 lớp (mỗi địa phương 01 lớp) tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ đăng

ký và quản lý hộ tịch theo Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP Cụ thể như sau :

Công tác phổ biến, tuyên truyền Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành

Nhằm mục đích để nguời dân nhận thức đuợc việc đăng ký hộ tịch vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình, đồng thời hiểu được tầm quan trọng của công tác hộ tịch trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giữ gìn trật tự trên địa bàn, trong thời gian qua cấp ủy, chính quyền các cấp đã thực hiện công tác tuyên truyền pháp luật

về hộ tịch đến nguời dân bằng nhiều hình thức khác nhau

- Hàng năm, Sở Tư pháp đã biên soạn, phát hành hàng chục ngàn tờ bướm tuyên truyền pháp luật hộ tịch, tập trung vào những nội dung như quyền và nghĩa vụ của công dân, trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi đăng ký hộ tịch, trình tự thủ tục đăng ký hộ tịch, lệ phí hộ tịch, phát đến tận Tổ hòa giải, các đoàn thể, Câu lạc bộ pháp

lý ở khóm, ấp để lồng ghép trong các buổi sinh hoạt ở cơ sở tuyên truyền đến nhân dân;

- Ngoài ra, Sở Tư pháp còn phối hợp với Hội Luật gia, Đoàn Luật sư và Đài Phát thanh và Truyền hình Tỉnh thực hiện nhiều chuyên mục chính sách pháp luật, tư vấn pháp luật, trả lời thư bạn xem đài với chủ đề tìm hiểu về Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành Hệ thống Đài Truyền thanh cấp huyện, Trạm Truyền thanh cấp xã, hệ thống loa truyền thanh của các Đồn Biên phòng thường xuyên phát những tin, bài, câu chuyện pháp luật… về hộ tịch

Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên, hàng năm với vai trò là cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w