Nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp.... Xuất phát từ thực trạn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
TRẦN THANH TÙNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP –
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
VINH, NĂM 2018
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THANH TÙNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC
LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP - TỪ THỰC TIỄN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, trích dẫn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Vinh
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét cho tôi được bảo về Luận văn này Tôi xin chân thành cám ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thanh Tùng
Trang 5CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG TẠI CÁC
NGHIỆP 7
1.1 Một số khái niệm liên quan thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
1.1.3 Khái niệm lao động, khu công nghiệp và thực hiện pháp luật về bình
đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công
1.1.4 Vai trò của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
1.1.5 Ý nghĩa của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
1.2 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong
Trang 6động tại các khu công nghiệp
1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
1.3 Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh
2.1 Tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
2.1.2 Khái quát về tình hình hoạt động của các khu công nghiệp trên địa
Trang 72.2.2 Việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động tại các
2.2.3 Phát động phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” và
“Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ công nhân lao động, qua đó phát hiện những tấm gương tiêu biểu, điển hình trong lao động sản
2.3 Những hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại khu công nghiệp tỉnh Bến
Tre 60
2.3.1 Những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về
3.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước
3.2 Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại khu công nghiệp tỉnh Bến Tre 75
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới nhằm nâng cao sự hiểu biết của người lao động về bình đẳng giới tại
nghiệp 75
3.2.2 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên làm công tác phổ biến pháp luật về bình đẳng giới tại các khu công nghiệp 77
3.2.3 Nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp 79
3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới tại các khu công nghiệp 81
3.2.5 Cần bố trí nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động thực hiện bình đẳng giới 83
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 9Tỉnh ủy TU
Trang 102.2
Bảng thống kê trình độ chuyên môn, tay nghề của nam, nữ công
nhân lao động tại các khu công nghiệp Bến Tre
Phụ lục 1 Bảng
2.3
Bảng thống kế độ tuổi công nhân lao động trong các doanh nghiệp
tại các khu công nghiệp ở BếnTre
Phụ lục 2 Bảng
2.4
Bảng thống kê thâm niên làm việc và tiền lương trung bình của
công nhân lao động tại các khu công nghiệp ở Bến Tre
Phụ lục 3 Bảng
2.5
Bảng thống kê tình hình thực hiện hoạt động tuyên truyền, phổ
biến pháp luật cho công nhân tại các khu công nghiệp
Phụ lục 4 Bảng
2.6
Bảng đăng kí và thành tích của nữ công nhân tham gia phong trào
thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” tại các khu công nghiệp ở
tỉnh Bến Tre
Phụ lục 5 Bảng
2.7
Bảng thống kê số doanh nghiệp nợ Bảo hiểm xã hội của người lao
động tại hai khu công nghiệp Bến Tre
Phụ lục 6
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực hiện nam nữ bình đẳng một cách toàn diện, đầy đủ là lý tưởng mà nhân loại
đã theo đuổi hàng nhiều thế kỉ qua Ngày nay, bình đẳng giới là một vấn đề có tính quốc
tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại, là một trong những mục tiêu của các quốc gia nhằm đem lại sự bình đẳng cho con người trong một xã hội mới, là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của một xã hội, của một quốc gia Từ đó cho thấy bình đẳng giới vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội, vừa là yếu tố để nâng cao tăng trưởng kinh tế của quốc gia Thực tế hiện nay tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang diễn ra một cách phổ biến ở nhiều nơi, đây là một trong những nguyên ảnh hưởng đến tình trạng phát triển kinh tế - xã hội; làm gia tăng đói nghèo, hạn chế các cơ hội tăng thu nhập và gây nên nhiều tổn thất khác cho xã hội
Ở nước ta, sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ buổi đầu cách mạng Khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” đã được khẳng định ngay
từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Và cho đến ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, lao động, y tế, gia đình Nhiều văn bản pháp lý quan trọng về thực hiện bình đẳng giới đã được ban hành như Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật Bình đẳng giới Trong đó, việc Quốc hội nước ta ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006 (được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007) đã thể hiện quyết tâm lớn trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử nam, nữ trong các lĩnh vực của xã hội
Ngày nay, trong xã hội vai trò của người phụ nữ đã có những thay đổi cơ bản và ngày càng bình đẳng hơn đối với nam giới Ở nước ta vị trí của người phụ nữ được nâng lên một tầm cao mới, từng bước sánh ngang với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội Chẳng hạn như ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào lĩnh vực chính trị và giữ những chức vụ cao trong hệ thống chính trị như Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc
Trang 122
hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng; hay trong lĩnh vực kinh tế, lao động nhiều phụ nữ đã trở thành người thành đạt trong công việc như làm chủ các doanh nghiệp, công ty lớn tạo được công ăn, việc làm cho người lao động đem lại nguồn thu nhập cho người lao động cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Qua đó cho thấy vai trò của người phụ nữ đang dần được nâng lên đáng kể, phụ nữ cũng góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, góp phần thực thiện mục tiêu xây dựng đất nước đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai dẳng, ăn sâu vào tâm trí của người dân ở nhiều nơi đã đã ảnh hưởng đến bình đẳng nam nữ thực chất tại nhiều nơi, trong đó có tỉnh Bến Tre Và trong nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội, trong đó có lĩnh vực lao động, việc làm
Thực tế trong lĩnh vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay nói chung và ở tỉnh Bến Tre nói riêng vẫn còn có sự không bình đẳng giữa người lao động nam và người lao động nữ, nhất là tại các doanh nghiệp Tình trạng tuyển dụng lao động nam nhiều hơn lao động nữ, ưu tiên tuyển dụng lao động nam hơn lao động nữ vì nhiều lý do khác nhau đã dẫn đến hạn chế về cơ hội việc làm cho lao động nữ Vì vậy, để giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm, trong những năm qua Đảng
và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật nhằm đảm bảo công bằng giữa nam và nữ trong lao động về cơ hội việc làm, tiền lương, thu nhập và các chế độ chính sách khác đối với người lao động Chẳng hạn như Luật bình đẳng giới năm 2006, Bộ luật lao động năm 2012 hay Hiến pháp năm 2013 và những văn bản quy phạm pháp luật khác để thực hiện sự bình đẳng, công bằng cho người lao động nam và nữ
Xuất phát từ thực trạng bất bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm hiện nay tại các doanh nghiệp ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tác giả quyết
định chọn đề tài: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các
khu công nghiệp – Từ thực tiễn tỉnh Bến Tre làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật
học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của mình
Trang 13Hà Thị Hoa Phượng (2010), “Pháp luật lao động Việt Nam với vấn đề bình đẳng giới”, Đại học luật Hà Nội
GS Lê Thi (2011), “Vài nét bàn về thực thi công bằng, dân chủ và bình đẳng nam
nữ ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Khoa học Hà Nội
Nguyễn Thu Hằng (2012), “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguyễn Thị Thu Hường (2013), “Bình đẳng giới trong Bộ luật lao động Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội
Trong công trình nghiên cứu năm 2011 của Giáo sư Lê Thi “Vài nét bàn về thực thi công bằng, dân chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay” tác giả đã phân tích
các yếu tố công bằng, dân chủ, bình đẳng trong đời sống kinh tế - xã hội, các điều kiện cơ bản để thực hiện công bằng, dân chủ, bình đẳng Tác giả tập trung phân tích những vấn
đề công bằng, bình đẳng về cơ hội Đồng thời phân tích vai trò của nhà nước trong việc tạo ra các cơ hội trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, cơ hội tiếp cận với các quỹ phúc lợi công cộng Qua đó tác giả đánh giá thực trạng việc thực hiện các vấn đề về bình đẳng giới, công bằng ở nước ta, chỉ ra những bất cập, hạn chế Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị
Trong cuốn “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Thu Hằng (2012), tác giả tập trung làm rõ những vấn đề về bình đẳng giới, quá trình hình thành và phát triển của luật bình đẳng giới ở Việt Nam, đồng thời phân tích các quy định của luật quốc tế về bình đẳng giới Trên cơ sở đó tác giả phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam trong các lĩnh vực của xã hội, chỉ ra
Trang 14về đề tài: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu
công nghiệp – Từ thực tiễn tỉnh Bến Tre Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu, luận
văn, luận án đó đã tạo điều kiện cho tác giả tham khảo để thực hiện luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là:
Thứ nhất, phân tích một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Thứ hai, đánh giá thực trạng về công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian qua
Cuối cùng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện
pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian tới
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, theo quy định của Luật bình đẳng giới năm 2006
Về không gian: luận văn nghiên cứu về thực trạng của công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre
Trang 155
Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2017
4 Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre Hỗ trợ các cấp, các ngành trong việc xây dựng những chủ trương, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới tại các khu công nghiệp, điều quan trọng là phải tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động đến người sử dụng lao động tại các khu công nghiệp giúp họ thay đổi về nhận thức trong thực hiện bình đẳng giới trong lao động Đồng thời thường xuyên kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về bình đẳng
giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được cụ thể hóa ở những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về giới, bình đẳng giới, thực hiện
pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Thứ hai, Phân tích, đánh giá những mặt đạt được và hạn chế trong công tác thực
hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre hiện nay
Thứ ba, Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực
hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động ở Bến Tre trong thời gian tới
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả dựa trên phương pháp luận trong nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin Ngoài ra, tác giả đã sử dụng một số phương pháp cụ thể để nghiên cứu như: Phương pháp logic; Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp thống kê; Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp so sánh
7 Cấu trúc của luận văn
Trang 177
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm liên quan thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật
Khái niệm: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích nhằm làm cho các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Có thể nói thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện, nó góp phần giúp nhà nước quản lý xã hội và điều chỉnh hành vi của con người theo hướng tích cực nhằm ổn định trật tự xã hội Thực hiện pháp luật có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước Để quản lý xã hội, nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện chúng trong đời sống thực tế, làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực
Thứ hai, Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể Pháp luật được
đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi của con người Hành vi đó có thể là hành động hay không hành động phù hợp với quy định của pháp luật Nói cách khác, tất cả những hoạt động của tổ chức, cá nhân phù hợp với quy định của pháp luật đều được coi là thực hiện pháp luật
Thứ ba, Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách
thức, trình tự thủ tục khác nhau Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân,
có thể là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội Cách thức thực hiện pháp luật cũng khác nhau: có thể hành động hoặc không hành động Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể, cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước
Trang 188
1.1.2 Khái niệm giới, giới tính và bình đẳng giới tính
Thứ nhất, khái niệm giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ trong
xã hội của nam và nữ, xã hội tạo ra và gắn cho người nữ và người nam các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất phong phú, đa dạng và có thể thay đổi được Khi chúng ta nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam giới và phụ nữ
Trong khoa học pháp lý, khái niệm giới được quy định tại khoản 1 Điều 5 luật
Bình đẳng giới năm 2006 “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” Giới có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, giới mang tính xã hội, nó không mang tính bẩm sinh
Hai là, giới có tính đa dạng và có sự khác nhau giữa các vùng, miền, giữa các quốc gia
Ba là, giới có thể thay đổi được tác động của nhiều yếu tố
Bốn là, giới (nam, nữ) có thể thay đổi vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể theo thời gian
Thứ hai, khái niệm giới tính lần đầu tiên được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 5 của luật Bình đẳng giới năm 2006 như sau: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” Như vậy, khi nói đến giới tính là nói tới các đặc điểm về cấu tạo cơ thể của
nam và nữ liên quan đến chức năng sinh sản Giới tính có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, giới tính là đặc trưng sinh học, được hình thành một cách tự nhiên, con người khi được sinh ra đã có Nó là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên
Hai là, giới tính có đặc điểm chung thống nhất, giống nhau trên toàn thế giới
Ba là, về mặt tự nhiên giới tính không thể thay đổi được về mặt không gian và thời gian
Trang 199
Từ những đặc điểm trên của giới và giới tính cho chúng ta thấy sự phân biệt giữa khái niệm giới với khái niệm giới tính Sự phân biệt hai khái niệm “giới” và “giới tính” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới đó là:
+ Loại đặc điểm do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội hình thành nên – đặc điểm giới
+ Loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định – đặc điểm giới tính
Như vậy, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và
nữ thì vấn đề không phải là sự thay đổi về đặc điểm giới tính (yếu tố sinh học), mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới, cũng như thay đổi những định kiến về giới, thay đổi về cách thức phân công lao động trong xã hội
Thứ ba, khái niệm bình đẳng giới: Theo quan niệm của xã hội học, bình đẳng giới
là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ” hay “nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật để thể hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam giới và nữ giới trong các quan hệ pháp luật cụ thể Tuy nhiên, việc nam giới và nữ giới bình đẳng về địa vị pháp lý không bao hàm sự bình đẳng của nam và nữ trong tất cả các quan hệ xã hội khác
Thuật ngữ bình đẳng giới được quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật Bình đẳng
giới năm 2006 như sau: “Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”
Như vậy, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và nữ giới được hưởng các thành quả một cách bình đẳng Tuy nhiên, việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau, không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam Vì vậy, bình đẳng giới cần được hiểu là
Trang 2010
sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm về giống và khác nhau giữa mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng giới một cách hợp lý
Nếu như cả nữ giới và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp
và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng sự tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng các thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội như chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế, hôn nhân và gia đình, thì xã hội
đó đã đạt được sự bình đẳng giới Nếu những điều này chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ thì điều đó có nghĩa là trong xã hội đó còn tồn tại bất bình đẳng về giới
Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên hiểu về bình đẳng giới theo cách đơn giản, phiến diện là nam giới và nữ giới phải tham gia như nhau trong tất cả các hoạt động, công việc, lĩnh vực Và cũng không phải hiểu theo phương châm phụ nữ vùng lên để đòi hỏi quyền lợi ngang bằng nam giới, bất chấp sự khác nhau về đặc tính sinh học giữa nam và
nữ Hơn nữa, việc không phân định một cách rõ ràng sự khác biệt mang tính chất “giới”
và “giới tính” lại chỉ thấy có một phía là không bình đẳng nghiêng về nữ, chắc sẽ dẫn đến
hệ quả ngược lại với mong muốn
Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay còn cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Nó đòi hỏi một sự chuyển biến đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với nam giới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và hành vi cụ thể trong mối quan hệ với phái nữ Để có thể thực hiện được các yêu cầu nêu trên, cần đảm bảo hai yếu
tố sau:
Thứ nhất, đó là sự tôn trọng giá trị nhân phẩm cũng như giá trị lao động của lao
động nam cũng như lao động nữ trong những đóng góp của họ đối với xã hội và gia đình
Thứ hai, cả lao động nữ và lao động nam đều có trách nhiệm, chia sẻ với nhau
trong thực hiện công việc gia đình và ngoài xã hội Để đạt được mục tiêu thực hiện bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữ phải được bình đẳng,
Trang 2111
công bằng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực kinh
tế, lao động và việc làm giữ vai trò chủ yếu
Trong xã hội ta ngày nay, vấn đề thực hiện bình đẳng giới là một trong những mục tiêu quan trọng của Đảng và nhà nước ta trong việc nâng cao vị trí, vai trò của người phụ
nữ trong xã hội, xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu lỗi thời đã tồn tại hàng ngàn năm ở nước
ta “trọng nam khinh nữ” Bình đẳng giới còn là thước đo của sự phát triển tiến bộ của một xã hội Bình đẳng giới được biểu hiện ở nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau trong xã hội
Như vậy, khi hiểu về bình đẳng giới không chỉ hiểu đơn giản là số lượng của nữ
và nam hay em trai và em gái phải tham gia như nhau trong tất cả các hoạt động, và cũng không có nghĩa nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội Nam, nữ có điều kiện bình đẳng để phát huy tất cả tiềm năng, năng lực của mình Đồng thời họ có cơ hội để tham gia đóng góp và hưởng thụ các lợi ích khi họ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, lao động, xã hội
Ngày nay vấn đề về bình đẳng giới, quyền con người đã có rất nhiều quốc gia quan tâm, bởi nó là một trong những quyền cơ bản của con người Ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, xuất phát từ vấn đề về quyền con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, đó là quyền cơ bản thiêng liêng của mỗi người và đã được Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận sự bình đẳng trên mọi phương diện từ chính trị, kinh tế, lao động, văn hóa, gia đình, đến giáo dục, y tế Điều đó thể hiện một sự tiến bộ lớn của Đảng và nhà nước ta, tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự đối với nam giới bởi thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, giữa nam và nữ đã không có cùng một điểm xuất phát cho nên khi cơ hội được mở ra như nhau nhưng phụ nữ khó có cơ hội nắm bắt được như nam giới Ví dụ trong lĩnh vực lao động, việc làm khi cơ hội được mở ra cho cả nam và nữ thì phụ nữ khó có thể đón nhận cơ hội như nam giới vì nhiều lý do khác nhau như: sức khỏe, do chăm sóc con nhỏ, công việc gia đình
Trang 22cử, có quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, có quyền tự
do kết hôn và li hôn )
Hai là, tính ưu đãi: Xuất phát từ những đặc điểm sinh học và do đặc điểm duy trì
nòi giống của phụ nữ có sự khác biệt so với nam giới nên để đạt được bình đẳng giới thì cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ
Ba là, tính linh hoạt: Bình đẳng giới cần thiết phải hiểu ràng không phải lúc nào
nam và nữ cũng như nhau, mà bình đẳng giới cần phải được hiểu một cách linh hoạt trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ví dụ như do đặc điểm sinh học của phụ nữ là xét về thể lực yếu hơn so với nam giới do đó cần có chính sách ưu tiên trong lao động đối với nữ giới, nhất là phụ nữ làm việc trong môi trường lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Sự đối xử ưu đãi đối với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến Khi khoa học kĩ thuật phát triển, điều kiện lao động được cải thiện, cần có sự điều chỉnh cho phù hợp nhằm loại bỏ quy định mang tính ngăn cấm đối với phụ nữ trong một số ngành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện trong điều kiện lao động, để tạo thêm cơ hội tìm việc làm cho phụ nữ
Bốn là, tính phân loại: Khi tìm hiểu về bình đẳng giới chúng ta cũng cần tìm hiểu
trên nhiều phương diện khác nhau, đó là không chỉ nhìn nhận bình đẳng giới trong mối tương quan giữa nữ giới và nam giới, mà còn phải nhìn nhận trong mối quan hệ của từng giới Bình đẳng còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành phần khác nhau trong xã hội thuộc phạm vi quốc gia Khi hiểu về bình đẳng giới cần được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Trang 23+ Bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống hệt nhau,
mà sự tương đồng và khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ được công nhận và có giá trị như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng, công bằng
Tóm lại, bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người và là yêu cầu về sự phát triển bền vững Có thể nói, ý nghĩa quan trọng của bình đẳng giới là nam và nữ có thể có những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, họ có cơ hội
để tham gia đóng góp và hưởng thụ trong tất cả các lĩnh vực
1.1.3 Khái niệm lao động, khu công nghiệp và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm về lao động
Lao động là một phạm trù kinh tế, một mặt, lao động là quá trình tác động giữa con người với tự nhiên, trong quá trình đó, con người cải biến những vật tự nhiên làm cho nó thích ứng với nhu cầu của mình Mặt khác, lao động luôn luôn được tiến hành trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan hệ nhất định giữa người với người trong quá trình tác động vào tự nhiên
Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người Con người phải vận dụng sức lực tiềm tàng trong cơ thể mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên một cách có mục đích, ý thức nhằm biến đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình Vì vậy, trong bất cứ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại, lao động bao giờ cũng là yếu tố cơ bản, điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội loài người, là sự tất yếu vĩnh viễn, một điều kiện chung của
Trang 24ra bản thân con người
Từ khi con người xuất hiện, con người đã tiến hành các hoạt động như kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật…trong đó hoạt động kinh tế giữ vị trí trung tâm và là cơ sở cho các hoạt động khác Để tiến hành các hoạt động này, trước hết con người phải tồn tại Con người muốn tồn tại thì phải được đáp ứng các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại Muốn vậy, con người phải sản xuất và không ngừng sản xuất, sản xuất vật chất ngày càng phát triển thì càng đòi hỏi ở con người chức năng sáng tạo và luôn đòi hỏi người lao động nâng cao trình độ mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Có thể thấy nhu cầu của con người thường được thể hiện ở ba mặt: nhu cầu sinh tồn, phát triển
và hưởng thụ về vật chất; nhu cầu về tinh thần; nhu cầu hoạt động lao động
C.Mác dự đoán trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, năng suất lao động xã hội cao, sản phẩm sản xuất ra quá dư thừa đủ để thực hiện phân phối theo cơ chế làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, khi đó lao động là nhu cầu đầu tiên của đời sống con người; còn trong giai đoạn hiện nay, thời kỳ đầu của quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, năng suất lao động chưa cao, chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của con người, thì lao động vẫn còn là phương tiện sinh sống của con người Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên và xã hội loài người Do vậy, ở các quốc gia cũng như ở nước ta, vấn đề lao động luôn luôn được coi trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 2515
Từ xa xưa con người đã biết làm lụng, tìm kiếm thế giới xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình Khi xã hội phát triển, những hoạt động lao động sản xuất nói chung ấy, được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và người lao động được làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình Mỗi người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội Từ đó cho thấy lao động có sự liên quan chặt với vấn đề việc làm
Tóm lại, lao động là một hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các yếu tố của tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống con người
1.1.3.2 Khái niệm về khu công nghiệp
Trên thế giới loại hình khu công nghiệp đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn
100 năm, bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,…và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa, trong đó có Việt Nam Tùy điều kiện từng nước mà khu công nghiệp có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của khu công nghiệp
Tại Việt Nam khái niệm về khu công nghiệp đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ; Luật đầu tư năm 2005; văn bản mới nhất có định nghĩa
về khu công nghiệp là Luật đầu tư 2014 Theo quy định của Luật đầu tư 2014 khu công
nghiệp được định nghĩa như sau: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”
[khoản 11, Điều 3, luật Đầu tư 2014]
1.1.3.3 Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Trang 2616
Pháp luật về bình đẳng giới là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế
Có thể thấy rằng hiện nay ở hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc tuyển dụng lao động làm việc của các doanh nghiệp chủ yếu nhằm mang lại hiệu quả lợi nhuận kinh tế mà chưa quan tâm đến các quy định của pháp luật về bình đẳng giới
Chẳng hạn luật bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động hay Bộ luật lao động đều có những quy định không được phân biệt đối xử về giới khi tuyển dụng khi điều kiện việc làm cho nam và nữ là như nhau, nhưng trên thực tế thường có sự ưu tiên đối với lao động
là nam giới hơn so với nữ giới, vì vậy đã hạn chế việc làm cho lao động nữ gây nên sự bất bình đẳng trong lao động tại các khu công nghiệp
Như vậy, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp là thực hiện các biện pháp nhằm đưa những quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong lao động đến các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm giúp cho các doanh nghiệp có nhận thức đúng các quy định của pháp luật về bình đẳng giới và điều chỉnh hành vi của mình một cách hợp pháp, góp phần đưa những quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động vào thực tiễn cuộc sống
1.1.4 Vai trò của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động được xem xét dựa trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, đảm bảo bình đẳng trong tìm kiếm việc làm: Thực hiện bình đẳng giới
trong lĩnh vực lao động là một trong những nội dung quan trọng và cơ bản nhất về bình đẳng nam, nữ trên phạm vi toàn cầu, trong từng quốc gia kể cả ở Việt Nam Lao động
Trang 2717
nhằm tạo ra thu nhập là động lực của người lao động, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội Thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động thể hiện trước hết ở chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tạo ra tiền đề vật chất: công nghệ, kĩ thuật, vốn và môi trường pháp lý để tạo việc làm và tự tạo việc làm của người lao động là cần thiết khách quan, góp phần tăng thu nhập ổn định cuộc sống và giữ gìn hạnh phúc của mỗi gia đình tạo cơ sở để phát triển xã hội ổn định Giảm thiểu được bất bình đẳng giới trong lao động và tiến tới đảm bảo được bình đẳng không chỉ góp phần giải phóng sức lao động, tận dụng nguồn lực, lành mạnh thị trường lao động
mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, đảm bảo quyền lao động và xóa bỏ sự phân biệt: Bất bình đẳng giới trong
lao động là một trong những nguyên nhân gây ra đói nghèo, cản trở lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đồng thời đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong các cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục và đào tạo, việc lựa chọn ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, cải thiện sức khỏe tạo ra sự phân công lao động, vị trí công việc trong cùng một ngành nghề lĩnh vực cũng có những sự khác biệt rõ rệt làm ảnh hưởng đến sự khác biệt trong thu nhập Bất bình đẳng giới trong lao động cũng là nguyên nhân làm cho phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận hơn đối với các dịch vụ cũng như nguồn lực cơ bản khác như: thị trường lao động, nguồn vốn điều này cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc cải thiện tình trạng và vị thế kinh tế của phụ nữ Vì vậy thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lao động vừa là thực hiện quyền quan trọng của con người, vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động làm hiện thức hóa đầy đủ tiềm năng và hạnh phúc của con người
Như chúng ta biết, phát triển nguồn nhân lực có liên quan trực tiếp đến chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống có thể hiểu là mức độ phúc lợi xã hội và sự thõa mãn một số nhu cầu của con người Chất lượng cuộc sống càng cao, mức độ phúc lợi xã hội và sự thõa mãn nhu cầu của con người càng cao và càng thích ứng Do đó, có lao động tạo ra thu nhập do công việc đem lại được coi là hai yếu tố quan
Trang 2818
trọng trong các yếu tố cốt lõi cấu thành chất lượng cuộc sống của con người Với tư cách
là con người, lao động nữ cần có sự bình đẳng trong lao động để tự khẳng định mình có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cân bằng cuộc sống Có lao động sẽ có thu nhập chính đáng để trang trải cuộc sống trước hết cho bản thân mình, cho con cái và các thành viên khác trong gia đình mình, từ đó giúp lao động nữ có lòng tin đối với xã hội và cũng chính là điều kiện thực hiện được quyền cơ bản nhất trong Hiến pháp, đó là quyền lao động Đảm bảo bình đẳng giới trong lao động là biện pháp trung tâm của mọi quốc gia,
nó không chỉ giải quyết các vấn đề về kinh tế mà còn cả vấn đề xã hội Khi lao động nữ
có việc làm phù hợp với năng lực, trình độ sẽ có thu nhập chính đáng, làm cho lao động
nữ yên tâm về tư tưởng và tránh khỏi thất nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội Vì vậy trong chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn năm
2011 – 2020 đã đề ra và đang tập trung thực hiện mục tiêu: “Tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi thực hiện bình đẳng giới; từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020” [16, tr.1]
1.1.5 Ý nghĩa của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Thứ nhất, Vị trí quyết định của hoạt động lao động trong phát triển xã hội, phát triển con người
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thông qua các hoạt động lao động giúp chuyển con người từ vượn thành người Thông qua hoạt động sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên, con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội
Trang 2919
Bởi vậy lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Hoạt động lao động của con người tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm giàu cho xã hội, nhờ đó xã hội phát triển tiến bộ Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì vật chất là cái quyết định ý thức Lao động tạo ra kinh tế, quy định sự phát triển của xã hội, xã hội phát triển được hay không trước hết phải trên cơ sở phát triển kinh tế Lao động là lĩnh vực quan trọng quyết định của đời sống xã hội, không có lao động sẽ không có thu nhập và không có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất, tinh thần của cả lao động nam và nữ, nhất là đối với lao động nữ, chất lượng cuộc sống giảm sút Cả lao động nam, nữ có việc làm, có thu nhập, một mặt góp phần xây dựng kinh tế gia đình, mặt khác góp phần vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi quá trình phát triển Phát triển của một quốc gia hay địa phương phải quan tâm đến hai nhân tố: sự phát triển tiềm lực chung như công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực có liên quan trực tiếp với chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống có thể hiểu là mức độ phúc lợi xã hội và sự thỏa mãn một số nhu cầu của con người Chất lượng cuộc sống càng cao, mức độ phúc lợi xã hội, sự thỏa mãn nhu cầu của con người càng cao và càng thích ứng Các yếu tố cốt lõi của chất lượng cuộc sống bao gồm: sức khỏe, giáo dục, công việc làm, tiền bạc (do có thu nhập), quan hệ xã hội, môi trường Do đó, có lao động có thu nhập do việc làm đem lại được coi là hai yếu tố quan trọng trong các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống của con người
Thứ hai, thực hiện bình đẳng giới trong lao động góp phần trực tiếp phát huy lực lượng lao động nam, nữ trong gia đình và ngoài xã hội
Để phát triển đất nước cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực con người trở thành yếu tố quan trọng nhất Nguồn lực con người bao gồm cả lao động nam và lao động
nữ, khi có bình đẳng giới sẽ phát huy được cả hai lực lượng lao động này, lao động nữ chiếm một nữa bầu trời, nếu họ được bình đẳng với nam giới họ sẽ phát huy hết tiềm
Trang 3020
năng, như vậy nguồn lực lao động sẽ có chất lượng hơn Thực hiện bình đẳng giới trong lao động, đồng nghĩa với việc giúp lao động nữ có điều kiện, cơ hội tìm kiếm việc làm như lao động nam, từ đó giúp họ tự khẳng định mình trong gia đình và ngoài xã hội, đồng thời cân bằng cuộc sống cho bản thân, cho con và các thành viên trong gia đình, qua đó giúp họ có lòng tin đối với xã hội, và cũng chính là điều kiện thực hiện quyền cơ bản nhất trong Hiến pháp, đó là quyền được lao động
Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết thì việc khắc phục và xóa bỏ dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực lao động, là điều kiện quan trọng nhất Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lao động sẽ tạo điều kiện cho lực lượng lao động yếu thế hơn (chủ yếu là lực lượng lao động nữ) có cơ hội tìm kiếm việc làm, góp phần phát huy được vai trò của họ trong quản lý gia đình, nuôi dạy con cái, giảm nghèo khổ, tăng thu nhập, đảm bảo sự bình đẳng nam nữ; phát triển thể lực, trí lực, tài năng, sáng tạo, cũng như nâng cao nhân cách, địa vị của người lao động, trong
đó có lao động nữ, đó còn là một trong những biện pháp hữu hiệu hạn chế sự phát sinh những tệ nạn xã hội, nhức nhối nhất là tệ nạn mại dâm Ý nghĩa sâu xa của việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lao động sẽ giúp lực lượng lao động yếu thế hơn tái sản xuất ra sức lao động mới tốt hơn, sinh và nuôi dưỡng được những đứa con khỏe mạnh, thông minh, góp phần xây dựng một tương lai tốt đẹp
Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lao động đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho lực lượng lao động yếu thế tránh được các yếu tố rủi ro xảy ra trong quá trình tìm kiếm việc làm, qua đó tạo cho lao động nữ cơ hội được độc lập về kinh tế, phát triển các mối quan hệ xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Thực hiện bình đẳng giới trong lao động cũng sẽ tạo cho lao động yếu thế được tiếp cận với các
cơ hội đào tạo và phát triển, nâng cao trình độ nhận thức, khắc phục dần và đi đến xóa bỏ định kiến về giới, từ đó tạo tiền đề vật chất (công nghệ, kỹ thuật, vốn và môi trường pháp lý) để tìm kiếm việc làm góp phần tăng thu nhập ổn định cuộc sống và giữ gìn hạnh phúc gia đình Điều này không chỉ có lợi cho bản thân người lao động mà còn có lợi cho gia đình, cộng đồng và toàn xã hội
Trang 31Hiện nay, trên thế giới, bất bình đẳng giới nói chung, bất bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động nói riêng mang tính phổ biến, nhiều nơi rất trầm trọng, là một thực tế cản trở không nhỏ đến thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế của nhiều nước Việt Nam hiện nay chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển, thậm chí vẫn đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế Cho nên, phát triển kinh tế phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới đất nước Phấn đấu bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động là một nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta hiện nay và đồng thời là cơ sở
để Việt Nam thực hiện được những cam kết quốc tế trong việc thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới nói chung và trong lĩnh vực lao động nói riêng
Tóm lại, thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động không chỉ xóa bỏ những
tư tưởng, định kiến về vai trò của người phụ nữ mà còn góp phần giải phóng sức sản xuất
ở phụ nữ, tạo ra lực lượng lao động dồi dào sản xuất của cải vật chất, xóa bỏ đói nghèo, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho con người, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Ngoài ra, thực hiện bình đẳng giới trong lao động còn nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện các cam kết
Trang 32số 57/NQ-CP năm 2010 ngày 01 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực hiện Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng
12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 Qua đó góp phần thực hiện bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, xóa bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ và nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội
Trong lĩnh vực lao động vấn đề thực hiện bình đẳng giới được pháp luật quy định
cụ thể tại Điều 13 của luật bình đẳng giới năm 2006 như sau: “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh”
Như vậy, nội dung của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động gồm có những nội dung cơ bản như sau:
Trang 3323
Thứ nhất, Về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng: Về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển
dụng người lao động theo Bộ luật lao động năm 2012 quy định việc tuyển dụng nam, nữ trong các nghề là bình đẳng Tuy nhiên, trong hầu hết các nghề mà pháp luật không cấm, trên thực tế vẫn thấy rằng nữ lao động vẫn không được tuyển dụng nhiều hơn nam Nhiều doanh nghiệp tuyển dụng lao động nữ lại đưa thêm các quy định về điều kiện tuyển dụng ngoài pháp luật lao động như: lao động nữ được tuyển dụng sau một thời gian nhất định mới được kết hôn hoặc mới được phép sinh con
Thứ hai, Về tiền lương và thu nhập: do tiền lương và tiền công phụ thuộc vào kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế nên vấn đề này đã bảo đảm được tính công bằng không
có sự phân biệt đối xử về giới Tuy nhiên, trung bình tiền lương chính của lao động nữ vẫn thấp hơn so với lao động nam do nữ giới có trìn độ trung bình thấp hơn so với nam giới nên phải làm những công việc có lương thấp hơn so với nam Vì vậy, để đạt được bình đẳng giới cần phải có chính sách giáo dục đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho lao động nữ, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho lao động nữ
Thứ ba, pháp luật không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, nhưng vẫn còn sự
bất bình đẳng trên thực tế
Thứ tư, thực hiện bình đẳng trong tuyển dụng và sử dụng lao động: Nhà nước bảo
đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới
Thứ năm, Không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối
với lao động nữ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có
sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam
và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được Khoản 3 điều 13 Luật bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm: Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; Người sử dụng lao động tạo điều
Trang 34về việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong tại các khu công nghiệp, công nhân lao động được hướng dẫn, phổ biến, tư vấn các quy định của pháp luật về bình đẳng giới và trang bị những kỹ năng sống cần thiết, đặc biệt là đối với lao động nữ để có thể biết tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các quan hệ lao động như các chế độ bảo hiểm của người lao động, điều kiện để người sử dụng lao động sa thải người lao động
Sau khi triển khai thực hiện có tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá rút kinh nghiệm cho việc thực hiện được tốt hơn, qua đó góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân nói chung và công nhân lao động nói riêng về bình đẳng giới
1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Trang 3525
Theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì thời gian làm việc của người lao động mỗi tuần 48 giờ, mỗi ngày làm việc ít nhất 8 giờ (không tính thời gian làm thêm), như vậy đối với công nhân các khu công nghiệp nói chung và khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp ở Bến Tre nói riêng thì mỗi tuần các công nhân lao động phải làm việc
từ ngày thứ hai đến ngày thứ bảy
Trong quá trình làm việc thì người lao động tập trung vào công việc chuyên môn nên các hoạt động về phong trào và tuyên truyền chính sách pháp luật đối với người lao động tại các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn Từ thực tế đó mà trong thời gian qua, các cấp, các ngành, đặc biệt là các tổ chức Công đoàn tại các doanh nghiệp đã sử dụng các hình thức tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới phù hợp với điều kiện thực tiễn tại các doanh nghiệp nhằm giúp công nhân lao động tại các doanh nghiệp có sự hiểu biết về các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Cụ thể: “Công đoàn các khu công nghiệp phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, phối hợp với Đài phát thanh – truyền hình xây dựng chuyên mục Vì sự tiến bộ phụ nữ phát 2 kỳ/tháng được phát sóng trên Đài, phối hợp với Báo Đồng Khởi phát hành chuyên trang Vì sự tiến bộ phụ nữ phát 2 kỳ/tháng, đăng tải thông tin trên Website: www.congtacxahoi.bentre.vn của Trung tâm công tác xã hội và Website: www.sldthxh.bentre.gov.vn của Sở Lao động Thương binh và xã hội Bến Tre các nội dung liên quan đến bình đẳng giới” [14, tr.4]
Bên cạnh đó còn phát hành các thông điệp truyền thông về hình ảnh người phụ nữ tham gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội để nâng cao nhận thức, làm thay đổi hành vi của người dân đối với vai trò của người phụ nữ trong xã hội nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm khoảng cách về giới trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lao động In và phát hành các tờ rơi, quyển sổ tay, xây dựng các Pano, áp phích để tuyên truyền về Luật Bình đẳng giới cũng như Luật phòng, chống bạo lực gia đình Ngoài ra,
Sở Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh và Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bến Tre tổ chức các cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật về Bình đẳng
Trang 36Tóm lại, về các hình thức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp ở Bến Tre trong thời gian vừa qua tương đối đa dạng, thông qua các phương tiện truyền thông, báo đài, phát tờ rơi, tờ bướm, sổ tay, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng việc thực hiện các hình thức thực hiện pháp luật trên trên còn một số chưa mang lại hiệu quả cao, do điều kiện làm việc của người lao động tại các khu công nghiệp Theo báo cáo của Công đoàn các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre thì hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật mang lại hiệu quả cao đó là phát tờ rơi, tờ bướm, sổ tay và in các bảng Pano, áp phích Qua đó phần nào làm thay đổi được nhận thức của công nhân lao động cũng như doanh nghiệp về thực hiện bình đẳng giới trong lao động tại các khu công nghiệp
1.3 Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Thứ nhất, Sự quan tâm của lãnh đạo các ngành các cấp, các doanh nghiệp, các tổ
chức chính trị xã hội, đây là hoạt động thiết thực và cần thiết
Trang 3727
Có thể thấy, công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được sự quan tâm lớn của TU, UBND và lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh thông qua việc ban hành nhiều Chương trình hành động, Chỉ thị, Kế hoạch thực hiện về bình đẳng giới như: Chương trình hành động số 13 – CTr/TU ngày 18 tháng 6 năm 2007 của Ban Thường vụ
TU Bến Tre; Kế hoạch số 2652/KH-UBND ngày 06 tháng 7 năm 2010 của UBND tỉnh Bến Tre về đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới; Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 04 tháng 5 năm 2013 về việc tăng cường thực hiện công tác bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Kế hoạch số 3805/KH-UBND ngày 01 tháng 9 năm 2011 về việc triển khai thực hiện Chương trình Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015, Kế hoạch số 1402/KH-UBND ngày
29 tháng 3 năm 2016 về việc triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 – 2020; Kế hoạch số 327/KH-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2017 của UBND tỉnh Bến Tre về thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tỉnh Bến Tre giai đoạn
2016 – 2020
Các cấp, các ngành, các doanh nghiệp có sự phối hợp triển khai thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới góp phần xóa bỏ các định kiến xã hội lạc hậu, lỗi thời đối với phụ nữ, từng bước nâng cao vai trò của phụ nữ trong thời kì mới, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm Trong đó cần nâng cao nhận thức của lãnh đạo các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài trong việc thực hiện chính sách pháp luật về bình đẳng giới ở nước ta, thực hiện công bằng, bình đẳng trong lao động như điều kiện tuyển dụng, làm việc, tiền lương, tiền thưởng đối với người lao động nữ
Thứ hai, Cần có các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể và đảm bảo nguồn lực về
tài chính để công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới luôn khả thi
Khó khăn lớn nhất trong việc triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch về thực hiện bình đẳng giới đó chính là bố trí nguồn lực tài chính, chính việc nguồn kinh phí chưa được bố trí đầy đủ nên trong quá trình thực hiện các đề án, kế hoạch đã làm cho công tác triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn và chưa mang lại hiệu quả cao Ví dụ như: nguồn
Trang 3828
kinh phí để đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, kĩ năng những người thực hiện công tác bình đẳng giới, kinh phí để trang bị phương tiện, cơ sở vật chất như in pano, áp phích, tờ rơi, sổ tay để phổ biến, tuyên truyền pháp luật; kinh phí bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tạo động lực làm việc cho họ Vì vậy để triển khai thực hiện có hiệu quả công tác này đòi hỏi lãnh đạo các cấp, các ngành cần quan tâm đầu tư bố trí một nguồn kinh phí đảm bảo để công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới luôn khả thi
Thứ ba, Cần có đội ngủ cán bộ làm công tác bình đẳng giới trong các doanh nghiệp
có kĩ năng, kiến thức pháp luật về bình đẳng giới luôn năng động, nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc được giao nhằm đạt được kết quả cao nhất
Nhìn chung trong thời gian qua việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới tại các khu công nghiệp chủ yếu được thực hiện bởi những cán bộ kiêm nhiệm, chưa được đào tạo một cách bài bản, kiến thức pháp luật về bình đẳng giới, kỹ năng thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến còn hạn chế, vì vậy ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp Bên cạnh đó cần có đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình trong công việc, hết lòng với công việc, bởi việc thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới hiện nói chung nguồn kinh phí bố trí để thực hiện kế hoạch, đề án còn nhiều hạn chế Cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới tại các doanh nghiệp chủ yếu thực hiện trên tinh thần tự nguyện, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này còn khá khiêm tốn, chưa tạo được động lực để họ làm việc trên tinh thần trách nhiệm cao
Thứ tư, Cần tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá mặt đạt được, mặt hạn chế trong
thực hiện công tác về bình đẳng giới trong lao động tại các khu công nghiệp
Có thể nói việc sơ kết, tổng kết về kết quả thực hiện bình đẳng giới tại các khu công nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả trong thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới, bởi thông qua việc sơ kết, tổng kết sẽ đánh giá được những mặt đã làm được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó Qua đó, rút ra
Trang 3929
những bài học kinh nghiệm trong việc chỉ đạo triển khai tổ chức ở những năm sau, trên
cơ sơ phát huy những ưu điểm đã đạt được, đồng thời nghiên cứu những giải pháp nhằm khắc phục mặt hạn chế còn tồn tại, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
Trang 4030
Tiểu kết chương 1
Trong chương một của luận văn nêu lên những cơ sở lý luận thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp của tỉnh Bến Tre Toàn
bộ nội dung chương một của luận văn được thể hiện trong những vấn đề cơ bản sau: thứ nhất, khái niệm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp; thứ hai, chủ trương nội dung thực hiện và hình thức của thực hiện pháp luật
về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động trong các khu công nghiệp; thứ ba, các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp
Qua việc nghiên cứu lý luận thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp ở Bến Tre, để từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp ở chương hai và những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động tại các khu công nghiệp ở chương ba