1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp

94 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 737,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau gần 10 năm thực hiện BHYT học sinh, sinh viên theo Luật BHYT 2008 và nhất là thực hiện Luật sửa đổi bổ sung của Luật BHYT 2014, trong gần 18 triệu học sinh, sinh viên của cả nước, cò

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _

LÊ NGỌC TRẦM

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _

LÊ NGỌC TRẦM

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS HỒ THỊ DUYÊN

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa, Hội đồng Khoa học và Đào tạo, quý thầy giáo, cô giáo khoa Luật, Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến người hướng

dẫn khoa học - Cô giáo - TS Hồ Thị Duyên, người đã tận tình giúp đỡ, hướng

dẫn và chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ y tế, cán bộ quản lý sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng đóng trên địa bàn tỉnh, các bạn đồng nghiệp

đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc học tập, thu thập và xử lý thông tin hoàn thành đề tài nghiên cứu luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc BHXH tỉnh Đồng Tháp, các anh chị lãnh đạo, chuyên viên các phòng nghiệp vụ thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và động viên tinh thần để tôi hoàn thành khóa học này

Mặc dù đã cố gắng hết mình, nhưng chắc chắn luận văn không sao tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Đồng Tháp, tháng năm 2018

Lê Ngọc Trầm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN 8

1.1 Khái niệm về thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế 8

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế 8

1.1.2 Phân biệt bảo hiểm y tế với bảo hiểm mang tính kinh doanh 9

1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức và vai trò thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên 11

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế 11

1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế 11

1.2.3 Các hình thức thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế 13

1.2.4 Vai trò của pháp luật Bảo hiểm y tế cho sinh viên 16

1.3 Pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên 19

1.3.1 Khái niệm và phạm vi pháp luật bảo hiểm y tế 19

1.3.2 Đối tượng áp dụng 20

1.3.3 Mức đóng, phương thức đóng bảo hiểm y tế 20

1.3.4 Quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên23 1.4 Những điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên27 1.4.1 Yếu tố hệ thống pháp luật bảo hiểm y tế 27

1.4.2 Yếu tố tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế 28

Trang 6

1.4.3 Ý thức pháp luật của sinh viên về việc tham gia bảo hiểm y tế 29

1.4.4 Yếu tố về cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực trong thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế 30

1.4.5 Công tác tuyên truyền chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế đến học sinh sinh viên 32

1.4.6 Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Nhà trường 32

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP 35

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp 35

2.1.2 Khái quát tình hình sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 37

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 38

2.2.1 Tình hình thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 38

2.2.2 Mức đóng và mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho sinh viên 41

2.2.3 Quỹ bảo hiểm y tế cho sinh viên 42

2.2.4 Thẻ bảo hiểm y tế cho sinh viên 43

2.2.5 Cơ sở khám chữa bệnh cho sinh viên 44

2.2.6 Mức hưởng bảo hiểm y tế cho sinh viên 46

2.3 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 47

2.3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên 47

Trang 7

2.3.2 Những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế

cho sinh viên 53

2.3.3 Những nguyên nhân dẫn đến bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên 56

Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN 611

3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên thời gian tới 611

3.1.1 Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về bảo hiểm y tế, thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân nhằm từng bước đạt tới sự công bằng, hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ 611

3.1.2 Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên là chính sách xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện 622

3.2 Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trong giai đoạn hiện nay 644

3.2.1 Đối với Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan 644

3.2.2 Đối với hệ thống cơ quan Bảo hiểm xã hội 666

3.2.3 Đối với hệ thống ngành Y tế 69

3.2.4 Đối với ngành giáo dục tỉnh Đồng Tháp và các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh 700

Tiểu kết chương 3 788

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.2

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Từ đầy đủ

2 BHXH Bảo hiểm xã hội

3 BHYT Bảo hiểm y tế

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Mức thanh toán trực tiếp cho người có thẻ BHYT 24 Bảng 2.1 Số liệu sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng tham gia BHYT 38 Bảng 2.2 Số học sinh, sinh viên tham gia BHYT từ 2013-2017 39 Bảng 2.3 Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT tại các trường Đại học, Cao đẳng giai đoạn từ năm 2015-2017 40 Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại 04 trường Cao đẳng, Đại học 51 Bảng 2.5 Kinh phí trích chăm sóc sức khỏe ban đầu để lại trường giai đoạn năm 2015-2017 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách an sinh xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẽ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân Sức khỏe là một mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện theo đó chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khỏe cho thế hệ trẻ trong hệ thống trường học luôn là mối quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội

Luật BHYT mang một ý nghĩa rất nhân văn đó là làm hạn chế những thiệt thòi, rủi ro mang tính xã hội, tạo nền tảng cho việc thực hiện công bằng xã hội

và đảm bảo các hoạt động xã hội Quan điểm của nhà nước ta đối với chính sách BHYT rất rõ ràng: quan điểm tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội

Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu thực hiện từ năm 1992 Sau hơn 20 năm thực hiện, chính sách, pháp luật BHYT ngày càng hoàn thiện, khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước Là nhóm đối tượng được triển khai thực hiện từ những năm đầu, chính sách BHYT học sinh, sinh viên ngày càng khẳng định là một định hướng quan trọng, đúng đắn, có tính chiến lược, chăm lo phát triển nguồn lực con người Luật quy định lộ trình thực hiện BHYT học sinh, sinh viên

từ tự nguyện chuyển sang đối tượng bắt buộc tham gia BHYT Trong những năm qua, BHYT học sinh như làn gió mới, làm sống dậy hệ thống y tế trường học và mang lại nhiều ý nghĩa to lớn trong giáo dục đạo lý thương yêu đồng loại

“Thương người như thể thương thân”; thiết thực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của những chủ nhân tương lai của đất nước Trong điều kiện giá viện phí ngày

Trang 11

càng tăng cao hiện nay thì việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe học sinh, sinh viên thông qua cơ chế BHYT càng có ý nghĩa quan trọng, giúp gia đình các em vượt qua bẫy nghèo do ốm đau, bệnh tật để tiếp tục học tập, rèn luyện trau dồi kiến thức, trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội

Trong thực tiễn, việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế vẫn còn hạn chế, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người tham gia bảo hiểm y tế và mục tiêu chăm sóc sức khỏe của nhân dân nói chung, đối tượng học sinh, sinh viên nói riêng Sau gần 10 năm thực hiện BHYT học sinh, sinh viên theo Luật BHYT (2008) và nhất là thực hiện Luật sửa đổi bổ sung của Luật BHYT (2014), trong gần 18 triệu học sinh, sinh viên của cả nước, còn tới 7,5% học sinh sinh viên chưa tham gia vào chính sách bảo hiểm y tế (khoảng 1,5 triệu người) và tỉnh Đồng Tháp còn gần 15,41% số HSSV chưa có thẻ BHYT, nguyên nhân là do còn nhiều phụ huynh chưa thấy lợi ích từ việc tham gia BHYT và do Luật BHYT quy định BHYT học sinh, sinh viên là đối tượng bắt buộc tham gia BHYT nhưng vẫn chưa có biện pháp chế tài Là thế hệ trẻ của đất nước, học sinh sinh viên cần được quan tâm chăm sóc sức khoẻ của cả cộng đồng để sẵn sàng gánh vác trách nhiệm lớn lao trong tương lai

Để việc triển khai BHYT học sinh, sinh viên theo quy định của Luật BHYT ngày càng tốt hơn, góp phần đảm bảo thực hiện mục tiêu Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020 và Quyết định số 538/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020, việc nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nhằm làm rõ những mặt hạn chế, tồn tại, góp phần đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật BHYT trở nên hết sức cấp bách không chỉ riêng cho Tỉnh, mà còn là vấn đề quan tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân ở nước ta hiện nay Đây cũng chính là lý do tác giả lựa

Trang 12

chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường

Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn Thạc sĩ ngành

Luật học, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài

Vấn đề thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế nói chung và thực hiện pháp luật BHYT cho học sinh, sinh viên trong thời gian qua đã được nhiều nhà nghiên

cứu quan tâm ở các phương diện khác nhau Cụ thể:

Nhóm các công trình nghiên cứu:

- Đặng Thị Lệ Xuân (2011), Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Lý luận - thực

tiễn và giải pháp”,luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Luận án chỉ

ra rằngthị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe Việt Nam hiện nay không thỏa mãn những tiêu chí của thị trường cạnh tranh hoàn hảo Xuất phát từ đặc thù sức khỏe, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dựa trên phân tích các thất bại của thị trường y tế, luận án xây dựng hệ thống 17 nguyên tắc mà cơ chế y tế cần đảm bảo để đạt mục tiêu chăm sóc sức khỏe công bằng và hiệu quả Hệ thống các nguyên tắc này được luận án sử dụng để phân tích, đánh giá bốn phương thức xã hội hóa y tế cơ bản hiện nay Về khía cạnh lý thuyết, luận án chỉ ra rằng không

có một phương thức xã hội hóa y tế nào có thể thỏa mãn đồng thời cả 17 nguyên tắc đó tức không thể có một phương thức xã hội hóa y tế nào thực sự hoàn hảo

- Trương Bảo Thanh (2014), Chính sách cạnh tranh trong cung ứng

dịch vụ y tế ở Việt Nam, ĐHQG Hà Nội Luận án đã xây dựng khung lý thuyết

về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế; dựa trên khung lý thuyết này sẽ phân tích đánh giá thực trạng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch

vụ y tế ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các quan điểm và các giải pháp hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam

- Chu Thị Kim Loan - Nguyễn Hồng Ban (2013), “Thực trạng tham

gia Bảo hiểm y tế tự nguyện ở tỉnh Hà Tĩnh”, Tạp chí Khoa học và Phát triển,

tập 11, số 1: 115 -124 Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng tham gia bảo

Trang 13

hiểm y tế (BHYT) tự nguyện của người dân trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của họ Nghiên cứu tiến hành điều tra tỉnh Hà Tĩnh Kết quả điều tra cho thấy: Số lượng người tham gia BHYT tự nguyện có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn trong tổng

số người tham gia bảo hiểm y tế; Tỷ lệ người dân sử dụng thẻ BHYT tự nguyện khi khám chữa bệnh là khá cao; Người dân vẫn gặp những phiền hà khi KCB bằng thẻ BHYT tự nguyện, đặc biệt là hiện tượng phải chờ đợi lâu, nhân viên y tế chưa nhiệt tình Kết hợp với ý kiến của người được phỏng vấn, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy người dân tham gia BHYT tự nguyện tại tỉnh Hà Tĩnh

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả, đề cập về vấn đề BHYT và BHYT HS, SV dưới nhiều góc độ khác nhau, đồng thời chỉ ra những thách thức, khó khăn, những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHYT và nêu ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm giải quyết những vấn đề trên Tuy vậy, các công trình trên mới chỉ đề cập đến những vấn

đề kinh tế - xã hội trên phạm vi rộng cả nước hoặc vùng Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, đặc biệt là các vấn đề nảy sinh khi thực hiện chính sách ở tỉnh Đồng Tháp dưới góc độ Luật học Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này là nhiệm vụ cần thiết Đề tài không trùng lắp với các công trình đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn trên cơ sở tiếp cận chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, mục đích của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế nói chung và thực hiện pháp luật Bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng nói riêng; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật

về BHYT cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Trên cơ sở đó, đề xuất giải

Trang 14

pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật BHYT và các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật BHYT;

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về BHYT cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp;

- Đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả xác định đối tượng

nghiên cứu của luận văn là:

- Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật BHYT cho sinh viên

- Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

- Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về BHYT cho học sinh, sinh viên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là thực hiện pháp luật về bảo hiểm

y tế cho sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn tiếp cận trên quan điểm duy vậy lịch sử, duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, khoa học pháp lý, lý luận về quyền con người trong lĩnh vực an sinh xã hội

Phương pháp nghiên cứu của Luận văn bao gồm phương pháp so sánh,

Trang 15

phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp… Tất cả các phương pháp trên đều được vận dụng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như các phương pháp tiếp cận khách quan, khoa học khác để từ đó rút ra những kết luận làm sáng tỏ mục đích của luận văn, phục vụ cho lý luận và thực tiễn

6 Những đóng góp mới của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn trình bày khoa học và có hệ thống những vấn đề lý luận về BHYT, thực hiện pháp luật BHYT, từ đó đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật BHYT cho học sinh, sinh viên Đồng thời, luận văn giới thiệu tổng quan về thực hiện pháp luật BHYT bao gồm, đặc điểm vai trò, nội dung và những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm y tế cho sinh viên

Luận văn làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên, thông qua việc trình bày, đánh giá chung về việc thực hiện pháp luật BHYT cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn đã đề cập tới những vấn đề mà trong quá trình thực hiện luật BHYT hiện hành còn khó khăn vướng mắc, những giải pháp nhằm đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về BHYT nói chung và tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng Qua đó, đề xuất điều chỉnh,

đề ra những giải pháp cho phù hợp với thực tế nhằm khắc phục nhanh những tồn tại, hạn chế trong công tác thực hiện pháp luật về BHYT cho học sinh, sinh viên thời gian qua, góp phần hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Trang 16

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho

sinh viên

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh

viên

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN

1.1 Khái niệm về pháp luật bảo hiểm y tế

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế là sự san sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng, là giải pháp hữu hiệu để mọi người vượt qua bệnh tật Theo đó người khoẻ mạnh giúp

đỡ người bị bệnh về mặt tài chính để họ được sử dụng thuốc men, trang thiết bị

y tế sớm bình phục sức khoẻ Trên thế giới, không một quốc gia nào có thể khẳng định ngân sách nhà nước đủ để chăm lo sức khoẻ cho toàn cộng đồng

mà không có sự huy động của các thành viên trong xã hội Càng ngày BHYT càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống con người BHYT là cần thiết với tất cả mọi người do nó có tác dụng rất thiết thực Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã triển khai BHYT dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam BHYT “là loại bảo hiểm do Nhà nước

tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng

xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân” Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức

Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật

BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật, BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng

Trang 18

Theo Khoản 2 Điều 1 Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014, BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng

ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó, mà không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT

1.1.2 Phân biệt bảo hiểm y tế với bảo hiểm mang tính kinh doanh

BHYT và bảo hiểm mang tính kinh doanh (gọi chung là bảo hiểm thương mại, ví dụ: bảo hiểm nhân thọ) giống nhau ở mục đích cuối cùng là góp phần bảo đảm cho quá trình sản xuất xã hội diễn ra bình thường, đời sống của các thành viên trong xã hội an toàn và ổn định Đối tượng tham gia của BHYT và bảo hiểm thương mại là toàn dân

Tuy nhiên BHYT khác bảo hiểm thương mại ở chỗ:

- BHYT không mang tính kinh doanh, mang tính cộng đồng và nhân đạo, nhân văn sâu sắc, không kinh doanh vì lợi nhuận nhưng bảo hiểm thương mại mang tính chất kinh doanh

- BHYT có quan hệ lâu dài, tương đối ổn định, bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế, trong khi quan hệ của bảo hiểm thương mại thường chỉ phát sinh và tồn tại trong một khoảng thời gian xác định khi tham gia mua bảo hiểm hoặc ký hợp đồng bảo hiểm, hoạt động theo quy luật lấy sự đóng góp của số đông để bù đắp cho rủi ro của số ít

- Đối tượng bảo hiểm của BHYT chủ yếu là sức khỏe của người dân trong khi các hình thức bảo hiểm khác lựa chọn tài sản, trách nhiệm, sức khỏe, tính mạng con người… làm đối tượng bảo hiểm

- Quỹ BHYT do người tham gia BHYT (người lao động, người sử dụng

Trang 19

lao động, hộ gia đình…) đóng góp và sự hỗ trợ từ nhà nước trong khi các quỹ bảo hiểm khác chỉ do người tham gia bảo hiểm đóng góp

- Hoạt động BHYT chịu sự quản lý của nhà nước và được nhà nước bảo trợ, quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được nhà nước bảo hộ Trong khi bảo hiểm thương mại chủ yếu có hai bên, người có nhu cầu bảo hiểm và người nhận bảo hiểm, điều khoản hợp đồng bảo hiểm là một phần không thể tách rời của bộ hợp đồng bảo hiểm thương mại

Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai chính sách BHYT học sinh, sinh viên gắn với y tế trường học từ rất lâu Tại Australia, Anh,

Mỹ, Nhật, Ai Cập, Philippines, Thái Lan, Singapore… BHYT học sinh, sinh viên và y tế trường học được xem là một giải pháp cơ bản, lâu dài để chăm sóc sức khỏe cho thế hệ tương lai Hệ thống y tế trường học phát triển mạnh, hoạt động có hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục kiến thức về sức khỏe cho học sinh BHYT học sinh, sinh viên trong thực tế đã có tác dụng chăm lo cho thế hệ trẻ một cách toàn diện Ngoài việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, thông qua chính sách BHYT còn giáo dục cho các em nhận thức tốt về tính cộng đồng, nhân ái, nhân văn, nâng cao giá trị nhân cách và lối sống trong xã hội hiện đại ngày nay Khi tham gia BHYT các em sẽ thấy được BHYT có tác dụng tốt đối với bạn bè, mọi người chung quanh và ngay cả bản thân chính mình; học được cách chia sẻ khó khăn đồng cảm với những người không may gặp rủi ro, bệnh tật Chính nhân cách sống ấy sẽ hình thành trong các em và đồng hành cùng các

em trong suốt cuộc đời cũng như lưu truyền lại cho muôn thế hệ đời sau Đây là nền tảng tạo ra bản sắc văn hóa, tính cách văn minh trong mỗi con người của một dân tộc

Trang 20

1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức và vai trò thực hiện pháp luật

bảo hiểm y tế cho sinh viên

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế

Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế là một trong những lĩnh vực của thực hiện pháp luật nói chung

Theo lý luận nhà nước và pháp luật, thực hiện pháp luật được hiểu là:

“Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những

quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế là hành vi của các cá nhân, tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm làm cho các quy định của pháp luật về BHYT được thực hiện trong thực tế cuộc sống

1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế

Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu từ khi pháp luật xuất hiện, với các đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước Để quản lý xã hội Nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện chúng trong đời sống thực tế làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực Nhà nước xây dựng pháp luật BHYT để tổ chức thực hiện pháp luật BHYT

- Thứ hai: Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi của con người

- Thứ ba: Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau, tiến hành với nhiều cách thức, trình tự, thủ tục khác nhau Thực hiện pháp luật có thể là hành

vi của mỗi cá nhân, có thể là hoạt động của cơ quan nhà nước tổ chức xã hội

Cách thức thực hiện pháp luật cũng khác nhau: hành động, không hành động Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể cũng

Trang 21

có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước

Thực hiện pháp luật BHYT là hành vi của các cá nhân, tổ chức xã hội, các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm làm cho các quy định của pháp luật về BHYT được thực hiện trong cuộc sống

Thực tế ở nước ta, hoạt động xây dựng pháp luật đã đạt nhiều thành tựu, vấn đề khó khăn thường trực hiện nay là lĩnh vực thực hiện pháp luật còn hạn chế, trong đó có việc thực hiện pháp luật BHYT Pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và giá trị trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, duy trì trật

tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi quy phạm pháp luật được tôn trọng

và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống

Thực hiện pháp luật với những hình thức khác nhau chính là cách hiện thực hóa các quy định pháp luật vào cuộc sống Hiến pháp năm 2013 đã được ban hành với nhiều quy định tiến bộ, đặc biệt là về chế định quyền con người, quyền công dân Bốn năm gần đây, Nhà nước đã tập trung triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013, trong đó có liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Luật BHYT

Nhà nước ban hành pháp luật BHYT để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể nhằm đảm bảo quyền lợi về chăm sóc sức khỏe của người dân tham gia BHYT Bằng hoạt động thực hiện pháp luật BHYT mà các quy định của pháp luật BHYT đi vào cuộc sống nhằm đạt được lợi ích về chăm sóc sức khỏe của mỗi thành viên cũng như cả cộng đồng xã hội Thực hiện pháp luật BHYT còn giúp phát hiện những hạn chế, bấp cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, hoàn thiện cơ chế pháp lý - xã hội để đảm bảo thực hiện pháp luật trong cuộc sống

Pháp luật BHYT là một bộ phận cấu thành cơ bản của chính sách an sinh

xã hội, bảo vệ sức khỏe nhân dân Nhà nước ta với bản chất nhân dân, có trách nhiệm tổ chức, đảm bảo cho pháp luật BHYT được tuân thủ, tôn trọng, đáp

Trang 22

ứng những nguyên tắc cơ bản của quyền con người theo các tiêu chuẩn đã định Người dân, các tổ chức của người dân trong nhà nước pháp quyền có quyền và bổn phận công dân trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật BHYT, vừa đảm bảo quyền của họ vừa bảo đảm quyền, lợi ích của toàn xã hội Mục đích của thực hiện pháp luật là hiện thực hóa các quy định về pháp luật Tuy nhiên, vẫn còn có sự mất cân đối giữa xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật

Thực hiện pháp luật BHYT đòi hỏi không chỉ từ ý thức trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà còn liên quan đến các chủ thể tham gia như bản thân mỗi cá nhân, lãnh đạo các tổ chức nơi các cá nhân làm việc sinh sống Trên thực

tế, người dân như sinh viên, học sinh, công chức, viên chức, người công nhân, nông dân còn ít hiểu biết về những quy định pháp luật BHYT liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình

1.2.3 Các hình thức thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên

Lý luận pháp luật đã phân định thành bốn hình thức thực hiện pháp luật là: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Liên hệ vào thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế, có các hình thức thực hiện pháp luật sau:

- Hình thức thực hiện pháp luật thứ nhất: Tuân thủ pháp luật là hình thức

thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những hành vi bị pháp luật ngăn cấm

Theo điều 11, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, những hành vi sau đây bị nghiêm cấm thực hiện: Gian lận, giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế; sử dụng tiền đóng bảo hiểm y tế, quỹ bảo hiểm y tế sai mục đích; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm y tế và của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế; cố ý báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về bảo hiểm y tế; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chuyên

Trang 23

môn, nghiệp vụ để làm trái với quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế

- Hình thức thứ hai của thực hiện pháp luật là chấp hành pháp luật, là một

hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực

Điều 37 Luật BHYT, người tham gia bảo hiểm y tế có nghĩa vụ: đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn; sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế; thực hiện đúng các quy định khi đến khám bệnh, chữa bệnh; chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi đến khám bệnh, chữa bệnh; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài phần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả

Theo quy định tại Điều 41 Luật BHYT tổ chức bảo hiểm y tế có nghĩa vụ: hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, nơi đăng ký tham gia bảo hiểm y tế và tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm y tế, bảo đảm nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện cho người tham gia bảo hiểm y tế; quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế; ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; kiểm tra chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; giám định bảo hiểm y tế; bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế;

- Hình thức thực hiện pháp luật thứ ba là sử dụng pháp luật:

Sử dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ

thể pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép

Theo quy định tại Điều 36 Luật BHYT, người tham gia BHYT có quyền: được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế; được đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tại đại lý bảo hiểm y tế trong phạm vi cả nước; được lựa chọn

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu; được khám bệnh, chữa bệnh; được tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế; yêu cầu tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa

Trang 24

bệnh bảo hiểm y tế và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ bảo hiểm y tế; khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế

- Hình thức thứ tư là áp dụng pháp luật:

Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể Để đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân, Tại Đại hội lần thứ XII của Đảng tháng 01/2016, Nghị quyết Đại hội Đảng một lần nữa khẳng định: “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách BHYT cho toàn dân”, “Đẩy nhanh tiến độ thực hiện BHYT toàn dân” ngày 28/6/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1167/QĐ-TTg về điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2016-2020, theo đó, đến hết năm 2016, cả nước phấn đấu đạt 79% dân số tham gia BHYT (thực tế đến hết năm 2016, đã đạt 81,8% dân số, vượt 2,8% so với chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao), đến hết năm 2020, đạt 90% dân số tham gia BHYT, cao hơn 10% so với chỉ tiêu mà Bộ Chính trị và Quốc hội đã đề ra Riêng đối với nhóm đối tượng học sinh, sinh viên, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo hết sức quyết liệt: “Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT cho học sinh, sinh viên, đảm bảo đến năm 2017 có 100% đối tượng này tham gia BHYT; chỉ đạo các cơ sở giáo dục, đào tạo trong toàn quốc tổ chức thực hiện pháp luật về BHYT của học sinh, sinh viên”

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong những năm học gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều văn bản chỉ đạo các cơ sở giáo dục đào tạo triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng tỷ lệ bao phủ BHYT học sinh, sinh viên; đồng thời, chỉ đạo các sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với BHXH các tỉnh, thành phố tham mưu, đề xuất với UBND các cấp về mức hỗ trợ BHYT đối với học sinh, sinh viên từ ngân sách của địa phương ngoài mức hỗ trợ 30% từ

Trang 25

ngân sách Trung ương Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Y tế, BHXH Việt Nam, UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị số 23/2006/CT-TTg ngày 12/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ và triển khai có hiệu quả Thông tư số 13/2016/TTLT-BYT-BTC-BGDĐT ngày 12/05/2016 của Liên

Bộ quy định về công tác y tế trường học Như vậy, có thể thấy, chủ trương thực hiện BHYT toàn dân luôn được Đảng ta khẳng định và phát triển qua các kỳ đại hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước, góp phần đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong đó có đối tượng HSSV - chủ nhân tương lai của đất nước

1.2.4 Vai trò của thực hiện pháp luật Bảo hiểm y tế cho sinh viên

Sinh viên là một bộ phận dân cư đông đảo của xã hội Với mục tiêu giáo dục toàn diện cho SV, những năm qua Đảng và Chính phủ đã luôn quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ Việt Nam cả về tri thức, nhân cách và thể chất Để bảo vệ thế hệ trẻ cũng như chia sẻ một phần nào những tổn thất của các em và gia đình phải gánh chịu trước những rủi ro của cuộc sống, BHYT cho SV đã ra đời là một tất yếu khách quan góp phần ổn định cuộc sống và tạo sự yên tâm cho các bậc phụ huynh Do đó, việc thực hiện pháp luật BHYT cho sinh viên là vô cùng cần thiết, cụ thể:

- Thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế sinh viên là biện pháp đảm bảo công bằng xã hội:

BHYT nói chung, BHYT SV nói riêng góp phần thực hiện nâng cao chất lượng và thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, thể hiện rõ nét tính nhân đạo, cộng đồng xã hội sâu sắc Thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế sinh viên giúp cho sinh viên khắc phục khó khăn, ổn định tài chính trong trường hợp rủi ro, ốm đau Sinh viên là những chủ nhân tương lai của đất nước, nhân tố quyết định đến sự phát triển của đất nước trong tương lai; chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khoẻ cho thế hệ trẻ ở các trường học là mối

Trang 26

quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, với mỗi gia đình và toàn xã hội Tuy nhiên lứa tuổi SV chiếm một số lượng không nhỏ, đồng thời cũng có xác suất gặp rủi

ro cao nhất bởi vì đối với sinh viên, lứa tuổi đã có sự phát triển cả về thể chất và nhận thức, sức đề kháng với bệnh tật cao song đây là lứa tuổi vừa bắt đầu cuộc sống tự lập, ít được sự quản lý của gia đình và nhà trường nên dễ bị dụ dỗ lôi kéo vào những tệ nạn xã hội, đặc biệt là xác suất gặp rủi ro tai nạn giao thông cao Khi rủi ro tai nạn xảy ra, các em chính là người phải gánh chịu những đau đớn và tổn thất về mặt thể chất và tinh thần tiếp đến là gián đoạn quá trình học tập Đồng thời nó còn làm mất ổn định tình hình tài chính của gia đình, cha mẹ

có thể phải nghỉ việc để chăm sóc cho các em Nhưng nếu tham gia BHYT, chỉ với một số tiền nhỏ đóng phí bảo hiểm khi không may gặp rủi ro sẽ được bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm để trang trải cho những chi phí phát sinh để điều trị bệnh từ một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ rất nhiều người tham gia bảo hiểm

- Góp phần giáo dục ý thức cộng đồng cho sinh viên:

BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội Trên cơ sở quy luật số lớn, phương châm của BHYT là “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “lá lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều” Vì vậy mọi thành viên trong xã hội gắn bó và tính cộng đồng được nâng cao Đặc biệt là giúp giáo dục các em hình thành ý thức về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT SV BHYT SV là chăm lo cho thế hệ trẻ một cách toàn diện, không những chăm lo về mặt sức khoẻ mà còn giáo dục nhân cách và lối sống nhân ái Tham gia BHYT các em sẽ thấy được tác dụng của BHYT đối với mọi người xung quanh, với bạn bè mình và chính bản thân mình Thông qua BHYT các em

sẽ học được cách chia sẻ khó khăn, đồng cảm với người không may gặp rủi ro Nhân cách sống tốt đẹp ấy sẽ hình thành trong các em, theo các em đi hết cuộc đời và truyền từ đời này sang đời khác

- Góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh

Trang 27

BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” Với việc kết hợp với các cơ sở KCB BHYT kiểm tra sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho đại đa số những người tham gia BHYT, từ đó phát hiện kịp thời những bệnh hiểm nghèo và có phương pháp chữa trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu, mà nếu không tham gia BHYT tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện, do đó mà coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong BHYT SV và Y tế trường học (YTTH) có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại thúc đẩy nhau phát triển Thông qua hoạt động YTTH các em được chăm sóc sức khoẻ ban đầu ngay tại trường, giúp các em phát hiện sớm các bệnh học đường trước khi đến khám ở các cơ sở y tế Ngoài ra chương trình YTTH giúp các em nâng cao kiến thức sức khỏe, tự phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho chính mình

- Góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế:

Nội hàm xã hội hóa y tế được hiểu rằng Nhà nước phải quan tâm đầu tư công tác y tế, tạo điều kiện huy động nguồn lực ngoài Nhà nước cho công tác phòng bệnh và chữa bệnh, đồng thời bản thân mỗi người dân nhận thức và thực hiện các biện pháp tự giữ gìn, phòng bệnh và nâng cao sức khỏe Xã hội hóa y tế bao gồm nhiều loại hình khác nhau trong việc đào tạo nhân lực, hoạt động từ thiện, nhân đạo, góp vốn, liên doanh liên kết đặt thiết bị, vay vốn ngân hàng… Trong đó, BHYT là một loại hình quan trọng và chủ chốt BHYT là chính sách

xã hội lớn, dưới hình thức huy động sự đóng góp của nhiều người trong cộng đồng tạo lập một quỹ để chi trả các chi phí y tế cho những người không may bị

ốm đau, bệnh tật Vì vậy chính sách BHYT nói chung và BHYT SV mang ý nghĩa chia sẻ cộng đồng một cách sâu sắc Bên cạnh đó, thông qua hoạt động quỹ BHYT đầu tư góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân

Trang 28

1.3 Pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

Sức khỏe tốt là một mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện cho sinh viên (SV) Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khỏe cho SV - những chủ nhân tương lai của đất nước, là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội

Thực hiện chủ trương đó, từ năm 1994, sau khi chính sách BHYT ra đời hai năm, BHYT HSSV đã được triển khai theo Thông tư 14/1994/TTLT-BGDĐT-BYT ngày 19/09/1994 và được sửa đổi bổ sung bằng Thông tư 40/1998/TTLT-BGDĐT-BYT ngày 18/07/1998 trên phạm vi cả nước theo hướng dẫn của Liên bộ Giáo dục, Đào tạo và Y tế, theo đó thì HSSV là đối tượng tham gia BHYT tự nguyện

Để thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn dân, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII ngày 14 tháng 11 năm 2008 đã thông qua Luật BHYT số 25/2008/QH12; Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014, với một bước phát triển đặc biệt về quy định BHYT toàn dân là quyền và nghĩa vụ công dân với hình thức tham gia bắt buộc và đưa ra lộ trình thực hiện BHYT toàn dân cho từng nhóm đối tượng được quy định trong Luật BHYT Trong đó quy định nhóm đối tượng HSSV trước đây tham gia BHYT theo hình thức tự nguyện sẽ chuyển sang hình thức bắt buộc phải tham gia BHYT kể từ ngày 01/01/2010

Theo quy định của Luật BHYT, HSSV là những đối tượng đang theo học thường xuyên tại các trường từ tiểu học đến đại học thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập

1.3.1 Khái niệm và phạm vi pháp luật bảo hiểm y tế

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của NN, thể hiện ý chí và bản chất của giai cấp, và là nhân tố để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Pháp luật về BHYT là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc

Trang 29

chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo hiểm y tế

Pháp luật về BHYT quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm y tế, đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng bảo hiểm y tế; thẻ bảo hiểm

y tế; phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế; tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; quỹ bảo hiểm y tế; quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế Pháp luật BHYT chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước

và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến bảo hiểm y tế; đồng thời không áp dụng đối với bảo hiểm y tế mang tính kinh doanh

1.3.2 Đối tượng áp dụng

BHYT cho sinh viên là loại hình BHYT bắt buộc có đối tượng tham gia là nhóm đối tượng sinh viên đang theo học thường xuyên tại các trường Đại học, Cao đẳng thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập trên cả nước

Để thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn dân, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII ngày 14 tháng 11 năm 2008 đã thông qua Luật BHYT số 25/2008/QH12 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2009 với một bước phát triển đặc biệt về quy định BHYT toàn dân là quyền và nghĩa vụ công dân với hình thức tham gia bắt buộc và đưa ra lộ trình thực hiện BHYT toàn dân cho từng nhóm đối tượng được quy định trong Luật BHYT Trong đó quy định nhóm đối tượng HSSV trước đây tham gia BHYT theo hình thức tự nguyện sẽ chuyển sang hình thức bắt buộc phải mua BHYT (ngoại trừ HSSV thuộc các đối tượng nghèo, cận nghèo, thân nhân là người có công, hoặc tham gia lực lượng

vũ trang đã được cấp thẻ BHYT tại địa phương nơi cư trú theo quy định của luật) kể từ ngày 01/01/2010

1.3.3 Mức đóng, phương thức đóng bảo hiểm y tế

Theo quy định của Luật BHYT, từ 01/01/2010, mức đóng BHYT hàng tháng của HSSV bằng 3% mức lương tối thiểu hiện hành, trong đó ngân sách

Trang 30

Nhà nước hỗ trợ 30% mức đóng của từng HSSV Nhưng theo Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ, BHYT HSSV thực hiện theo Luật BHYT sửa đổi, thay đổi mức đóng từ 3% lương tối thiểu hiện hành lên 4,5% lương tối thiểu hiện hành Mặt khác, HSSV được tham gia ở

01 trong 06 nhóm, mỗi nhóm có cách đóng phí và quyền lợi khám chữa bệnh khác nhau:

Một là, HSSV được tham gia BHYT trong nhóm người nghèo nếu thuộc

hộ nghèo theo quy định của Chính phủ Hộ nghèo được nhà nước mua thẻ BHYT trên cơ sở bình xét từ xã phường và do phòng Lao động - Thương binh &

Xã hội huyện tổng hợp danh sách Khi đi khám, chữa bệnh, HSSV nghèo có BHYT được hưởng 95% chi phí

Hai là, tham gia BHYT trong nhóm đối tượng Bảo trợ xã hội nếu là trẻ

mồ côi, bị tàn tật hoặc là con dưới 18 tuổi của người đơn thân nghèo Đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước mua thẻ BHYT trên cơ sở danh sách do ngành Lao động - Thương binh xã hội lập Khi đi khám, chữa bệnh cũng được hưởng 95% chi phí

Ba là, tham gia BHYT trong nhóm thân nhân người có công nếu là con dưới 18 tuổi của liệt sĩ, con của thương bệnh binh nặng có tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên, con bị dị tật của người bị nhiễm chất độc hoá học trong chiến tranh Tham gia ở nhóm này, HSSV cũng được Nhà nước mua thẻ BHYT trên cơ sở danh sách do ngành Lao động - Thương binh xã hội lập Khi đi KCB được hưởng 80% chi phí

Bốn là, tham gia theo nhóm thân nhân quân đội, công an, cơ yếu nếu là con đẻ dưới 18 tuổi của sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang Ngân sách quốc phòng mua thẻ BHYT trên cơ sở danh sách do lực lượng vũ trang lập Khi đi khám, chữa bệnh được hưởng 80% chi phí

Năm là, tham gia theo nhóm hộ cận nghèo, danh sách do UBND xã, phường lập, được Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng sau khi cá nhân đã

Trang 31

đóng phần thuộc trách nhiệm của mình Khi đi KCB, người cận nghèo được hưởng 80% chi phí

Sáu là, tham gia BHYT tại trường học trên cơ sở danh sách do nhà trường lập HSSV tham gia tại nhà trường với mức đóng thống nhất cho mọi cấp học là 4,5% lương tối thiểu chung HSSV đóng 70%, Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 30% sau khi HSSV đã đóng phần thuộc trách nhiệm của mình

Số thu BHYT HSSV được hình thành từ hai nguồn: 70% do HSSV đóng

và 30% do Ngân sách Nhà nước hỗ trợ Số thu BHYT HSSV được quản lý tập trung tại BHXH Việt Nam và phân bổ sử dụng như sau:

- 90% số tiền đóng bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi là quỹ khám bệnh, chữa bệnh) được sử dụng cho các mục đích:

+ Chi trả các khoản chi phí thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế

+ Trích để lại cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có

đủ điều kiện theo quy định của Bộ Y tế để mua thuốc, vật tư y tế tiêu hao, trang thiết bị và dụng cụ y tế thông thường để tổ chức khám bệnh, chữa bệnh trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em, học sinh, sinh viên

Mức trích để lại cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bằng 7% tổng thu quỹ bảo hiểm y tế tính trên tổng số học sinh, sinh viên đang theo học tại cơ sở giáo dục có tham gia bảo hiểm y tế (kể cả học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế theo nhóm đối tượng khác) và mức đóng tương ứng đối với từng đối tượng theo quy định tại Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP; bằng 5% tổng thu quỹ bảo hiểm y tế tính trên tổng số trẻ em dưới 6 tuổi đang theo học tại cơ sở giáo dục mầm non

- 10% số tiền đóng bảo hiểm y tế dành cho quỹ dự phòng và chi phí quản

lý quỹ bảo hiểm y tế, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng bảo hiểm y tế cho quỹ dự phòng và được quy định như sau:

Trang 32

+ Tổng mức chi phí quản lý quỹ bảo hiểm y tế hằng năm do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định trong tổng chi phí quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

+ Quỹ dự phòng là phần còn lại sau khi đã trích trừ chi phí quản lý quỹ bảo hiểm y tế

 Thời hạn sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế

Trước đây thẻ BHYT học sinh, sinh viên có giá trị sử dụng từ đầu năm học (đầu tháng 9 hoặc tháng 10) và hết hạn sau 12 tháng (trường hợp thẻ có giá trị sử dụng 12 tháng thì hết hạn vào cuối tháng 8 hoặc 9 năm sau) Pháp luật BHYT cũng quy định chi tiết điểm này: đối với học sinh vào lớp một và sinh viên năm thứ nhất thời hạn sử dụng ghi trên thẻ BHYT từ ngày nhập học hoặc ngày hết hạn của thẻ BHYT được cấp lần trước đến 31 tháng 12 năm sau; đối với học sinh lớp 12 và sinh viên năm cuối thời hạn sử dụng ghi trên thẻ BHYT

từ ngày 01 tháng 01 đến ngày cuối của tháng kết thúc năm học đó Theo Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ, BHYT HSSV thực hiện theo Luật BHYT sửa đổi, thời hạn sử dụng ghi trên thẻ BHYT học sinh sinh viên được tính theo năm tài chính tức từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm

1.3.4 Quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên

- Đối với học sinh, sinh viên

 Quyền lợi:

Đối tượng học sinh, sinh viên khi tham gia bảo hiểm y tế sẽ được Nhà nước hỗ trợ 30% chi phí mua bảo hiểm y tế Bên cạnh đó, đối tượng này còn được hưởng những quyền lợi bảo hiểm y tế như: Được cấp thẻ BHYT; lựa chọn một cơ sở y tế thuận lợi gần trường học hoặc nơi cư trú theo hướng dẫn của cơ quan BHXH để đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu, được thay đổi nơi đăng

Trang 33

ký khám chữa bệnh ban đầu vào đầu mỗi quý; được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học

Khi khám chữa bệnh đúng nơi đăng ký ban đầu ghi trên thẻ hoặc theo tuyến chuyên môn kỹ thuật và thực hiện đúng thủ tục khám chữa bệnh BHYT theo quy định, HSSV được cơ quan BHXH thanh toán: 100% chi phí KCB nếu tổng chi phí khám chữa bệnh 1 lần thấp hơn 15% mức lương tối thiểu (điểm b khoản 1 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014); 80% chi phí KCB khi đi đúng tuyến Kể cả khi thực hiện KCB có dịch vụ kỹ thuật cao có chi phí lớn (nhưng không quá 40 tháng lương tối thiểu cho 1 lần sử dụng dịch vụ); Trường hợp cấp cứu được khám và điều trị ở bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh nào

và xuất trình thẻ y tế thì được hưởng 80% chi phí khám, chữa bệnh theo quy định (khoản 2 Điều 28 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014)

Các trường hợp đi khám chữa bệnh không đúng cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, có trình thẻ BHYT thì được thanh toán theo mức hưởng như: 70% chi phí KCB tại các bệnh viện tuyến huyện và từ ngày 01/01/2016 thì sẽ được chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh; 60% chi phí điều trị nội trú tại các bệnh viện tuyến tỉnh; 40% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện cấp trung ương; các trường hợp đi khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế không ký hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế thì được thanh toán lại tại cơ quan bảo hiểm xã hội nơi tham gia nhưng mức tối đa không vượt quá quy định của Phụ lục 04 Thông tư 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24 tháng 11 năm 2014

Bảng 1.1 Mức thanh toán trực tiếp cho người có thẻ BHYT

Loại hình

KBCB Tuyến chuyên môn kỹ thuật đa cho 01 đợt KBCB Mức thanh toán tối

1 Ngoại trú Cơ sở y tế tuyến huyện và tương đương 60.000 đồng

2 Nội trú

Cơ sở y tế tuyến huyện và tương đương 500.000 đồng

Cơ sở y tế tuyến tỉnh và tương đương 1.200.000 đồng

Cơ sở y tế tuyến TƯ và tương đương 3.600.000 đồng

Trang 34

Trách nhiệm:

Đóng phí BHYT đầy đủ theo quy định; xuất trình ngay thẻ hoặc giấy tờ tuỳ thân có ảnh hợp lệ và thẻ BHYT chữa bệnh khi KCB nội và ngoại trú, nếu nhập viện thì phải xuất trình trong vòng 48 giờ kể từ khi nhập viện; không cho người khác mượn thẻ và thực hiện đúng quy định của Nhà nước và sự hướng dẫn của cơ quan BHXH

- Đối với nhà trường:

 Quyền lợi

Theo Thông tư số 41/2014/TTLT-BYT-BTC được ban hành ngày 24/11/2014, tiền chi chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh, sinh viên để lại cho Nhà trường là 7% từ tổng thu BHYT và 4% từ tổng số thu BHYT chi cho thù lao đại lý

Mỗi trường hoặc cụm trường bố trí y tế trường học theo qui định và đảm bảo các điều kiện cho YTTH hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ qui định của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế về công tác YTTH

- Đối với các cơ sở khám chữa bệnh:

Quyền lợi

Được cơ quan BHXH tạm ứng kinh phí để tổ chức khám chữa bệnh cho HSSV có thẻ BHYT; thanh toán mỗi quý một lần các chi phí KCB cho HSSV tham gia BHYT

Trách nhiệm

Trang 35

Thực hiện KCB đúng hợp đồng với cơ quan BHXH cho HSSV tham gia BHYT, đảm bảo chữa bệnh hợp lý, an toàn theo đúng qui định của Bộ Y tế; ghi chép và cung cấp các tài liệu liên quan đến KCB BHYT HSSV để làm cơ sở thanh quyết toán tài chính; kiểm tra thẻ BHYT, phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm và lạm dụng việc sử dụng thẻ BHYT, thông báo ngay cho cơ quan BHYT để giải quyết

Các bệnh viện cùng cơ quan BHXH ký kết hợp đồng trách nhiệm, tạm ứng kinh phí và định kỳ quyết toán chi phí KCB theo qui định và hợp đồng KCB

Kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận và thực hiện chế độ BHYT HSSV tại các bệnh viện, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh tham gia BHYT, từ chối chi trả trợ cấp BHYT đối với những trường hợp KCB không đúng theo qui định của pháp luật

 Trách nhiệm

Ký kết hợp đồng với nhà trường để tổ chức thu BHYT của HSSV; ký hợp đồng KCB với các bệnh viện để đảm bảo việc tiếp nhận và KCB cho HSSV tham gia BHYT được thuận tiện, hợp lý; tổ chức phát hành thẻ BHYT cho HSSV Chi phí in và phát hành thẻ bằng kinh phí quản lý của cơ quan BHXH

Trang 36

Cơ quan BHXH nào phát hành thẻ BHYT HSSV thì cơ quan đó có trách nhiệm tạm ứng kinh phí và thanh toán chi phí theo qui định Việc thanh toán được thực hiện theo các phương thức: Chi trả cho cơ sở KCB theo hợp đồng đã ký; chi trả qua thanh toán đa tuyến ngoài địa bàn được giao quản lý và chi trả trực tiếp cho người bệnh BHYT trong các trường hợp cụ thể khác

1.4 Những điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên

1.4.1 Về hệ thống pháp luật bảo hiểm y tế

Một hệ thống các quy định có ý nghĩa đảm bảo thực thi pháp luật nói chung và Luật BHYT nói riêng cần sớm được ban hành các chế tài đủ mạnh để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhanh chóng xóa bỏ nhận thức sai lầm của một bộ phận không nhỏ người dân rằng “chỉ tham gia BHYT khi có nhu cầu KCB” Cùng với đó, cơ chế nâng mức hỗ trợ cho những nhóm đối tượng có nhiều khó khăn trong việc đóng phí tham gia BHYT, tạo điều kiện mở rộng bao phủ đối tượng BHYT, giúp cho mọi người dân thay đổi nhận thức và hiểu tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của chính sách BHYT ở nước ta và để BHYT thực

sự đi vào cuộc sống và là “cứu cánh” cho những người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn không may bị ốm đau bệnh nặng

Luật BHYT quy định bắt buộc tham gia BHYT đối với toàn dân, trong đó

có học sinh, sinh viên, nhưng cơ bản vẫn là vận động tự nguyện nên vẫn còn một bộ phận người dân chưa tham gia Quyền lợi của người có BHYT được mở rộng, thực hiện chính sách thông tuyến huyện tạo thuận lợi cho người dân đi khám chữa bệnh Sự thông thoáng lại nảy sinh một số kẽ hở dẫn tới tình trạng lợi dụng, trục lợi BHYT đang có chiều hướng gia tăng với nhiều hình thức khác nhau, cả từ phía người tham gia BHYT và cơ sở y tế Việc đổi mới cơ chế tài chính y tế chuyển sang hình thức BHYT toàn dân trong điều kiện giá viện phí điều chỉnh theo hướng tính đúng, tính đủ, đẩy chi phí khám, chữa bệnh tăng cao, tạo áp lực, thách thức rất lớn trong kiểm soát chi phí và cân đối Quỹ BHYT

Trang 37

Các quy định về quyền lợi hưởng BHYT của người tham gia dù đã được tăng lên đáng kể song vẫn còn những hạn chế cần được hoàn thiện Về phạm vi hưởng BHYT, bên cạnh những bước tiến quan trọng trong việc mở rộng giới hạn chi phí mà BHYT thanh toán cho người thụ hưởng, pháp luật BHYT hiện nay dường như vẫn còn “bỏ lọt” chưa quy định những mức hưởng cao hơn Quỹ BHYT đang được quy định đóng ở mức tương đối thấp, đối tượng HSSV đang đóng BHYT căn cứ trên mức lương cơ sở do nhà nước quy định (4,5% của 1.300 nghìn đồng tương đương 702 nghìn đồng trên một năm), mặt khác quyền lợi được hưởng tùy theo tình trạng bệnh tật nên có nhiều bệnh nhân nặng đã được quỹ BHYT chi trả hàng tỷ đồng mỗi năm

Với các quy định về mức đóng phí tham gia BHYT hiện nay mang tính phổ quát chung, Quỹ BHYT chỉ có thể chi trả cho những chi phí y tế cơ bản, thiết yếu Do vậy, nếu hệ thống BHYT của tương lai có xu hướng tiến tới mục tiêu cung cấp đa dạng các “gói dịch vụ”, bên cạnh những dịch vụ cơ bản còn bổ sung thêm những dịch vụ nâng cao thì cũng cần xây dựng cơ chế đóng góp theo các mức phân tầng khác nhau tương ứng

1.4.2 Về tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế

Quá trình phát triển BHYT ở nước ta đã đi được một chặng đường khá dài, từ năm 1992 cho đến nay; tỷ lệ bao phủ BHYT tính đến 31/12/2017 đạt gần 87% dân số cả nước Những kết quả đạt được là rất lớn, ngày càng cho thấy tính

đúng đắn, thiết thực của chính sách BHYT Cùng với quá trình triển khai thực

hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2015 và 2020, tốc độ bao phủ BHYT có đà tăng trưởng mạnh mẽ trong khoảng 05 năm gần đây Cụ thể năm

2015, số người tham gia là 69,716 triệu người đạt tỷ lệ 76,5% dân số tham gia BHYT, tăng 5,2% so với tỷ lệ bao phủ năm 2014 Liên tục trong các năm sau

đó, cùng với quá trình cụ thể hóa mạnh mẽ các điểm mới của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, tỷ lệ bao phủ BHYT tiếp tục tăng Năm 2016,

Trang 38

đạt tỷ lệ 81,8% dân số tham gia BHYT, tăng 5,3% so với tỷ lệ bao phủ năm 2015; năm 2017 đạt 85,6%

Trước hết, phải nói rằng để đạt được tỷ lệ trên là sự nỗ lực, quyết tâm rất lớn, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm của các ban, bộ, ngành Trung ương trong thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, đã tạo động lực mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước Trên địa bàn địa phương, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tích cực của cấp ủy Đảng, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tạo nên một sự chuyển biến căn bản, toàn diện từ tư duy, ý thức, trách nhiệm và hành động thiết thực, cụ thể đối với các cấp, các ngành trong thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân, vì phát triển bền vững kinh tế phải đi đôi với đảm bảo An sinh xã hội

Công tác xây dựng chính sách pháp luật BHYT có những bước tiến đáng

kể tạo thuận lợi lớn cho quá trình phát triển mở rộng diện bao phủ BHYT Điều này được thể hiện rõ nhất qua Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT, có hiệu lực từ năm 2015 với một số quy định tác động trực tiếp đến số người tham gia BHYT, tiêu biểu là quy định tham gia BHYT là bắt buộc, thực hiện BHYT theo hộ gia đình với mức đóng giảm dần cho thành viên thứ hai trở

đi, thực hiện thông tuyến khám, chữa bệnh theo lộ trình, điều chỉnh giá dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT theo hướng tính đúng, tính đủ

Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan mật thiết tới công tác tổ chức thực hiện

có nhiều chuyển biến tích cực, đó là sự đổi mới mạnh mẽ của Ngành Y tế từ tinh thần, thái độ phục vụ, đến các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh;

sự nỗ lực của Ngành BHXH Việt Nam, từ việc tăng cường truyền thông, mở rộng mạng lưới đại lý thu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng nhanh công nghệ thông tin, đến tăng cường công tác kiểm tra, giám sát sử dụng Quỹ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người tham gia BHYT

1.4.3 Ý thức pháp luật của sinh viên về việc tham gia bảo hiểm y tế

Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội VN, số học sinh và sinh viên tham gia BHYT đã tăng dần trong những năm gần đây Năm học 2013 - 2014, số học

Trang 39

sinh, sinh viên tham gia BHYT đạt 85% Năm học 2016 - 2017, tỉ lệ trên đạt 92,5%, tương ứng khoảng 15,9 triệu học sinh, sinh viên có thẻ BHYT Tuy nhiên vẫn còn tới 7,5% học sinh, sinh viên chưa tham gia BHYT, tương ứng với khoảng 1,5 triệu người Đây là con số không nhỏ và là thách thức trong công tác triển khai chính sách BHYT năm học 2017-2018”

Một trong những nguyên nhân chính của số lượng sinh viên chưa tham gia BHYT là do một bộ phận người dân còn nhận thức hạn chế về chính sách bắt buộc tham gia BHYT của học sinh sinh viên Trong khi đó, một số cơ sở giáo dục chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm chỉ đạo triển khai BHYT học sinh tại các nhà trường Nhiều cơ sở giáo dục bậc đại học, cao đẳng, chỉ liệt kê số tiền đóng BHYT học sinh, sinh viên vào các khoản thu đầu năm học mà thiếu đi công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật BHYT cho học sinh sinh viên”

Tình trạng học sinh, sinh viên năm đầu của các trường TC, CĐ, ĐH tham gia BHYT nhiều, nhưng lại giảm dần trong các năm học tiếp sau, đang là một thực tế diễn ra ở nhiều nơi Trong khi đó, ngành BHXH chưa thật sự sâu sát trong quá trình triển khai thực hiện BHYT cho học sinh, sinh viên

1.4.4 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực trong thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách xã hội quan trọng hàng đầu của Nhà nước, giúp người dân chia sẻ gánh nặng về tài chính khi phải chi trả các khoản chi phí khám, chữa bệnh Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc khám, chữa bệnh thẻ BHYT ở nước ta còn tồn tại rất nhiều bất cập, gây khó khăn cho người dân trong khi khám, chữa bệnh Người có thẻ BHYT có tâm lý

lo ngại về chất lượng của dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT Việc các cơ sở y tế địa phương chẩn đoán sai hoặc không tìm ra nguyên nhân và chữa trị dứt điểm cũng đã làm mất niềm tin của người dân

Trang 40

Thực tế hiện nay hệ thống khám, chữa bệnh của huyện vẫn còn đối mặt với những khó khăn, thách thức, với những mặt tồn tại, yếu kém cần phải vượt qua để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân về dịch vụ y tế,

để làm tăng sức hấp dẫn đối với người dân khi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh, trong đó chất lượng bệnh viện và chăm sóc y tế luôn là vấn đề được cả xã hội đặc biệt quan tâm

Trình độ nguồn nhân lực ngành y tế còn nhiều hạn chế: Trình độ chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân chưa cao, nhất là ở tuyến cơ sở; thiếu bác

sỹ có trình độ chuyên môn tốt, chuyên môn sâu; chưa triển khai đầy đủ được các chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện; trình độ quản lý, điều hành của một bộ phận cán bộ quản lý bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh còn nhiều bất cập, hạn chế,… Quản lý điều hành ở một số cơ sở khám, chữa bệnh thiếu tính khoa học, chưa chủ động để đảm bảo cho sự phát triển; mặt bằng chung về trình độ chuyên môn kỹ thuật còn nhiều hạn chế; các kỹ thuật y tế triển khai theo phân tuyến tại các cơ sở khám chữa bệnh với số lượng chưa đạt và chất lượng chưa cao Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh còn hạn chế Thủ tục hành chính về khám, chữa bệnh một vài lúc còn chưa linh hoạt; tinh thần thái độ phục vụ người bệnh của một bộ phận cán bộ y tế chưa tốt,…

Chất lượng khám, chữa bệnh (KCB) BHYT đã có chuyển biến bước đầu quan trọng, nhưng chưa được cải thiện nhiều; công tác phối hợp liên ngành về BHYT giữa ngành Giáo dục & đào tạo với các ngành Y tế, BHXH còn thiếu chặt chẽ Bên cạnh đó, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho HSSV chưa được quan tâm đúng mức, nhiều cơ sở gióa dục và đào tạo chưa đảm bảo các điều kiện về phòng y tế và nhân viên y tế (y sĩ trung cấp trở lên) nên chưa được nhận kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho HSSV; mức sống của gia đình HSSV ở vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp, không ổn định Trong khi đó, mức phí BHYT tăng, mức hỗ trợ của Nhà nước cho HSSV trong việc đóng phí BHYT còn thấp Những nguyên nhân trên ảnh hưởng rất lớn đến

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số liệu sinh viên các trƣờng Đại học, Cao đẳng tham gia BHYT  - Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 2.1. Số liệu sinh viên các trƣờng Đại học, Cao đẳng tham gia BHYT (Trang 47)
Bảng 2.2. Số học sinh, sinh viên tham gia BHYT từ 2013-2017 STT Năm  - Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 2.2. Số học sinh, sinh viên tham gia BHYT từ 2013-2017 STT Năm (Trang 48)
Từ Bảng số liệu 2.1 và 2.2 cho thấy tỷ lệ học sinh các cấp học phổ thông tham gia BHYT chiếm tỷ lệ cao hơn so với sinh viên các trƣờng Đại học, Cao  đẳng  trên  địa  bàn  tỉnh  Đồng  Tháp - Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng s ố liệu 2.1 và 2.2 cho thấy tỷ lệ học sinh các cấp học phổ thông tham gia BHYT chiếm tỷ lệ cao hơn so với sinh viên các trƣờng Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Trang 49)
Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại 04 trƣờng Cao đẳng, Đại học  - Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại 04 trƣờng Cao đẳng, Đại học (Trang 60)
Bảng 2.5. Kinh phí trích chăm sóc sức khỏe ban đầu để lại trƣờng giai đoạn năm 2015-2017  - Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 2.5. Kinh phí trích chăm sóc sức khỏe ban đầu để lại trƣờng giai đoạn năm 2015-2017 (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w