1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục kĩ năng phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an thông qua trò chơi

88 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 794,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng trò chơi trong giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT… Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG, TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁ

Trang 1

THÔNG QUA TRÒ CHƠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ BÍCH THỤC

GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG, TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH

NGHỆ AN THÔNG QUA TRÒ CHƠI

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Mầm non)

Trang 3

ơn nhà giáo PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh, người đã tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo

em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Em cũng chân thành cảm ơn đến các cô giáo, Cha, mẹ trẻ ở các trường mầm non thành phố Vinh đã đóng góp và giúp đỡ tận tình cho em trong quá trình điều tra thực tiễn để hoàn thành khóa luận này

Do điều kiện thời gian có hạn, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy

cô và đồng nghiệp để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Học viên

Trần Thị Bích Thục

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 1

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 0

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 8

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8

4 Giả thuyết khoa học 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Phạm vi nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu 9

8 Đóng góp của luận văn 9

9 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG, TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN THÔNG QUA TRÒ CHƠI 11

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

1.2 Khái niệm công cụ: 14

1.2.1 Tai nạn thương tích 14

1.2.2 Phòng, tránh TNTT trẻ em 16

1.2.3 Kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi 17

1.2.4 Giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi 21

1.2.5 Trò chơi 1.3 Một số vấn đề lý luận về TNTT và kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non

1.3.1 TNTT đối với trẻ mầm non

1.3.2 Kỹ năng phòng, tránh TNTT ở trẻ MN

1.4 Giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non

1.4.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.2 Nội dung, pp giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.3 Các phương tiện giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 5

1.5 Trò chơi là phương tiện hiệu quả để giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN

1.5.1 Các loại trò chơi được sử dụng trong giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT… 1.5.2 Yêu cầu lựa chọn và sử dụng trò chơi trong giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT…

1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng trò chơi trong giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT…

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG, TRÁNH

TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC

TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

THÔNG QUA TRÒ CHƠI

2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 31

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ở các trường mầm non, thành phố Vinh 32

2.2.1 Thực trạng về nhận thức của CBQL, GV, Cha, Mẹ trẻ về TNTT của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non thành phố Vinh 32

2.2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT của trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 35

2.2.3 Thực trạng sử dụng trò chơi trong giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 39

2.2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trò chơi trong giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 41

2.2.5 Thuận lợi, khó khăn trong sử dụng trò chơi để giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT… 2.3 Đánh giá chung về thực trạng

2.3.1 Thành công

2.3.2 Hạn chế

2.3.3 Nguyên nhân

Kết luận chương 2

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG, TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH THÔNG QUA TRÒ CHƠI

3 1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

Trang 6

3.2 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 -6

tuổi thông qua trò chơi

3.2.1 Xác định mục tiêu, kết quả mong đợi trong giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi 3.2.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục tuần, chủ đề có nội dung giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi 3.2.3 Xây dựng môi trường vật chất phù hợp, lựa chọn trò chơi, thiết kế kịch bản và chuẩn bị nhóm chơi 3.2.4 Hướng dẫn, giám sát, hỗ trợ trẻ khi chơi…theo mục đích giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT… 3.2.5 Đánh giá kỹ năng được hình thành ở trẻ 5-6 tuổi và điều chỉnh các trò chơi để củng cố kỹ năng… 3.3 Khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp

Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

2 Kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

UBND Ủy Ban nhân dân

UNESCO Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hợp quốc UNICEF Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc tại Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Danh sách các trường và các đối tượng khảo sát………28 Bảng 2.2: Thực trạng TNTT của trẻ 5 - 6 tuổi hiện nay……… 29 Bảng 2.3: Nguyên nhân chủ yếu gây TNTT đối với trẻ 5 - 6 tuổi……… 30 Bảng 2.4: Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng phòng, tránh

TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi……… 30 Bảng 2.5: Sự quan tâm của CBQL, GV đến việc giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi……… 31 Bảng 2.6: Thời gian giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non……….32 Bảng 2.7: Các biện pháp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT……….35 Bảng 2.8: Ý kiến về sử dụng trò chơi trong giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi……… 37 Bảng 2.9: Trình độ chuyên môn của BGH, GV các trường khảo sát………… 38 Bảng 2.10: Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát………… 38 Bảng 2.11: Sự quan tâm đến giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi………39 Bảng 2.12: Những khó khăn trong việc sử dụng trò chơi để giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi……… 40 Bảng 3.1: Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất……62

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên toàn thế giới, TNTT ở trẻ em là vấn đề y tế công cộng và vấn đề của

sự phát triển Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 830.000 trẻ em tử vong do TNTT không chủ định Nguyên nhân gây TNTT dẫn đến tử vong hàng đầu ở trẻ em

là do tai nạn giao thông đường bộ (260 trường hợp/năm), đuối nước (175.000 trường hợp/năm), bỏng (96.000 trường hợp/năm) và ngã (47.000 trường hợp/năm) (TCYTTG 2008).1 Tuy vậy, tình trạng tử vong này chỉ là bề nổi của tảng băng gánh nặng bệnh tật do TNTT ở trẻ em2 Những thương tích này có thể để lại nhựng hậu quả lâu dài về tâm lý và sức khỏe lâu dài cho bản thân đứa trẻ nói riêng, đối với gia đình trẻ, cộng đồng nói chung quả thực là rất lớn

Ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2014, theo số liệu thống kê của Bộ Y

tế, trung bình mỗi ngày nước ta có khoảng 580 trẻ em bị TNTT các loại như: Tai nạn giao thông, đuối nước, ngã, điện giật, bỏng … Tình hình TNTT trẻ em ở nước ta vẫn còn rất cao so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và cao gấp

8 lần các nước phát triển

Các tài liệu lý luận cho thấy: TNTT ở trẻ em có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất

cứ lúc nào, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chiếm phần lớn là do sự bất cẩn của người lớn Phòng, tránh TNTT cho trẻ cần nâng cao ý thức của các bậc cha

mẹ, thầy cô giáo, người chăm sóc trẻ cũng như đầu tư cơ sở vật chất, giáo dục cho trẻ kỹ năng giữ an toàn Thực tiễn cho thấy, tại các trường mầm non trẻ em vẫn thường gặp những TNTT đáng tiếc như ngã, đuối nước, bỏng… thậm chí dẫn đến tử vong Nguyên nhân có thể nhiều nhưng cơ bản vẫn do trẻ thiếu kỹ năng phòng, tránh TNTT Quan điểm hiện được các bậc cha mẹ ủng hộ là “Theo sát trẻ không bằng dạy cho trẻ những kỹ năng đối phó với tai nạn” Trò chơi là phương tiện hiệu quả để giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ mầm non, vậy có thể sử dụng trò chơi trong giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT hay không? Và

Trang 10

cần giáo dục trẻ như thế nào qua trò chơi để mỗi trẻ đều có thể nhận biết và phòng, tránh các TNTT , bảo vệ an toàn cho bản thân?

Vì lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giáo dục kỹ

năng phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thông qua trò chơi”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất được các biện pháp giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi, góp phần giảm thiểu các TNTT cho trẻ em trong trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiê cứu

Quá trình giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi

ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT thông qua trò chơi phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ và điều kiện thực tiễn của trường, lớp thì có thể hình thành được các kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non thông qua trò chơi

5.1.2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ

5 – 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thông qua trò chơi

Trang 11

5.1.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

thông qua trò chơi

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Tổ chức khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ

5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thông qua trò chơi, đó trường mầm non: Hà Huy Tập, Quang Trung 1, Lê Mao, Hoa Hồng và Sao Mai

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp sau đây: phân tích- tổng hợp; phân loại-

hệ thống hóa, khái quát hóa…các quan điểm lý luận có liên quan để xây dựng cơ

sở lý luận của đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập và phân tích các thông tin thực tiễn để nghiên cứu thực trạng và tiến hành thử nghiệm các biện pháp được đề xuất trong đề tài Cụ thể:

+ Phương pháp phỏng vấn (CBQL, GVMN, Cha Mẹ trẻ)

+ Phương pháp điều tra xã hội học (Phát và thu thập phiếu điều tra khảo sát) + Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động (kế hoạch hoạt động/ ngày của GVMN; báo cáo tình hình tai nạn thương tích của CBQL)

+ Phương pháp chuyên gia

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các phương pháp toán thống kê với sự trợ giúp của chương trình phần mềm SPSS

7 Đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận về giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi

Trang 12

- Đánh giá được thực trạng giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5

- 6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5

- 6 tuổi thông qua trò chơi ở các trường mầm non hiện nay

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ

5 - 6 tuổi thông qua trò chơi

Chương 2 Thực trạng giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 -

6 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thông qua trò chơi

Chương 3 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ

5 - 6 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thông qua trò chơi

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

THÔNG QUA TRÒ CHƠI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

TNTT ở trẻ em là vấn đề y tế mang tích chất công cộng và nó ngày càng được thế giới quan tâm TNTT là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ mầm non và người trưởng thành Hằng năm có hàng trăm nghìn trẻ em tử vong và hàng triệu trẻ em khác phải chịu thương tật suốt đời do TNTT Theo kết quả điều tra, gần 70% các ca tử vong trẻ em trên 01 tuổi là do TNTT gây ra; trên 71% các trường hợp tử vong do TNTT là do các tai nạn không chủ ý như: Tai nạn giao thông, đuối nước, ngã, ngộ độc, điện giật, hóc nghẹn… Vì lý do đó, trên hàng loạt các Hiệp định và sáng kiến quốc tế đã ra đời có nội dung về bảo vệ tính mạng, sức khỏe và đảm bảo hạnh phúc cho trẻ

em, đáng ghi nhận nhất trong con số này là Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ

Em, được thông qua vào tháng 11 năm 1989 trong một phiên họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, trong đó xác nhận rằng mỗi đứa trẻ có quyền tiếp cận tới mức cao nhất có thể đạt được của sức khỏe và quyền tiếp cận môi trường an toàn Những biện pháp làm hạn chế nguy cơ xảy ra và các mức độ ảnh hưởng của TNTT đã được kiểm nghiệm, tuy nhiên nhận thức về vấn đề này và khả năng phòng tránh, cũng như cam kết chính trị để thực hiện phòng, tránh TNTT ở trẻ em vẫn còn thấp

Từ những năm 1970, tử vong ở trẻ em do các nguyên nhân liên quan đến TNTT đã giảm ở các nước có thu nhập cao nhờ những nổ lực phòng, tránh thành công Trong khi đó, ở những nước đang phát triển, gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích Một nghiên cứu tai Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan

và Việt Nam TNTT là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên ở

Trang 14

tất cả các quốc gia điều tra (Linnan và công sự 2007) Nghiên cứu này cũng chỉ

ra rằng với mỗi trường hợp tử vong do TNTT ở trẻ em dưới 18 tuổi, thì có 12 cần phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm do tai nạn thương tích (Linnan và cộng sự 2007)

Các can thiệp phòng, tránh thương tích không chủ ý từ trước đến nay vẫn được gọi theo thuật ngữ là “Ba E”, đó là: Giáo dục, Thực thi pháp luật, Thiết kế

kĩ thuật Các cách can thiệp đã được một số quốc gia sử dụng có hiệu quả, đó là : Các quy định pháp chế được ban hành ở mỗi quốc gia; Sửa đổi sản phẩm để đảm bảo an toàn cho người sử dụng; Thay đổi môi trường; Thăm, hỗ trợ tại nhà;

Sử dụng các thiết bị an toàn; Giáo dục kỹ năng và thay đổi hành vi; Các nghiên cứu dựa vào cộng đồng

Tóm lại, giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT là vất đề rất quan trọng, được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, song song với nó là các chương trình mang tính chất và phạm vi quốc tế đã được triển khai thực hiện và nó mang lại hiệu quả cao Nổi bật nhất, trong số các cách phòng, tránh TNTT hiệu quả nhất đó là giáo dục kĩ năng, hành vi nhằm đảm bảo an toàn Giáo dục là nền tảng cho nhiều chiến lược khác, chỉ có giáo dục mới có thể tác động đến ý thức, thay đổi hành vi

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam với dân số 86 triệu người trong đó 34% là dưới 18 tuổi3

,

TNTT trẻ em ngày càng tăng và đang trở thành 1 vấn đề y tế công cộng Hiện nay, theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân gây tử vong chủ yếu nhất ở trẻ 18 tuổi tại Việt Nam Chỉ riêng trong năm 2007 đã có 7.894 trẻ em và người chưa thành niên tuổi từ 0 đến 19 bị tử vong do tai nạn thương tích Trong đó, các nguyên nhân gây tử vong chủ yếu là: Động vật cắn, ngộ độc, bỏng, đuối nước, tai nạn giao thông, bi vật sắc nhọn…Tuy nhiên đối với trẻ mầm non các nguyên nhân dẫn đến tai nạn đối với trẻ cao hơn do trẻ thiếu kinh nghiệm trong xử lý, vốn kĩ

Trang 15

năng phòng tránh còn hạn chế mà môi trường xung quanh lại tiềm ẩn nhiều nguy

cơ tai nạn với trẻ…Các đặc điểm tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam gồm: Yếu tố liên quan đến trẻ như tuổi và giới tính, đặc điểm và môi trường, tình hình kinh tế xã hội, tiếp cận và chăm sóc y tế Với các đặc điểm đó các nhà nghiên cứu đã đặt ra các nguyên tắc phòng tránh Mô hình y tế công cộng trong việc phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ em (Peden 2008) Dựa trên một số mức cơ bản như: Đánh giá quy mô và các nguy cơ của vấn đề về sức khỏe từ những nguồn số liệu sẵn có (Như hệ thống giám sát); Xây dựng các can thiệp phù hợp dựa trên việc phân tích những thông tin về yếu tố nguy cơ sẵn có; Đánh giá các can thiệp cho thấy hiệu quả trong việc giảm gánh nặng của vấn đề sức khỏe; Phương pháp y tế công cộng để phòng tránh là một cách tiếp cận toàn diện tập trung vào cả yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường và kêu gọi được nhiều bên liên quan và quan tâm đến phòng tránh tai nan thương tích (Hellen và cộng sự năm 2001)

Dự phòng tai nạn thương tích có thể thực hiện ở nhiều bước khác nhau và thường được chia thành:

- Dự phòng cấp 1: Phòng tai nạn thương tích xảy ra

- Dự phòng cấp 2: Giảm mức độ nghiêm rọng của tai nạn thương tích

- Dự phòng cấp 3: Giảm sự xuất hiện và nghiêm trọng của các tàn tật do tai nạn thương tích gây ra (Peden và cộng sự 2008)

Các bằng chứng trên thế giới chỉ ra rằng tất cả các TNTT ở trẻ em đều có thể phòng tránh được và chi phí cho các chương trình can thiệp so với các chi phí của trường hợp tử vong và tàn tật lâu dài do TNTT Ở Việt Nam các chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe cộng đồng đã được tập trung và đây là một chiến lược quan trọng của một đất nước mà nhận thức về nguy cơ và gánh nặng

về tai nạn thương tích không chủ định ở trẻ em vẫn còn nhiều hạn chế

Nhận thấy tầm quan trọng của việc phòng tránh TNTT ở trẻ em, Việt Nam

đã thực hiện nhiều chương trình, dự án can thiệp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT trẻ em đã được triển khai Đơn cử có thể kể đến Dự án kĩ năng phòng, tránh TNTT trẻ em tại Việt Nam tài trợ bởi UNICEF can thiệp thí điểm tại 6 tỉnh

Trang 16

của Việt Nam Đây là dự án có quy mô lớn nhất được thực hiện từ trước đến nay

và đã đạt được những kết quả nhất định Nhờ đó, nhận thức cộng đồng về kĩ năng phòng, tránh TNTT trẻ em đã được nâng cao Dự án đã thực hiện một loạt các hoạt động tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng thông qua các chương trình phim truyện, phim khoa giáo, phim hoạt hình, phóng

sự, tọa đàm, hội thảo khoa học, trò chơi truyền hình Các vấn đề rèn luyện kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ em đã được đưa đến cộng đồng thông qua việc phát thanh, truyền hình trên các báo đài

Tuy nhiên, nhiều chương trình về thay đổi môi trường, thiết kế để xây dựng ngôi nhà và trường học, cộng đồng an toàn hơn cho trẻ em, mới chỉ được triển khai khu trú ở một số tỉnh thành và các quy định liên quan đến tai nạn thương tích trẻ em vẫn còn thiếu hoặc thực thi chưa triệt để

1.2 Khái niệm công cụ

1.2.1 Tai nạn thương tích

Cho đến nay, khái niệm “tai nạn thương tích” vẫn chưa được nhìn nhận một cách thống nhất và rõ ràng Tuy nhiên hiện cách hiểu về khái niệm “tai nạn thương tích” được nhiều người ủng hộ và được Tổ chức Y tế Thế giới thừa nhận là:

Thương tích là những tổn thương của cơ thể ở mức độ các cơ quan bị tổn

thương cấp tính do năng lượng (năng lượng này có thể là cơ học, hóa chất, nhiệt điện hay phóng xạ) ảnh hưởng tới cơ thể một lượng hay tỷ lệ vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý học Trong một số trường hợp, thương tích xẩy ra do thiếu các yếu tố đảm bảo sự sống (đuối nước, ngẹt/ tắc thở, tê cóng) Thời gian bị thương và xuất hiện thương tổn diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (vài phút) [*]

Cũng quan điểm tương tự như vậy là cách nhìn nhận của Sleet DA, Albany

P, Lee N và những người khác [Dẫn theo *]: Tổn thương về cơ thể do cố ý hoặc không cố ý tạo nên những tổn thương cấp tính từ nhiệt, cơ học, điện, hoặc các năng lượng hóa học khác hoặc do thiếu những yếu tố cơ bản như oxy và hơi ấm

Trang 17

“Thương tích” hay “chấn thương” thường được hoán đổi cho nhau với nghĩa tương đương Định nghĩa thương tích thì có thể phong phú nhưng trong các thống kê về sinh tử điều này có nghĩa là tử vong do chấn thương, cần được quan tâm về mặt y tế, không có khả năng thực hiện các hoạt động trong ngày hoặc lâu hơn Có hai loại thương tích chủ yếu, là thương tích không chủ định và thương tích có chủ định

- Thương tích không chủ định (không chủ ý) là thương tích không phải gây ra

từ những tính toán có chủ định trước, không tử vong hoặc mất khả năng trong trường hợp xẩy ra tai nạn, thuật ngữ “thương tích không do chủ định” được sử dụng phổ biến hơn, (ví dụ: tai nạn xe, ngã, cháy, ngộ/nhiễm độc, đuối nước…)

- Thương tích có chủ định (chủ ý) là thương tích gây ra do hành vi bạo lực một cách cố ý làm thương tổn cho chính mình hoặc cho người khác

Tai nạn là sự kiện xảy ra không mong đợi, thường là không theo ý muốn, hay

không may, đặc biệt là khi nó gây nên chấn thương, thương tổn hoặc là tử vong

Vì vậy, “tai nạn” hiểu đúng nhất là một sự kiện gây ra hay có tiềm năng gây ra thương tích

Cho đến nay khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và

thương tích cho nên chúng ta thường gọi chung là tai nạn thuơng tích, tuy nhiên

vẫn còn có ý kiến đồng nhất khái niệm “tai nạn thương tích” và “tai nạn” Vì vậy không ít người vẫn cho rằng “tai nạn” là không thể phòng tránh được, do đó “tai nạn thương tích” cũng không phòng tránh được

Như vậy, theo chúng tôi hiểu “Tai nạn thương tích: Thương tổn có chủ định hoặc không có chủ định; liên quan đến va chạm giao thông, ngã, điện giật, nhiệt độ…; Tổn thương: chảy máu, bong gân, xây xát, gãy xương, ngộ độc…; cần đến

sự chăm sóc y tế, phải nghỉ ngơi và bị hạn chế sinh hoạt ít nhất là 1 ngày”

Theo Tổ chức y tế thế giới đã định nghĩa: Tai nạn là một sự kiện không định trước gây ra thương tích có thể nhận thấy được Nói cách khác tai nạn là một sự kiện

bất ngờ xảy ra, không có nguyên nhân rõ ràng và khó lường trước được

Trang 18

Thương tích là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tiếp xúc

cấp tính với các nguồn năng lượng (năng lượng có thể là cơ học, nhiệt, hóa học, điện, hoặc phóng xạ) với những mức độ, tốc độ khác nhau quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu hụt các yếu tố cơ bản của sự sống (thiếu ô

xy trong trường hợp đuối nước, bóp nghẹt, giảm nhiệt độ trong môi trường cóng lạnh) Ở trẻ mầm non, thời gian trẻ tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích có thể rất ngắn (có thể chỉ một vài phút) Khác với tai nạn, thương tích (chấn thương) là những sự kiện gây thiệt hại về thể chất và tinh thần cho 1 hoặc 1 nhóm người nào đó, có thể dự đoán trước được và phần lớn có thể phòng tránh được Tai nạn thường gây ra thương tích cho trẻ mầm non ở nhiều mức độ khác nhau, có thể dẫn đến những thương tật tạm thời hoặc lâu dài Ví dụ, nếu trẻ

bị các vật sắc nhọn đâm như: dao, kéo, mảnh thủy tinh thì hậu quả có thể dẫn đến là rách da, gãy xương, chảy máu, hoặc các tổn thương ở các bộ phận bên trong cơ thể

Căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến tai nạn thì TNTT ở trẻ mầm non có thể được chia thành hai loại

Thứ nhất là, TNTT không do chủ ý - không do chủ ý của trẻ hoặc của người khác tại trường học Ví dụ: Trẻ bị ngã, điện giật, hóc sặc…

Thứ hai là, TNTT có chủ ý - do hành vi cố ý của trẻ hoặc của người khác tại trường học Ví dụ: Trẻ bị tăng động tự gây thương tích cho bản thân, trẻ xô đẩy trong khi hoạt động…

Trong luận văn này nghiên cứu các biện pháp phòng, tránh TNTT không chủ ý ở trẻ em

1.2.2 Phòng, tránh tai nạn thương tích trẻ em

Theo từ điển Tiếng Việt, phòng tránh là phòng bị trước nhằm chủ động tránh điều bất lợi không hay xảy ra với mình Phòng, tránh TNTT là khi xảy ra các tình huống nguy hiểm con người đưa ra một tổ hợp các hành động nhỏ để xử lý tình huống đó và nó mang lại kết quả theo sự mong muốn của bản thân

Trang 19

Hiện nay, có hai phương pháp phòng tránh TNTT cho trẻ mầm non là phương pháp chủ động và phương pháp thụ động

- Phương pháp phòng, tránh TNTT chủ động đòi hỏi trẻ phải nhận thức được mối nguy hiểm có thể xảy đến với bản thân và chủ động thực hiện các kĩ năng để ứng phó và phòng tránh

- Phương pháp phòng, tránh TNTT thụ động lại đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của giáo viên cũng như các phương tiện, công cụ hỗ trợ để ứng phó và phòng, tránh

Như vậy, để phòng tránh TNTT cho trẻ mầm non cần xác định và thực hiện được các biện pháp cả chủ động và thụ động nêu trên

1.2.3 Kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non

Về kĩ năng có rất hiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứ và đã đưa ra những quan điểm khác nhau Tổng kết lại, cho thấy có hai quan niệm về kĩ năng như sau: cách thứ nhất, xem kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật hành động, còn cách thứ hai xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con người

Theo cách tiếp cận thứ nhất, kĩ năng được xem như phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững Người có kĩ năng hoạt động nào đó là người nắm được tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả hành động A.V.Petrovski và V.A.Crutetxki cho rằng: kĩ năng

là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững, không cần tính đến kết quả hành động [*] Còn A.G Kovaliov định nghĩa: kĩ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động [*] Ông cũng không đề cập đến kết quả hành động Theo ông, kết quả hành động phụ thuộc vào năng lực của con người chứ không chỉ là nắm vững cách thức hành động là có kết quả tương ứng

Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: Kĩ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật của hành động, có

kĩ năng [*]

Trang 20

Như vậy theo quan điểm thứ nhất có thể nhận thấy kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kĩ thuật hành động

Họ coi trọng cách thức thực hiện hành động hơn kết quả của hành động đó

Theo cách tiếp cận thứ hai, kĩ năng được xem xét nghiêng về năng lực của con người, là biểu hiện của năng lực con người chứ không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động, gồm có N.D.Leevitov [*], G.G Golubev, X.I Kixegov, K.K Platonov, Nguyễn Quan Uẩn [*], Nguyễn Văn Đồng [*], Huỳnh Văn Sơn [*] Cách tiếp cận này chú ý tới kết quả của hành động, coi kĩ năng là năng lực thực hiện một công việc với kết quả nhất định trong một thời gian nhất định trong điều kiện mới

Tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev cho rằng:" kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong khoảng thời gian tương ứng"

Từ điển tiếng Việt (1992) cũng định nghĩa "Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế"

Tác giả Vũ Dũng đã khẳng định: "Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng" [*]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn: "Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần

về mặt kĩ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con người” [*]

Tác giả Đặng Thành Hưng: “ Kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học- tâm lí khác nhau của cá nhân (chủ thể của kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định [*]

Chúng tôi cho rằng cần xem xét kỹ năng một cách toàn diện trên cả 2 khía cạnh: Thứ nhất, kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định

Trang 21

(không có kỹ năng chung chung, trừu tượng, tách rời hành động) Thứ hai, kỹ năng là một biểu hiện năng lực của con người nên vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt và tính mục đích Để có kỹ năng hành động, cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, phương thức, điều kiện hành động) mà phải mềm dẻo, linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh theo đúng logic của nó với mọi điều kiện có thể có để đạt được mục đích của hành động Tức là, kỹ năng được hình thành trên cơ sở của tri thức nên người có

kỹ năng thì không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau.Vì vậy nếu nghiên cứu sự hình thành và phát triển kĩ năng, nhất thiết cần quan tâm đến mặt

kĩ thuật cũng như kết quả của thao tác, hành động hay hoạt động

Từ những đặc điểm trên chúng tôi cho rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng

Như vậy, kĩ năng có các đặc điểm cơ bản sau:

- Kĩ năng cho phép con người thực hiện các hành động cụ thể, có tính khoa học, cá nhân, có tính chuẩn mực nhất định và có thể đánh giá được dựa trên những tiêu chí nhất định

- Kĩ năng luôn có tính linh hoạt trong những hoàn cảnh khác nhau sao cho phù hợp với mục đích, điều kiện thực hiện

- Kĩ năng của một con người chỉ quan sát và đánh giá được thông qua hành động cụ thể của họ trong các tình huống thực tiễn

- Kĩ năng có thể rèn luyện được thông qua sự lĩnh hội các tri thức khoa học cùng với những hành động cụ thể của cá nhân trong cuộc sống

- Kĩ năng và tri thức luôn gắn liền và có quan hệ chặt chẽ với nhau

Dựa vào khái niệm kĩ năng như trên, theo chúng tôi: Kĩ năng phòng, tránh TNTT là hành động của trẻ vận dụng những kiến thức để nhận diện đồng

Trang 22

thời biết cách ứng phó, xử lí được với những tình huống bất lợi, nguy hiểm có thể xảy ra để giữ an toàn cho bản thân

Giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ chính là làm thay đổi hành

vi của trẻ từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành động mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân góp phần phát triển bền vững xã hội

Thực tế cho thấy, kỹ năng luôn được hình thành từ thực tiễn, khi con người muốn áp dụng kiến thức để thực hiện hành vi nhằm đạt được mục đích Vì vậy, kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng của con người Để đạt được kĩ năng thông thường phải trải qua một quá trình thực hành lâu dài Kĩ năng được phân loại theo nhiều cách khác nhau, nó phụ thuộc vào mục đích sử dụng như yêu cầu về sức khỏe, nâng cao năng lực tâm lí - xã hội, tích cực hành động trong các mối quan hệ xã hội…

- Theo yêu cầu về sức khỏe được chia thành ba nhóm: Nhóm kĩ năng về thể chất, nhóm kĩ năng về tinh thần, nhóm kĩ năng về xã hội

- Theo năng lực tâm lí - xã hội được chia thành ba nhóm: Nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng đương đầu và kiểm soát tình cảm, nhóm kĩ năng giao tiếp, ứng xử

- Theo hành động trong các mối qua hệ xã hội được chia thành ba nhóm bao gồm nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả

Căn cứ vào toàn bộ quá trình xảy ra tai nạn thương tích kể từ trước khi tiếp xúc, trong lúc tiếp xúc cho đến sau khi tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ; có thể phân chia thành ba cấp độ dự phòng:

Dự phòng cấp 1 là dự phòng trước khi TNTT xảy ra

Mục đích của việc dự phòng là không để xảy ra TNTT bằng cách loại bỏ các yếu tố nguy cơ hoặc không tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây nên TNTT

Trang 23

Các biện pháp dự phòng ban đầu có thể bao gồm việc lắp đặt rào chắn quanh các ao hồ, để phích nước nóng ở nơi an toàn mà trẻ em không với tay tới được, sử dụng các thiết bị an toàn khi chơi thể thao

Dự phòng cấp 2 là dự phòng trong khi TNTT xảy ra

Mục đích của việc dự phòng là làm giảm mức độ nghiêm trọng của các thương tổn khi xảy ra TNTT như đội mũ bảo hiểm xe máy để phòng tránh chấn thương sọ não khi tai nạn giao thông xảy ra

Dự phòng cấp 3 là dự phòng sau khi có TNTT xảy ra

Mục đích của việc dự phòng là làm giảm thiểu hậu quả sau khi TNTT xảy

ra Thực hiện biện pháp điều trị với hiệu quả tối đa là điều kiện để giảm thiểu hậu quả của TNTT, sự tàn tật và tử vong Đồng thời các biện pháp phục hổi chức năng cũng giúp cho nạn nhân hồi phục một cách tối đa các chức năng của

cơ thể

Hiện nay vấn đề TNTT đang được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là TNTT đối với trẻ em do tính phổ biến cũng như mức độ trầm trọng của nó Vì vậy việc phòng, tránh TNTT cần phải căn cứ vào các loại hình, nguyên nhân gây nên cũng như thực hiện các cấp độ dự phòng một cách có hiệu quả

Có thể hiểu kĩ năng là năng lực của con người có thể thực hiện thuần thục

một hoặc một số công việc nhất định nhằm đạt được mục đích

Như vậy: Kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ em là khả năng (năng lực) của trẻ có thể tự mình thực hiện thuần thục các hành vi nhằm hạn chế các TNTT cho bản thân hoặc bạn bè

Để trẻ hình thành được kĩ năng phòng tránh TNTT thì cần phải có sự hướng dẫn, giáo dục của giáo viên, gia đình và trải qua quá trình thực hành trên thực tế Việc cung cấp kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non là rất cần thiết bởi vì môi trường và mọi hoạt động của trẻ luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ Và khi trẻ có kĩ năng phòng, tránh TNTT thì sẽ giúp trẻ luôn cảm thấy an toàn, tự tin, sẵn sàng đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống

1.2.4.Giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 24

Mục tiêu của giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT là nhằm giúp trẻ chủ động nhận biết và tránh xa các mối nguy hiểm, bình tĩnh tìm kiếm sự giúp đỡ của người lớn, thực hiện các quy tắc an toàn nhằm phòng, tránh TNTT cho bản thân và người xung quanh

Giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi chính là quá trình

có mục đích, được tổ chức của nhà giáo dục nhằm tác động đến trẻ 5-6 tuổi để cung cấp kiến thức, thái độ và kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ tại trường mầm non

Để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT giáo viên cần phải nắm bắt được các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, thực hiện lồng ghép các nội dung phòng, tránh TNTT trong hoạt động giáo dục đa dạng với nhiều phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp với trẻ 5 – 6 tuổi, trong đó chú trọng các trò chơi, nhằm giúp trẻ có kĩ năng tự bảo vệ bản thân, nhận diện và tránh xa nguy hiểm

Tóm lại, giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi là hoạt động của giáo viên nhằm cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho trẻ 5 – 6 tuổi nhận thức được nguy cơ tai nạn và chủ động phòng, tránh TNTT

Trang 25

luyện kỹ năng sáng tạo qua các hình thức nghệ thuật đa dạng, giúp cho trẻ nâng cao thể lực, tố chất vận động: nhanh nhẹn hơn, bền bỉ hơn, dẻo dai hơn các khả năng ngôn ngữ, tưởng tượng, trí nhớ, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề cũng như biết cách hợp tác với các bạn trong nhóm chơi để đảm bảo tính tập thể, tính

kỉ luật, tính tự chủ, tính linh hoạt, tính tự tin, sự thân thiện, lòng bao dung… Như vây, trò chơi là con đường, là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em

1.3 Một số vấn đề về giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

ở trường mầm non

1.3.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

Mục tiêu của giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi được xây dựng trên cơ sở của chương trình GDMN và kết quả mong đợi của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Mục tiêu lựa chọn phải gần gũi với cuộc sống của trẻ, phát triển các khả năng cần thiết để trẻ nhận biết các nguy cơ gây TNTT và thực hiện các quy tắc an toàn, phòng, tránh được TNTT Cụ thể:

a) Giáo dục trẻ nhận biết các yếu tố gây nguy hiểm như: Các vật dụng gây nguy hiểm, những nơi gây nguy hiểm, những hành động gây nguy hiểm cho bản thân trẻ

b) Giáo dục trẻ biết tránh xa những nơi gây nguy hiểm và những vật dụng gây nguy hiểm, tránh những hành động gây nguy hiểm

c) Trẻ biết nhận ra một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ d) Trẻ có kĩ năng xử lý các tình huống đơn giản khi bản thân, bạn bè, những người xung quanh bị TNTT

1.3.2 Nội dung, phương pháp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.3.2.1 Nội dung giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

Bao gồm:

a) Các kĩ năng thực hiện qui tắc an toàn cơ bản như:

- Kĩ năng thực hiện các qui tắc an toàn khi tham gia giao thông như: chấp hành luật lệ giao thông, đi theo chỉ dẫn của đèn tín hiệu giao thông, khi đi bộ đi

Trang 26

trên vỉa hè, ki sang đường phải có người lớn dắt, đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên

xe máy, khi ngồi trên tàu xe không thò đâu ra cửa sổ…

- Kỹ năng thực hiện quy tắc khi ăn uống để đảm bảo an toàn không bị hóc sặc: Trong khi ăn không chạy nhảy, đùa nghịch mà phải ngồi một chỗ, ăn miếng nhỏ, nhai kĩ thức ăn và không nói chuyện khi ăn Không ăn các thực phẩm ôi thiu Không tự ý uống thuốc khi chưa được cho phép và chỉ dẫn của người lớn

b) Các kĩ năng phòng, tránh các tai nạn thông thường:

- Nhận biết và tránh xa các vật có thể gây nguy hiểm như ổ điện, nước nóng, bếp lửa, sâu bọ và côn trùng, chó mèo những con vật xung quanh trẻ…

- Nhận biết và không đến gần những nơi gây nguy hiểm như: Ao hồ, sông suối, bể nước, lan can không có phần lưới bảo vệ…

- Nhận biết những hành động có thể gây ran guy hiểm cho bản thân và những người xung quanh như: Leo trèo, xô đẩy bạn, cười đùa khi ăn uống, tự ý

đi ra đường một mình mà không có người lớn đi cùng, trèo qua lan can…

- Nhận biết được các tình huống gây nguy hiểm và biết gọi người giúp đỡ như: Khi bản thân hay bạn bị ngã, khi nhìn thấy có người bị đuối nước hoặc nhìn thấy bạn bị các tai nạn, chấn thương

c) Kỹ năng thông báo tìm kiếm sự giúp đỡ của người lớn: Biết số điện thoại của bố mẹ hoặc người thân, biết địa chỉ nhà mình, biết các số điện thoải khẩn cấp như: 114 gọi xe cứu thương, 113 gọi cảnh sát…

1.4.2.2 Phương pháp giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi

Các phương pháp được sử dụng trong việc giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi là:

- Nhóm phương pháp trực quan: Sử dụng trực quan trực tiếp (làm mẫu, đóng kịch ); trực quan gián tiếp (hình ảnh, phim đèn chiếu; tranh vẽ ) giáo viên là người hướng dẫn trẻ dưới sự hỗ trợ của các phương tiện, đồ dùng dạy học Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau: Phương tiện hay còn gọi là đồ dùng dạy học đẹp, màu sắc bắt mắt, lôi cuốn được trẻ hoạt động; Sử dụng đúng lúc, đúng mức độ phương tiện trực

Trang 27

quan; Không đề cao và tuyệt đối hóa các phương tiện trực quan

Để giáo dục trẻ tránh xa những nơi nguy hiểm giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh để làm công cụ giáo dục…sử dụng các hình ảnh trong phim hoạt hình, phim truyện thiếu nhi, các chương trình trò chơi trên truyền hình… Trong quá trình giáo dục giáo viên có thể cho trẻ xem các đoạn video có các tình huống gây TNTT để trẻ nhận biết, thảo luận , đồng thời sử dụng các hình ảnh trên truyền hình để giáo dục trẻ tránh xa những nơi gây nguy hiểm Giáo viên cũng có thể

sử dụng tranh ảnh có nội dung nói về TNTT, từ đó trẻ sẽ khắc sâu những hình ảnh đó, việc sử dụng đa dạng các hình ảnh khác nhau kết hợp với lời nói, lời giải thích sẽ giúp trẻ phát triển vốn kĩ năng phòng, tránh TNTT

- Nhóm phương pháp dùng lời: Sử dụng: Đàm thoại, trò chuyện, kể chuyện, giải thích để truyền đạt và giúp trẻ thu thập thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói

Yêu cầu đặt ra trong sử dụng các phương pháp dùng lời để giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non, đó là những lời nói, câu hỏi của giáo viên đặt ra cần ngắn gọn, cụ thể, gần với kinh nghiệm sống của trẻ Các câu chuyện, các bài thơ, ca dao, đồng giao, bài hát, hò vè có nội dung giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cũng cần khuyến khích sự tập trung chú ý của trẻ, thể hiện tính nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu thẫm mỹ của trẻ thơ Các tình huống và hệ thống các câu hỏi cũng yêu cầu gắn liền với thực tế, khuyến khích trẻ tích cực tư

duy, tưởng tượng, trí nhớ trong quá trình hoạt động để giải quyết vấn đề

- Nhóm phương pháp thực hành: luyện tập các kỹ năng theo các phương pháp cụ thể, như

+ Luyện tập theo mẫu:

+ Luyện tập biến đổi trong các tình huống có vấn đề

+ Thực hành trải nghiệm thực tế ảo:

+ Phương pháp trò chơi

Trang 28

Trò chơi là phương tiện giáo dục hiệu quả đối với trẻ mẫu giáo nói

chung, trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng Trẻ ở độ tuổi này rất thích tham gia các trò chơi, đặc biệt là các trò chơi mang tính tập thể Trong khi chơi trẻ sẽ bộc lộ hết mình, qua đó phát triển các năng lực cá nhân và xã hội theo độ tuổi Đối với việc phòng, tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi, trò chơi tạo cơ hội thuận lợi nhất để hình thành và củng cố các kĩ năng phòng, tránh TNTT một cách hiệu quả Để làm được điều đó, trò chơi phải hấp dẫn đối với trẻ, cách phải đơn giản, rõ ràng và thể hiện được những nội dung phòng, tránh TNTT cần giáo dục trẻ dưới hình thức mô phỏng các tình huống thực, giúp trẻ được luyện tập củng cố các kỹ năng được trang bị Khi tổ chức chơi giáo viên nên chú trọng đến các trò chơi nhóm

để nhiều trẻ có thể tham gia, tạo cơ hội cho trẻ rèn luyện kĩ năng hợp tác, chia

sẽ, trao đổi, sự đoàn kết trong khi chơi…

- Phương pháp nêu gương - đánh giá: Giáo viên sử dụng các hình thức đánh giá như khen thưởng, phê bình nhưng chủ yếu là biểu dương, khuyến khích trẻ theo gương bạn ngoan, hành vi tốt, đồng thời thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình trước các việc làm hay hành vi chưa phù hợp của trẻ

Các phương pháp nêu trên cần được giáo viên sử dụng phối hợp, linh hoạt, phù hợp với từng nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT, với khả năng của trẻ và điều kiện thực tiễn của nhóm, lớp, của nhà trường

1.5 Trò chơi là phương tiện hiệu quả để giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 ở trường mầm non

1.5.1 Các loại trò chơi được sử dụng trong giáo dục phòng, tránh TNTT

Trang 29

động trong môi trường giả định giống như thật Thông qua trò chơi trẻ có thể lĩnh hội được các kiến thức, kĩ năng và cách xử lý các tình huống khác nhau

- Trò chơi đóng kịch: Là trò chơi giáo viên xây dựng các tình huống cụ thể có liên quan đến nội dung giáo dục, có các vai chơi, trẻ sẽ tham gia đóng các vai chơi đó và thể hiện các hành động của các nhân vật Khi tham gia vào trò chơi này trẻ sẽ rất hứng thú, giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và mang lại cho trẻ những trải nghiệm thực tế qua các tình huống trong vở diễn

Các trò chơi đóng kịch tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến kích trẻ tham gia bằng vai trò diễn viên hoặc khan giả Đây là trò chơi nhóm, trẻ phối hợp với nhau, trao đổi với nhau và tìm ra cách giải quyết tối ưu nhất

- Trò chơi đóng vai theo chủ đề: Trẻ được trải nghiệm với các cách ứng

xử trong tình huống giả định Đối với loại trò chơi này trẻ đòi hỏi trẻ phải tập nghĩ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà trẻ quan sát được Ngoài ra loại trò chơi này giúp gây hứng thú cho trẻ, kích thích trẻ tư duy, đặc biệt trẻ có thể cảm nhận thấy những tác động của lời nói và việc làm của các nhân vật mà trẻ đóng vai Từ đó trẻ sẽ thay đổi thái độ hoặc hành vi của mình trước các tình huống bất kì Ví dụ: Tình huống trẻ làm gì khi bị lạc?

- Trò chơi học tập: Là trò chơi được xây dựng dựa trên nội dung cho trước, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ Trẻ sẽ dùng kiến thức, kinh nghiệm của mình để chơi và lĩnh hội kiến thức, trò chơi học tập luôn luôn có cách chơi, luật chơi rõ ràng

Trẻ có thể tham gia các trò chơi theo nhóm, trò chơi cá nhân, trò chơi vận động, trò chơi trí tuệ, hoặc kết hợp vận động và trí tuệ, các trò chơi theo từng chủ đề khác nhau

1.5.2 Yêu cầu lựa chọn và sử dụng trò chơi trong giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi

1.5.2.1 Yêu cầu đối với việc lựa chọn trò chơi:

Trang 30

Lựa chọn và sử dụng trò chơi phải phù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung giáo dục, đặc biệt, nhu cầu chơi và khả năng thực hiện của trẻ, từ đó giúp trẻ „được học“ các kỹ năng phòng, tránh TNTT „qua chơi“ Cụ thể, cần:

-Trò chơi được lựa chọn đảm bảo việc sử dụng phù hợp ở các thời điểm tổ chức trong ngày (sau thời gian đón trẻ buổi sáng, trước thời gian đón trẻ buổi chiều; hoạt động góc và hoạt động chiều ); trong tuần (hoạt động chuyên biệt) hay trong tháng/ chủ đề

- Trò chơi được lựa chọn phù hợp với không gian và nhóm chơi dự kiến:

tổ chức trong nhà, ngoài trời; theo nhóm nhỏ ở góc lớp, nhóm lớn- trong lớp hay theo các lớp, khối lớp

- Trò chơi được lựa chọn phù hợp với yêu cầu rèn luyện từng nội dung giáo dục kỹ năng hay nhóm kỹ năng phòng, tránh TNTT, tuy nhiên, nội dung giáo dục được sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm, phát triển và cụ thể bằng kế hoạch giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ của giáo viên

- Trò chơi cho phép trẻ được tham gia một cách tích cực, chủ động và sáng tạo (trẻ là người khởi xướng, trẻ được tự mình chọn đồ chơi và trò chơi theo sở thích, trẻ tham gia theo hứng thú sở thích chứ không bị ép buộc, trẻ chơi một cách tự nhiên nhất và bộc lộ hết mình

1.5.2.2 Yêu cầu đối với việc tổ chức trò chơi

- Khi tổ chức trò chơi giáo viên cần thực hiện đúng nguyên tắc giáo dục

„lấy trẻ làm trung tâm“ – trẻ/ nhóm trẻ là người khởi xướng, tổ chức, thực hiện, điều chỉnh và đánh giá trò chơi)- thu hút được sự tham gia tích cực của tất cả trẻ trong nhóm, lớp

- Khi tổ chức trò chơi cần đảm bảo các nội dung giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT được củng cố, luyện tập nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau và đảm bảo đều khắp đối với tất cả trẻ

- Khi tổ chức chơi phải đảm bảo các điều kiện về không gian, thời gian,

đồ dùng, đồ chơi cần thiết, tuy nhiên, hình thức chuẩn bị và tổ chức đơn giản, thời gian không kéo dài, tạo áp lực đối vơi giáo viên và với trẻ mầm non

Trang 31

- Hướng dẫn các trò chơi phải phù hợp với trẻ 5 - 6 tuổi Đối với các trò chơi phải có cách chơi, luật chơi rõ ràng Với những trò chơi trẻ đã được chơi từ trước thì có thể cho trẻ nhắc lại cách chơi, luật chơi và cô chỉ đóng vai trò là người bao quát Nhưng đối với những trò chơi mới đòi hỏi giáo viên phải nêu được cách chơi, luật chơi đúng, rõ ràng mới giúp trẻ chơi tích cực, khai thác được tác dụng của trò chơi nhằm giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ

- Khi sử dụng các trò chơi nên kết hợp với các câu đố, ca dao, đồng giao, bài hát…vào các thời điểm điểm khác nhau, trong các hình thức hoạt động khác nhau, với những mục đích khác nhau như: Gây hứng thú, cung cấp kiến thức mới về sự vật, hiện tượng xung quanh

1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng trò chơi trong giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi

- Sự tương tác giữa giáo viên và trẻ: Là sự tác động qua lại giữa cô và trẻ Hiệu quả đạt được phụ thuộc vào sự tương tác đó Giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ thông qua việc sử dụng trò chơi giáo viên phải chú ý đến cách sử dụng, các dạng trò chơi khác nhau để lôi cuốn trẻ tham gia, trong quá trình tương tác giáo viên phải thường xuyên khích lệ trẻ

- Nội dung; chương trình; tài liệu giảng dạy

Giáo viên lồng ghép, vận dụng vào thực tế những kiến thức, kĩ năng, thái độ… Có nghĩa là việc giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT có thể được lồng ghép vào các chủ đề của chương trình GDMN như: Chủ đề động vật, thực vật, tết và mùa xuân… Những nội dung giáo dục đưa ra phải phù hợp với với nhu cầu, hứng thú, khả năng nhận thức của trẻ Vì vậy, khi lựa chọn nội dung và hình thức giáo dục phải dựa trên đặc điểm của người dạy và người học Khi lựa chọn các tài liệu giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cần sử dụng thêm các ví

dụ cụ thể, hình ảnh trực quan, kinh nghiệm của trẻ, sự hứng thú của trẻ, ngoài ra

có thể sử dụng thêm các phương tiện khác như tivi, đài, đầu đĩa…

- Môi trường hoạt động

Trang 32

Để tố chức được các hoạt động thì yếu tố đầu tiên phải là có môi trường đảm bảo, không gian rộng rãi đảm bảo được số lượng trẻ tham gia hoạt động, môi trường đảm bảo thoáng mát, thân thiện…Yếu tố môi trường sẽ kích thích sự hứng thú cho trẻ, giúp trẻ hoạt động tích cực từ đó các kĩ năng của trẻ cũng được phát triển Ngoài môi trường trong nhà còn có môi trường gia đình, môi trường cộng đồng Người giáo viên phải biết kết hợp giữa việc rèn luyện kĩ năng phòng, tránh TNTT với các điều kiện khác như phát triển môi trường tâm lí xã hội và gắn với các dịch vụ cộng đồng

Kết luận chương 1

Trò chơi là một phương tiện hiệu quả trong giáo dục phát triển toàn diện Giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT thông qua trò chơi là một cách làm hiệu quả Chương 1 đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT và giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT thông qua trò chơi với các loại trò chơi có nhiều ưu thế sử dụng trong giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT, các yêu cầu đối với việc lựa chọn và sử dụng trò chơi để thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT Cho thấy: trò chơi phải được lựa chọn

và tổ chức sao cho phù hợp tối đa với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non, với điều kiện cụ thể của trường, lớp, địa phương, đông thời, phù hợp với đặc trưng của hoạt động giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi Việc thực hiện tốt các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT thông qua trò chơi

sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ 5 - 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG, TRÁNH TNTT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI TẠI CÁC TRƯỜNG TRÊN

2.1.2 Nội dung khảo sát

- Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông

qua trò chơi của một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh

- Thực trạng các biện pháp được sử dụng trong việc giáo dục kĩ năng

phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi

- Thực trạng mức độ kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi

2.1.3 Phương pháp khảo sát

- Quan sát: các trò chơi và cách tổ chức trò chơi để thực hiện các nội dung giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Phiếu trưng cầu ý kiến cho giáo viên, CBQL, Cha, Mẹ trẻ 5-6 tuổi của 05

Trang 34

trường mầm non

- Phỏng vấn trực tiếp một số CBQL và giáo viên tại 05 trường mầm non

- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Các kế hoạch theo chủ đề, tuần, tháng, năm của các trường mầm non

2.1.4 Đối tượng và địa bàn khảo sát

Khảo sát thực trạng tiến hành tại 05 trường Mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, đó là: Trường mầm non Hà Huy Tập, trường mầm non Quang Trung 1, trường mầm non Lê Mao, trường mầm non Hoa Hồng, trường mầm non Sao Mai

Tập trung khảo sát thực trạng công tác giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT thông qua trò chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các nhóm khách thể:

+ CBQL các trường mầm non: 25 người, bao gồm: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, tổ trưởng tổ chuyên môn

+ GV tại các trường mầm non: 75 người

+ Cha, Mẹ của trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non: 50 người

Bảng 2.1 Danh sách các trường và các đối tượng khảo sát

Trang 35

Kĩ năng phòng, tránh TNTT của trẻ 5 - 6 tuổi là khả năng nhận biết những nguyên nhân gây TNTT và vận dụng kiến thức, kinh nghiệm của mình để xử lý khi gặp TNTT Tuy nhiên, trên địa bàn hiện nay tình trạng TNTT vẫn diễn ra nhiều và để lại những hậu quả đáng tiếc TNTT mà trẻ thường gặp là: Ngã do trẻ leo trèo, ngã do trẻ xô đẩy lẫn nhau, trẻ tự ngã trong khi chơi, , …

Bảng 2.2 Thực trạng TNTT của trẻ 5 - 6 tuổi hiện nay

có TNTT đối với trẻ 5 - 6 tuổi Như vậy, có thể nói TNTT thường xuyên xảy ra với trẻ 5 - 6 tuổi

Bảng 2.3 Nguyên nhân chủ yếu gây TNTT đối với trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 36

Tai nạn giao thông 9 6.0

Bảng 2.3 cho thấy: Nguyên nhân của TNTT đối với trẻ 5 - 6 tuổi thường

do ngã trong lúc chơi (chiếm 52.67% người được phỏng vấn) Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác dẫn đến TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi đó là do vật sắc nhọn, do hóc sặc, bỏng, động vật cắn… Kết quả điều tra này có thể thây là khá phù hợp với thực tế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trẻ ngã, như trẻ xô đẩy nhau, trẻ leo trèo, trẻ tự vấp ngã…

Khi phỏng vấn sâu các giáo viên ở trường mầm non Quang Trung 1 chúng tôi được biết “Trẻ thường xuyên gặp phải TNTT, chỉ cần cô lơ là đi một chút trẻ

có thể nghịch phá và xô đẩy nhau dẫn đến TNTT”… “Trẻ 5 - 6 tuổi rất hiếu động, cô luôn luôn phải giám sát, thật chí có những lúc hoạt động ngoài trời có

cô đứng bao quát nhưng trẻ vẫn xô đẩy nhau gây TNTT” Các Cha, Mẹ cũng cho rằng: “Bé ở nhà rất nghịch ngợm và hay bị ngã do leo trèo, có lần do chạy nhảy nên bị ngã phải vào viện khâu khâu năm mũi ở đầu” Hầu hết tất cả CBQL,

GV, phụ huynh trẻ đều nhận thấy TNTT có thể xảy ra đối với trẻ bắt cứ lúc nào

Bảng 2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi

Do bẩm sinh, trẻ biết từ nhỏ 2 1,3

Do trẻ tự biết được thông qua cuộc sống hàng ngày mà

không cần sự giúp đỡ của người lớn

16 10,7

Do người lớn giáo dục, tạo môi trường cho trẻ rèn

luyện và phát triển kĩ năng phòng, tránh TNTT

132 89,0

Trang 37

Tổng cộng 150 100

Nhìn vào phiếu điều tra, ta thấy rằng hầu hết CBQL, GVMN và Cha, Mẹ trẻ đều cho rằng trẻ có kĩ năng phòng, tránh TNTT là do người lớn giáo dục và tạo môi trường cho trẻ rèn luyện

Bảng 2.5 Sự quan tâm của CBQL, GV đến việc giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi

2.2.2 Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh

Qua quan sát những sinh hoạt hằng ngày và quá trình tham gia các hoạt động của trẻ tại trường mầm non thì chúng tôi nhận thấy: hầu hết trẻ đều ngoan,

có ý thức, biết lắng nghe và tiếp thu những nội dung tuyên truyền, biết làm theo những hướng dẫn của cô giáo Trẻ rất hào hứng tham gia các hoạt động vui chơi, văn nghệ, vui học cuối tuần… Tuy nhiên trẻ 5 - 6 tuổi rất hiếu động, thích chạy nhảy, leo trèo và các kĩ năng phòng, tránh TNTT lại còn hạn chế

Trang 38

2.2.2.1 Thời gian tổ chức giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ MN

Nhận thấy TNTT có thể xảy ra với trẻ bất cư lúc nào và các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNTT Các trường đã tổ chức giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT vào thời gian:

Bảng 2.6 Thời gian giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường

Xuyên suốt các tháng trong năm học 12 12 Lồng ghép trong các hoạt động của trẻ 81 81

Từ 2 đến 3 buổi trong 1 tuần 1 1

Dựa vào bảng 2.6 ta thấy rằng tại các trường mầm non phân bổ thời gian giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT khác nhau Có 81/100 phiếu đánh giá (Chiếm 84%) CBQL và GV dành thời gian lồng ghép giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT trong các hoạt động của trẻ như: Hoạt động học, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều… Có 12/100 phiếu (Chiếm 12%) CBQL và GV cho rằng nên giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi xuyên suốt trong năm học Những CBQL, GV còn lại cho rằng nên tổ chức giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT 1 buổi/ 1 tuần và 1 phiếu trả lời nên tổ chức 2 đến 3 buổi/ 1 tuần Tóm lại, giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi cần có kế hoạch và thời gian cụ thể, rõ ràng để giúp trẻ tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng phòng, tránh một cách hiệu quả nhất

Trang 39

2.2.2.2 Nội dung giáo dục kỹ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ MN

Qua khảo sát kế hoạch giáo dục của 05 trường: Trường mầm non Hà Huy

Tập, trường mầm non Quang Trung 1, Trường mầm non Lê Mao, Trường Mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Sao Mai về nội dung giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 – 6 tuổi được thực hiện ở các trường như sau:

a) Trường mầm non Hà Huy Tập:

- Biết một số nội quy, quy định của lớp, trường học, gia đình, nơi công cộng như: Trật tự khi ăn, không chạy nhảy, xô đẩy nhau, đi bên phải đường, không tự ý đi qua đường

- Biết cách tránh xa những nơi gây nguy hiểm như: Ao hồ, ổ điện, nhà bếp…

- Không tự ý sử dụng các đồ dùng gây nguy hiểm như: Các vật sắc nhọn (Dao, kéo ), bật lửa,…

- Biết cách ứng xử khi có hỏa hoạn

- Biết các ứng xử khi gặp người lại

- Biết giữ bình tĩnh và gọi người giúp đỡ khi bị lạc

- Biết các số điện thoại khẩn cấp như: Gọi cứu thương, gọi cứu hỏa, gọi cảnh sát

- Nhận biết một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ

b) Trường mầm non Quang Trung 1

- Trẻ nhận biết những nơi nguy hiểm, những hành động gây TNTT, những vật dụng sắc nhọn và cách phòng tránh khi gặp những hành động nguy hiểm

- Trẻ biết không đi theo người lạ, không tự ý đi qua đường

- Biết các số điện thoai khẩn cấp

c) Trường mầm non Lê Mao

- Trẻ biết tránh xa những nơi nguy hiểm, những vật dụng có thể gây nguy hiểm, biết chơi an toàn với bạn

- Biết sử dụng một số đồ vật có thể gây nguy hiểm

- Các bé gái tự bảo vệ bản thân, tránh các hành vi xâm phạm cơ thể

Trang 40

- Biết cách gọi người giúp đỡ khi bị lạc

d) Trường mầm non Hoa Hồng

- Biết cách sử dụng những đồ vật gây nguy hiểm

- Không làm những việc gây nguy hiểm cho bản thân và những người xung quanh

- Biết chơi an toàn với bạn: Không tranh dành, không xô đẩy bạn…

- Thực hiện các nội quy của trường, lớp học

- Nhớ số điện thoại người thân, địa chỉ nhà và cách ứng xử khi gặp người lại

e) Trường mầm non Sao Mai

- Không làm những việc gây nguy hiểm

- Biết tránh xa những nơi gây nguy hiểm

- Biết ứng xử với các loại hóa chất

- Biết cách gọi giúp đỡ khi bị lạc

- Không nhận quà và đi theo người lạ khi chưa được sự cho phép của người lớn

Qua phiếu điều tra đối với CBQL, GVMN chúng tôi nhận thấy các nội

dung giáo dục kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là:

- Nhận biết và tránh xa những nơi gây nguy hiểm; không làm những việc gây nguy hiểm như: Không chơi gần ao hồ, sông, suối, ổ điện, không chơi những vật dụng sắc nhọn, không leo trèo, chạy nhảy, không xô đẩy bạn; có những hành

vi văn minh trong khi ăn, khi ngủ…

- Không đi theo, nhận quà từ người lạ khi chưa được sự đồng ý của người lớn

- Biết gọi người giúp đỡ khi bị lạc, cách xử lý khi có hỏa hoạn

- Biết gọi người khác khi bản thân hoặc những người xung quanh bị TNTT Biết các số điện thoại khẩn cấp

- Biết các luật lệ giao thông: Biết ý nghĩa của các biển báo, biết đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe máy, đi bên phải đường…

- Nhận biết giới tính và không để người khác xâm hại thân thể

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w