Quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo được khẳng định trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa XI là: “Đổi mới căn
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NGỌC HIỀN
NGHỆ AN, 2018
Trang 3Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm
ơn TS Nguyễn Ngọc Hiền đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức
bổ ích, dìu dắt em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này
Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Các khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Chất lượng và chất lượng giáo dục 15
1.2 2 Đánh giá, tự đánh giá chất lượng giáo dục 19
1.2 3 Quản lý, Quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục 9
1.3 Một số vấn đề về hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường mầm non 20
1.3.1 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường mầm non 20
1.3.2 Nội dung và tiêu chuẩn tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non 22
1.3.3 Quy trình, Hoạt động tự đánh giá trường mầm non 24
1.3.4 Hội đồng tự đánh giá chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng tự đánh giá 30
1.4 Quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng các trường mầm non 31
1.4.1 Vai trò của hiệu trưởng đối với hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non 31
1.4.2 Quản lý hoạt động tự đánh giá trường mầm non 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự đánh giá trường mầm non 33
Trang 51.5.1 Yếu tố chủ quan 33
1.5.2 Yếu tố khách quan 34
Kết luận chương 1 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 36
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 36
2.1.1 Mục đích khảo sát 36
2.1.2 Đối tượng khảo sát 36
2.1.3 Nội dung khảo sát 36
2.1.4 Phương pháp khảo sát 36
2.2 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non và quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non 37
2.2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ cần thiết của hoạt động tự đánh giá trường mầm non 37
2.2.2 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về khái niệm tự đánh giá trường mầm non 39
2.2.3 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của hoạt động tự đánh giá trường mầm non 40
2.2.4 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tự đánh giá trường mầm non 42
2.3 Thực trạng hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 46
2.3.1 Thực trạng các điều kiện đảm bảo hoạt động tự đánh giá 46
2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung tự đánh giá 47
2.3.3 Thực trạng thực hiện quy trình tự đánh giá 51
2.3.4 Thực trạng kết quả hoạt động tự đánh giá 53
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 54 2.4.1 Thực trạng công tác lập kế hoạch tự đánh giá chất lượng giáo dục của
Trang 6hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 54
2.4.2 Thực trạng công tác tổ chức tự đánh giá của hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 57
2.4.3 Thực trạng công tác chỉ đạo tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 59
2.5.3 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động tự đánh giá của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 60
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá của hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 62
2.6.1 Ưu điểm 62
2.6.2 Hạn chế, nguyên nhân 62
Kết luận chương 2 64
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 65
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 65
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 65
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, chất lượng và hiệu quả 66
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 66
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trưòng mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 67
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán hộ quản lý và giáo viên về hoạt động tự đánh giá trường mầm non 67
3.2.2 Lựa chọn và hình thành bộ máy nhân sự thực hiện linh động đánh giá 69 3.2.3 Bồi dưỡng nâng cao năng lực tự đánh giá và năng lực đánh giá nhà trường cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 71
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình tự đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên 73 3.2.5 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện cơ chế, quy định về chế độ đãi ngộ phù
Trang 7hợp cho người thực hiện công tác tự đánh giá nhà trường 75
3.2.6 Chỉ đạo tăng cường điều kiện cơ sở vật chất cho hoạt động tự đánh giá 76
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 77
3.4 Khảo sát tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp quản lý 78
3.4.1 Mục đích khảo sát 78
3.4.2 Đối tượng khảo sát 78
3.4.3 Nội dung khảo sát 78
3.4.4 Phương pháp khảo sát 79
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC PL1
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Trang
Sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lí 18
Sơ đồ 1.2 Các chức năng của quản lý 18
Bảng
Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL và GV về mức độ cần thiết của hoạt động
TĐG trường mầm non 38 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL và GV về khái niệm TĐG trường mầm non 39 Bảng 2.3 Đánh giá của CBQL các trường mầm non về vai trò hoạt động TĐG
trường mầm non 40 Bảng 2.4 Đánh giá của GV các trường mầm non về vai trò của hoạt động
TĐG trường mầm non 41 Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức của CBQL các trường mầm non về tầm quan
trọng của hoạt động TĐG trường mầm non 43 Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức của GV các trường mầm non về tầm quan
trọng của hoạt động TĐG trường mầm non 44 Bảng 2.7 Thực trạng các điều kiện đảm bảo hoạt động TĐG 46 Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả tự đánh giá theo tiêu chuẩn và tiêu chí 48 Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về việc thực hiện quy trình TĐG
các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 51 Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả tự đánh giá 54 Bảg 2.11 Thực trạng việc lập kế hoạch quản lý hoạt động TĐG trường mầm
non 55 Bảng 2.12 Thực trạng tổ chức triển khai hoạt động TĐG chất lượng giáo dục
của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 57
Trang 10Bảng 2.13 Thực trạng chỉ đạo hoạt động TĐG trường mầm non trên địa bàn
tỉnh Nghệ An 59 Bảng 2.14 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động TĐG trường mầm non
trên địa bàn tỉnh Nghệ An 60 Báng 3.1 Khảo sát tính cần thiết của các hiện pháp 80 Bảng 3.2 Kiểm chứng tính khá thi của các biện pháp đề xuất 81 Bảng 3.3 Đánh giá về mức độ phù hợp giữa mức độ cần thiết với mức độ khả
thi của các biện pháp 84
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về việc thực hiện quy trình
TĐG các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 53 Biểu đồ 2.2 Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý hoạt động TĐG trường
mầm non 56 Biểu đồ 2.3 Thực trạng tổ chức triển khai hoạt động TĐG chất lượng giáo
dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An 58 Biểu đồ 2.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động TĐG trường mầm non
trên địa bàn tỉnh Nghệ An 61 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp 86
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu,
là sự nghiệp của toàn Đảng và toàn dân Vấn đề đổi mới tư duy về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng đang là vấn đề được quan tâm ở nước ta Đổi mới tư duy giáo dục chỉ có ý nghĩa khi những ý tưởng mới được thể hiện cụ thể trong thực tiễn hoạt động giáo dục Quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo được khẳng định trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa XI là: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện…” [10], Nghị quyết cũng đã chỉ ra các nhiệm vụ, giải pháp là: “Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Định kỳ kiểm định các cơ sở giáo dục đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định” [10]
Tự đánh giá là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình KĐCLGD Thông qua hoạt động tự đánh giá sẽ xác định được chất lượng của
cơ sở giáo dục; đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu để từ đó xây dựng kế hoạch cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho mỗi cơ sở giáo dục Tự đánh giá còn thể hiện tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động giáo dục theo chức năng, nhiệm vụ được giao Vì vậy, tự đánh giá là một hoạt động đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai Các giải thích, nhận định kết luận đưa ra trong quá trình tự đánh giá cần
Trang 12phải dựa trên các minh chứng cụ thể, rõ ràng, đảm bảo độ chính xác, bao quát đầy đủ các tiêu chí trong các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
Thời gian qua, Bộ GĐ&ĐT đã ban hành các văn bản quy định làm căn
cứ đánh giá ở tất cả các cấp học, bậc học Đặc biệt với cấp học mầm non là cấp học mang tính nền móng thì công tác kiểm định chất lượng giáo dục luôn nhận được sự quan tâm của các cấp
Trong thời gian qua, Sở GD&ĐT Nghệ An đã tích cực chỉ đạo các trường mầm non trong tỉnh thực hiện nghiêm túc công tác KĐCLGD mầm non theo quy định của Bộ GD&ĐT Các trường đã có rất nhiều cô gắng trong việc triển khai thực hiện hoạt động tự đánh giá Tuy nhiên việc triển khai, thực hiện tự đánh giá tại các trường mầm non còn hình thức, chưa khoa học, chưa có chiều sâu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc tổ chức thực hiện hoạt động tự đánh giá ở các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa đạt hiệu quả như mong muốn Mặc dù, đến nay đã có một số nghiên cứu quan tâm đến vấn đề kiểm định chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục mầm non nói riêng Tuy nhiên, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An cho đến nay, chưa được các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Nhằm làm rõ thực trạng, quy mô và chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục của nhà trường Qua đó giúp nhà quản lý có cái nhìn hoàn chỉnh về nhà trường; xác định và so sánh, tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực kiểm định đã công bố thông qua hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục mầm non nói chung, hoạt động tự đánh giá trường mầm non nói riêng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường, tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu
trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An” hy vọng, những biện
Trang 13pháp này khi được áp dụng vào thực tế sẽ giúp hiệu trưởng các trường thực hiện tốt hơn hoạt động tự đánh giá trường mầm non
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng
3.1 Khách thế nghiên cứu
Hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục tại các trường mầm non
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non của tỉnh Nghệ An
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về kiểm định chất lượng giáo dục, tự đánh giá chất lượng giáo dục; phân tích, phân loại, xác định khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Điều tra bằng bảng hỏi: được sử dụng để thu thập các ý kiến của các đối tượng nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng KĐCLGD, thực trạng công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục ở các trường mầm non
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Được sử dụng trong gặp gỡ, trao đổi với các lãnh đạo trường mầm non
để tìm hiểu thêm về những khó khăn, vướng mắc và giải pháp để thực hiện biện pháp đảm bảo chất lượng có hiệu quả hơn
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Được sử dụng để lấy ý kiến các chuyên gia về tính thực tiễn và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Được sử dụng để thử nghiệm thực tế tại các trường mầm non nhằm kiểm nghiệm sự cần thiết và tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất
Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
Chương 2: Thực tiễn quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ
An
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, giáo dục giữ
vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng một nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, GD&ĐT ở các cấp học đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng CLGD chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đánh giá sâu sắc thực trạng GD nước ta: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, Quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo còn bất cập Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội” [10]
Thực tiễn Luật Giáo dục 2005 vâ Nghị định 75/2016/NĐ-CP ngày 02/08/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Bộ GD&ĐT đang triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp GD, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV, tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh công tác ĐG, KĐCLGD ở cấp học nhằm nhanh chóng tạo bước chuyển biến về CLGD [31]
Kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo là hoạt động đánh giá chất lượng được tiến hành trên hai góc độ bao gồm đánh giá sản phẩm đầu ra của giáo dục và đánh giá hệ thống các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục
Trang 17Theo định nghĩa của Hội đồng Kiểm định chất lượng Đại học Mỹ
(CHEA), "Kiểm định là quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài để đánh
giá các trường/ chương trình đào tạo nhằm mục đích đảm bảo và cải tiến chất lượng" [dẫn theo [7]
Kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lí chất lượng và hiệu quả nhằm mục đích đánh giá hiện trạng, xác định chính xác các điểm mạnh, điểm yếu của các nhà trường theo tiêu chuẩn đề ra, từ đó xây dựng kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để đảm bảo chất lượng và không ngừng phát triển Muốn đổi mới và nâng cao CLGD thì trước hết các nhà trường phải TĐG hoạt động chất lượng giáo dục của đơn vị
Để công tác kiểm định chất lượng giáo dục đạt hiệu quả cao, Nhà nước
và Bộ GD&ĐT đã xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống văn bản giúp các nhà giáo, nhà quản lý và các đối tượng có liên quan hiểu một cách thống nhất các khái niệm, nội dung, quy trình, công cụ đảm bảo và KĐCLGD Các văn bản đó là những công cụ pháp lý quan trọng để triển khai KĐCLGD tại các nhà trường
Nhà nước ban hành các văn bản quan trọng như: Luật Giáo dục 2005; Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục
Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về công tác KĐCLGD, như: Quyết định số 27/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 27/06/2006 ban hành quy định tạm thời các trường đại học về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/12/2004 của
Bộ GD&ĐT; Chỉ thị của Bộ trưởng số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 05/8/2008
về việc tăng cường công tác đánh giá thẩm định chất lượng giáo dục; Thông
tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về
Trang 18tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; Thông tư số 25/2014/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 8 năm 2014 Quy định về quy trình và chu kỳ kiếm định chất lượng giáo dục trường mầm non
Ngoài ra, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục đã ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác KĐCLGD
Hoạt động TĐG và KĐCLGD không chỉ được thể hiện qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn mà còn nhận được sự quan tâm từ các nhà khoa học, CBQL và GV
Khi bàn về giải pháp thực hiện tốt công tác tự đánh giá, KĐCLGD ở trường trung học, tác giả Phan Vũ Hào trong luận văn thạc sĩ "Quản lý hoạt động tự đánh giá Trường Trung học phổ thông tỉnh Nghệ An” đã chỉ ra rằng:
“TĐG nhằm làm rõ thực trạng, quy mô và chất lượng, hiệu quả của hoạt động
đào tạo của nhà trường Qua đó giúp nhà quản lý có cái nhìn hoàn chỉnh về nhà trường; xác định và so sánh, tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực kiểm định đã công bố; thúc đẩy xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; Phân tích làm rõ điểm mạnh, điểm yếu; thời cơ và thách thức của nhà trường Trên cơ sở đó để xuất những biện pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [19], tr.33]
Tác giả Trần Đăng Minh trong luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá tại Trường Trung học phổ thông Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”
cho rằng: "Tự đánh giá là phương pháp, là con đường để tạo động lực cho
các nhà trường đảm bảo chất lượng giáo dục của chính mình Tự đánh giá không chỉ giúp cho các trường định hướng chất lượng mà còn chỉ rõ con đường để đạt chất lượng đó như thế nào” [26]
Là hiệu trưởng trường mầm non và bản thân được tiếp cận nội dung kiểm định chất lượng giáo dục mầm non ngay từ lần đầu tiên Bộ GD&ĐT tập
Trang 19huấn cho cấp học mầm non, tác giả thấy rõ vị trí, vai trò của việc quản lý hoạt động tự đánh giá trường mầm non là hết sức cần thiết và đặc biệt là công tác Quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục của hiệu trưởng Đề tài nghiên cứu tại các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Nghệ An nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý và chăm sóc giáo dục trẻ
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Chất lượng và chất lượng giáo dục
1.2.1.1 Chất lượng
Chất lượng là một phạm trù phức tạp thường gặp trong các lĩnh vực hoạt động, nhất là trong lĩnh vực hoạt động kinh tế kỹ thuật, xã hội ngay trong từng lĩnh vực của đời sống con người Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi
Định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng diễn đạt
khác nhau Theo Juran, “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” Tuy nhiên Crosby cho rằng, “Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính
nhất định" Ngoài ra, Ishikawa định nghĩa, “Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục
đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau Tuy nhiên,
có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế Theo tiêu ISO, định nghĩa chất
lượng là "Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản
phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan"
Với định nghĩa trên, có thể rút ra một đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng Một là, chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được như cầu chấp nhận thì phải bị coi là có
Trang 20chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình Hai là, do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng Ba
là, khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội Bốn là, nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng Năm là, chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà
ta vẫn hiểu hàng ngày mà chất lượng còn có thế áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
1.2.1.2 Chất lượng giáo dục
Theo bàn luận ở trên, chất lượng được chú ý trên phạm vi toàn thế giới Mọi người bàn về chất lượng trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục Chất lượng giáo dục là khái niệm được thể hiện qua nhiều nghiên cứu và cũng là vấn đề được bàn luận nhiều nhất trong xã hội khi nói về giáo dục
Theo Harvey và Green (1993), chất lượng giáo dục có 5 phương diện chính như sau: (1) Chất lượng là sư tuyệt hảo, xuất chúng, là sự tuyệt vời, sự
ưu tú, xuất sắc; (2) Chất lượng là sự hoàn hảo, chất lượng của sản phẩm có nghĩa là sản phẩm không có lỗi; (3) Chất lượng là sự thích hợp, phù hợp với mục đích; (4) Chất lượng có giá trị về đồng tiền, đáng để đầu tư: (5) Chất lượng là có sự biến đổi về chất về chất Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục
Trang 21đại học Quốc tế (IQUAHEE) đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng, một là tuân thủ các chuẩn qui định, hai là đạt được các mục tiêu đề ra [20]
Theo Phạm Thành Nghị (2000) đã đúc kết có 3 trường phái lý luận về chất lượng giáo dục như (1) lý thuyết về sự khan hiếm của chất lượng; (2) lý thuyết gia tăng giá trị; (3) lý thuyết về xác định theo sứ mạng mục tiêu [27] Theo Nguyễn Đức Chính (2002), hội thảo về kiểm định chất lượng giáo dục đại học thế giới năm 2002 tại Paris đã đưa ra 6 quan điểm về chất lượng giáo dục như (1) Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào; (2) Chất lượng được đánh giá bằng đầu ra; (3) Chất lượng được đánh giá bằng giá trị gia tăng; (4) Chất lượng được đánh giá bằng giá trị học thuật; (5) Chất lượng được đánh giá bằng văn hóa riêng; (6) Chất lượng được đánh giá bằng kiểm toán [7]
Theo Lê Đức Ngọc (2010), chất lượng giáo dục được đánh giá qua mức
độ đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra đối với một chương trình giáo dục [28] Theo Trần Khánh Đức (2010), chất lượng giáo dục là kết quả của quá trình giáo dục được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách
và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo cụ thể [14]
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng là “con người” có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình giáo dục, và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị, và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu của từng ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng giáo dục không chỉ dùng ở kết quả quá trình giáo dục trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo chất lượng như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, mà còn phải tính đến mức độ phù hợp
và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, khả năng phát triển nghề nghiệp, Tuy nhiên, cần nhấn
Trang 22mạnh rằng chất lượng giáo dục là kết quả của quá trình giáo dục và được thể hiện trong khả năng hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giáo dục mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường như giá cả sức lao động, chính sách sử dụng lao động, quan hệ cung - cầu, Như vậy, ta thấy chất lượng giáo dục có hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là mức độ đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) đề ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là "chất lượng bên trong" Khía cạnh thứ hai chất lượng được xem là mức độ sự thoả mãn nhưng đòi hỏi của người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là "chất lượng bên ngoài" Mỗi cơ sở giáo dục luôn có một nhiệm vụ được phân quyền, nhiệm vụ này thường do các cơ quan quản lý quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường Từ nhiệm vụ này, nhà trường xác định các mục tiêu giáo dục của mình sao cho phù hợp với nhu cầu
sử dụng của xã hội, đạt "chất lượng bên ngoài"; và các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt mục tiêu đó, đạt "chất lượng bên trong" [13] Cũng từ quan niệm này, chúng ta thấy mục tiêu của nhà trường phải luôn gắn liền với nhu cầu xã hội Khi thiết kế mục tiêu ta phải rà soát nhu cầu
xã hội, và sao cho khi đáp ứng mục tiêu cũng là đáp ứng nhu cầu của xã hội
Khái niệm chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu giáo dục là khái
niệm được tác giả chọn làm lý luận cho luận văn
1.2.1.3 Chất lượng giáo dục trường mầm non
Từ quan niệm “Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu giáo dục”
có thể hiểu “Chất lượng giáo dục là mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục”;
“chất lượng cơ sở giáo dục là mức độ đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục được quy định theo Luật giáo dục của cơ sở giáo dục” Hiện nay ở Việt Nam, quan niệm này đã được đông đảo các nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục chấp nhận
Trang 23Chất lượng và hiệu quả giáo dục được được đánh giá trên các cấp độ khác nhau (cấp độ cá nhân người học, cấp độ nhà trường, cấp độ ngành giáo dục) Theo Luật Giáo dục năm (2005) thì:
“Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
Như vậy, xã hội đã đặt ra những yêu cầu về chất lượng giáo dục và đòi hỏi ngành giáo dục phải đáp ứng Một nhà trường chỉ được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng khi mà trường đó đáp ứng được yêu cầu của xã hội và các mục tiêu theo quy định
Tuy nhiên, mỗi nhà trường ở các vùng miền có sứ mạng khác nhau, do
đó mục tiêu của các nhà trường cũng khác nhau Mỗi nhà trường cần phải xác định được sứ mạng và mục tiêu cho chính mình; sứ mạng và mục tiêu đó phải phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Để thực hiện được sứ mạng, mục tiêu của mình, vai trò của công tác bảo đảm chất lượng là rất quan trọng Đó là hoạt động của chính nhà trường, hướng tới việc bảo đảm các điều kiện, các cơ chế, quy trình và quá trình được sắp xếp hợp lý nhất để đạt được chất lượng giáo dục
Trang 241.2.2 Đánh giá, tự đánh giá chất lượng giáo dục
1.2.2.1 Đánh giá
Trong Giáo dục học thì: “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành
những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm
đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục”
1.2.2.2 Tự đánh giá chất lượng giáo dục
Tự đánh giá là một quá trình tự học tập, tự nghiên cứu, tự hoàn thiện theo các chuẩn mực đã đề ra Quá trình này thường kéo dài vài tháng, một học
kỳ hoặc cũng có thể sau một năm học Đó là một khoảng thời gian cần thiết
để họ tự nhận thấy những khuyết điểm của mình và cố gắng khắc phục những khuyết điểm đó Tự đánh giá thuộc đánh giá bên trong của một cơ sở giáo dục
- đào tạo và cũng là cơ sở để tiến hành đánh giá ngoài
Tự đánh giá một công cụ để tự hoàn thiện quá trình giáo dục, đào tạo của một đơn vị, một cá nhân, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng các khóa đào tạo trong nhà trường
Tự đánh giá ưu điểm là do chính bản thân những thành viên của trường, của đơn vị thực hiện Họ là người hiểu rõ các khóa đào tạo của mình Nhưng
tự đánh giá thường hay mang tính chủ quan, thiếu tính khách quan, do đó để
tự đánh giá có hiệu quả cần có những tiêu chuẩn kiểm định và người tự đánh giá cần phải xác định rõ mục đích của tự đánh giá
Tự đánh giá là một khâu trong hoạt động KĐCLGD của một nhà trường Đó là quá trình nhà trường căn cứ vào các tiêu chuẩn KĐCL để tiến hành xem xét phân tích và đánh giá tình trạng chất lượng và hiệu quả của các hoạt động giáo dục, hoạt động quản lý… Từ đó có các biện pháp để điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đã
Trang 25đề ra và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của nhà trường đối với xã hội và cộng đồng
Các điều kiện đảm bảo tự đánh giá có chất lượng:
- Được tiến hành với những động lực thực chất
- Được các cấp, các bộ phận quản lý nhà trường ủng hộ toàn diện
- Được thiết kế phù hợp với nhu cầu của nhà trường
- Chỉ ra được những tồn tại và tìm được những giải pháp khắc phục phù hợp
- Thu thập đầy đủ các minh chứng xác thực, có ý nghĩa, có độ tin cậy cao
- Báo cáo tự đánh giá được trình bày tốt, phản ánh đầy đủ và trung thực quan điểm của các bên có liên quan đến chất lượng giáo dục của nhà trường
Như vậy, tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non là quá trình nhà trường tự xem xét, kiểm tra, đánh giá trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành để báo cáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả giáo dục nhân lực, cơ sở vật chất cũng như các vấn đề liên quan khác, từ đó điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục [4], tr.22]
Tự đánh giá lả một quá trình liên tục được thực hiện theo kế hoạch, cần dành nhiều công sức, thời gian, có sự tham gia của các đơn vị và cá nhân trong nhà trường Tự đánh giá đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai Các giải thích, nhận định, kết luận đưa ra phải dựa trên các thông tin,
minh chứng cụ thể, rõ ràng, tin cậy
1.2.3 Quản lý, quản lý hoạt động tự đánh giá CLGD trường mầm non
1.2.3.1 Quản lý:
Trang 26Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm pháp nhân, tập đoàn, gia hay nhóm quốc gia Hoạt động quản
lý xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm Trong quá trình tồn tại và phát triển của quan hệ đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người, có nhiều cách tiếp cận và nhiều khái niệm khác nhau
Khái niệm quản lý được theo nhiều cách và dù trải qua nhiều thế hệ nghiên cứu và phát triển quản lý (F.W.Taylor, A.Fayol, A.I.Berg, Paul, Hersey, Kenneth Blanchard, P.Drucker, A.Church,…) nhưng chưa cách giải thích nào được chấp nhận hoàn toàn Đa số định nghĩa xuất phát từ quan điểm cục bộ, ví dụ từ quản lý kinh doanh, quản lý tổ chức Điều đó là khách quan,
vì không có khái niệm nào bao quát hết mọi lĩnh vực quản lý mà đều đúng
Chẳng hạn: Tác giả Paul Hersey và Kent Blanchard cho rằng “Quản lý là một
quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức" [dẫn theo [23]
Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Quản lý và
trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [29], tr.772] Theo Từ điển Giáo
dục: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [16], tr.326]
Tác giả Phạm Minh Hạc viết: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý), nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [18], tr.24]
Trang 27Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “Quản lý là quá trình gây tác động
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung" [1], tr.16]
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối ưu các chức năng
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [6], tr.1]
Tóm lại, với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm khác nhau về quản lý Về cơ bản, các khái niệm có sự thống nhất về sự vận hành hoạt động quản lý (là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý), về tính hệ thống và các thành tố trong hệ thống (bao gồm: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ quản
lý, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý) Song trong các khái niệm cùng
Trang 28Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Bản chất của quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lí
Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng quản lý bao gồm: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Bốn chức năng của quản lý quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau
và tạo thành chu trình quản Mỗi chức năng có vai trò, vị trí riêng trong chu trình quản lý Thông tin là mạch máu của quản lý
Chức năng của hoạt động quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Các chức năng của quản lý
Trang 291.2.3.2 Quản lý giáo dục
Quản lý được thực hiện đối với những lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau, trong đó có giáo dục Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội
Theo tác giả Kondacôp, "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp
nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự liên tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng” [23]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, lên trạng thái mới về chất” [18], tr.15]
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng “Quản lý giáo dục là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng, những quy luật chung của xã hội, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [22], tr.20]
Ở nước ta, mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục
có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội
Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục như sau: Quản lý
giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục), nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã
Trang 30hội chủ nghĩa Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
1.2.3.3 Quản lý hoạt động tự đánh giá
Quản lý hoạt động tự đánh giá là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý (Ban giám hiệu nhà trường mà đứng đầu là Hiệu trưởng) lên đối tượng quản lý (GV) và khách thể quản lý (hoạt động tự đánh giá) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra
Hiệu trưởng quản lý hoạt động tự đánh gia là tổ chức chỉ đạo GV thực hiện quá trình tự đánh giá theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực đã đề ra nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo
Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá là hệ thống cách thức, phương thức tác động cụ thể của nhà quản lý nhằm quản lý hoạt động tự đánh giá, qua
đó nâng cao hiệu quả hoạt động TĐG của các cơ sở đó
1.3 Một số vấn đề về hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
1.3.1 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá trong lượng giáo dục ở trường mầm non
1.3.1.1 Mục đích tự đánh giá trường mầm non
Tự đánh giá là khâu đầu tiên trong quy trình KĐCLGD trường mầm non Tự đánh giá trường mầm non là hoạt động tự xem xét, kiểm tra, đánh giá của trường mầm non để xác định mức độ đạt được theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành
Trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục, tự đánh giá là khâu cơ bản nhất, là linh hồn của kiểm định chất lượng giáo dục Mỗi cơ sở giáo dục căn cứ vào yêu cầu của từng tiêu chuẩn tiêu chí mà chủ động, khách quan
Trang 31nhận định điểm mạnh, điểm yếu Trên cơ sở đó để đưa ra kế hoạch cải tiến chất lượng sao cho mang tính khả thi
Hoạt động tự đánh giá nhằm làm rõ thực trạng, quy mô và chất lượng, hiệu quả của hoạt động đánh giá của nhà trường Qua đó giúp nhà quản lý có cái nhìn hoàn chỉnh về nhà trường
Xác định và so sánh, tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực kiểm định đã công bố
Thúc đẩy xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong Phân tích làm rõ điểm mạnh, điểm yếu; thời cơ và thách thức của nhà trường Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Tự đánh giá cung cấp cho các bên liên quan thông tin phù hợp
Tự đánh giá là bước chuẩn bị cho đánh giá ngoài
Mục đích tự đánh giá trường mầm non là nhà trường tự xem xét, tự kiểm tra, đánh giá chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu của từng tiêu chí, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành nhằm không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục và để đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục
1.3.1.2 Ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá trường mầm non
Tự đánh giá là sự thể hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động giáo dục theo chức năng, nhiệm vụ được giao
Tự đánh giá giúp nhà quản lý và GV tự điều chỉnh hoạt động tự đánh giá của bản thân và nhà trường Tự đánh giá thúc đẩy các hoạt động đánh giá
và tự phân tích về nhà trường
Trang 32Đẩy mạnh tinh thần hợp tác trong trường, thu hẹp khoảng cách mục
tiêu cá nhân và mục tiêu tập thể và khuyến khích sự minh bạch
Phát hiện các chính sách đã lỗi thời
Đề ra được các kế hoạch hành động nhằm cải tiến nâng cao chất lượng phát triển đội ngũ
Tự đánh giá làm rõ hơn vị thế của trường với các bên liên quan
1.3.2 Nội dung và tiêu chuẩn tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
Nội dung tự đánh giá trường mầm non theo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số 25/2014/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) gồm có 5 tiêu chuẩn, 29 tiêu chí, cụ thể:
Nội dung tự đánh giá trường mầm non theo Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số 25/2014/TT-BGDĐT ngày
07 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) gồm có 5 tiêu chuẩn, 29 tiêu chí, cụ thể:
* Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường
Tiêu chí 1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường theo quy định tại Điều lệ trường mầm non
Tiêu chí 2 Lớp học, số trẻ, địa điểm trường theo quy định của Điều lệ trường mầm non
Tiêu chí 3 Cơ cấu tổ chức và việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chuyên môn, tổ văn phòng theo quy định tại Điều lệ trường mầm non
Trang 33Tiêu chí 4 Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và
cơ quan quản lý giáo dục các cấp; bảo đảm Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường
Tiêu chí 5 Quản lý hành chính, thực hiện các phong trào thi đua theo quy định
Tiêu chí 6 Quản lý các hoạt động giáo dục, quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên, trẻ và quản lý tài chính, đất đai, cơ sở vật chất theo quy định
Tiêu chí 7 Bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cho trẻ và cho cán bộ quản
lý, giáo viên, nhân viên
Tiêu chí 8 Tổ chức các hoạt động lễ hội, văn nghệ, vui chơi phù hợp với điều kiện địa phương
* Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ
Tiêu chí 1 Năng lực của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong quá trình triển khai các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
Tiêu chí 2 Số lượng, trình độ đào tạo và yêu cầu về kiến thức của giáo viên
Tiêu chí 3 Kết quả đánh giá, xếp loại giáo viên và việc bảo đảm các quyền của giáo viên
Tiêu chí 4 Số lượng, chất lượng và việc bảo đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhân viên của nhà trường
Tiêu chí 5 Trẻ được tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và được bảo đảm quyền lợi theo quy định
* Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
Tiêu chí 1 Diện tích, khuôn viên và các công trình của nhà trường theo quy định tại Điều lệ trường mầm non
Tiêu chí 2 Sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi bảo đảm yêu cầu
Trang 34Tiêu chí 3 Phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ và hiên chơi bảo đảm yêu cầu
Tiêu chí 4 Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh theo quy định
Tiêu chí 5 Khối phòng hành chính quản trị bảo đảm yêu cầu
Tiêu chí 6 Các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo Tiêu chuẩn kỹ thuật Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non
* Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Tiêu chí 1 Nhà trường chủ động phối hợp với cha mẹ trẻ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
Tiêu chí 2 Nhà trường chủ động tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, cá nhân của địa phương
* Tiêu chuẩn 5: Kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
Tiêu chí 1 Trẻ có sự phát triển về thể chất phù hợp với độ tuổi
Tiêu chí 2 Trẻ có sự phát triển về nhận thức phù hợp với độ tuổi
Tiêu chí 3 Trẻ có sự phát triển về ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi
Tiêu chí 4 Trẻ có sự phát triển về thẩm mỹ phù hợp với độ tuổi
Tiêu chí 5 Trẻ có sự phát triển về tình cảm và kỹ năng xã hội phù hợp với độ tuổi
Tiêu chí 6 Trẻ có ý thức về vệ sinh, môi trường và an toàn giao thông phù hợp với độ tuổi
Tiêu chí 7 Trẻ được theo dõi và đánh giá thường xuyên
Tiêu chí 8 Trẻ suy dinh dưỡng, béo phì và trẻ khuyết tật được quan tâm chăm sóc
1.3.3 Quy trình, hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
1.3.3.1 Quy trình tự đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non
Trang 35Theo Điều 13 tại Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số 25/2014/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 8 năm 2014 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), quy trình tự đánh giá trường mầm non gồm các bước sau:
1 Thành lập hội đồng tự đánh giá
2 Xây dựng kế hoạch tự đánh giá
3 Thu thập, xử lý và phân tích các minh chứng
4 Đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí
5 Viết báo cáo tự đánh giá
6 Công bố báo cáo tự đánh giá
1.3.3.2 Hoạt động tự đánh giá trường mầm non
Thành lập hội đồng tự đánh giá
Hiệu trưởng ra quyết định thành lập hội đồng tự đánh giá của trường mầm non Hội đồng tự đánh giá có ít nhất 5 thành viên
Chủ tịch hội đồng tự đánh giá thành lập nhóm thư ký (có thể từ 2 đến 3 người) và các nhóm công tác (mỗi nhóm từ 2 đến 5 người), nhóm trưởng là thành viên của hội đồng tự đánh giá; huy động cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường tham gia hoạt động tự đánh giá
Hội đồng tự đánh giá làm việc theo nguyên tắc thảo luận, thống nhất Mọi quyết định chỉ có hiệu lực khi ít nhất 2/3 thành viên trong hội đồng nhất trí
Xây dựng kế hoạch tự đánh giá
Chủ tịch hội đồng tự đánh giá xây dựng kế hoạch tự đánh giá Kế hoạch
tự đánh giá phải xây dựng cụ thể, chi tiết và phù hợp với điều kiện của trường mầm non Cần xác định rõ công việc, thời gian tiến hành và hoàn thành, tránh
Trang 36chung chung và hình thức Định kỳ, đánh giá việc thực hiện kế hoạch để điều chỉnh, bổ sung
Thu thập, xử lý, phân tích và lưu trữ các minh chứng
- Thu thập minh chứng:
Minh chứng được thu thập từ hồ sơ lưu trữ của trường mầm non, các cơ quan có liên quan; kết quả khảo sát, điều tra, phỏng vấn và quan sát các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của trường mầm non,
Minh chứng có nguồn gốc rõ ràng và bảo đảm tính chính xác
Căn cứ yêu cầu từng chỉ số trong các tiêu chí thuộc tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, nhóm hoặc cá nhân tiến hành thu thập minh chứng
Mã minh chứng (viết tắt là MC) được ký hiệu bằng chuỗi gồm 1 chữ cái (H), ba dấu gạch (-) và các chữ số theo công thức: [Hn-a-bc-de] Trong đó:
H là hộp (cặp) đựng MC; n là số thứ tự của hộp (cặp) đựng MC được đánh giá
từ 1 đến hết (n có thể có 2 chữ số), a là số thứ tự của tiêu chuẩn; bc là số thứ
tự của tiêu chí (từ Tiêu chí 1 đến 9, chữ b là số 0); de là số thứ tự của MC theo từng tiêu chí (MC thứ nhất viết 01, thứ 15 viết 15);
Trang 37- Sử dụng minh chứng:
Mỗi minh chứng chỉ được mã hóa một lần Minh chứng dùng cho nhiều tiêu chuẩn, tiêu chí thì mang ký hiệu của tiêu chuẩn, tiêu chí được sử dụng lần thứ nhất
Mỗi phân tích, mô tả trong mục mô tả hiện trạng của báo cáo tự đánh giá đều phải có mình chứng đi kèm Cần lựa chọn một, hoặc vài minh chứng phù hợp với yêu cầu của chỉ số và ghi ký hiệu đã được mã hóa vào sau mỗi phân tích, mô tả, nhận định Trường hợp một nhận định trong phân mô tả hiện trạng có từ 2 MC trở lên, thì mã MC được đặt liền nhau, cách nhau dấu chấm phẩy (;) Ví dụ: Một nhận định của Tiêu chí 2 thuộc Tiêu chuẩn 2 có 3 MC (đặt ở hộp số 3) được sử dụng thì sau nhận định đó, các MC được viết là: [H3-2-02-01]; [H3-2-02-02]; [H3-2-02-03];
Mỗi minh chứng chỉ cần một bản (kể cả những minh chứng được dùng cho nhiều chỉ số, tiêu chí và tiêu chuẩn), không nhân thêm bản để tránh lãng phí;
- Lưu trữ và bảo quản:
Minh chứng đã mã hóa được lập thành danh mục mã minh
Cần tập hợp, sắp xếp minh chứng trong các hộp (cặp) theo thứ tự mã hóa Những minh chứng đang sử dụng cho công tác quản lý, công tác dạy và học thì lưu trữ, bảo quản tại nơi đang sử dụng nhưng phải có bảng ghi chú cụ thể để tiện lợi trong việc tra cứu, tìm kiếm;
Đối với những minh chứng phức tạp, cồng kềnh (hệ thống hồ sơ, sổ sách; các văn bản, tài liệu, tư liệu có số lượng lớn và số trang nhiều; các hiện vật, ) trường mầm non có thể lập các biểu, bảng tổng hợp, thống kê các dữ liệu, số liệu để thuận tiện cho việc sử dụng Nếu có điều kiện thì chụp ảnh minh chứng và lưu trong đĩa CD;
Trang 38Trong trường hợp không tìm được minh chứng cho một chỉ số, tiêu chí nào đó (do hỏa hoạn, thiên tai hoặc do nhiều năm trước không lưu hồ sơ, ), hội đồng tự đánh giá cần nêu rõ nguyên nhân trong báo cáo tự đánh giá;
Minh chứng được bảo quản theo quy định của Luật Lưu trữ và các quy định hiện hành
Đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí
Việc đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí thực hiện thông qua phiếu đánh giá tiêu chí (theo Phụ lục IV) Tiêu chí được xác định là đạt khi tất cả các chỉ số của tiêu chí đều đạt Chỉ số được đánh giá là đạt khi tất cả các yêu cầu của chỉ số được xác định là đạt;
Phiếu đánh giá tiêu chí gồm các nội dung: Mô tả hiện trạng, điểm mạnh, điểm yếu, kế hoạch cải tiến chất lượng và tự đánh giá mức độ đạt của tiêu chí;
Phiếu đánh giá tiêu chí do nhóm hoặc cá nhân viết Mỗi tiêu chí có một phiếu đánh giá tiêu chí;
Quy trình viết và hoàn thiện phiếu đánh giá tiêu chí được thực hiện như sau:
- Nhóm hoặc cá nhân ghi đầy đủ các nội dung theo quy định trong phiếu đánh giá tiêu chí;
- Nhóm công tác thảo luận nội dung của phiếu đánh giá tiêu chí để bổ sung;
- Hội đồng tự đánh giá xem xét, thảo luận các nội dung của từng phiếu đánh giá tiêu chí Cần đặc biệt chú ý đến kế hoạch cải tiến chất lượng của từng tiêu chí để xác định chính xác các biện pháp, giải pháp điều kiện (nhân lực, tài chính), thời gian hoàn thành và tính khả thi;
- Nhóm hoặc cá nhân hoàn thiện phiếu đánh giá tiêu chí trên cơ sở ý kiến của hội đồng tự đánh giá và gửi thư ký hội đồng tự đánh giá;
Trang 39Kết quả đánh giá từng tiêu chí được tổng hợp vào bảng tổng hợp kết quả tự đánh giá (theo Phụ lục V)
Viết báo cáo tự đánh giá
Kết quả tự đánh giá được trình bày dưới dạng một bản báo cáo với cấu trúc và hình thức thống nhất theo quy định của hướng dẫn này;
Báo cáo tự đánh giá cần ngắn gọn, rõ ràng, chính xác và đầy đủ những hoạt động liên quan đến toàn bộ các tiêu chí Báo cáo tự đánh giá được trình bày lần lượt theo thứ tự của các tiêu chuẩn Đối với mỗi tiêu chí cần có đầy đủ các mục: mô tả hiện trạng; điểm mạnh, điểm yếu; kế hoạch cải tiến chất lượng; tự đánh giá Dự thảo báo cáo tự đánh giá được công bố để lấy ý kiến góp ý của cán bộ, giáo viên và nhân viên của nhà trường trong thời gian 15 ngày làm việc Hội đồng tự đánh giá nghiên cứu các ý kiến thu được để hoàn thiện báo cáo;
Báo cáo tự đánh giá do hiệu trưởng xem xét, ký sau khi đã được hội đồng tự đánh giá thông qua
Công bố báo cáo tự đánh giá
Trường mầm non công bố công khai báo cáo tự đánh giá sau khi đã hoàn thiện trong phạm vi nhà trường và trên website của trường (nếu có)
Sau khi hoàn thành báo cáo tự đánh giá, nếu có đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BGDĐT, trường mầm non đăng ký đánh giá ngoài với cơ quan quản lý trực tiếp Trong trường hợp chưa đủ điều kiện đánh giá ngoài, trường mầm non phải có văn bản cam kết nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục trong một thời hạn nhất định và được cơ quan quản lý trực tiếp chấp thuận Hội đồng tự đánh giá có trách nhiệm bổ sung, hoàn thiện báo cáo tự đánh giá khi có ý kiến của cơ quan quản lý trực tiếp và của đoàn đánh giá ngoài
Trang 401.3.4 Hội đồng tự đánh giá chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng tự đánh giá
1.3.4.1 Hội đồng tự đánh giá
Hiệu trưởng ra quyết định thành lập hội đồng tự đánh giá của trường mầm non Hội đồng tự đánh giá có ít nhất 5 thành viên
- Chủ tịch hội đồng tự đánh giá là hiệu trưởng nhà trường;
- Phó chủ tịch hội đồng tự đánh giá là phó hiệu trưởng nhà trường;
- Thư ký hội đồng tự đánh giá là thư ký hội đồng trường hoặc giáo viên
có năng lực của nhà trường;
- Các thành viên khác gồm: Đại diện hội đồng trường đối với trường công lập hoặc Hội đồng quản trị đối với trường dân lập, tư thục; Các tổ trưởng chuyên môn, tổ trưởng tổ văn phòng; Đại diện cấp ủy Đảng (nếu có)
và các tổ chức đoàn thể
1.3.4.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng tự đánh giá
Hội đồng tự đánh giá có trách nhiệm triển khai tự đánh giá và tư vấn
cho hiệu trưởng biện pháp nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường
Hội đồng tự đánh giá có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tự đánh giá; thuthập, xử lý và phân tích các minh chứng; đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí; viết báo cáo tự đánh giá; bổ sung, hoàn thiện báo cáo tự đánh giá; công bố báo cáo tự đánh giá; lưu trữ cơ sở dữ liệu về tự đánh giá
Chủ tịch hội đồng điều hành các hoạt động của hội đồng, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; phê duyệt kế hoạch tự đánh giá; thành lập nhóm thư ký và các nhóm công tác để triển khai hoạt động tự đánh giá; chỉ đạo quá trình thu thập, xử lý, phân tích minh chứng; hoàn thiện báo cáo tự đánh giá; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai tự đánh giá
Phó chủ tịch hội đồng thực hiện các nhiệm vụ do chủ tịch hội đồng phân công, điều hành hội đồng khi được chủ tịch hội đồng ủy quyền