Trong Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, tại điều 16 mục 1 có n
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM VĂN SƠN
NGHỆ AN - NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, bản thân tôi đã nhận được sự hướng dẫn, sự hỗ trợ, giúp đỡ và góp ý rất chân tình của rất nhiều thầy cô, đơn vị Tôi xin chân thành cảm ơn sự đồng hành này:
Trước tiên tôi xin cảm ơn quí thầy cô là Lãnh đạo, CBQL Trường Đại học Vinh, trường Đại học kinh tế công nghiệp Long An quí thầy cô Phòng Sau Đại học, khoa Quản lí giáo dục đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện tốt nhất
để giúp tôi hoàn thành Chương trình học cũng như nghiên cứu đề tài này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo Sư, Tiến sĩ Phạm Văn Sơn - Người thầy đã dành thời gian, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiệt tình để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quí thầy cô là CBQL, GV, HS của 6 Trường THCS quận Bình Tân mà tôi tiến hành khảo sát đã tích cực hỗ trợ tôi trong công tác khảo sát, thu thập số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bố mẹ, anh chị em tôi đã luôn là những người ủng hộ, tiếp thêm cho tôi niềm tin để tôi an tâm hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn tri kỉ, những đồng nghiệp đã luôn
âm thầm đồng hành, giúp đỡ, hỗ trợ, động viên tinh thần, tiếp thêm cho tôi sức mạnh, nghị lực để tôi vững bước trong suốt thời gian tôi nghiên cứu đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phạm Minh Trí
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÍ HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 12
1.2.1 Quản lí 12
1.2.2 Quản lí giáo dục 13
1.2.3 Quản lí nhà trường 14
1.2.4 tư vấn, tư vấn tâm lí, tư vấn tâm lí học đường 15
1.2.4.1 Tư vấn 15
1.2.4.2 Tư vấn tâm lí 16
1.2.4.3 Tư vấn tâm lí học đường 17
Trang 51.2.5 Quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường học 18
1.3 Hoạt động Tư vấn tâm lí học đường trong trường Trung học cơ sở 19
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của Tư vấn tâm lí trong trường Trung học cơ sở 19
1.3.2 Mục tiêu của Tư vấn tâm lí trong trường học 23
1.3.3 Đối tượng hướng đến của hoạt động Tư vấn tâm lí học đường 24
1.3.4 Nội dung của hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường Trung học cơ sở 24
1.3.5 Các hình thức Tư vấn tâm lí học đường 29
1.3.6 Các lực lượng thực hiện hoạt động Tư vấn tâm lí học đường 29
1.3.7 Các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lí học đường 29
1.4 Nội dung quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí học đường trong trường Trung học cơ sở 31
1.4.1 Quản lí mục tiêu hoạt động Tư vấn tâm lí học đường cho học sinh Trung học cơ sở 31
1.4.2 Quản lí nội dung, kế hoạch hoạt động Tư vấn tâm lí tại trường Trung học cơ sở 31
1.4.3 Quản lí lực lượng làm công tác Tư vấn tâm lí và phối hợp các lực lượng tham gia vào hoạt động Tư vấn tâm lí 32
1.4.4 Quản lí hình thức hoạt động Tư vấn tâm lí học đường 34
1.4.5 Quản lí các điều kiện hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường học 34
1.4.6 Quản lí công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Tư vấn tâm lí học đường 35
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lí học đường trong trường THCS 36
1.5.1 Các yếu tố khách quan 36
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 37
Kết luận chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÍ HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43
Trang 62.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội, Giáo dục của quận Bình Tân thành
phố Hồ Chí Minh 43
2.1.1 Tình hình phát triển Kinh tế – xã hội của quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 43
2.1.2 Khái quát chung về Giáo dục phổ thông của quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 44
2.1.3 Giáo dục Trung học cơ sở 46
2.2 Khái quát tổ chức khảo sát thực trạng 48
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 48
2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 48
2.2.3 Nội dung khảo sát 48
2.2.4 Phương pháp khảo sát 49
2.2.5 Thời gian tiến hành khảo sát 49
2.3 Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lí học đường cho học sinh Trung học cơ sở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 49
2.3.1 Thực trạng nhận thức vai trò, nhiệm vụ, sự cần thiết của hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường Trung học cơ sở 50
2.3.2 Thực trạng đối tượng hướng đến của HĐ.TVTL học đường 53
2.3.3 Thực trạng thực hiện mục tiêu Tư vấn tâm lí trong trường học 53
2.3.4 Thực trạng thực hiện nội dung tư vấn của HĐ.TVTL cho học sinh các trường Trung học cơ sở 55
2.3.5 Thực trạng thực hiện các hình thức tư vấn của HĐ.TVTL cho học sinh các trường Trung học cơ sở 57
2.3.6 Thực trạng lực lượng tham gia HĐ.TVTL trong trường Trung học cơ sở 60 2.3.7 Thực trạng về điều kiện hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường học 61 2.4 Thực trạng quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí ở các trường THCS quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 62
2.4.1 Thực trạng quản lí mục tiêu hoạt động Tư vấn tâm lí trong các trường Trung học cơ sở 62
Trang 72.4.2 Thực trạng quản lí nội dung, kế hoạch hoạt động Tư vấn tâm lí tại trường
Trung học cơ sở 63
2.4.3 Thực trạng quản lí lực lượng và phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động Tư vấn tâm lí tại các trường Trung học cơ sở 63
2.4.4 Thực trạng quản lí các hình thức hoạt động Tư vấn tâm lí tại trường Trung học cơ sở 70
2.4.5 Thực trạng quản lí các điều kiện đảm bảo phục vụ cho hoạt động Tư vấn tâm lí trong nhà trường 71
2.4.6 Thực trạng quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Tư vấn tâm lí cho học sinh 74
2.5 Đánh giá chung 75
2.5.1 Mặt mạnh 75
2.5.2 Hạn chế 75
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng 76
2.5.3.1 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng khách quan 76
2.5.3.2 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng khách quan 77
Kết luận chương 2 78
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÍ HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH THCS QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 79
3.1 Các nguyên tắc chung đề xuất biện pháp 79
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục 79
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 79
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 80
3.2 Các biện pháp quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 80
3.2.1 Nâng cao nhận thức, năng lực của cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh về hoạt động tư vấn tâm lí trong nhà trường 80
Trang 83.2.1.1 Mục tiêu 80
3.2.1.2 Nội dung và cách thức thực hiện 80
3.2.2 Tăng cường chỉ đạo xây dựng nội dung, kế hoạch hoạt động tư vấn tâm lí 85
3.2.2.1 Mục tiêu 85
3.2.2.2 Nội dung và cách thức thực hiện 85
3.2.3 Xây dựng lực lượng và phối hợp lực lượng tham gia hoạt động Tư vấn tâm lí 87
3.2.3.1 Mục tiêu 87
3.2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện 87
3.2.4 Đa dạng hóa các hình thức Tư vấn tâm lí học đường 92
3.2.4.1 Mục tiêu 92
3.2.4.2 Nội dung và cách thức thực hiện 92
3.2.5 Đầu tư các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường học 93
3.2.5.1 Mục tiêu 93
3.2.5.2 Nội dung và cách thức thực hiện 94
3.2.6 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Tư vấn tâm lí cho HS trường THCS 95
3.2.6.1 Mục tiêu 95
3.2.6.2 Nội dung và cách thức thực hiện 96
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 101
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 101
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 102
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 102
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 102
Kết luận chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
Trang 92 Khuyến nghị 106
2.1 Đối với Sở Giáo dục & Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh 106
2.2 Đối với hiệu trưởng các trường THCS 107
2.3 Với giáo viên làm công tác Tư vấn tâm lí 107
2.5 Với cha mẹ học sinh 107
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC
Trang 109 IHQ Ít hiệu quả
10 KHQ Không hiệu quả
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Đối tượng khảo sát và địa bàn khảo sát 42
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức vai trò, nhiệm vụ,
sự cần thiết của HĐ.TVTL 44 2.3 Kết quả khảo sát thực trạng đối tượng hướng đến của
2.12 Thực trạng quản lí lực lượng và phối hợp các lực lượng
tham gia hoạt động Tư vấn tâm lí tại các trường THCS 59
2.13 Thực trạng quản lí việc phối hợp các lực lượng trong và
ngoài nhà trường trong hoạt động TVTL cho HS 62 2.14 Bảng thực trạng quản lí các hình thức Tư vấn tâm lí cho
2.15 Thực trạng quản lí các điều kiện đảm bảo phục vụ cho
hoạt động TVTL trong nhà trường 65 2.16 Bảng thực trạng quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả
HĐ.TVTL của Hiệu trưởng 67 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết và khả thi của các
biện pháp quản lí hoạt động TVTL cho HS 96
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chương trình giáo dục hiện hành của nước ta tuy đã có sự cố gắng nhưng còn cần bổ sung thêm nhiều yếu tố để được hoàn chỉnh, nhằm cân đối giữa giáo dục tri thức và giáo dục nhân cách Và một trong những vấn đề bức thiết hiện nay chính là thành lập một đơn vị tư vấn trong nhà trường, để hỗ trợ cho hoạt động giáo dục nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đặt ra, đồng thời có thể giải quyết kịp thời các “vấn đề” nảy sinh trong thực tiễn giáo dục phổ thông Thêm vào đó, trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam ta cũng đã có bước đột phá lớn, GDP hàng năm liên tục tăng nhanh tạo ra sự chuyến biến nhanh chóng về tất cả mọi mặt trong đời sống của con người Việt Nam Bên cạnh những mặt tích cực mà nền kinh
tế đem lại thì vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế và có xu hướng ngày càng gia tăng Đó là sự tác động của kinh tế đến đời sống tình cảm, tâm lí của con người đặc biệt là giới trẻ mà trong đó điển hình là HS phổ thông (bao gồm cả HS THCS và THPT), các em luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề khúc mắc, tình huống bất ngờ như: áp lực học tập, bố mẹ la rầy, hay bị thầy cô bạn bè xa lánh, lúng túng về tâm sinh lí, tình yêu tuổi học trò…mà không biết cách nhìn nhận và giải quyết như thế nào cho hợp lí
Có thể nói sự thay đổi về nhiều mặt trong đời sống xã hội, gia đình và nhà trường đã tạo nên những sức ép đối với HS, dẫn đến tình trạng học sinh chán học, rối nhiễu tâm lí - trầm cảm, hoặc có những hành vi lệch chuẩn ngày càng gia tăng Đặc biệt đối với HS THCS, đây là thời kì phát triển “bùng nổ” về tâm lí, thể chất, quan hệ xã hội, nên các “vấn đề” nảy sinh khá phong phú và phức tạp
Vậy nên các nhà giáo dục, các nhà quản lí giáo dục cần nhận biết điều này, cần biết các em gặp khó khăn gì, ở mức độ nào? Cần biết các em đã làm gì để giải quyết khó khăn đó? để từ đó có những biện pháp cụ thể để đồng hành cùng các em, giúp các em tháo gỡ những vướng mắc ấy, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục HS, quản lí nhà trường
Trang 13Mặt khác, trên thực tế, về phía Bộ GD&ĐT, từ năm 2005 theo tinh thần công văn 2564/HSSV ngày 5/4/2005 và công văn 9971/BGD&ĐT, ngày 28/10/2005 của
Bộ GD&ĐT cũng đã xác định “Tư vấn cho HS, sinh viên là phương pháp tác động mang tính định hướng giáo dục tới những HS, sinh viên đang có những khó khăn tâm lí, tình cảm, những bức xúc của lứa tuổi cần được giải đáp, những vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp, trong tìm kiếm việc làm…” Trong Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT), tại điều 16 mục 1 có nêu chức danh “cán bộ làm công tác tư vấn cho HS”, tại điều 31 mục 6 nêu rõ: GV làm công tác tư vấn cho HS là GV trung học được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ tư vấn; có nhiệm vụ tư vấn cho cha mẹ
HS và HS để giúp các em vượt qua những khó khăn gặp phải trong học tập và sinh hoạt
1.2 Mặc dù đã có văn bản nêu rõ từ cấp Bộ GD&ĐT, cấp Sở GD&ĐT nhưng khi đưa vào tổ chức thực hiện, HĐ.TVTL học đường trong nhà trường cũng còn nhiều khó khăn, bất cập: đa phần các trường không có đội ngũ GV tư vấn chuyên trách được đào tạo đúng chuyên môn, thường GV làm công tác tư vấn là kiêm nhiệm, dẫn đến làm qua loa, hình thức, thiếu kĩ năng, thiếu tâm huyết với công việc; thêm vào
đó là sự lúng túng trong xây dựng nội dung tư vấn, chỉ làm theo cảm tính Chính
vì thế mà công tác quản lí HĐ.TVTL học đường trong nhà trường chỉ là bề nổi, chưa đi vào thực chất Do vậy, các trường phổ thông cần có những đổi mới tích cực trong quản lí HĐ.TVTL học đường, nhận thức đúng về vai trò của HĐ.TVTL học đường trong giáo dục HS Điều đó cũng có nghĩa là tăng cường thêm công cụ hỗ trợ nhà trường để nhà trường hoàn thành tốt sứ mệnh giáo dục mà Đảng và Nhà nước
đã giao phó
1.3 Về các công trình nghiên cứu, tài liệu về HĐ.TVTL học đường trong nhà trường, quản lí HĐ.TVTL học đường cũng có nhiều tác giả quan tâm, song đề ra biện pháp thiết thực, hiệu quả cho HĐ.TVTL học đường, quản lí HĐ.TVTL học đường trong nhà trường vẫn chưa có nhiều
Trang 14Vì những lí do trên, đề tài: “Quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí học đường cho
học sinh trung học cơ sở quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh” được chọn
nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động Tư vấn tâm lí học đường trong nhà trường trung học cơ sở
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về HĐ.TVTL học đường và thực tiễn quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS trong nhà trường THCS, đồng thời khảo sát thực trạng HĐ.TVTL, quản lí HĐ.TVTL trong các Trường THCS quận Bình Tân, TP HCM đề tài đề xuất các biện pháp quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS quận Bình Tân, TP HCM
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS quận Bình Tân, TP HCM
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về nội dung: Biện pháp quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS
của Hiệu trưởng Trường THCS quận Bình Tân, TP HCM
4.2 Chủ thể quản lí: Hiệu trưởng Trường THCS
4.3 Giới hạn về thời gian và địa điểm: Từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 4 năm
2018 trên phạm vi 6 Trường THCS thuộc địa bàn quận Bình Tân là THCS Huỳnh Văn Nghệ, THCS Lê Tấn Bê, THCS Tân Tạo, THCS Tân Tạo A, THCS Bình Hưng Hòa, THCS Bình Trị Đông A
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động.TVTL học đường cho HS THCS là rất quan trọng và cần thiết vì giúp học sinh giảm những sức ép, để thoải mái, tự tin trong học tập Tuy nhiên thời gian qua các trường THCS quận Bình Tân chưa làm tốt TVTL học đường nên còn tình trạng học sinh chán học, rối nhiễu tâm lí - trầm cảm, hoặc có những hành vi lệch chuẩn ngày càng gia tăng Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp quản lí
Trang 15HĐ.TVTL học đường cho HS THCS, quận Bình Tân, TP HCM thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng, và hiệu quả học tập của học sinh tại các Trường Trung học cơ
sở quận Bình Tân, TP HCM
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hóa lí luận về quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS
6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS quận Bình Tân, TP HCM
6.3 Đề xuất các biện pháp quản lí HĐ.TVTL học đường cho HS THCS, quận Bình Tân, TP HCM; khảo nghiệm sự cần thiết, tính khả thi các biện pháp
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến khoa học quản lí, HĐ.TVTL, quản lí HĐ.TVTL để hình thành cơ bản khung lí luận về quản lí HĐ.TVTL trong trường THCS
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu sản phẩm, nghiên cứu hồ sơ HĐ.TVTL, điều tra bằng bảng hỏi nhằm khảo sát thực trạng HĐ.TVTL và quản lí HĐ.TVTL trong Trường THCS quận Bình Tân, TP HCM Từ đó khảo nghiệm sự cần thiết, tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
7.3 Phương pháp hỗ trợ: phương pháp thống kê Toán học, so sánh để xử lí số liệu thu thập được
8 Đóng góp mới của luận văn
8.1 Về lí luận
Hệ thống hóa và phát triển lí luận về hoạt động TVTL và lí luận về quản lí hoạt động TVTL trong trường Trung học, hình thành khung lí thuyết về quản lí HĐ.TVTL trong Trường THCS
8.2 Về thực tiễn
Khảo sát, đánh giá được thực trạng quản lí hoạt động TVTL học đường cho
HS THCS, quận Bình Tân, TP HCM Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp quản lí
Trang 16hoạt động TVTL học đường để nâng cao hiệu quả hoạt động TVTL cho HS THCS, quận Bình Tân, TP HCM
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí học đường cho
học sinh Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí học đường cho học
sinh Trung học cơ sở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí học đường cho học sinh
Trung học cơ sở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÍ
HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1909, William Healy thành lập “Trung tâm chuyên khoa điều hướng trẻ em” (Child Guidance Clinic), chăm sóc tâm lí giáo dục cho các trẻ hư khu ổ chuột
đã tác động mạnh vào phong trào tư vấn hướng dẫn giáo dục, hướng nghiệp Tuy vậy lịch sử nghiệp vụ tư vấn học đường được ghi nhận xuất phát và lớn mạnh ở Mỹ,
từ công tác hướng nghiệp trong học đường vào những năm đầu của thế kỉ 20
- Trong thập kỉ 1900 – 1909 có 3 người được xem là những người đầu tiên khởi xướng và hệ thống hóa nghiệp vụ tư vấn học đường là Jesse B.Davis, Erank Parsons
và Cliffort Beer (Gladding,2000, Counseling, a comprehensive profession) mà chủ yếu là tư vấn hướng nghiệp
Từ năm 1920 – 1930 ở Mĩ, TVTL giáo dục và hướng nghiệp phát triển theo
đà tiến bộ của nền giáo dục học đường, quan tâm đến sự phát triển cá nhân, xã hội
và luân lí đạo đức của cuộc sống Tuy vậy, phong trào gặp phải sự chống đối của nhiều trường học cho rằng nhà trường chỉ dạy HS nền học vấn cơ bản không nên
ôm đồm nhiều trọng trách không chu toàn, cộng với thời kì suy thoái kinh tế trầm trọng khiến cho tư vấn học đường phát triển chậm lại [32]
Năm 1940, quân đội Mĩ sử dụng các nhà tâm lí và tư vấn để tuyển quân và huấn luyện quân sự Đây là lúc tư vấn học đường có động cơ thúc đẩy tiến hành các trắc nghiệm tìm hiểu khả năng, năng lực tinh thần, thể chất của HS và cũng là lúc các nhà tư vấn học đường chịu ảnh hưởng quan điểm chú trọng mối quan hệ hỗ trợ thân chủ, “Thân chủ trọng tâm” của Carl Rogers [32]
Trong thập kỉ 50, chính phủ Mĩ thành lập các Cục hướng dẫn và Phục vụ Nhân sự (Guidance and Personnel Services Section-GPSS) thuộc Tòa Hành chánh Tiểu bang và Hệ thống trường học địa phương Ngày 4 tháng 10 năm 1957, Nga
Trang 18phóng vệ tinh Sputnik I Ngoài việc Nga đánh bại Mĩ trong cuộc chạy đua vào vũ trụ còn ngụ ý Mĩ đã không có đủ các nhà khoa học và Toán học xuất sắc Chính phủ
Mĩ đã thông qua đạo luật Giáo dục Bảo vệ Quốc Gia làm dấy lên một phong trào lớn mạnh về tư vấn hướng nghiệp trong học đường với những khoản ngân quĩ khổng lồ [32]
- Từ những năm 1960 tư vấn học đường tiếp tục lớn mạnh trở thành nghề nghiệp mới được luật pháp thừa nhận
Vào khoảng cuối những năm 60 và đầu những năm 70, Norm Gysbers và các cộng sự, tiểu bang Missouri qua các công trình nghiên cứu chứng minh mối quan hệ thiết thực giữa tư vấn học đường và sự thành đạt của HS, sinh viên Nhóm nghiên cứu của Norm Gysbers đã đưa tư vấn học đường từ một nghề nghiệp ít ai để ý để trở thành một hoạt động thiết yếu mang tính chiến lược và có mục tiêu hệ thống trong chương trình tư vấn học đường cho mọi HS từ tiểu học đến trung học
Những năm 80, 90 tư vấn học đường đứng trước nguy cơ không còn phù hợp với nền giáo dục chủ trương chỉ truyền đạt giáo dục cơ bản đang thắng thế Để đáp lại, Campbell&Dahir (1997), người ủng hộ rộng rãi của các nhà tư vấn học đường
đã có sáng kiến đưa ra Tiêu chuẩn Quốc gia về tư vấn học đường với 3 lĩnh vực: + Trình độ bằng cấp
+ Quá trình nghề nghiệp
+ Nhân thân và xã hội [32]
Giai đoạn từ cuối thế kỉ XX đến nay: một trong những thay đổi lớn nhất của tư vấn trong giai đoạn này là tập trung vào lĩnh vực văn hóa hay còn gọi là tư vấn đa văn hóa Tư vấn đa văn hóa là hướng tiếp cận thân chủ mà nhà tư vấn có cân nhắc
cụ thể đến nền tảng khác biệt về văn hóa truyền thống, hiện tại và những kinh nghiệm của các nhóm khách hàng khác nhau Sự hiểu biết về nền tảng văn hóa của thân chủ được thể hiện qua thái độ, kĩ năng và phương pháp tiếp cận thân chủ sẽ giúp cho nhà tư vấn lí giải được lí do nào, điều gì khiến họ cảm nhận, suy nghĩ và hành động như vậy Qua đó sẽ dễ chấp nhận họ hơn và như vậy sẽ giúp cho thân chủ hiểu được điều gì là nguyên nhân gây ra tình trạng hiện tại Từ đó, họ có thể tự
Trang 19vượt qua khó khăn của bản thân Whitfield, McGrath và Coleman (1992) đã chỉ ra các yếu tố xác định một mô hình văn hóa cụ thể, đó là:
1/ Đặc điểm cá nhân;
2/ Diện mạo và cách ăn mặc;
3/ Có niềm tin và hành vi đặc trưng;
4/ Mối liên hệ với gia đình và với các đặc trưng quan trọng khác;
5/ Cách dành và sử dụng thời gian nhàn rỗi;
6/ Cách tiếp thu và sử dụng kiến thức;
7/ Cách thức giao tiếp và ngôn ngữ;
8/ Những giá trị và các tập tục;
9/ Cách sử dụng thời gian và không gian sống;
10/ Thói quen ăn uống và cách chế biến món ăn theo phong tục tập quán;
11/ Công việc và cách thức thực hiện công việc Dựa vào mô hình này, nhà tư vấn
có thể nắm bắt được nền tảng văn hóa của thân chủ khi tiếp xúc trực tiếp hoặc thông qua các kĩ năng thu thập thông tin một cách gián tiếp và nhờ đó, nhà tư vấn có thể
tư vấn thành công cho mọi đối tượng có nhu cầu tư vấn Với sự thay đổi lớn lao này, TVTL mở ra cơ hội cho bất kì ai gặp khó khăn, bất kì ai có nhu cầu và điều này làm gia tăng đáng kể số lượng người cần trợ giúp tâm lí
Những năm 1930, lí thuyết đầu tiên về Khải đạo được giới thiệu: Lí thuyết về các nhân tố và đặc điểm của E G Williamson, (E G Williamson’s Trait and Factor theory) Lí thuyết này trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho HĐTV
Năm 1957 là năm mà ngành tư vấn và Khải đạo được “phóng lên” Tiếp theo
đó, đạo luật Nat’l Defense Ed Act (NDEA) ra đời năm 1958, tập trung vào hai vấn đề: [32]
1) Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các HĐTV, trắc nghiệm và Khải đạo trong trường học;
2) Ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đại học thiết kế các chương trình đào tạo tư vấn học đường
Trang 20Năm 1953, hiệp hội các nhà TVTL học đường Hoa Kì (ASCA) tham gia vào APGA (American Personnel and Guidance Association), tiền thân của hiệp hội TV tâm lí Hoa Kì ACA (American Counseling Association) ngày nay Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, “Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi” (The Counselor in a Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của tư vấn học đường Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tư vấn học đường [32] Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn học đường
ra đời và kể từ đó, ngành tư vấn học đường được xem là đã hoàn thiện
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tư vấn học đường Hoa Kì (ASCA) được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình TVTL học đường của hầu hết các nước trên thế giới ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và
là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới [32] Mặc dù HĐ.TVTL ra đời từ rất lâu, song lịch sự nghiên cứu quản lí HĐ.TVTL này lại còn rất non trẻ, chưa nhiều công trình nghiên cứu về quản lí HĐ.TVTL trong nhà trường
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Cũng tương đồng với lịch sử phát triển ngành tư vấn học đường trên thế giới,
ở Việt Nam HĐTV học đường cũng bắt đầu từ hoạt động hướng nghiệp Từ năm
1975 – 1976 theo yêu cầu của bộ Lao động Thương binh Xã hội, ông Phạm Ngọc Luận và cộng sự tìm kiếm, vận dụng 12 bộ họa đồ nghề và tư vấn cho trên 300 thương binh [32]
Tháng 3/1991, Bộ GD&ĐT thành lập Trung tâm Lao động – Hướng nghiệp, biên soạn tài liệu “Tư vấn nghề cho HS phổ thông” mở 2 lớp tập huấn cho 200 cán
bộ phụ trách tư vấn ở các Trung tâm kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp trên cả nước
Bộ họa đồ nghề, các bộ công cụ trắc nghiệm hướng nghiệp được cải tiến…do nhiều chuyên gia tham gia biên soạn: Phạm Tất Dong, Thế Trường, Lê Đức Phúc, Đỗ Thị Hòa, Nguyễn Đức Trí, Đặng Danh Ánh… [32]
Từ đó đến nay rất nhiều tác phẩm hướng nghiệp cho HS được phát hành trong
và ngoài nhà trường, tác động vào thực tiễn phát triển giáo dục Tính đến năm 1996,
Trang 21cả nước đã có 320 Trung tâm kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp làm tốt khâu tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm rèn luyện kĩ năng ban đầu về thực hành lao động kĩ thuật, thử năng lực lao động nghề nghiệp để biết mức độ phù hợp nghề
và bước đầu chuẩn bị tâm thế đi vào lao động nghề nghiệp tương lai [32]
Năm 1997, cơ quan UNICEF hỗ trợ Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Hà Nội
mở khóa tập huấn đầu tiên về TVTL cho cán bộ tư vấn trẻ em phía Bắc và một số cán bộ phía Nam gồm TP HCM, Đồng Tháp và Thừa Thiên Huế Năm 2000, Văn phòng tư vấn trẻ em TP HCM bắt đầu triển khai TVTL trong học đường thí điểm ở Bình Thạnh Sau đó kết hợp với các Phòng GD&ĐT Quận, Huyện và một trong số trường học từng bước đã thành lập các Phòng TVTL học đường trong nhà trường, tính đến năm 2005 được 19 trường [33]
Năm 2003, Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại TP HCM” được Viện nghiên cứu Giáo dục Trường Đại học Sư phạm TP HCM tổ chức[34] Năm 2006, với sự tài trợ của Trung tâm nghiên cứu – Tư vấn công tác xã hội và phát triển cộng đồng, Hội khoa học Tâm lí Giáo dục Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia tại TP HCM với Chủ đề “TVTL giáo dục – lí luận, thực tiễn và định hướng phát triển” Năm 2008, Hội khoa học Tâm lí Giáo dục Việt Nam lại mở Hội thảo ở Đồng Nai với chủ đề “Giáo dục đạo đức HS, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp” đề cập đến giải pháp triển khai mô hình giáo dục TVTL và xây dựng nội dung giáo dục tâm lí ứng xử qua tư vấn học đường Năm 2010, các tỉnh thành: Khánh Hòa, Tây Ninh, Hậu Giang phối hợp với Trung tâm ứng dụng Tâm lí – Giáo dục phía Nam hưởng ứng tinh thần công văn số 30-2009/CV-TWH của Chủ tịch Hội khoa học tâm lí – Giáo dục Việt Nam Phạm Minh Hạc phát huy kết quả của Cuộc Hội thảo khoa học nói trên, đứng ra tổ chức các lớp Bồi dưỡng kĩ năng TVTL trong trường học, đẩy mạnh việc phổ biến rộng rãi tri thức khoa học Tâm lí – Giáo dục trong nhà trường, tạo điều kiện cho các trường học thành lập phòng tư vấn học đường
Về phía Bộ GD&ĐT tạo từ năm 2005 theo tinh thần Công văn 2564/HSSV ngày 5/4/2005 và Công văn 9971/BGD&ĐT, ngày 28/10/2005 của Bộ Giáo dục-
Trang 22Đào tạo xác định “Tư vấn cho HS, sinh viên là phương pháp tác động mang tính định hướng giáo dục tới những HS, sinh viên đang có những khó khăn tâm lí, tình cảm, những bức xúc của lứa tuổi cần được giải đáp, những vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp, trong tìm kiếm việc làm …” Cũng từ năm 2005, với sự chỉ đạo đầy quyết tâm của Sở Giáo dục-Đào tạo TP HCM, hầu hết các trường công lập trên địa bàn đã có bộ phận TVTL học đường Hiệu quả trước mắt là nhờ tính nhân văn của hoạt động tâm lí trong nhà trường làm cho nhà trường dân chủ hơn, quan hệ thầy trò, bạn bè … trở nên thân thiện hơn Mối quan hệ giữa 3 môi trường giáo dục được thật sự cải thiện [5]
Bên cạnh đó, báo Phụ nữ TP HCM cũng đã khởi xướng chuyên mục “Tư vấn học đường” do ThS Nguyễn Thị Oanh phụ trách Chuyên mục này cũng nhận được
sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo HS, phụ huynh và các trường học Tháng
06 năm 2006, cuốn sách “TVTL học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được Nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc [25]
Năm 2012, Sở GD&ĐT TP HCM đã ra quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC (31/8/2012) về việc ban hành quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học Theo đó, GV làm công tác tư vấn được bố trí thời gian làm việc, phòng tư vấn thích hợp và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức và tham gia các hoạt động Họ được ưu tiên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội … để phục vụ tốt nhất cho công tác tư vấn
HS GV tư vấn học đường được hưởng lương, chế độ và chính sách theo ngạch GV đúng quy định hiện hành chung và được hỗ trợ hoạt động phí [30] Bên cạnh đó khoảng 10 năm trở lại đây Quản lí HĐ.TVTL cũng trở thành đề tài nghiên cứu được các học viên học sau Đại học chọn lựa
Nhìn chung, đến nay, HĐ.TVTL học đường tại Việt Nam đã trở thành một vấn
đề cấp bách và nhận được nhiều sự quan tâm từ các em học sinh, phụ huynh học sinh, nhà trường, các nhà tâm lí – giáo dục, cán bộ quản lí Tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật sự được định hình
Trang 231.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lí
Có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lí” Mary Parker Follett đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lí và được trích dẫn khá nhiều: Quản lí là “nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” Một định nghĩa khác về quản lí cũng được chấp nhận rộng rãi, quản lí là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo
và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” (Stoner,1995) Một số tác giả khác cho rằng quản lí là “tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” (Griffin, 1998) [ 23]
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lí, có thể nêu ra một số cách tiếp cận sau: [37]
1 Tiếp cận theo kinh nghiệm: cách tiếp cận này phân tích quản lí bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm, mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể Những người theo cách tiếp cận này cho rằng, thông qua việc nghiên cứu những thành công hoặc những sai lầm trong các trường hợp cá biệt của những nhà quản lí, người nghiên cứu sẽ hiểu được phải làm như thế nào để quản lí một cách hiệu quả trong trường hợp tương tự
2 Tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân: cách tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân dựa trên lí tưởng cho rằng quản lí là làm cho công việc được hoàn thành thông qua con người và do đó, việc nghiên cứu nên tập trung vào các mối liên hệ giữa người với người
3 Tiếp cận theo lí thuyết quyết định: cách tiếp cận này dựa trên quan điểm cho rằng, người quản lí là người đưa ra các quyết định, vì vậy cần phải tập trung vào việc ra quyết định Sau đó là việc xây dựng lí luận xung quanh việc ra quyết định của người quản lí
Trang 244 Tiếp cận Toán học: các nhà nghiên cứu theo trường phái này xem xét công việc quản lí trước hết như là một sự sử dụng các quá trình, kí hiệu và mô hình Toán học Nhóm này cho rằng, nếu như việc quản lí như xây dựng tổ chức, lập kế hoạch hay
ra quyết định là một quá trình logic, thì nó có thể biểu thị được theo các kí hiệu và các mô hình Toán học Vì vậy, việc ứng dụng Toán học vào quản lí sẽ giúp người quản lí ra được những quyết định tốt nhất
Từ những cách tiếp cận và quan niệm về quản lí vừa nêu trên, chúng tôi khái
quát khái niệm quản lí như sau: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lí lên đối tượng và khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong môi trường luôn biến động [21]
1.2.2 Quản lí giáo dục
Theo M.Mechitizade, nhà lí luận về quản lí giáo dục thì: Quản lí giáo dục là
“tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính … nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [19]
Quản lí giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tận cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của quản lí giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lí trẻ em [13] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã có một định nghĩa quản lí giáo dục như sau:
“Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [29]
Theo Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường
Trang 25xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” [1]
Theo tác giả Trần Kiểm, đối với quản lí giáo dục ở cấp vi mô có hai khái niệm
về quản lí giáo dục như sau:
+ Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục ở nhà trường [22]
+ Quản lí giáo dục là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường [22]
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lí giáo dục như
sau: Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới đối tượng
quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn bằng cách có hiệu quả nhất
1.2.3 Quản lí nhà trường
Tổ chức giáo dục có thể có nhiều loại khác nhau, từ các loại cơ sở giáo dục như trường học cho đến các cơ quan quản lí giáo dục Nếu như quản lí giáo dục có thể ngầm định nội dung đặc trưng đối với tất cả các loại hình tổ chức giáo dục thì thuật ngữ “quản lí nhà trường” thường được dùng khi người ta muốn đề cập đến các vấn đề quản lí giới hạn trong phạm vi nhà trường với tư cách một tổ chức [23]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì quản lí nhà trường là “tập hợp những tác
động tối ưu của chủ thể quản lí đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch
Trang 26đào tạo đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [29]
Tác giả Phạm Minh Hạc thì cho rằng: quản lí nhà trường là “thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS”
Cũng có thể hiểu quản lí nhà trường là những tác động quản lí của các cơ quan quản lí giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của nhà trường
Ngoài ra quản lí nhà trường cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
1.2.4 Tư vấn, tư vấn tâm lí, tư vấn tâm lí học đường
1.2.4.1 Tư vấn
Tư vấn là một hoạt động đáp ứng nhu cầu con người Theo từ điển tiếng Việt thì “Tư vấn là phát biểu ý kiến về những vấn đề được đòi hỏi đến nhưng không có quyền quyết định” Còn theo định nghĩa của các chuyên gia tư vấn thì “Tư vấn là lắng nghe, phát biểu ý kiến về những vấn đề đòi hỏi đến nhưng không có quyền quyết định, dựa vào những hoạt động tâm lí để vạch ra những giải pháp giúp khách hàng tự quyết định” Còn trong Dictionary of Psychology của tác giả Adrew M.Colman xuất bản năm 2001 có định nghĩa về “Tư vấn” như sau: Tư vấn là việc
áp dụng các lí thuyết tâm lí và các kĩ năng giao tiếp để giải quyết các vấn đề, các nỗi lo lắng hay các nguyện vọng cá nhân của khách hàng Một hình thức tư vấn bao gồm việc cho lời khuyên, bản chất cơ bản nhất là tạo ra sự dễ chịu mà không cần đưa ra các hướng dẫn mang tính áp đặt Các nhà tư vấn làm việc với các cá nhân, các cặp vợ chồng và các gia đình trong các môi trường khác nhau: văn phòng tư vấn, phòng khám bệnh đa khoa, các tổ chức giáo dục, các tổ chức thương mại và nhà riêng Như vậy, từ những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: “Tư vấn là việc
Trang 27làm mà trong đó nhà tư vấn tìm hiểu các vấn đề khúc mắc, những khó khăn mà khách hàng đang gặp phải để từ đó nhận định, đánh giá, phân tích và đưa ra những lời khuyên bổ ích nhất để giúp thân chủ giải quyết tốt khó khăn của mình”
1.2.4.2 Tư vấn tâm lí
TVTL (Counselling) do những nhà tâm lí phụ trách, giỏi kĩ năng giao tiếp, lắng nghe, thấu hiểu và biết cách khơi dậy, khai thác các vấn đề uẩn khúc, hỗ trợ người được tư vấn thực hiện quyết định thay đổi, thoát khỏi tình trạng hoặc trạng thái tâm lí bị ràng buộc cũ
Còn theo C.R.Rogers (1942) “TVTL là quá trình tiếp xúc một cách trực tiếp, liên tục với một cá nhân nào đó, cố gắng làm thay đổi hành vi thái độ của anh ta, giúp anh ta ổn định tinh thần”
Moore (1961) thì lại lưu ý: Công việc của TVV là giúp thân chủ kiểm tra và phân tích vấn đề riêng của mình, tìm kiếm, lượng giá và tổ chức các tư liệu thích đáng trong quá trình chiêm nghiệm về vấn đề đó Yếu tố và quan trọng trong TVTL trước tiên là sự tự nhận thức của thân chủ, để tiến hành chọn một quyết định hành động
Với D.R.Riesman (1963) “TVTL là một loại quan hệ xã hội nhằm đạt đến một quá trình hỗ trợ, quá trình giáo dục và quá trình phát triển”
Và C.Patterson (1967) thì cho rằng: “TVTL là một loại quan hệ xã hội, trong mối quan hệ này, nhà tư vấn đưa ra điều kiện hoặc không khí tâm lí nhất định, nhằm làm cho đối tượng được tư vấn thay đổi, tự lựa chọn và giải quyết vấn đề của chính mình, đồng thời hình thành nên một cá tính độc lập có trách nhiệm, từ đó trở thành một người tốt, một thành viên tốt của xã hội”
Theo Mã Kiến Thanh (1992) thì “TVTL là quá trình vận dụng phương pháp và
lí luận liên quan đến khoa học tâm lí, bằng các giải tỏa, tư vấn những vấn đề tâm lí của đối tượng được tư vấn để hỗ trợ và tăng cường tâm lí phát triển lành mạnh, thúc đẩy phát triển cá tính và phát triển tiềm năng”
Theo Tiền Danh Di (1994) thì “TVTL là quá trình vận dụng những phương pháp tâm lí học giúp đỡ đối tượng được tư vấn tự lập tự cường thông qua một mối
Trang 28quan hệ nào đó”
Ngày nay, tư vấn tâm lí được quan niệm như Tyler: “TVTL là một loại hoạt động giúp đỡ về mặt tâm lí, tập trung làm rõ ý nghĩa về cái tôi đang nổi lên, quyết tâm tìm cách chọn lựa hành xử, và cam kết theo đuổi nó.”
Từ những phát biểu trên, chúng ta có thể chấp nhận định nghĩa chính thức sau đây của Hiệp hội TVTL (Mỹ): “TVTL là một cuộc tiếp xúc mang tính chuyên môn giữa một TVV được đào tạo, và một đối tượng tư vấn (thân chủ), cuộc tiếp xúc đó thường là giữa hai con người mặt đối mặt, hoặc đôi khi nhiều hơn, nhằm giúp đối tượng hiểu biết và làm sáng tỏ quan điểm cuộc sống, có thể tiến hành chọn lựa vấn
đề một cách có ý nghĩa, đầy đủ thông tin, hòa hợp với bản chất chủ yếu trong lãnh vực mà người đó có khả năng” [36]
1.2.4.3 Tư vấn tâm lí học đường
Theo sự phát triển của thời đại, cụm từ “Hướng nghiệp và TVTL trong nhà trường” đã thu gọn thành “TVTL trong nhà trường” – “Tư vấn học đường” Sự thay đổi này được thống nhất từ khái niệm đến tên gọi khi Hiệp Hội TVV học đường Mỹ
có tên gọi cũ là “American Guidance and school Counsellor Association” (Hiệp Hội Hướng dẫn và TVTL AGSCA) đổi thành “American school Counsellor Assiciation” (ASCA) Một bản báo cáo chính thức của Hội ngành TVV tâm lí thuộc Hiệp Hội tâm lí nước Mĩ (1961) lần đầu tiên đã can dự vào việc làm rõ ý nghĩa, chức năng của HĐTV tâm lí (counseling) Theo đó ba khuynh hướng sau đây hợp nhất lại trong TVTL (counseling)
- Tư vấn hướng nghiệp (Vocational Guidance)
- Tư vấn trắc nghiệm, chẩn đoán tâm lý (Psychometrics)
- Tư vấn phát triển nhân cách… (Personnality Development)
Tư vấn học đường bao gồm cả ý nghĩa “hướng dẫn” và TVTL
- Hướng dẫn, cố vấn, cung cấp thông tin hướng nghiệp: trắc nghiệm, thông tin về kết quả trắc nghiệm tâm lí, tính cách con người, thông tin về thị trường lao động, về thế giới nghề nghiệp liên quan
- TVTL, phát triển nhân cách (tư vấn phát triển, lắng nghe, khơi dậy …) Cũng theo
Trang 29thời gian và kinh nghiệm, hoạt động hướng nghiệp và TVTL trong nhà trường không chỉ là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động nhằm xúc tác, thúc đẩy nhiều hoạt động khác trong trường học, dưới sự lãnh đạo giáo dục đặc biệt của hiệu trưởng, dưới hình thức một chương trình tổng thể tư vấn học đường (Comprehensive School Counseling Program) [16]
- TVTL học đường (School Counseling - tư vấn học đường) là một tiến trình giúp
đỡ sinh viên, HS, các vị phụ huynh hoặc thầy cô giáo, tự tìm hiểu mình, biết được những đặc điểm tính cách, những năng lực tiềm ẩn và những hành vi của họ đã ảnh hưởng đến những người khác như thế nào Đồng thời giúp họ chọn cách giải quyết vấn đề tối ưu trong chiến lược định hướng phát triển của những người này khi có nhu cầu
Tóm lại: TVTL học đường là hình thức trợ giúp tâm lí đắc lực cho HS, cha mẹ
HS, lãnh đạo, GV, TVV thực hiện mục tiêu học tập và giáo dục của các cá nhân và tập thể trong trường học
1.2.5 Quản lí hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường học
Từ năm 2005 theo tinh thần công văn 2564/HSSV ngày 5/4/2005 và công văn 9971/BGD&ĐT, ngày 28/10/2005 của Bộ GD&ĐT cũng đã xác định “Tư vấn cho
HS, sinh viên là phương pháp tác động mang tính định hướng giáo dục tới những
HS, sinh viên đang có những khó khăn tâm lí, tình cảm, những bức xúc của lứa tuổi cần được giải đáp, những vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp, trong tìm kiếm việc làm …”
Trong Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT), tại điều 16 mục 1 có nêu chức danh “cán bộ làm công tác tư vấn cho HS”, tại điều 31 mục 6 nêu rõ: GV làm công tác tư vấn cho HS là GV trung học được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ tư vấn; có nhiệm vụ tư vấn cho cha
mẹ HS và HS để giúp các em vượt qua những khó khăn gặp phải trong học tập và sinh hoạt Riêng ở TP HCM từ năm học 2009-2010, UBND TP HCM đã phê duyệt cho trường THCS, THPT hạng I được 01 biên chế GV làm công tác TVTL học
Trang 30đường Ngày 31 tháng 8 năm 2012, Sở GD&ĐT TP HCM ban hành văn bản số 1090/QĐ-GDĐT-TC, Quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn học đường tại các trường, trung tâm trực thuộc Sở GD&ĐT TP HCM
Trên tinh thần công văn đó, HĐTV tâm lí được triển khai trong các nhà trường dưới sự quản lí, chỉ đạo của Hiệu trưởng và do nhà trường điều hành, triển khai, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp với sự tham gia của các cán bộ, GV được chọn lựa, tập huấn thực hiện xuyên suốt năm học
Như vậy quản lí HĐTV tâm lí trong trường học là hoạt động có mục đích, có
tổ chức, có khoa học của Hiệu trưởng đến đội ngũ giáo viên làm công tác tư vấn tâm lí, tập thể giáo viên, học sinh và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động tư vấn, giúp học sinh phát triển toàn diện nhân cách.Thế nên quản lí HĐ.TVTL trong trường thuộc nhiệm
vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng.Và để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, người Hiệu trưởng cần phải thể hiện tốt các vai trò chủ yếu, vừa là nhà quản lí, nhà giáo dục và nhà sư phạm Quản lí HĐ.TVTL bao gồm các công việc sau: Tổ chức nhân
sự, xây dựng kế hoạch, cơ sở vật chất, phương tiện … phục vụ cho HĐ.TVTL; chỉ đạo thực hiện hoạt động theo kế hoạch đã đề ra; tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả
và rút kinh nghiệm cho HĐ.TVTL tại trường
1.3 HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÍ HỌC ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của Tư vấn tâm lí trong trường Trung học cơ sở
TVTL tác động vào nhận thức, giúp HS tự nhận thức, tự giải quyết vấn đề, qua
đó hình thành tính tự lập, độc lập, biết tự chịu trách nhiệm
TVTL giúp HS lựa chọn cách xử lí đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp HS thực hiện được nguyện vọng của mình
TVTL tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển nhân cách của trẻ
Bên cạnh đó, TVTL học đường còn tư vấn cho nhà quản lí, GV cũng như các bậc phụ huynh về những vấn đề liên quan đến giáo dục HS và là cầu nối với lực
Trang 31lượng bên ngoài trường học (công tác xã hội, pháp luật, y tế, …) trong việc giải quyết vấn đề của HS
TVTL giúp HS ứng phó trước những tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực; tránh bị lôi kéo vào những hành vi tiêu cực, bạo lực, sống ích kỉ, lai căng, dễ phát triển lệch lạc nhân cách là rất quan trọng
Thông qua hoạt động TVTL, người làm công tác tư vấn hỗ trợ thông tin, kĩ năng, phương pháp suy nghĩ, hành động: Giúp HS có cái nhìn khách quan, toàn diện, thấu đáo về thực trạng của vấn đề, tạo ra những tác động mang tính định hướng được hiểu là những tác động nhằm giúp HS có định hướng đúng Từ đó, các
em biết cách giải quyết vấn đề của bản thân Những định hướng này mang tính giáo dục, nghĩa là tạo ra hướng phát triển phù hợp với yêu cầu, mong muốn của xã hội Như vậy có thể hiểu TVTL học đường tác động vào nhận thức, giúp các em HS tự nhận thức, tự giải quyết vấn đề, qua đó hình thành tính tự lập, độc lập, tự chịu trách nhiệm TVTL học đường hỗ trợ HS tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn chưa giải quyết được trong tâm lí, tình cảm, những bức xúc của lứa tuổi Lứa tuổi HS trung học đang phát triển, chưa ổn định Hơn nữa, xã hội phát triển nhanh, quá trình xã hội hóa, toàn cầu hóa trong thời kì hội nhập đang tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển của trẻ, nhiều hiện tượng phát triển lệch lạc mất phương hướng của thanh thiếu niên gần đây có nguyên nhân của sự phát triển quá nhanh của
xã hội, công nghệ; trong khi văn hóa, nếp sống, xã hội chưa biến đổi phù hợp, con người chưa thích ứng kịp Đó là căn nguyên gây ra những khó khăn của trẻ
Một vai trò nữa, đó là tư vấn giúp các em lựa chọn cách xử lí đúng góp phần
ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp HS thực hiện được nguyện vọng của mình
Vai trò quan trọng của tư vấn học đường là cần tạo ra một môi trường thuận lợi, tích cực thân thiện cho sự phát triển nhân cách của trẻ, sự phát triển ở đây là sự phát triển theo định hướng, theo mục tiêu mà xã hội mong muốn Đó là hạnh phúc của mỗi cá nhân dựa trên hạnh phúc của toàn xã hội
Hoạt động TVTL trong nhà trường có nhiệm vụ: [28]
Trang 32- Hỗ trợ HS giải quyết những khó khăn trong việc phát triển nhân cách, năng lực và
kĩ năng học tập, định hướng nghề nghiệp, lối sống khỏe mạnh, các mối quan hệ liên nhân cách và những rối loạn cảm xúc và nhân cách
- Hỗ trợ phụ huynh trong việc quan tâm, chăm sóc và giáo dục con cái, phát triển mối quan hệ với nhà trường một cách tích cực, phát hiện những khó khăn của con cái và phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục
- Hỗ trợ GV và những thành viên khác trong nhà trường trong việc giao tiếp và tiếp cận với HS, kịp thời phát hiện những nhu cầu và những vấn đề cần sự can thiệp của TVV
- Hỗ trợ nhà trường trong việc hoạch định các chiến lược giáo dục toàn diện cho
HS, cách thức phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục, cách thức tổ chức các hoạt động nhằm phát triển và ngăn ngừa các hành vi nguy cơ trong trường học của
HS
Trong môi trường học đường, các TVV sử dụng những kiến thức tâm lí học và các kĩ năng tư vấn nhằm giúp trường học giải quyết những vấn đề sau: [28]
- Phối hợp với các tổ chức liên quan trong việc hỗ trợ và can thiệp trong trường hợp
HS có những vấn đề liên quan những hoạt động bên ngoài như các vấn đề về pháp luật, các vấn đề về bệnh tâm lí…
- Lưu giữ hồ sơ những HS có vấn đề về tâm lí để có thể sử dụng trong những trường hợp cần thiết sau này
- Giúp thân chủ dám đối diện với những vấn đề của mình với thực tại cuộc sống, giúp đương đầu một cách có hiệu quả, tự gánh trách nhiệm Giúp thân chủ củng cố
và phát triển các thói quen tốt, hạn chế hoặc sửa được các thói quen xấu hoặc giúp điều chỉnh các suy nghĩ tiêu cực
- Giúp thân chủ giảm bớt các cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn, làm dịu bớt những cảm xúc căng thẳng Nhà tư vấn phải có thái độ cảm thông, ủng hộ và chấp nhận; thực hiện hệ thống giúp đỡ nếu cần thiết
- Giúp thân chủ tăng hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình Nhà tư vấn phải sàng lọc các nguyện vọng cùng thân chủ, thu thập các thông tin có liên quan (đến
Trang 33thăm nhà, hội ý ), trải nghiệm trực tiếp các vấn đề của họ, giúp thân chủ nhận thức được các nguồn lực và các hạn chế của mình, giúp thân chủ phân mảng các vấn đề, xác định được vấn đề, việc nào nên làm trước, việc nào quan trọng nhất
- Giúp thân chủ đưa ra những quyết định tích cực, trợ giúp cho thân chủ xác định được những cái cần thay thế nếu không giải quyết được; sàng lọc được các hậu quả của mỗi phương án thay thế, lường trước được sự việc, hướng dẫn thân chủ thực hiện các quyết định
- Thực hiện các quyết định bằng cách hướng dẫn thân chủ, giúp thân chủ lập ra kế hoạch mang tính khả thi (hành vi), khuyến khích họ thực hiện theo kế hoạch do họ
tự đề ra; giúp thân chủ đánh giá kết quả (trong mỗi buổi tư vấn và cả quá trình tư vấn) - đây chính là quá trình tư vấn- trị liệu
TVTL học đường thiên về tư vấn giáo dục, nó bị chi phối bởi những quy định, chuẩn mực trong trường học Nhà tư vấn học đường chuyên nghiệp là một nhà sư phạm được cấp bằng đào tạo về TVTL học đường với những kĩ năng chuyên biệt để
hỗ trợ việc học, nhu cầu phát triển cá nhân, xã hội và nghề nghiệp của HS Nhiệm
vụ của nhà tư vấn học đường là can thiệp, tư vấn cá nhân và nhóm nhỏ, hướng dẫn nhóm lớn, tư vấn phụ huynh, GV, những người khác và làm công tác điều phối chương trình [17]
Theo Bộ Lao động Hoa Kì, nhà tư vấn học đường giúp HS đánh giá khả năng, hứng thú, tài năng và đặc điểm nhân cách của mình để phát triển khả năng học tập thực sự và mục tiêu nghề nghiệp là hỗ trợ cho HS Bên cạnh đó, nhà tư vấn học đường còn làm việc với những cá nhân và tổ chức khác để đẩy mạnh việc phát triển học tập, hướng nghiệp, vấn đề cá nhân và xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên Nhà tư vấn học đường sử dụng các buổi tư vấn, các trắc nghiệm đánh giá hứng thú
và năng khiếu, và những cách thức khác để đánh giá và tư vấn cho HS Ngoài ra, nhà tư vấn học đường còn tổ chức các buổi trao đổi thông tin nghề nghiệp và các chương trình giáo dục hướng nghiệp [17]
Trang 34Nhà tư vấn học đường chuyên nghiệp hướng đến xây dựng một môi trường học tập an toàn và làm việc nhằm bảo vệ quyền con người của tất cả các thành viên trong nhà trường
1.3.2 Mục tiêu của Tư vấn tâm lí trong trường học
Theo John J.Schmidt (1999) trong Counseling in School, tư vấn học đường là hoạt động trong nhà trường nhằm mục tiêu:
+ Phát triển giáo dục (Eduation development)
+ Phát triển nghề nghiệp (Career development)
+ Phát triển nhân cách và quan hệ xã hội (personal and social development)
Ngoài ra, mục tiêu của HĐ.TVTL còn là:
- Giúp HS bớt các cảm xúc tiêu cực khi gặp hoàn cảnh khó khăn và cảm thấy thoải mái khi trò chuyện cùng nhà tư vấn về vấn đề của mình
- Giúp HS tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình; giúp đối tượng biết chấp nhận vấn đề của mình như nó đang có
- Giúp HS đưa ra được các quyết định lành mạnh và có khả năng xử lí được vấn đề của bản thân
- Hướng dẫn HS thi hành các quyết định của mình và có khả năng dự phòng các tình huống tương tự xảy ra trong tương lai
- Bảo đảm cho HS được sống, vui chơi và học tập trong những điều kiện tốt, lành mạnh có lợi cho sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần Trợ giúp HS có những khó khăn về xã hội, tâm lí trong quá trình phát triển của mình Ủng hộ những kế hoạch, dự định hoạt động những hứng thú của HS có điều kiện thực hiện được
- Tư vấn để ý thức về mình, ý thức về thực tại, đặc biệt hiểu biết về cách phòng vệ - cách thức mà bản thân và người khác thường dùng để phản ứng lại với những tác động xung quanh
- Tư vấn để thống nhất trong con người (cảm xúc, hành vi, tư vấn không chỉ dựa vào kĩ năng mà còn phải dựa vào tiềm năng (hệ thống thái độ )
- Tư vấn để thích nghi với môi trường, thích nghi với công việc
- Tư vấn để chấp nhận bản thân mình, con người phải biết cách sống và hòa nhập
Trang 35với chính bản thân mình
- Tư vấn để giúp cho cá thể đưa ra quyết định vững vàng
- Tư vấn giúp giải tỏa các ẩn ức trong con người, xác định được đúng vấn đề đang khó chịu
- Tư vấn giúp giảm thiểu hậu quả của những sai lầm hoặc những biến cố tiêu cực
- Tư vấn để biết yêu mình hơn, yêu một cách đúng mức, đúng cách, biết tôn trọng bản thân
- Tư vấn để tìm một hướng đi cho đời mình, làm sáng tỏ được các giá trị, mục tiêu
và phát huy được tiềm năng của bản thân
- Tư vấn để thay đổi triết lí sống, thay đổi cách nhìn nhận về con người, tìm lại ý nghĩa cuộc sống [2]
Nói chung TVTL học đường có nhiều cách hiểu và cách tổ chức giáo dục ở nhiều nước trên thế giới khác nhau Do vậy, cần xác định mục tiêu của tư vấn học đường cũng như sự tồn tại của TVV tâm lí học đường đem lại những hoạt động cần thiết gì cho nhà trường, cho hệ thống giáo dục của ngành, cho phụ huynh và cộng đồng
1.3.3 Đối tượng hướng đến của Hoạt động Tư vấn tâm lí học đường
TVTL là HĐTV được tiến hành trong trường học với đối tượng chủ yếu là HS (nhất là những HS gặp khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp, …), cha mẹ HS cũng như các lực lượng giáo dục trong nhà trường (GV, giám thị, bảo mẫu, nhân viên văn phòng, …) nhằm đánh giá nhu cầu sức khỏe tâm thần của HS, phòng ngừa, hỗ trợ HS; cha mẹ HS; các lực lượng giáo dục; giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đời sống tâm lí của họ
1.3.4 Nội dung của hoạt động Tư vấn tâm lí trong trường Trung học cơ sở
Theo tinh thần công văn số 2564/HSSV ngày 5/4/2005 của Bộ GD&ĐT về việc tăng cường công tác HS, SV; Bộ GD&ĐT đã ra thông tư hướng dẫn triển khai
số 9971, ban hành ngày 28/10/2005 hướng dẫn các trường phổ thông triển khai thực hiện tư vấn học đường theo các nội dung sau: [5]
- Hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh,
Trang 36- Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới,
- Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, GV và bạn bè,
9 Không chỉ tư vấn cho HS, sinh viên, các nhà tư vấn học đường cần tư vấn các vấn
đề phát triển cho trẻ em với những lực lượng giáo dục, lực lượng xã hội có liên quan trong vấn đề bảo vệ trẻ em
- Cũng như tư vấn học đường các bậc học khác, tư vấn học đường bậc THCS sẵn sàng giúp đỡ HS những dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tâm lí có tính chữa trị và những vấn đề giáo dục, quản lí giáo dục
Trang 37- Chú trọng HS cá biệt, quá tăng động, hoặc tự kỉ; những HS có nguy cơ bỏ học tham gia lao động sớm được TVV chăm sóc giúp đỡ bằng nhiều nguồn lực của nhà trường, gia đình và cộng đồng
- Những HS có nguy cơ rơi vào tệ nạn xung đột, bạo hành, uống rượu, cờ bạc, ma túy, bị lạm dụng tình dục, lạm dụng lao động … cần được TVV học đường phát hiện sớm bảo vệ, giúp đỡ, hướng dẫn chữa trị, tránh xa tệ nạn
Tóm lại, nhà trường trở thành nhà trường thân thiện, hiện đại tất yếu phải có
sự đóng góp tích cực của tư vấn học đường, bên cạnh những yếu tố vật chất, tinh thần khác TVV học đường ngày nay hoạt động như một giáo dục viên, một nhân viên công tác xã hội trong nhà trường
Trong nhà trường THCS, HS có thể gặp những KKTL đặc trưng trong sự phát triển lứa tuổi HS THCS: những KKTL trong quá trình học tập; những KKTL trong
sự phát triển về mặt sinh lí (hiện tượng dậy thì, hiện tượng “giả vờ” hiện tượng
“lóng ngóng, vụng về, những KKTL trong quan hệ giao tiếp ứng xử với bạn bè, quan hệ ứng xử với GV, với cha mẹ, với cộng đồng Điều này có thể làm ảnh hưởng đến kết quả học tập và tu dưỡng của các em Hiện nay, những KKTL cần giải quyết cho HS THCS bao gồm: [2]
- Khó khăn trong hoạt động học tập:
+ Xác định mục đích, động cơ học tập
+ Hiểu và thực hiện đúng nội quy, yêu cầu trong học tập
+ Xác định điểm mạnh, điểm yếu trong cách học của mình
+ Lập kế hoạch định hướng cho quá trình học tập
+ Thích ứng với phương pháp, nội dung giảng dạy và học tập mới
+ Sắp xếp, phân phối thời gian học tập hợp lí
+ Tìm kiếm và xử lí nguồn thông tin cho bài học
+ Chuẩn bị bài trước khi lên lớp
+ Tập trung chú ý trong học tập
+ Phối hợp giữa quan sát, nghe và ghi chép bài học
+ Ghi nhớ nội dung bài học
Trang 38+ Phát biểu xây dựng bài
+ Tham gia vào các hoạt động học tập, hoạt động ngoại khóa
+ Hợp tác nhóm khi học nhóm
+ Ứng dụng công nghệ thông tin khi học tập
+ Vận dụng tri thức học tập vào việc giải quyết các bài tập và thực tiễn
+ Tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của bản thân [2]
- Khó khăn trong quan hệ ứng xử với thầy cô giáo:
+ Giao tiếp với thầy cô (trạng thái tâm lí khi giao tiếp)
+ Sử dụng các phương tiện giao tiếp
+ Tạo dựng mối quan hệ với thầy cô
+ Ứng xử phù hợp với vị trí, vai trò của mình
+ Đó là những mâu thuẫn, xung đột giữa các em với thầy cô HS muốn được đối xử như người lớn, trong khi đó thầy cô chưa kịp thay đổi kiểu ứng xử, từ đó dẫn đến tình trạng bất hòa giữa HS và GV Một số thầy cô còn lạm dụng quyền của mình để ngăn cấm, hạn chế tính tích cực của các em, thiếu sự đồng cảm với HS [2]
- Khó khăn trong quan hệ ứng xử với bạn bè:
+ Làm chủ bản thân khi giao tiếp với bạn
+ Hòa đồng, thân thiện với bạn
+ Giúp đỡ bạn cho đúng cách
+ Khẳng định vị trí trong nhóm bạn
+ Sử dụng các phương tiện giao tiếp
+ Tạo hứng thú khi nói chuyện với bạn
Trang 39+ Biểu lộ tình cảm với bạn khác giới
+ Quan tâm đến bạn khác giới
+ Cân đối giữa chuyện tình bạn khác giới và học tập
+ Xây dựng tình bạn khác giới đúng mục [2]
- Khó khăn trong quan hệ ứng xử với các thành viên trong gia đình:
+ Đáp ứng yêu cầu, kì vọng của bố mẹ
+ Vui vẻ, hòa đồng với mọi người trong gia đình
+ Cư xử phù hợp với vị trí của mình
+ Quan tâm, chăm sóc đến mọi người
+ Có trách nhiệm với mọi người trong gia đình [2]
- Khó khăn trong giao tiếp với cộng đồng:
+ Đúng mực trong giao tiếp với những người xung quanh
+ Biết cách sử dụng tốt các phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) + Hòa nhã với những người xung quanh
+ Kính trên, nhường dưới
+ Ngoan ngoãn, lễ phép với những người xung quanh
+ Chào hỏi mọi người theo đúng vị trí của mình trong cộng đồng
+ Giúp đỡ mọi người khi họ gặp khó khăn (trẻ nhỏ, người già, )
+ Hành vi đúng mực và có văn hóa khi tham gia các dịch vụ công cộng [2]
Tâm lí học lứa tuổi đã khẳng định, lứa tuổi HS THCS là lứa tuổi khủng hoảng,
“nổi loạn” với sự phát triển về tâm - sinh lí Vì vậy, đây là lứa tuổi có thể xảy ra
rất nhiều các vấn đề khác nhau xuất phát từ đặc trưng phát triển lứa tuổi Thế nên, nếu được giải quyết các KKTL thì các em sẽ lấy lại sự cân bằng tâm lí nhất định Sự
cân bằng ấy tạo ra sự thăng bằng tâm lí và phù hợp với xu hướng phát triển tâm lí
chung của lứa tuổi này
Tóm lại, với đặc trưng phát triển lứa tuổi và đời sống nhà trường THCS làm
cho nội dung những KKTL của HS THCS rất đa dạng, phong phú, phúc tạp Điều này tạo cơ sở để xuất hiện nhu cầu được tư vấn tương ứng với việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp với lứa tuổi để giải quyết những KKTL đó
Trang 401.3.5 Các hình thức Tư vấn tâm lí học đường
HĐTV được tổ chức một cách đa dạng thông qua các hình thức tư vấn như: Tư vấn cho các cá nhân, tư vấn cho nhóm (gặp từng người, gặp những người có cùng một vấn đề); gặp trực tiếp, qua thư tay, qua mạng internet, qua điện thoại; truyền thông (dạy ở lớp, các buổi nói chuyện hoặc tuyên truyền)
Trong quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học ban hành kèm theo quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC, ngày 31/8/2012 của Giám đốc Sở GD&ĐT TP HCM đã quy định các hình thức tư vấn như sau:
- Tư vấn trực tiếp cho HS, GV, cha mẹ HS bằng các hình thức: tư vấn cá nhân hoặc theo nhóm tại phòng tư vấn, tư vấn chuyên đề tại lớp học, hội trường, sân cờ, hoặc tại gia đình, …
- Tư vấn gián tiếp thông qua hộp thư, hộp thư điện tử, điện thoại, …
- Tổ chức tập huấn về chuyên môn tư vấn, tâm lí, hướng nghiệp, … cho cán bộ, GV, công nhân viên, cha mẹ HS, …
Ngoài ra HĐ.TVTL trong trường học còn được tiến hành thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động đoàn thể, sinh hoạt tập thể
1.3.6 Các lực lượng thực hiện hoạt động Tư vấn tâm lí học đường
Hoạt động TVTL trong nhà trường thật sự chưa có chức danh cụ thể trong đề
án vị trí việc làm của các đơn vị hành chính sự nghiệp là trường học Do đó, lực lượng thực hiện HĐ.TVTL học đường có thể là: CBQL nhà trường, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên, Tổng phụ trách Đội, nhân viên y tế Trong đó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm ra Quyết định phân công cá nhân tham gia HĐ.TVTL
1.3.7 Các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lí học đường
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tạm thời về việc tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học ban hành kèm theo Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Giáo đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM thì để tổ chức HĐ.TVTL trong nhà trường, CBQL cần quan tâm đến các điều kiện, phương tiện hỗ trợ