1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố thanh hóa, tỉnh thanh hóa

105 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 715,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong thời gian qua đã có những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự ổn định, trật tự an toàn xã hội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGHỆ AN, 2018

Trang 2

44

2.1

Khái quát về thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa và các

2.2 Hoạt động của chính quyền địa phương trong quản lý hộ

tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 51

2.3

Đánh giá về vai trò của chính quyền địa phương trong quản

lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 61

Chương 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Trang 3

phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của Thường trực, Ban Thường

vụ thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Thanh Hóa và Phòng Tư pháp Thành phố Thanh Hóa, đặc biệt là PGS.TS Trần Viết Quang - Trưởng Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, chuyên

ngành Chính trị học với đề tài “Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” Mặc dù quá trình tìm hiểu, phân tích, đánh giá và khái quát, tôi đã nỗ lực

cố gắng hết mình, say sưa và tâm huyết, song Luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót

Tôi xin chân thành cảm ơn và trân trọng mọi sự quan tâm giúp đỡ, những

ý kiến góp ý quý báu của quý thầy cô, các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, Ửy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, những người làm công tác hộ tịch và bạn bè đồng nghiệp

Trân trọng cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2018

Tác giả

Lê Hồng Thanh

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện Tại hầu hết các nước, các sự kiện hộ tịch của con người

từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám

hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử… đều được đăng ký và được quản lý chặt chẽ Thông qua hoạt động này, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo

hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước

Ở nước ta, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong thời gian qua đã có những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự ổn định, trật tự an toàn xã hội; công tác xây dựng thể chế được tăng cường; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng;

hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch và đội ngũ công chức làm công tác

hộ tịch từ Trung ương đến cơ sở không ngừng được củng cố, kiện toàn; hệ thống sổ sách về hộ tịch được lưu trữ, sử dụng lâu dài; thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch có sự cải cách một bước, ngày càng thuận lợi cho người dân; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch được triển khai ở một số địa phương; đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài có chuyển biến tích cực…

Với những kết quả đã đạt được, công tác hộ tịch ngày càng khẳng định

vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý nhà nước và xã hội, góp phần bảo đảm ngày một tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện

ở mức cao hơn…, nên công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ nhiều hạn

Trang 6

chế, bất cập như: Về thể chế, hệ thống quy phạm pháp luật về hộ tịch chưa đồng

bộ, thống nhất, hiệu lực pháp lý chưa cao Về thủ tục, thẩm quyền và phương thức đăng ký hộ tịch còn phức tạp, chưa tạo thuận lợi nhiều cho người dân; trình độ, năng lực của đội ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch (nhất là ở cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu); việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức… Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch

Thành phố Thanh Hóa là đô thị tỉnh lỵ tỉnh Thanh Hóa, trong những năm qua, thành phố đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ thành phố đến phường, xã, công tác quản lý về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa từng bước được thực hiện nghiêm túc đầy đủ, chính xác Song cũng như nhiều địa phương khác, công tác quản lý về hộ tịch ở thành phố Thanh Hóa cũng còn nhiều hạn chế như đã nêu ở trên

Vì vậy, nghiên cứu về quản lý hộ tịch nói chung cũng như vai trò quản lý Nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa nói riêng nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý hộ tịch và vai trò quản lý Nhà nước

về hộ tịch, trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa là một điều cấp thiết hiện nay Đây là lý do để tôi lựa chọn đề tài

“Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Quản lý dân cư nói chung và quản lý hộ tịch nói riêng là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính nhà nước, tương tự như quản lý lãnh thổ, đất đai Với phạm vi và đối tượng quản lý vô cùng rộng lớn, tác động đến mọi tầng lớp dân

cư, việc thiết lập hệ thống quản lý dân cư, quản lý hộ tịch luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia Do đó, vấn đề về hộ tịch và quản lý hộ tịch; vấn đề quản lý nhà nước về hộ tịch được nghiên cứu khá toàn diện và rộng rãi

Trang 7

Ở góc độ nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên phạm vi rộng, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo, tạp chí đề cập đến vấn đề

hộ tịch và quản lý hộ tịch; Quản lý nhà nước về hộ tịch và các chính sách thực hiện hộ tịch, như:

- Ths Phạm Trọng Cường: Về quản lý hộ tịch, NXB Chính trị quốc gia, 2004;

- Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch, NXB Chính trị quốc gia, 2006; tác giả đã nêu và phân tích các quy định mới trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch căn cứ theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP - Biên soạn: Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng…: Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch, NXB Tư pháp, 2006; tác giả đã nêu lên thủ tục và các bước cần thiết khi đăng ký hộ tịch như đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, thủ tục nhận con nuôi,… trong công tác quản lý hộ tịch

- Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch, NXB Tư pháp, 2007; tác giả hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch như đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận cha mẹ con, nhận con nuôi, giám hộ…

- Phạm Hồ ng Hoàn: Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan Phượng, Luận văn thạc sĩ hành chính công, 2011; tác giả phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Đan Phượng;

- Phạm Trọng Cường: Quản lý nhà nước về hộ tịch - Lý luận, thực trạng

và phương hướng đổi mới, Luận văn thạc sĩ luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2003; tác giả tiến hành khảo sát thực trạng việc quản lý hộ tịch ở Việt Nam trong thời gian qua và nêu những ưu nhược điểm của công việc này đồ ng thời đưa ra một số quan điểm, phương hướng đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch

- Bù i Thị Tư: Quản lý hộ tịch - Qua thực tiễn ở Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; tác giả đã nêu thực

Trang 8

trạng công tác quản lý hộ tịch, phân tích ưu điểm và hạn chế trong quản lý hộ tịch ở thành phố Hải Phòng và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hộ tịch ở thành phố Hải Phòng

- Nguyễn Hữu Đính: Công tác tư pháp - hộ tịch ở cấp xã: những vấn đề

lý luận và thực tiễn ở tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ Luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tác giả trình bày thực trạng công tác tư pháp - hộ tịch, phân tích ưu điểm và hạn chế trong công tác tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đưa ra một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác

tư pháp - hộ tịch

- Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của công dân”, tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2005;

- Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch”, tác giả Phạm Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;

- Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch trong giai đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm 2006;

Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, phần 2 hộ tịch

và quốc tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;

- Bài “Tư pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh”, tác giả Đàm Thị Kim Hạnh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008;

- Giáo trình “Quản lý hành chính-tư pháp” của Học viện hành chính, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật năm 2008 (dành cho đào tạo trung cấp hành chính)

- Chuyên đề “Quản lý hành chính - tư pháp” trong chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính của Học viện Hành chính…

Trang 9

Các công trình khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh của quản

lý về hộ tịch Tuy nhiên, đến nay nội dung nghiên cứu trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên phạm vi một địa phương cụ thể như địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện

Vì vậy luận văn tiếp cận vấn đề “Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” dưới góc độ khoa học chính trị không trùng lắp với các công trình

khoa học đã được công bố

2 Mục đích nghiên cứu

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn của vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai

trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của chính quyền địa phương trong

quản lý nhà nước về hộ tịch

- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính

quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch

Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt không gian được giới hạn nghiên cứu thực tế tại các phường, xã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; về mặt thời gian được giới hạn từ năm 2013 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Trang 10

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính Nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch Các quan niệm, cách nhìn nhận về chính quyền địa phương, vai trò của chính quyền địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao cũng như một số kinh nghiệm thực tiễn để lý giải những vấn đề thực tiễn đặt ra Đồng thời, tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sách, dẫn chiếu để luận giải, chứng minh cho các nhận xét đánh giá

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về hộ tịch và vai trò quản lý Nhà nước về hộ tịch; đánh giá thực trạng vai trò quản lý hộ tịch của chính quyền cấp phường, xã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa trong thời gian qua, từ đó nêu lên những giải pháp để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả vai trò quản lý Nhà nước về hộ tịch ở thành phố Thanh Hóa

Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính quyền trên địa bàn thành phố Thanh Hóa nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý hộ tịch Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu về quản lý hộ tịch

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của chính quyền địa phương trong quản nhà nước về hộ tịch

Chương 2: Thực trạng vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 11

B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: là hoạt động tổ chức, điều

hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước

1.1.2 Khái niệm chính quyền địa phương

Ở nước ta trước đây, thuật ngữ “chính quyền địa phương” đã được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như trong các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương Chính quyền địa phương được hiểu là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân

Trang 12

được Hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia Tuy nhiên, khái niệm “chính quyền địa phương” chỉ mới được sử dụng chính thức từ khi có Hiến pháp năm 2013 và đặc biệt là được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (thay thế Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003) Chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính, có nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên; trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương…

Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi tên gọi của Chương IX từ “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” thành “Chính quyền địa phương” Việc sửa đổi tên gọi của chương này không chỉ thuần túy là sự sửa đổi về câu chữ, mà hơn hết đã thể hiện được tính thống nhất của chính quyền địa phương và sự kết nối chặt chẽ của hai cơ quan tổ chức thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương Mặc dù Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là hai cơ quan có vị trí và chức năng khác nhau, nhưng được tổ chức và hoạt động trên cùng một địa bàn, một cấp hành chính, có mối quan hệ chặt chẽ về mặt tổ chức và trong tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Thực tế cho thấy, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của một cấp chính quyền địa phương chủ yếu dựa vào việc phát huy mang tính tổng hợp hiệu lực hoạt động của cả hai cơ quan trong một thể thống nhất Bởi vậy, việc đổi tên gọi của chương này được coi là một bước thay đổi nhận thức về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong Hiến pháp, thể hiện rõ tính thống nhất, thông suốt của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến chính quyền địa phương trong một nhà nước đơn nhất

Mô hình tổ chức cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cũng được đổi mới theo hướng: (i) Bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước trong phạm vi đơn vị hành chính - lãnh

Trang 13

thổ, thực hiện chức năng của mình trên cơ sở Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đóng vai trò chủ yếu trong việc tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; (ii) Phân cấp, phân quyền rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, bảo đảm nâng cao tính

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương và các nguồn lực bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp; (iii) Khẳng định rõ nét hơn vị trí của chính quyền địa phương trong hệ thống hành chính thống nhất, thông suốt của một nhà nước đơn nhất, trong đó, giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa chính quyền địa phương với các cơ quan hành chính cấp trên và giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau

Tổ chức chính quyền địa phương được quy định cụ thể hơn trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 Chính quyền địa phương có nhiệm vụ

tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện những nhiệm vụ đó (Điều 112)

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật

Trang 14

định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 113)

Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp

và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao (Điều 114)

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương

1.1.3 Khái niệm hộ tịch

“Hộ tịch” là một trong những khái niệm đặc biệt của hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt Bản thân từ “hộ tịch” là từ ghép gốc Hán và hoàn toàn không dễ Việt hóa Tuy nhiên, do khái niệm này được sử dụng từ lâu, mang tính lịch sử và trở thành ngôn ngữ phổ thông, quen thuộc với nhận thức của người dân, nên khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này

đã áp dụng giải pháp mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép Tức là, sử dụng khái niệm “hộ tịch” như một thuật ngữ chuyên môn đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật ở các thời kỳ trước đây

Nghị định 764-TTG, ngày 8/5/1956 của Thủ tướng chính phủ về Ban hành bản điều lệ đăng ký hộ tịch Tại Điều 1 của bản điều lệ quy định rõ những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký ; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch và cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày

Trang 15

16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ năm 1961 cũng quy định “đăng ký hộ tịch

là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha

mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh ” Tiếp đó, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP

và Nghị định 123/2015/NĐ-CP cũng quy định hộ tịch là những sự kiện cơ bản

xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết

1.1.4 Khái niệm về đăng ký và quản lý hộ tịch

Đăng ký Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết Đó là các sự kiện:

- Sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi, giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi

họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại các việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi

- Ly hôn; xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; huỷ hôn nhân trái pháp luật; xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc hoặc những sự kiện khác

do pháp luật quy định

Với mỗi vấn đề hộ tịch thì có giấy tờ về vấn đề đó, gọi là giấy tờ về hộ tịch Giấy tờ về hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực tế thân trạng của mỗi công dân

Giấy tờ về hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Đó là cơ sở pháp lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch Do tính chất quan trọng như vậy của các giấy tờ về hộ tịch cho nên pháp luật có quy định chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, thủ tục, trình tự đăng ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch

Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó

Trang 16

Giấy tờ hộ tịch do cơ quan đại điện Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp ở trong nước

Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân và Giấy khai sinh là

giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi một cá nhân Do vậy, tất cả các loại giấy tờ về hộ tịch đều phải thống nhất với Giấy khai sinh của cá nhân người đó Chính vì

vậy, đăng ký hộ tịch là hành vi bắt buộc không chỉ đối với công dân mà còn đối với cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước

C.Mác đã coi "Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất

xã hội của quá trình lao động" Nhấn mạnh nội dung trên, ông viết: " Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng."

Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những

Trang 17

người tham gia hoạt động chung Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình

Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công việc của xã hội do nhà nước quản lý Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và tổ chức đời sống xã hội theo Hiến pháp, luật của các chủ thể có thẩm quyền (mà phần lớn là do cơ quan hành

chính nhà nước thực hiện)

1.2.1.2 Quan niệm về quản lý nhà nước về hộ tịch

Là một nội dung trong quản lý hành chính nhà nước về hành chính- tư pháp, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch tâ ̣p trung chủ yếu vào các hoa ̣t

đô ̣ng: ban hành hoă ̣c trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiê ̣n chính sách, kế hoa ̣ch, đi ̣nh hướng về hoa ̣t đô ̣ng hộ tịch; phổ biến, giáo du ̣c pháp luâ ̣t về hộ tịch; quản lý hê ̣ thố ng tổ chứ c và hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan, tổ chức trong hoa ̣t đô ̣ng hộ tịch; đào ta ̣o, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiê ̣p vu ̣ về đăng ký hộ tịch; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi pha ̣m, giải quyết khiếu na ̣i, tố cáo trong hoa ̣t đô ̣ng đăng ký hộ tịch; bảo đảm kinh phí, cơ sở vâ ̣t chất, phương tiê ̣n cho mô ̣t số hoa ̣t

đô ̣ng hộ tịch; tổng kết hoa ̣t đô ̣ng hộ tịch; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt đô ̣ng đăng ký hộ tịch

Quản lý nhà nước đối với hộ tịch ở nước ta có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang

quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước

Trang 18

thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hộ tịch

Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa

vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn người dân để thực hiện việc đăng ký hộ tịch thông qua hệ thống của bộ máy quản lý hộ tịch của Nhà nước

Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, hòa giải… Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hộ tịch được bảo đảm thực hiện

Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là hoạt động được tiến

hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp là các công chức trong bộ máy nhà nước

Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là các

cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, đội ngũ công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch)

Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính

thống nhất, được tổ chức chặt chẽ

Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hộ tịch, bộ máy các cơ quan

hộ tịch được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các

Trang 19

địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau

Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý hộ tịch còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương

Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch có tính chấp

hành và điều hành

Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật

Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức

để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý

Thứ năm, quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang

tính liên tục

Quản lý nhà nước đối với hộ tịch luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức của bộ máy quản lý hộ tịch; tạo ra bộ

Trang 20

máy quản lý hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức quản lý hộ tịch năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình

Như vậy, có thể hiểu quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là một hình thức hoạt động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền) thực hiện trên

cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội

1.2.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

1.2.2.1 Chi ́nh phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao, Bộ Công an với việc quản lý nhà nước về hộ tịch

Căn cứ vào chức năng cơ bản của từng hệ thống cơ quan trong tổ chức

bộ máy nhà nước, sát với tình hình thực tế hiện nay, có tính đến yêu cầu cải cách hành chính, Luật hộ tịch đã phân cấp thẩm quyền quản lý và đăng ký hộ tịch theo hướng:

Một là, phân biệt giữa nhiệm vụ quản lý nhà nước và nhiệm vụ đăng ký

các sự kiện hộ tịch Theo đó, các nhiệm vụ quản lý như: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác hộ tịch, xử lý

vi phạm thuộc nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; nhiệm

vụ đăng ký các sự kiện hộ tịch tập trung cho chính quyền cơ sở như Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện

Hai là, trong hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có sự điều chỉnh

nhiệm vụ giữa các cấp, tránh sự trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ quản lý giữa các cấp Cụ thể:

+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch bao gồm: ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; tổ

Trang 21

chức triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch; ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch; xây dựng và quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; thống kê hộ tịch và hợp tác quốc tế về hộ tịch (Điều 65)

+ Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch và có nhiệm vụ, quyền hạn: Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ tịch cho công chức làm công tác

hộ tịch ở trong nước; ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục hộ tịch và các biểu mẫu hộ tịch khác; quy định cụ thể điều kiện, trình tự đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động; Xây dựng và quản lý thống nhất Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; hướng dẫn, chỉ đạo địa phương trong việc quản lý, sử dụng phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tổng hợp tình hình, phân tích, đánh giá, thống kê hộ tịch báo cáo Chính phủ (Điều 66)

+ Bộ Ngoại giao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác đăng

ký hộ tịch tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (khoản 1 Điều 67)

Cơ quan đại diện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch của công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, đăng ký hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú

ở nước ngoài theo quy định; quản lý, sử dụng sổ sách, hồ sơ, biểu mẫu hộ tịch; quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp Cơ quan đại diện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này (khoản 2 Điều 67)

+ Bộ Công an: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các bộ ngành liên quan xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư bảo đảm việc kết nối giữa

Trang 22

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến công tác hộ tịch (Điều 68)

1.2.2.2 Uy ̉ ban nhân dân các cấp với việc quản lý nhà nước về hộ tịch

+ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh:

Tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước, chịu trách nhiệm tổ chức hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương; bảo đảm nguồn nhân lực và cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định;

Chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền;

Tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức Tư pháp – hộ tịch, công chức đảm nhiệm công tác hộ tịch của Phòng Tư pháp

Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch (Điều 69)

+ Ủy ban nhân dân cấp huyện:

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về công tác đăng ký hộ tịch tại cấp xã;

Thực hiện việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo phân cấp; quản lý, lưu trữ, cập nhật, khai thác Sổ, hồ sơ hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định; Phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch (Điều 70) + Ủy ban nhân dân cấp xã:

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa bàn xã mình; Tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật về hộ tịch, quản

lý, lưu trữ, bảo quản sổ sách, hồ sơ hộ tịch, đăng ký các việc hộ tịch trong nước theo thẩm quyền;

Trang 23

Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định Công chức Tư pháp – hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn này (Điều 71)

* Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam trong quản lý nhà nước về hộ tịch:

- Cơ quan Ngoại giao, lãnh sự Việt Nam thực hiện việc quản lý nhà nước

1.2.3 Nội dung và phương thức quản lý nhà nước về hộ tịch

1.2.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch

Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 Hà Nội ngày 20/11/2014 quy định quản

lý nhà nước về hộ tịch tâ ̣p trung chủ yếu vào các nội dung sau:

- Ban hành hoă ̣c trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luâ ̣t về hộ tịch;

- Xây dựng và tổ chức thực hiê ̣n chính sách, kế hoa ̣ch, đi ̣nh hướng về hoạt đô ̣ng hộ tịch;

- Phổ biến, giáo du ̣c pháp luâ ̣t về hộ tịch;

Trang 24

- Thực hiện đăng ký hộ tịch;

- Quản lý hê ̣ thống tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan, tổ chức trong hoạt đô ̣ng hộ tịch;

- Đào ta ̣o, bồ i dưỡng, hướng dẫn nghiê ̣p vu ̣ về hộ tịch;

- Kiểm tra, thanh tra, khen thưở ng, xử lý vi pha ̣m, giải quyết khiếu na ̣i, tố

cáo trong hoa ̣t đô ̣ng hộ tịch;

- Bảo đảm kinh phí, cơ sở vâ ̣t chất, phương tiê ̣n cho mô ̣t số hoa ̣t

1.2.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về hộ tịch

Ở nước ta, quản lý hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư Quản lý hộ tịch tốt là cơ sở để nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó Mặt khác thông qua quản lý hộ tịch Nhà nước mới có thể bảo vệ một cách tốt nhất những quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự

- Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi theo đúng thẩm quyền;

Trang 25

- Cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới; trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh, xử lý kịp thời;

- Cơ quan đăng ký hộ tịch phải niêm yết công khai, chính xác các quy định về giấy tờ mà người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình hoặc nộp khi đăng ký hộ tịch, thời hạn giải quyết và lệ phí đăng ký hộ tịch

Những nguyên tắc trên đảm bảo cho việc đăng ký, quản lý hộ tịch được

chính xác, kịp thời, đầy đủ, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Bởi vì, thực tế cho thấy, các giấy tờ về hộ tịch nếu trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như khắc phục, sửa chữa sai sót, và đặc biệt sẽ gây ra không ít những phiền hà cho công dân trong việc thống nhất giấy tờ quan trọng khác sau này: hồ sơ đi học, xin việc làm, xuất cảnh, thậm chí, còn liên quan đến việc xác định độ tuổi để đánh giá năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân con người

1.3 Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước

Tại hầu hết các nước, các sự kiện hộ tịch của con người từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử… đều được đăng ký và được quản lý chặt chẽ

Trang 26

Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện từ rất sớm (thời nhà Trần) Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn với vấn đề quản lý con người (“đinh”) bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“điền”) - là hai vấn đề đã từng được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục duy trì và phát triển Theo tinh thần Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thể lệ đăng

ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam

kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ tiếp tục được áp dụng ở Việt Nam Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào

Ngày 08/5/1956, Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định

số 04/CP kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế Nghị định số 764/TTg Bước vào thời kỳ đổi mới, căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình và các luật liên quan khác, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch [1] (cả hộ tịch trong nước và hộ tịch có yếu tố nước ngoài)

Thực hiện các văn bản nêu trên, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta đã có những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng Công tác xây dựng thể chế được tăng cường; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng Hệ thống cơ quan quản lý, đăng

ký hộ tịch, đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch từ Trung ương đến cơ sở không ngừng được củng cố, kiện toàn, nhờ đó đã giải quyết được số lượng lớn yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, trong đó nhiều việc có yếu tố nước ngoài Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa, ngày càng tạo thuận lợi cho người dân Dữ liệu hộ tịch được hình thành với hệ thống sổ sách hộ tịch được lưu trữ, sử dụng lâu dài Việc ứng dụng công nghệ

Trang 27

thông tin trong đăng ký hộ tịch được triển khai ở nhiều địa phương Với những kết quả đã đạt được, công tác hộ tịch ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý nhà nước và xã hội, góp phần bảo đảm ngày một tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

1.3.2 Thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch và đăng ký hộ tịch

Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình Đồng thời, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số và kế hoạch hoá gia đình Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký kịp thời chính xác, mỗi một sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký ở một nơi theo đúng thẩm quyền quy định Cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới, trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh và xử lý kịp thời

Khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được kết hôn khi công dân đủ tuổi theo quy định, quyền được giám hộ, quyền được thừa kế đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng

và dân số, kế hoạch hóa gia đình

Cũng trên cơ sở theo dõi biến động về hộ tịch mà các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách phù hợp dựa trên dân số theo độ tuổi, giới tính nguồn nhân lực từ đó có phân tích đánh giá cụ thể làm cơ sở để hoạch định các chính sách về phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội, thể dục thể thao, xây dựng cơ

sở y tế, trường học, bố trí giáo viên chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân, đảm bảo cân bằng giới tính phục vụ an ninh quốc phòng, chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân

1.3.3 Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền

Trang 28

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại được quy định tại Chương III, Mục 1, gồm 6 điều từ Điều 84 đến Điều 89 Trong đó xác định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại Theo đó, Chủ tịch UBND các cấp, Giám đốc Sở Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Tư pháp được xác định là những người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong đăng ký và quản lý hộ tịch Cụ thể như sau:

Chủ tịch UBND cấp xã: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính của mình hoặc hành vi hành chính của cán bộ tư pháp hộ tịch trong đăng ký và quản lý hộ tịch

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết, Chủ tịch UBND cấp xã phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết Trong trường hợp khiếu nại không được thụ lý cũng phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do

Thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; Đối với vụ việc phức tạp, thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày

Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày,

kể từ ngày thụ ký để giải quyết

Việc giải quyết khiếu nại phải thể hiện bằng quyết định giải quyết khiếu nại

Trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại, Chủ tịch UBND cấp xã phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại Đây

là một điểm mới mà Nghị định 83 trước đây chưa quy định

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết theo quy định trên mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp xã mà người khiếu nại không

Trang 29

đồng ý thì có quyền khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc khởi kiện vụ

án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp luật

Đối với khu vực vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên được kéo dài, nhưng không quá 45 ngày

Đối với việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện: Trước đây Nghị định 83 và Thông tư 12/1999/TT-BTP về hướng dẫn thực hiện Nghị định 83 mới xác định phạm vi giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện là những việc mà Chủ tịch UBND cấp xã giải quyết rồi nhưng vẫn còn khiếu nại

Chủ tịch UBND cấp huyện thụ ký và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; hành vi hành chính của cán bộ Phòng Tư pháp và những vụ việc Chủ tịch UBND cấp xã đã giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại

Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong hộ tịch của Chủ tịch UBND cấp huyện có 2 bước phải tuân theo, đó là giải quyết khiếu nại lần đầu và giải quyết khiếu nại lần tiếp theo

Giải quyết khiếu nại lần đầu thực hiện như quy định đối với giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp xã Cụ thể, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền (mà không thuộc Điều 32 Luật Khiếu nại, tố cáo) thì Chủ tịch UBND cấp huyện phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết, nếu không giải quyết cũng phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do Người giải quyết khiếu nại tiếp theo phải gặp

gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại và người bị khiếu nại trong trường hợp cần thiết

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần tiếp theo không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý, nếu vụ việc phức tạp, thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày

Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết Đối với vụ việc phức tạp

Trang 30

thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 70 ngày,

kể từ ngày thụ ký để giải quyết

Trong thời hạn 30 ngày (ở vùng sâu, vùng xa là 45 ngày) kể từ ngày hết thời hạn giải quyết theo quy định nêu trên mà vụ việc không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại lên người giải quyết khiếu nại tiếp theo, trừ trường hợp đó là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng

Về giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp: Phạm vi giải quyết của Giám đốc Sở Tư pháp là đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình; hành vi hành chính của cán bộ hộ tịch của của Sở Tư pháp trong đăng ký và quản lý hộ tịch

Về thời gian, trình tự, thủ tục giải quyết được thực hiện như của Chủ tịch UBND cấp xã đã nêu ở trên

Về giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tư pháp:

Theo Điều 23 Luật khiếu nại, tố cáo thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:

1 Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình;

2 Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại; quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;

3 Giải quyết khiếu nại mà Giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại mà nội dung thuộc phạm

vi quản lý của UBND cấp tỉnh; quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;

Trang 31

4 Xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của Tổng Thanh tra

Vì trong lĩnh vực hộ tịch, Giám đốc Sở Tư pháp trực tiếp giúp Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký, giải quyết các việc về hộ tịch, do đó, sẽ không có các quyết định hành chính, hành vi hành chính về hộ tịch trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp tỉnh nữa nên không thể có khiếu nại Vì vậy, Chủ tịch UBND cấp tỉnh không thể giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình như quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật khiếu nại, tố cáo nêu trên Mặt khác, hộ tịch là lĩnh vực có nội dung chuyên môn thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, mà Sở Tư pháp là cơ quan ngành dọc chuyên ngành của Bộ Tư pháp, có chức năng giúp UBND về công tác hộ tịch tại địa phương

Do đó, lĩnh vực hộ tịch là lĩnh vực không thuộc phạm vi quản lý của UBND cấp tỉnh nên Chủ tịch UBND cấp tỉnh không giải quyết tiếp các quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp khi có khiếu nại như quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật khiếu nại, tố cáo nêu trên nữa

Thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định cụ thể tại Điều 92, đó là Chủ tịch UBND cấp xã thụ lý và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ tư pháp hộ tịch; Chủ tịch UBND cấp huyện thụ lý và giải quyết với hành vi vi phạm pháp luật trong đăng ký và quản lý hộ tịch của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, cán bộ Phòng Tư pháp huyện phụ trách công tác

hộ tịch; Giám đốc Sở Tư pháp giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ hộ tịch Sở Tư pháp; Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết việc tố cáo đối với những vi phạm của Giám đốc Sở Tư pháp, lãnh đạo UBND cấp huyện được giao phụ trách công tác hộ tịch; Thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo giải quyết các vụ việc tiếp theo khi cấp dưới đã giải quyết nhưng người tố cáo không đồng ý

Trang 32

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý Đối với

vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài thời gian nhưng không quá 90 ngày

1.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đăng ký hộ tịch

Quản lý nhà nước về hộ tịch đã được các cấp triển khai đồng bộ các văn bản quy phạm và văn bản hướng dẫn thực hiện, hoạt động đăng ký và quản lý

hộ tịch được chỉ đạo thống nhất từ trung ương tới cấp xã, diễn ra khá nhịp nhàng và đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về hộ tịch, đồng thời cũng giải quyết được cơ bản các yêu cầu của công dân về hộ tịch

Ngày 15/11/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thay thế Nghị định số 158/2005/NĐ-CP/2005 Với việc phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch trong hệ thống cơ quan quản lý hộ tịch lại có những thay đổi đáng kể, nhằm giải phóng vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khỏi khối lượng công việc sự vụ không phù hợp với chức năng của cơ quan quản lý có thẩm quyền chung cao nhất tại địa phương Hệ thống tổ chức quản lý hộ tịch theo Nghị định số 123/2015/NĐ-CP/2015 có thể biểu diễn bằng mô hình sau:

Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

Bộ

Tư pháp

Bộ Ngoại giao

CHÍNH PHỦ

Chú thích:

: quan hệ chỉ đạo, chấp hành >: quan hệ phối hợp : cơ quan chỉ có chức năng quản lý

hộ tịch : cơ quan có cả chức năng quản lý

Trang 33

* Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký các loại việc hộ tịch

phát sinh trên địa bàn xã, bao gồm:

Một là: Đăng ký khai sinh

- Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch cập nhật thông tin khai sinh theo hướng dẫn để lấy Số định danh cá nhân (đối với các địa phương đã triển khai cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh), ghi nội dung khai sinh vào Sổ đăng

ký khai sinh, cùng người đi đăng ký khai sinh ký tên vào Sổ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy khai sinh cấp cho người được đăng ký khai sinh

* Giấy tờ phải nộp:

- Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu

- Bản chính Giấy chứng sinh; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh;

- Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi thì phải có biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi do

cơ quan có thẩm quyền lập

- Trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ

- Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp ủy quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh

- Thời hạn giải quyết: Ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu, trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo

Hai là: Đăng ký lại khai sinh

Trang 34

Người có yêu cầu đăng ký lại khai sinh nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền

- Người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra ngay toàn bộ hồ sơ, đối chiếu thông tin trong Tờ khai và tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ do người yêu cầu nộp, xuất trình

- Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tiếp nhận hồ sơ viết giấy tiếp nhận, trong đó ghi rõ ngày, giờ trả kết quả; nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hoàn thiện thì hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định; trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, chữ đệm tên của người tiếp nhận

- Hồ sơ sau khi đã được hướng dẫn theo quy định mà không được bổ sung đầy đủ, hoàn thiện thì người tiếp nhận từ chối tiếp nhận hồ sơ Việc từ chối tiếp nhận hồ sơ phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó ghi rõ lý do từ chối, người tiếp nhận ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức

tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ

Trường hợp việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải nơi đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp –

hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký khai sinh trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh

về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký khai sinh, nếu thấy

Trang 35

việc đăng ký lại khai sinh chính xác, đúng quy định pháp luật, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch

Ủy ban nhân dân đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh vào Sổ đăng ký khai sinh, cùng người đi đăng ký lại khai sinh ký vào

Sổ Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp Giấy khai sinh cho người có yêu cầu

Ba là: Đăng ký kết hôn

Ngay sau khi tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, hướng dẫn hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ

- Yêu cầu: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; - Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; - Các bên không bị mất năng lực hành

vi dân sự; - Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn, gồm: + Kết hôn giả tạo; + Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; + Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc chưa

có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đang có chồng, có vợ; + Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng * Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Bốn là: Đăng ký lại kết hôn

- Trường hợp việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp

xã không phải nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi

Trang 36

đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp -

hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ; hai bên nam,

nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ

Năm là: Đăng ký giám hộ

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, nếu thấy yêu cầu đăng ký giám hộ đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký giám hộ, cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Trích lục đăng ký giám hộ cho người yêu cầu

Sáu là: Đăng ký chấm dứt giám hộ

- Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, nếu thấy yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức

tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký chấm dứt giám hộ, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám

hộ ký vào Sổ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Trích lục đăng ký chấm dứt giám hộ cho người yêu cầu

Bảy là: Đăng ký nhận cha, mẹ, con

- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch báo

Trang 37

cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nhận cha, mẹ, con, cùng các bên đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã ký cấp Trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con cho người yêu cầu

Tám là: Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định đối với yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; ngay trong ngày làm việc đối với yêu cầu bổ sung hộ tịch; nếu thấy việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch là

có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì ký Trích lục hộ tịch tương ứng (Trích lục thay đổi hộ tịch/Trích lục cải chính hộ tịch/Trích lục bổ sung hộ tịch) cấp cho người yêu cầu; công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch vào Sổ đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung

hộ tịch, xác định lại dân tộc; cùng người yêu cầu ký vào Sổ

Trường hợp thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn; bổ sung thông tin hộ tịch vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung

Chín là: Đăng ký khai tử

Ngay sau khi nhận đủ hồ sơ theo quy định, nếu thấy thông tin khai tử đầy

đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì ký Trích lục khai tử cấp cho người có yêu cầu; công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào

Sổ đăng ký khai tử, cùng người đi đăng ký khai tử ký tên vào Sổ

Trang 38

Mười là: Đăng ký lại khai tử

Ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ, nếu thấy thông tin khai tử đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức

tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai tử, cùng người đi đăng ký khai tử ký vào Sổ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký cấp Trích lục khai tử cho người đi đăng ký khai tử

Mười một là: Xác nhận tình trạng hôn nhân

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức

tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu

Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau thì người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình Trường hợp người yêu cầu không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị,

Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu, tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về tình trạng hôn nhân trong thời gian thường trú tại địa phương của người có yêu cầu

Nếu kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu

Mười hai: Đăng ký nuôi con nuôi

- Trình tự thực hiện

Trang 39

Bước 1: Người nhận con nuôi chuẩn bị hồ sơ của mình và của trẻ mà mình muốn nhận làm con nuôi theo hướng dẫn và quy định pháp luật; nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính – UBND cấp xã

Bước 2: Cán bộ 1 cửa tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ :

+ Nếu hồ sơ đầy đủ, đúng quy định thì tiếp nhận, viết phiếu hẹn trả kết quả cho công dân

+ Trường hợp hồ sơ chưa đủ, còn thiếu cần phải bổ sung thì hướng dẫn công dân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ

Chú ý: Việc hướng dẫn bổ sung, hoàn thiện hồ sơ cán bộ tiếp nhận cần hướng dẫn bằng văn bản, ghi cụ thể nội dung những giấy tờ cần bổ sung, cần hoàn thiện theo đúng quy định pháp luật

Bước 3: Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Bộ phận một cửa chuyển hồ sơ tới Bộ phận chuyên môn để giải quyết (cán Bộ Tư pháp – Hộ tịch)

Bước 4: Cán Bộ Tư pháp – Hộ tịch tiếp nhận hồ sơ từ Bộ phận 1 cửa; kiểm tra hồ sơ; tiến hành lấy ý kiến theo quy định pháp luật

Bước 5: Cán Bộ Tư pháp – Hộ tịch hoàn thiện hồ sơ, báo cáo UBND và

tổ chức đăng ký việc nuôi con nuôi

Bước 6: Con nuôi và cha, mẹ nuôi cùng những người liên quan phải có mặt thực hiện việc giao nhận con nuôi tại trụ sở UBND cấp xã

Chú ý: Trường hợp từ chối đăng ký thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do từ chối

- Thời hạn giải quyết: 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trong đó: 1 Thời hạn kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến những người liên quan: 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Chú ý: Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nơi người đó thường trú những không phải nơi người được nhận con nuôi thường trú thì việc lấy ý kiến do UBND cấp

xã nơi người được nhận làm con nuôi thường trú trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị bằng văn bản của UBND cấp xã nơi nhận hồ sơ 2

Trang 40

Thời hạn tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi,

tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch: 20 ngày kể từ ngày có ý kiến của những người được pháp luật quy định Chú ý: Trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ và nêu rõ lý do từ chối trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có ý kiến của những người liên quan

- Đối tượng thực hiện: 1 Người nhận con nuôi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật

2 Người được nhận làm con nuôi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Trẻ em bị bỏ rơi có người nhận nuôi trước khi được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng

- Trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng (cả cha, mẹ đẻ đều chết; mất tích; mất năng lực hành vi dân sự) hoặc có cha, mẹ đẻ, người nuôi dưỡng (có cha hoặc mẹ đẻ chết; mất tích; mất năng lực hành vi dân sự), người giám hộ hoặc người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng và được UBND cấp xã thông báo tìm người nhận nuôi trước khi đưa vào cơ sở nuôi dưỡng

- Yêu cầu: I Điều kiện đối với người nhận con nuôi (có đủ các điều kiện): 1 Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ 2 Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên

3 Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con nuôi 4 Có tư cách đạo đức tốt Chú ý: Nếu người nhận nuôi là cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của chồng, vợ làm con nuôi; cô, cậu, chú, dì, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về độ tuổi và điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở II Những người không được nhận con nuôi: 1 Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên 2 Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh 3 Đang chấp hành hình phạt tù 4 Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự người khác, ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w