Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết số 02-NQ/Th.U, ngày 29/8/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng xây dựng thành ph
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Lương Bằng
Nghệ An, năm 2018
Trang 32
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ khoa học Chính trị với đề tài “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” là kết quả của quá trình cố gắng, nổ lực không ngừng của bản thân tôi và
sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khích lệ của các thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những tổ chức, cá nhân đã tạo điểu kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học
Xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Lương Bằng đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp tài liệu, thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Vinh và Khoa Chính trị học, Khoa Đào tạo sau đại học đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn Thành uỷ, Hội Đồng nhân dân, Uỷ Ban nhân dân,
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Tĩnh; Ban Dân vận Thành uỷ, các ban, phòng tham mưu giúp việc Thành uỷ và Đảng uỷ các phường, xã đã hỗ trợ, giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, người thân, gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả
Hồ Văn Đại
Trang 4bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
37
2.2 Quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành
2.3 Những kết quả, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm thực hiện
dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 51
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở xã, phường trên
địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
74 3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở
Trang 5KTXH : Kinh tế - xã hội MTTQ : Mặt trận Tổ quốc Nxb : Nhà xuất bản QCDC : Quy chế dân chủ QPAN : Quốc phòng, an ninh UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6
5
A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, là bản chất của chủ nghĩa xã hội và cũng là bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung và phát triển năm 2011
đã chỉ rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” [23.tr 84-85] Hiến Pháp năm 2013
đã khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Để giữ vững và phát huy được bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện dân chủ ở cơ sở, như: Chỉ thị số 30- CT/TW, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, Nghị định số 71/1998/NĐ-CP, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, Nghị định số 87/2007/NĐ-CP, Nghị định 04/2015/NĐ-CP, Nghị định số 60/2013/NĐ-CP, Kết luận số 65-KL/TW, Kết luận số 120-KL/TW Đây là sự quyết tâm phát huy, mở rộng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới của đất nước; phản ánh tâm tư, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, đáp ứng nhu cầu và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Hà Tĩnh, thuộc khu vực Bắc miền Trung Quá trình triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố đã đạt được nhiều kết quả; mọi mặt đời sống, chính trị, xã hội của thành phố Hà Tĩnh có nhiều chuyển biến tích cực, diện mạo
Trang 76
đô thị ngày càng khởi sắc Việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
đã được các cấp ủy đảng, chính quyền từ thành phố đến cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đạt được những kết quả quan trọng Dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước và trong Nhân dân ngày càng được phát huy, mở rộng; các nội dung “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra giám sát” cơ bản được tôn trọng và phát huy Hầu hết các địa phương, cơ quan, đơn vị
đã xây dựng và điều hành, tổ chức thực hiện theo quy chế, quy định, quy ước, hương ước đã đề ra Công tác cải cách hành chính, tiếp dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm đúng mức; giải quyết khá kịp thời, hiệu quả các ý kiến phản ánh chính đáng của Nhân dân và những vấn đề phức tạp phát sinh từ cơ sở Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” từng bước được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống
Tuy vậy, kết quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh vẫn còn những hạn chế: Nhận thức về dân chủ của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương; của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa đầy
đủ Một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa ban hành đầy đủ quy chế, quy định
và chưa tổ chức thực hiện tốt Việc xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước một số nơi còn hình thức, chất lượng chưa cao, chưa thành nền nếp Vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa rõ nét, chưa thể hiện được tính tiên phong, gương mẫu, thậm chí còn có biểu hiện quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, thiếu dân chủ; việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa người đứng đầu với tập thể cấp
ủy đảng, lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng Một số chế độ, chính sách có liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của công dân thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán và chưa tham vấn đầy đủ ý kiến của Nhân dân Một số cán bộ, công chức, viên chức còn có biểu hiện quan liêu, sách nhiễu, gây phiền hà cho Nhân dân chưa được đấu tranh ngăn chặn hiệu quả; còn có biểu hiện lợi dụng tự do dân chủ để né tránh trách nhiệm, ý thức trách nhiệm đối với công việc chưa cao,
Trang 87
chưa chấp hành nghiêm chế độ công vụ Bên cạnh đó, trình độ dân trí nhìn chung chưa đồng đều; trách nhiệm của Nhân dân về thực hành dân chủ chưa cao; các thế lực thù địch, các phần tử cực đoan thường xuyên lợi dụng triệt để vấn đề dân chủ để chống phá chế độ; một bộ phận Nhân dân bị kích động, lợi dụng dân chủ để tụ tập đông người, gây rối, tạo áp lực với chính quyền nhằm đòi hỏi những quyền lợi không chính đáng… Những tồn tại, bất cập đó làm ảnh hưởng đến uy tín, giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, tạo khe hở để các phần tử xấu lợi dụng, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết số
02-NQ/Th.U, ngày 29/8/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II vào năm 2018 và phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, bền vững”; các cấp ủy
đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể thành phố cần triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó nhiệm vụ hết sức quan trọng là thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong Nhân dân chung sức, đồng lòng xây dựng thành phố là yêu cầu khách quan, cần thiết, vừa
là nhiệm vụ cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu
quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính trị hoc
Liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở những phạm vi khác nhau và được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ Trong đó, có thể khái quát các nhóm công trình sau:
Các công trình đề cập tới dân chủ, thực hiện dân chủ nói chung:
Ban Dân vận Trung ương (1998), Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và vấn đề xây dựng Quy chế dân chủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tình hình
Trang 98
đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê Minh Quân (2011) Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay , Nxb Chính trị Quốc gia sự thật; Nguyễn Phú Trọng (2011) Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội; Lưu Ngọc Tố Tâm Một số giải pháp phát huy dân
chủ cơ sở, Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017…
Các công trình đề cập đến dân chủ, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực, địa
bàn cụ thể:
Nguyễn Hồng Chuyên (2011), Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp
xã trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ thực tiễn của tỉnh Thái Bình, Nxb Tư pháp Hà Nội; Vương Ngọc Thịnh (2010),
Đề tài luận văn thạc sỹ Luật học “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức- Hà Nội”, Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia
xã hội và nhân văn; Ban Thường vụ Thành uỷ (2016), Quy chế đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp với Nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh (Kèm theo Quyết định số 281-QĐ/Th.U, ngày
28/10/2016)
Từ những khảo sát các đề tài, đề án, tài liệu khoa học trên cho thấy vấn đề nghiên cứu liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
Trang 109
chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu
và cũng chưa được nghiên cứu, khảo sát, đánh giá một cách khoa học Vì vậy, việc
triển khai luận văn “Nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn
thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” là hết sức cấn thiết
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội (khoá XI) về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố HàTĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở xã, phường, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thành phố từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường
- Nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh thông qua khảo sát, nghiên cứu thực tế; thông qua việc chỉ đạo, giám sát và thực tiễn công tác của bản thân
- Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tỉnh, tỉnh Hà Tĩnh
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực
trạng việc triển khai thực hiện dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố
Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở xã, phường từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo trên địa bàn
thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc thực hiện dân chủ ở xã,
phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh từ khi triển khai thực
Trang 1110
hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội (khoá XI) về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác, như: Nghiên cứu lý thuyết, tài liệu liên quan đến dân chủ và việc tổ chức thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở, nhất là các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện dân chủ và phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sử - lô gíc, trừu tượng hoá, so sánh, điều tra…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện dân chủ và thực trạng thực hiện dân chủ
ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh từ năm 2007 đến năm 2017 Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện dân chủ
ở cơ sở; phát huy, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng các cấp, xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II vào năm 2018 và phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, bền vững
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ
ở xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 12
Theo quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: Dân chủ trước hết với tính cách là một khái niệm chính trị, dùng để chỉ chế độ Nhà nước Chế độ dân chủ được hiểu là chế độ Nhà nước mà trong đó Nhân dân là người nắm quyền lực Dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân, là quyền làm chủ của Nhân dân trong các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước; dân chủ là một hình thức Nhà nước gắn với giai cấp thống trị, do đó dân chủ luôn mang bản chất giai cấp V.I Lênin khẳng định: “Chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước Cho nên cũng như mọi Nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” [37, tr.123] Như vậy, khái niệm “dân chủ" có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “nền dân chủ” và “chế độ dân chủ”; khái niệm dân chủ không phải là khái niệm bất biến, trái lại nó là một phạm trù có tính lịch sử và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu Nhà nước trong mỗi điều kiện xác định
Trong tiếng Việt, “Thuật ngữ dân chủ có ba hàm nghĩa: Chỉ chế độ xã
Trang 1312
hội; chỉ quyền của người dân và chỉ một phương thức công tác, phong cách quản lý, lãnh đạo" [48, tr.137]
- Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ XHCN, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị XHCN Nhà nước XHCN ra đời với tư cách là công cụ của chuyên chính vô sản thì việc ra đời của Nhà nước XHCN đồng thời cũng là sự ra đời của một nền dân chủ kiểu mới trong lịch sử - nền dân chủ XHCN, thể hiện trên các đặc trưng sau:
Một là, dân chủ XHCN đảm bảo mọi quyền lực thuộc về dân, Nhà nước
là công cụ chủ yếu thực thi dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó Điều đó cho thấy nền dân chủ XHCN vừa mang bản chất giai cấp công nhân vừa có tính Nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc
Hai là, dân chủ XHCN có sự thống nhất về những lợi ích cơ bản giữa
các giai tầng, cá nhân trong xã hội làm cho mọi người đều có quyền tự chủ, bình đẳng trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế; có quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp, dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
Ba là, trong nền dân chủ XHCN tất cả các tổ chức trong hệ thống chính
trị và mọi công dân đều được tham gia vào công việc Nhà nước và được ứng
cử, đề cử và bầu cử vào cơ quan Nhà nước các cấp
Bốn là, nền dân chủ XHCN phải đảm bảo nền dân chủ mang tính chất
giai cấp công nhân
Theo C.Mác, một nền dân chủ thật sự phải gắn liền với sự nghiệp của Nhân dân “Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước…ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân Nhân dân” [42, tr.349] Trong nền dân chủ XHCN, những giá trị dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật, trong đó Nhà nước là trụ cột Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Các giá trị dân chủ trở thành phổ biến, chi phối mọi hoạt
Trang 141.1.1.2 Cơ sở
Cơ sở ở đây được hiểu là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác, v.v của một hệ thống tổ chức,
trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên
1.1.1.3 Quy chế dân chủ ở cơ sở
Là những quy định cụ thể về quy trình, các bước và cách thức thực hiện dân chủ ở cơ sở Những quy định này vừa có tính hướng dẫn vừa có tính nguyên tắc bắt buộc các tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, công chức, đảng viên phải thực hiện trong công tác, nhất là các lĩnh vực công tác có liên quan đến quyền- lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân
1.1.1.4 Pháp lệnh
Văn bản qui phạm pháp luật do uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhưng chưa thật ổn định Khi các quan hệ xã hội đã ổn định, pháp lệnh sẽ được thay thế bằng đạo luật
1.1.1.5 Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám
Trang 1514
sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là
tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã
1.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ
Với lý tưởng đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn coi dân chủ vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu và động lực của các phong trào cách mạng Do
đó, tư tưởng dân chủ là một trong những cống hiến quan trọng về mặt lý luận
và có ý nghĩa thực tiễn hết sức sâu sắc của C.Mác, Ph Ăngghen và V.I.Lênin
C Mác và Ph Ăngghen tiếp cận khái niệm dân chủ, lúc đầu từ lập trường dân chủ cách mạng, sau đó chuyển dần sang lập trường cộng sản chủ nghĩa Các ông đã làm rõ bản chất giai cấp của dân chủ, chỉ ra những đóng góp cũng như hạn chế của dân chủ tư sản, qua đó khẳng định sự sụp đổ tất yếu của nền dân chủ tư sản và sự thay thế bằng một nền dân chủ mới - dân chủ vô sản
Theo C Mác, Ph Ăngghen, chỉ có nền dân chủ mới, dân chủ vô sản, mới làm cho Nhân dân lao động thực sự làm chủ xã hội và làm chủ vận mệnh của mình Để đạt được điều đó, giai cấp vô sản cần tiến hành đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, nhờ đó “Nó tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền thống trị của giai cấp vô sản Muốn thế, có lẽ cần phải có một cuộc đấu tranh mới nữa, song cuộc đấu tranh mới đó nhất định sẽ kết thúc bằng thắng lợi của giai cấp vô sản” [42, tr.469-470] C Mác khẳng định: “Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến Nhà nước thành con người được khách thể hoá” [42, tr.350] Khát vọng dân chủ, tự do, bình đẳng chỉ thực sự đạt được dưới chủ nghĩa cộng sản, đó là “Một xã hội tổ chức theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa, sẽ làm cho các thành viên trong xã hội có khả
Trang 1615
năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình Đồng thời các giai cấp khác nhau nhất định cũng sẽ không còn nữa” [42, tr.475] Tuy không phải là những người đầu tiên bàn về dân chủ và nêu lên ước vọng về một xã hội dân chủ, nhưng C Mác và Ph Ăngghen lần đầu tiên chỉ ra bản chất giai cấp của dân chủ, làm rõ những đóng góp và hạn chế của dân chủ tư sản, từ đó tìm ra con đường để xây dựng một nền dân chủ mới - dân chủ vô sản, con đường đó được thực hiện thông qua cách mạng vô sản
V.I Lênin, trên cơ sở kế thừa di sản của C Mác và Ph Ăngghen, đã
có công rất lớn trong việc làm rõ bản chất giai cấp của dân chủ, chỉ ra sự khác biệt về nguyên tắc giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, qua đó đề xuất những nguyên tắc, cách thức, con đường để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa Theo V.I Lênin, thực chất của dân chủ là quyền làm chủ phải thuộc về tay Nhân dân, Nhân dân phải được làm chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội - từ kinh tế đến chính trị, xã hội V.I Lênin đã tiếp cận khái niệm dân chủ từ góc độ chính trị Ông cho rằng: “Dân chủ là một phạm trù thuộc riêng lĩnh vực chính trị” [37, tr.258] Để khắc phục những hạn chế của dân chủ
tư sản, tạo dựng một xã hội dân chủ thực sự, giai cấp vô sản phải tiến hành đấu tranh để “Giành lấy dân chủ” [37, tr.626] V.I Lênin đã khẳng định: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; chính quyền xô viết so với nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” [37, tr.312-313] Để xây dựng nền dân chủ mới, giai cấp vô sản tất yếu phải xoá bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất, nhờ đó mà quần chúng Nhân dân mới thực sự trở thành người chủ của đất nước, thực hiện quyền làm chủ thực sự của mình Chỉ
có chế độ công hữu mới đảm bảo được “Quyền bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội đối với việc chiếm hữu tư liệu sản xuất, nghĩa là lao động ngang nhau, tiền công ngang nhau” [37, tr.122] “Cũng chỉ có chế độ công hữu mới đảm bảo cho tất cả đều tham gia quản lý, tham gia kiểm soát việc sản xuất và
Trang 1716
phân phối lao động “ [37, tr.125] Chính vì vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, đặc biệt trong quá trình tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - XHCN, V.I Lênin đã kêu gọi phải tiến hành công hữu hoá công xưởng, nhà máy và hợp tác hoá nông nghiệp Ông chỉ rõ:
“Thực chất của chủ nghĩa bôn-sê-vích, của chính quyền xô-viết là ở chỗ bóc trần sự lừa bịp và giả dối của nền dân chủ tư sản, xoá bỏ chế độ tư hữu về ruộng đất, công xưởng và nhà máy và trao toàn bộ chính quyền nhà nước vào tay quần chúng lao động và bị áp bức Chính quần chúng đó là người nắm chính trị trong tay, nghĩa là đảm đương công cuộc xây dựng xã hội mới” [37, tr.463]
Vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng dân chủ của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm, giải pháp sát hợp với yêu cầu thực tiễn của nước ta, để xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong thời đại mới ở Việt nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” [38, tr.279] Người cho rằng làm cách mạng phải biết dựa vào sức dân, dựa vào quần chúng Là cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn đức, luyện tài, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, chống tham ô, lãng phí, xây dựng một thiết chế vững mạnh để thực hành dân chủ Dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội
ấm no, tự do, bình đẳng, hạnh phúc; dân chủ không chỉ là quyền lực thuộc về Nhân dân mà làm sao để Nhân dân được hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền của mình để thể hiện trách nhiệm, bổn phận
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân
Trang 1817
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [39, tr.698]
Để thực hiện quyền làm chủ, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải
có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” [38, tr.40]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh của Nhân dân trên cơ sở giải quyết đúng đắn, hài hoà giữa các lợi ích tập thể, cá nhân và xã hội; đồng thời giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích với trách nhiệm, quyền hạn
và bổn phận của cá nhân, tập thể trong xây dựng quê hương, đất nước Người yêu cầu “Bất kỳ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành” [40, tr.233] “Chế độ của ta là chế độ dân chủ nhân dân là chủ Chính phủ là đầy tớ của nhân dân nhân dân
có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm
vụ giúp đỡ Chính phủ theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó” [40,tr.368]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc phê bình tệ quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, mất dân chủ của một bộ phận cán bộ “Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi Họ chỉ theo ý kiến của họ Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất bình” [39, tr.334]
Trang 1918
Người khẳng định “Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được, không có thì việc gì cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” [39, tr.335]
Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Người căn dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [38, tr.624]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng một chế độ dân chủ, một nhà nước dân chủ kiểu mới ở Việt Nam kể từ sau Cách mạng tháng Tám thành công Những tư tưởng hết sức giản dị mà rất
sâu sắc của Người về dân là chủ, dân làm chủ, sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, đổi mới và xây dựng là công việc của dân, quyền hành và lực lượng đều
ở nơi dân… rõ ràng vừa có điểm tương đồng, vừa vận dụng, bổ sung và phát
triển sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất của chế độ dân chủ và của Nhà nước dân chủ chân chính, về vai trò to lớn của Nhân dân trong mọi hoạt động của đời sống xã hội ở Việt Nam Đó cũng chính là tư tưởng của
Hồ Chí Minh về một xã hội dân sự đích thực
1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện dân chủ ở
cơ sở
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của dân chủ đối với sự nghiệp cách mạng, ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, chú trọng đến vấn đề dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, coi đó là một nội dung có tính chiến lược đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xã hội dân sự và thực hành dân chủ, đồng thời nghiên cứu và vận dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới vào điều kiện
cụ thể của nước ta, hơn 88 năm qua, kể từ ngày thành lập (3/2/1930) đến nay,
Trang 2019
trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi dân chủ là nội dung quan trọng của đường lối cách mạng; kết hợp chặt chẽ sự lãnh đạo của Đảng với việc phát huy năng lực sáng tạo của Nhân dân, tìm thấy sức mạnh của mình ở mối liên hệ mật thiết với Nhân dân, tạo những điều kiện cần thiết để Nhân dân sáng tạo ra lịch sử của mình một cách tự giác và có tổ chức Ngay từ khi mới
ra đời, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta đấu tranh thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau: Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để tiến lên CNXH, CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập dân tộc
Nội dung dân chủ trong giai đoạn đầu của cách mạng là đem lại ruộng đất cho dân cày Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng đã lãnh đạo cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới, cách mạng XHCN với mục đích giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; phát huy và
mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân ở cấp độ cao hơn, toàn diện hơn để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982), quan điểm
về xây dựng chế độ làm chủ tập thể tiếp tục được cụ thể hoá
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), mở đầu sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nước của Đảng, đã khẳng định “Đổi mới phải lấy dân làm gốc”
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ: “Xã hội mà
nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ và toàn bộ
tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm
Trang 2120
xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân” [19, tr.19]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), tiếp tục khẳng định:
“Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở” [20, tr.43]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) đã tạo nên một
bước ngoặt lớn, là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới Tại Đại hội, nội dung dân chủ được Đại hội hết sức quan tâm, thông qua tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng từ 1930 đến 2001 và 15 năm đổi mới đất nước (1986
- 2001) Đại hội đã khẳng định: Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh làm chủ của nhân dân là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [21, tr.22] Để phát huy sức mạnh của Nhân dân trong thời kỳ mới, Đại hội đề ra chủ trương củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là vấn đề thực hành dân chủ trong nội bộ các tổ chức Đại hội xác định, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền giám sát của Nhân dân đối với các tổ chức và cán bộ cơ sở; củng cố, tăng cường mối quan
hệ giữa hệ thống chính trị với dân theo phương châm: Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin
Trang 2221
Từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X, nhận thức về dân chủ và
thực hành dân chủ có bước phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ phát triển của đất nước Chú trọng phát huy dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư Chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Xã hội xã hội
chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển;
có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” [23, tr.70]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản
chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm” [27, tr.84-85]
Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Nghị quyết chỉ ra một số khuyết điểm trong việc phát huy dân
chủ trong Đảng: “Các nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và
Trang 2322
phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát” [32, tr.24] Để phát huy dân chủ thực sự trong Đảng “Phải thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp Đổi mới việc lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ theo hướng mở rộng đối tượng tham gia [32, tr.30]
Hội nghị lần thứ 7 (khóa XI) Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành
Nghị quyết số 25 - NQ/TW, ngày 3 tháng 6 năm 2013 “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Dân vận trong tình hình mới” Đây
là những đột phá về nội dung, phương thức lãnh đạo, tăng cường phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đưa việc thực hiện QCDC ở cơ sở trở thành nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách; phát huy vai trò của Nhà nước, của MTTQ
và các đoàn thể nhân dân, từ đó tạo phong trào quần chúng rộng lớn
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra nhiệm vụ tổng
quát, trong đó khẳng định: “Hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân” [24, tr.79] Như vậy, Đại hội nhấn mạnh và khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đại hội cũng khẳng định một số kết quả nhất định trong vấn đề thực hành dân chủ như: Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng “Ý thức về quyền và nghĩa
vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của Nhân dân được nâng lên…… Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị, kinh tế” [24, tr.167] Tuy nhiên, Đại hội XII cũng chỉ
ra một số yếu kém của việc phát huy dân chủ trong thời gian qua: “Nhận thức
về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân còn hạn chế Tình
Trang 2423
trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại
ở nhiều nơi Quyền làm chủ của Nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” [24, tr.168]
Như vậy, dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là nội dung xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta Từ những phân tích trên cho thấy, dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân; dân là chủ và dân làm chủ xã hội; quyền lực đó là tối cao không ai có quyền xâm phạm
1.1.4 Tính tất yếu của việc tăng cường dân chủ ở cơ sở
Dân chủ và thực hành dân chủ là nhu cầu khách quan của con người, của
xã hội; là nhu cầu chính đáng; là khát vọng mà con người mong muốn vươn tới; đồng thời, dân chủ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển
Sự phát triển của dân chủ đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người
Ngay từ xã hội công xã nguyên thủy, để duy trì sự tồn tại của mình, con người đã biết tự tổ chức ra những hoạt động có tính cộng đồng, các thành viên công xã đều bình đẳng tham gia vào mọi công việc của xã hội Việc cử ra những người đứng đầu các cộng đồng và phế bỏ những người đứng đầu nếu không thực thi đúng những quy định chung được giao do mọi thành viên công xã quyết định thông qua đại hội Nhân dân Đây được coi là hình thức dân chủ sở khai, chất phác của những tổ chức cộng đồng tự quản trong xã hội chưa có giai cấp
Khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, giai cấp và bất bình đẳng trong xã hội xuất hiện, các hình thức tự quản của xã hội trước đây đã không còn thích hợp, xã hội cần đến những tổ chức chính trị với những công cụ bạo lực, cưỡng bức để điều chỉnh hoạt động của xã hội, giai cấp và công dân Trong điều kiện như vậy, một tổ chức đặc biệt đã ra đời, đó là Nhà nước Trong
Trang 2524
xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô đã lập ra cơ quan quyền lực nhằm trước hết bảo vệ lợi ích của mình và sau nữa nhằm đáp ứng nhu cầu ổn định trật tự xã hội Cơ quan quyền lực đó chính là Nhà nước dân chủ đối với chủ nô, thực hiện
sự thống trị của thiểu số đối với đại đa số những người lao động, tức những người nô lệ Nhưng cũng từ đây, nhà nước do giai cấp chủ nô nắm giữ đã quy định dân bao gồm: Chủ nô, quý tộc, tăng lữ, thương gia, một số trí thức và người
tự do; còn tuyệt đại đa số nô lệ thì không được coi là dân Như vậy, về thực chất, ngay từ thế kỷ VIII trước Công nguyên, với Nhà nước đầu tiên trong lịch sử, giai cấp tư hữu, áp bức bóc lột (giai cấp chủ nô) đã dùng pháp luật và bộ máy thống trị của mình để chiếm mất quyền lực của đông đảo quần chúng Nhân dân lao động là những người nô lệ
Sau hàng ngàn năm lịch sử, các giai cấp chúa đất phong kiến và giai cấp
tư sản đã bằng mọi cách tiếp tục chiếm đoạt quyền lực của Nhân dân lao động
Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới: Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Nhân dân lao động đã giành lại được quyền lực thực sự của mình Nhà nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó đã trở thành Nhà nước đầu tiên thực hiện quyền lực của Nhân dân
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, mục tiêu và động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là dân chủ Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để liên tục phát triển nhân cách, phát triển ý thức xã hội, nâng cao tính tích cực chính trị-xã hội của quần chúng, làm bộc lộ và huy động các năng lực tổ chức, trí tuệ của Nhân dân Dân chủ làm cho các tầng lớp Nhân dân tham gia tích cực vào việc quản lý nhà nước, quản lý
xã hội Dân chủ là phương thức tốt nhất để đặt các đại biểu của Nhân dân có phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn xứng đáng nhất vào địa vị lãnh đạo nhà nước, vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức chính trị-xã hội “Với việc phát
Trang 2625
triển dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa là việc làm cho toàn thể quần chúng Nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi việc quản lý Nhà nước”
Như vậy, thực hiện dân chủ đầy đủ, rộng rãi trở thành một yêu cầu khách quan, một động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể có được bằng phương pháp thực hành dân chủ một cách rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chính là quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ mới bảo đảm cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội Bởi vì, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quy luật của sự hình thành
và tự hoàn thiện của hệ thống chuyên chính vô sản, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng là yêu cầu khách quan của
sự phát triển lịch sử xã hội, là quá trình vận động, biến đổi về chất trong thực hiện dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; là quá trình cải thiện, nâng cao các giá trị, chuẩn mực, văn hoá con người, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn xây dựng cuộc sống mới Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự trở thành một cuộc cách mạng của đông đảo quần chúng Nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng, nhằm động viên, khích lệ, phát huy tối đa mọi nguồn lực của Nhân dân vào quá trình sáng tạo xã hội mới; là quá trình tất yếu diễn ra nhằm xây dựng, phát triển và hoàn thiện dân chủ, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân Dân chủ là tiền đề thực hiện quyền lực, quyền làm chủ của Nhân dân; là điều kiện cần thiết để mỗi người dân được sống trong xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình thực hiện
Trang 2726
dân chủ hóa đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó - Đảng cộng sản Đây cũng là nhân tố quan trọng chống lại những biểu hiện của dân chủ cực đoan, vô chính phủ, ngăn ngừa mọi hành vi coi thường kỷ cương, pháp luật
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là yếu tố hết sức quan trọng, quyết định việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Khi dân chủ bao trùm đại bộ phận các quan hệ, các thiết chế xã hội và thu hút được các tầng lớp Nhân dân vào đời sống chính trị - xã hội của đất nước, dân chủ góp phần mở rộng cơ sở xã hội của hệ thống chính trị, giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, chính quyền, đoàn thể Mở rộng dân chủ có tác dụng vô cùng to lớn trong chống tiêu cực, suy thoái, chống tham nhũng, củng cố Đảng, làm trong sạch bộ máy Nhà nước, lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, từ
đó góp phần làm tăng tính ổn định xã hội
Quyền lực Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp Sau hơn 30 năm đổi mới, nước ta cơ bản đã chuyển đổi thành công từ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và tiến từ dân chủ Nhân dân lên dân chủ xã hội chủ nghĩa
Ðể thực hiện thành công mục tiêu của Ðảng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta càng phải coi trọng, phát triển nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, vì đó là một mục tiêu cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội Động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển đó là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện, củng cố Tiến lên CNXH ở nước ta phải trải qua một quá trình lâu dài, phức tạp với nhiều hình thức, bước đi mang tính chất quá độ Quá trình đó cần phải có thời gian và môi trường ổn định, đặc biệt
là ổn định chính trị để phát triển đất nước Việc phát huy, mở rộng dân chủ xã
Trang 2827
hội chủ nghĩa là điều kiện tiên quyết bảo đảm ổn định xã hội phải và là động lực
to lớn thúc đẩy sự phát triển toàn diện xã hội
Tóm lại, xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở là nội dung quan trọng, một quá trình tất yếu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, của quá trình vận động biến dân chủ từ khả năng trở thành hiện thực, để nền dân chủ "Ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực, và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân"[42, tr.349]
1.2 Thực hiện dân chủ ở xã, phường
1.2.1 Vị trí, vai trò của xã, phường
Theo quan niệm triết học: Cơ sở là những yếu tố ban đầu, là điểm xuất phát để hình thành nên sự vật, là nền móng, nền tảng tạo nên sự vật đó Sự vật là
gì và như thế nào đều tuỳ thuộc từ chất lượng của cơ sở
Theo từ điển Tiếng Việt: Cơ sở được hiểu là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác của một hệ thống tổ chức trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên
Từ quan niệm trên có thể tiếp cận khái niệm cơ sở như sau:
Nếu quan niệm xã hội là một “cơ thể sống” có quy luật ra đời, tồn tại và phát triển, thì cơ sở là yếu tố cấu thành nhỏ nhất trong cấu trúc tổ chức xã hội, tạo thành cơ thể xã hội
Căn cứ vào không gian quản lý của Nhà nước, cơ sở là không gian quản
lý nhỏ nhất của Nhà nước đối với xã hội, là “địa chỉ” cuối cùng, là “điểm đến” cuối cùng của quản lý Nhà nước Vì lẽ đó, cơ sở được gọi là đơn vị hành chính
cơ sở phân biệt với thôn (làng, bản, ấp, tổ dân phố, thôn….) là cộng đồng tự quản Đây cũng là điều giúp phân biệt quản lý Nhà nước và tự quản cộng đồng Quản lý Nhà nước lấy cơ sở xã, phường, thị trấn là “không gian quản lý” thì tự quản cộng đồng lấy các hộ gia đình - tế bào tạo nên cộng đồng (thôn, làng, bản,
ấp, tổ dân phố, thôn….) để thực hiện tự quản
Trang 2928
Dựa vào những nguyên lý của khoa học tổ chức, bộ máy Nhà nước được xác định “Là một tổng thể các cơ quan, tổ chức Nhà nước được thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp luật, có những chức năng, thẩm quyền riêng, song có
sự phân công và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện những chức năng chung của Nhà nước, thực hiện quyền lực Nhà nước, nhằm tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật, đưa xã hội phát triển”, thì cơ quan Nhà nước là cơ sở, là bộ phận tạo nên cơ thể Nhà nước
Nếu xuất phát từ đời sống kinh tế của xã hội thì cơ sở là yếu tố tạo nên đời sống kinh tế, là đơn vị kinh tế, một thực thể kinh tế Tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của đơn vị kinh tế, hình thức và thành phần sở hữu mà đơn vị kinh tế có tên gọi khác nhau: Có thể là hợp tác xã, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, song đều là cơ sở của đời sống kinh tế
Vậy cơ sở theo nghĩa chung nhất, rộng nhất là bao gồm 03 loại hình: Các
cơ quan Nhà nước; các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp… và xã, phường, thị trấn
Cơ sở được lấy làm đối tượng nghiên cứu ở đây với tư cách là một cấp quản lý Nhà nước trong hệ thống quản lý hành chính Nhà nước bốn cấp hiện hành- Đó chính là xã, phường, thị trấn Đây là một địa bàn rộng lớn, chiếm số lượng tuyệt đối trong tổng số đơn vị cơ sở ở nước ta
Như vậy, xét trên tổng thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài, cơ sở với tính cách là xã, phường, thị trấn có những đặc điểm sau:
- Là đơn vị hành chính thấp nhất - xét về mặt không gian quản lý, là thực thể cấu thành đời sống kinh tế, là nền tảng của Nhà nước, của đời sống kinh tế -
xã hội
- Là hình ảnh thu nhỏ của đời sống xã hội, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là nơi thể hiện trực tiếp sự hoàn thiện hay hạn chế, yếu kém của thể chế, của cơ chế và mô hình tổ chức quyền lực Nhà nước; thể hiện trực
Trang 3029
tiếp, cụ thể thái độ của người dân, là nơi mà việc làm, đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người dân được bộc lộ đầy đủ, rõ rệt; cũng là nơi thể hiện và đánh giá trực tiếp hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở
- Cơ sở vừa là cấp hành động, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; vừa là nơi khởi nguồn cho sự hình thành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Ở nước ta, xã, phường, thị trấn là nơi triển khai, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trực tiếp và rộng rãi; là cấp gần dân nhất, tiếp nhận, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; theo dõi, giám sát, kiểm tra công dân thực hiện các nghĩa vụ, pháp luật Dân chủ và công bằng xã hội chỉ có thể trở thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập sâu, rộng vào quần chúng Nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Cấp
xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi
1.2.2 Thực hiện dân chủ ở xã, phường - nội dung quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.2.2.1 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, phường
a Tiêu chí về hiệu quả quản lý của chính quyền cấp xã
Hơn nửa thế kỷ qua, hệ thống chính quyền cấp xã ở nước ta ngày càng được hoàn thiện cả về bộ máy tổ chức cũng như quyền hạn, nhiệm vụ và năng lực hoạt động quản lý Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế quản lý nhà nước có nhiều biến đổi Rõ nét nhất là chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp (quản lý bằng phương pháp hành chính, mệnh lệnh) sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước (dân chủ, công khai theo quy định của pháp luật)
Trang 3130
Vậy có thể thấy rằng, dân chủ ở cấp xã được thực hiện tốt thể hiện ở việc: Chính quyền cấp xã thực hiện việc quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực trong phạm vi thẩm quyền của mình phải đạt hiệu quả; phải phù hợp với nguyện vọng, đáp ứng yêu cầu của nhân dân; phải tuân thủ các quy định của pháp luật… Mặt khác còn được thể hiện ở thời gian, cách thức, thái độ giải quyết công việc của chính quyền cấp xã (nhanh, chậm; nhiều, ít; phục vụ, ban phát) Ví dụ: Việc thực hiện đăng ký QSD đất (hiện nay thực hiện theo cơ chế 1 cửa - tiếp nhận ở đâu, trả kết quả tại đó Việc này tuy chưa thực hiện được hoàn hảo nhưng cũng phần nào đáp ứng được yêu cầu của nhân dân)
b Tiêu chí về phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội
Có thể nói không thể có dân chủ thực sự trong một xã hội kém phát triển, kinh tế trì trệ, văn hoá nghèo nàn, các chính sách xã hội không được thực hiện
Vì vậy trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã Điều đó được thể hiện ở những mặt sau:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vật nuôi, cây trồng; thực hiện dồn điền, đổi thửa; thu hút đông đảo nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào sản xuất kinh doanh; nhiều công trình mới được xây dựng, tạo diện mạo mới cho địa phương; thu, chi ngân sách công khai, đảm bảo kế hoạch thu, chi đúng quy định; các hoạt động văn hoá, văn nghệ được tổ chức thường xuyên phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; các phong trào
“Đền ơn đáp nghĩa”, “Lá lành đùm lá rách”, “Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá”, “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”… được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ
c Tiêu chí về chuyển biến trong tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã
Sự ổn định chính trị là tiền đề tiên quyết để phát triển kinh tế, văn hoá và
xã hội; trong đó dân chủ gắn liền với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Do đó
sự chuyển biến tích cực trong tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã là tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả thực hiện dân chủ ở cấp xã Điều đó thể hiện ở: Sự đổi mới trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, đổi mới về tư duy phê
Trang 321.2.2.2 Nội dung thực hiện dân chủ ở xã, phường
Việc tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, phường là quá trình tổ chức thực
hiện các quy định của Nhà nước về dân chủ tại các địa bàn dân cư, nơi mà người dân sinh sống, lao động, sản xuất ra của cải, vật chất; là nơi tổ chức thực hiện quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền làm chủ của người dân ở cơ sở Việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
ở ở cơ sở theo quy định của pháp luật và sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan Nhà nước cấp trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30 - CT/TW về “Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” Ngày 11/5/1998, Chính phủ có
Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
xã Ngày 28/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 10 -
CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở
Trang 33PL/UBTVQH11, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Kết luận
số 120-KL/TW ngày 07/01/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở Đây là những văn bản pháp lý, tạo điều kiện cho Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời là cơ sở để Nhà nước giám sát, bảo đảm quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân
Có thể thấy, trong hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở của Nhà nước ta hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện dân chủ cấp xã có số lượng khá nhiều và thường xuyên được Nhà nước ta sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn Điều đó nói lên rằng, cùng với việc coi trọng vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở nói chung, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới vấn đề thực hiện dân chủ ở cấp xã Mục đích là phát huy quyền làm chủ, sự sáng tạo của Nhân dân ở xã, phường, thị trấn; động viên sức mạnh vật chất, tinh thần của Nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của cán bộ đảng viên, góp phần thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) “ Về xây dựng và
thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” đã đưa ra năm quan điểm chỉ đạo:
- Đặt việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ở cơ sở trong cơ chế
Trang 34- Phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển KTXH, nâng cao dân trí Nội dung QCDC ở cơ sở phải hợp hiến, hợp pháp, gắn liền với kỷ cương, trách nhiệm, lợi ích, nghĩa vụ; chống tham nhũng, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật Phải gắn quá trình xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở với công tác cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống chính trị
- Nội dung các quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, rõ tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự; quyền hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật
- Gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách về thủ tục hành chính không phù hợp
Nội dung xuyên suốt trong Chỉ thị số 30 - CT/TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở là việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; nội dung này tiếp tục được cụ thể hoá trong Pháp lệnh số 34 -PL/UBTVQH11 (2007) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoá XI), gồm có 6 Chương và 28 điều
Sự ra đời của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn là bước đột phá, là nấc thang đánh dấu tiến trình thực thi nền dân chủ của một chế độ
phát triển và tiếp tục thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
Trang 3534
kiểm tra”, là những nội dung liên hoàn của trình tự công khai hóa và dân chủ
hóa xã hội chủ nghĩa
Về những nội dung công khai (Điều 5): Tình hình phát triển kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương, liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân cũng như mỗi gia đình, bao gồm: Kế hoạch phát triển KTXH; kế hoạch triển khai các dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã; công tác quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư; các khoản huy động của Nhân dân; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo, trợ cấp xã hội; chủ trương thành lập mới, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh đơn vị hành chính; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực; kết quả lấy phiếu tín nhiệm lãnh đạo HĐND, UBND cấp xã; nội dung, kết quả tiếp thu ý kiến của Nhân dân; đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính; các quy định về thủ tục hành chính
Về những nội dung Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp (Điều 10):
Nhân dân bàn và quyết định về các chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ
sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do Nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
Về những nội dung Nhân dân bàn, biểu quyết (Điều 13): Hương ước,
quy ước của thôn, tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
Về hình thức Nhân dân bàn, biểu quyết (Điều 14) và những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến (Điều 19)
Quy định về hình thức bàn và biểu quyết về các vấn đề Nhân dân được tham gia ý kiến như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; phương án chuyển đổi
Trang 3635
cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư; quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã; kế hoạch triển khai các chương trình, dự án; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng; đề án thành lập mới, sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính
Về hình thức để Nhân dân tham gia ý kiến (Điều 20); về những nội dung Nhân dân giám sát (Điều 23) và hình thức để thực hiện việc giám sát của Nhân dân (Điều 24): Được xác định thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân
dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng…Đây là hình thức góp phần nâng cao trách nhiệm của Nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước,
xây dựng các tổ chức đoàn thể ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới
Pháp lệnh số 34 -PL/UBTVQH11 cũng đã nêu hình thức Nhân dân bàn và
quyết định trực tiếp (Điều 11); giá trị thi hành đối với những việc nhân dân bàn
và quyết định trực tiếp (Điều 12); trách nhiệm của chính quyền cấp xã về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến (Điều 21); trách nhiệm của
cơ quan có thẩm quyền cấp trên về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân
cấp xã tham gia ý kiến (Điều 22)
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng và được thể chế hoá bằng luật pháp, bằng các quy định cụ thể; nhằm tạo điều kiện cho Nhân dân trực tiếp tham gia thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giáo dục ý thức dân chủ, nâng cao năng lực giám sát và phản viện xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh; tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân; khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc phát huy, mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân
Thông qua việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, vai trò, chất lượng hoạt động của các tổ chức hệ thống chính trị và ý thức, trách nhiệm, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở được nâng lên, đó là yếu tố quan trọng bảo đảm thực
Trang 3736
thi tốt dân chủ cơ sở Đồng thời, nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật cho Nhân dân Chỉ khi nào người dân tự giác nhận thức được quyền hạn và nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước phát nhằm triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân thì dân chủ mới thực chất
Kết luận Chương 1
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan của sự phát triển lịch sử xã hội, là quá trình vận động, biến đổi về chất trong thực hiện dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; là quá trình cải thiện, nâng cao các giá trị, chuẩn mực, văn hoá con người, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn xây dựng cuộc sống mới Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận đụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ XHCN, tiếp thu, phát huy những giá trị dân chủ của nhân loại, đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn, khơi dậy sức mạnh nội lực trong Nhân dân Qua các gia đoạn lịch sử, Đảng ta luôn xác định việc thực hiện dân chủ XHCN phải tiến hành đồng bộ hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, tạo mọi điều kiện để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”; đồng thời cũng phải giải thích, định hướng cho Nhân dân hiểu, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình
Thực hiện dân chủ ở xã, phường là nội dung quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, tạo đồng thuận cao trong xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng đô thị văn minh, nông thôn mới
Trang 3837
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƯỜNG,
C; độ ẩm không khí 85-86% Lượng mưa trung bình hằng năm 2.661mm Tổng diện tích tự nhiên 56,55 km2; nằm trên trục đường Quốc lộ 1A cách thủ đô Hà Nội 340 km, thành phố Vinh 50 km về phía Bắc; cách thành phố Huế 314 km về phía Nam và cách biển Đông 12,5 km Phía Bắc giáp thị trấn Thạch Hà (huyện Thạch Hà) Phía Tây giáp xã Thạch Đài,
xã Thạch Tân, sông Cày (huyện Thạch Hà) Phía Nam giáp xã Cẩm Vịnh, xã Cẩm Bình (huyện Cẩm Xuyên) Phía Đông giáp sông Đồng Môn (huyện Thạch
Hà, huyện Lộc Hà)
Là địa bàn trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học của tỉnh; thành phố Hà Tĩnh có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh Là đầu mối giao thông liên huyện, liên tỉnh, mạng lưới đường đô thị khá phát triển, đảm bảo chất lượng tốt, đáp ứng các yêu cầu về giao thông đô thị và đối ngoại Xây dựng và phát triển thành phố Hà Tĩnh được xác định trong mối liên hệ với phát triển chung của tỉnh, của khu vực, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Trung Bộ và nước bạn Lào, Thái Lan,…………
Trang 3938
Thành phố Hà Tĩnh sẽ trở thành vùng động lực của cả tỉnh, đảm nhận chức năng đầu tàu, kết nối với các đô thị và địa phương trong tỉnh, trong nước
và khu vực; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường, kết nối các đô thị, khu kinh tế trong tỉnh; là địa bàn phát triển các cụm dịch vụ về công nghệ thông tin, trụ sở chính cho nhiều doanh nghiệp hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch và nhiều dịch vụ khác hỗ trợ sự phát triển của các ngành
Địa hình thành phố Hà Tĩnh chủ yếu là đồng bằng, được kiến tạo bởi phù sa, núi và cát biển Với lợi thế ba mặt có sông, vùng đất trũng ít, lưu lượng nước từ trên cao đổ về, từ dưới biển dâng lên được thoát ra từ ba con sông này
và được che chắn bởi hệ thống đê bao nên vùng trồng cây lương thực của thành phố ít bị nhiễm mặn Vùng này còn được thiên nhiên ưu đãi với một vị trí địa lý
và địa hình tương đối thuận lợi: Phía tây có ngọn Rào Cỏ nằm dưới chân dãy Trường Sơn che chắn gió Lào, phía đông bắc có núi Nam Giới chở che giông bão
Có mạng lưới sông ngòi khá lý tưởng: Phía tây nam có hồ Kẽ gỗ, hồ Bộc Nguyên; phía bắc và tây bắc có sông Cày; phía nam và đông nam có sông Rào Cái; phía đông bắc có sông Hộ Độ; ở giữa thành phố có sông đào (gọi là sông Cụt) thông với Hào Thành Vì vậy, cây cối xanh tươi bốn mùa, là điều kiện thuận lợi để thành phố phát triển bền vững
Trang 4039