Tổ chức cơ sở đảng chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ HOA
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG, XÃ THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
NGHỆ AN, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ HOA
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG, XÃ THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 8.31.02.01
Người hướng dẫn khoa học:
GVCC.PGS.TS TRẦN VIẾT QUANG
NGHỆ AN, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn với đề tài “Nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” ngoài sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của bản thân , tôi còn nhận
được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của khoa Giáo dục chính trị, Phòng đào tạo sau đại học- Trường đại học Vinh; các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã trang
bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến GVCC.PGS.TS Trần Viết Quang, là người thầy hướng dẫn khoa học giúp đỡ tôi những ý tưởng đầu tiên, cũng như suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Thanh Hóa và các ban nghành, đơn vị, gia đình bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài , nhưng do điều kiện nghiên cứu và khả năng còn hạn chế, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung và hình thức Chúng tôi rất mong muốn nhận được
sự đóng góp của hội đồng để công trình được hoàn thiện hơn./
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Như Hoa
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
A MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 7
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài………7
1.2 Năng lực lãnh đạo và tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã, phường, thị trấn 18
1.3 Tính tất yếu và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã, phường, thị trấn 22
Kết luận chương 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG, XÃ THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA 28
2.1 Khái quát về thành phố Thanh Hóa và các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 28
2.2 Năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay 37
2.3 Đánh giá những ưu điểm, hạn chế về năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 57
Kết luận chương 2 71
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG, XÃ THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 72
Trang 53.1 Những yếu tố tác động và quan điểm nâng cao năng lực lãnh đạo của các
đảng bộ phường, xã ở thành phố Thanh Hóa đến năm 2025 72
3.2 Quan điểm nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã ở Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 76
3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa 79
Kết luận chương 3 102
C KẾT LUẬN 104
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Chỉ thị Trung ương Kinh tế - xã hội Hội đồng nhân dân
Hệ thống chính trị Mặt trận Tổ quốc
Tổ chức cơ sở đảng Trung ương
Ủy ban nhân dân
Ủy ban kiểm tra
Xã hội chủ nghĩa
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện Trải qua 88 năm, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn gian lao, hiểm nguy, thử thách, đưa cách
mạng Việt Nam vững bước tiến lên giành nhiều thắng lợi vẻ vang
Quá trình lãnh đạo cách mạng trong từng giai đoạn, vấn đề tất yếu đặt ra là Đảng phải luôn tự đổi mới, chỉnh đốn không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo; chỉ có trên cơ sở như vậy, Đảng mới hoàn thành trọng trách trước giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Năng lực lãnh đạo của Đảng có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, trực tiếp quyết định sức mạnh, hiệu lực lãnh đạo của Đảng và sự thành công của sự nghiệp cách mạng.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta cũng rất quan tâm đến việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, coi tổ chức cơ sở Đảng là cấp tổ chức nền tảng, là những đơn
vị chiến đấu cơ bản, những tế bào của Đảng; chất lượng của các đảng bộ, chi bộ
cơ sở là nhân tố cơ bản tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở, mà hạt nhân là tổ chức Đảng
Sự lãnh đạo của Đảng“được thông qua hệ thống các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, đồng thời, các TCCSĐ là cầu nối giữa Đảng và dân, nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng Năng lực lãnh đạo của các TCCSĐ là nhân tố quan trọng thể hiện năng lực lãnh đạo của toàn Đảng, quyết định thắng lợi và thành tựu của cách mạng trong mỗi thời kỳ
Trang 8Đảng bộ phường, xã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa là tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất về mọi mặt của Thành ủy thành phố Thanh Hóa Năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã giữ vai trò hết sức quan trọng, là một nhân tố căn bản góp phần quyết định chất lượng lãnh đạo của đảng bộ về mọi mặt; trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT-XH, văn hóa, tăng cường tiềm lực QP-AN, giữ vững an ninh chính trị trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố, góp phần xây dựng thành phố văn minh, giàu mạnh… Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã có tầm quan trọng đặc biệt và là nội dung then chốt trong xây dựng đảng bộ phường, xã TSVM Nhận thức được điều đó, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ thành phố Thanh Hóa đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã Nhờ vậy, năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã có nhiều chuyển biến, tiến bộ, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của đảng bộ trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương Tuy vậy, trên thực tế năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã còn chưa ngang tầm nhiệm vụ; khả năng quán triệt, vận dụng cụ thể hoá các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên vào tình hình
cụ thể của cơ sở địa phương để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo còn thiếu cụ thể, chưa sát thực tiễn; trong xây dựng các nghị quyết lãnh đạo của chi bộ chưa phát huy được cao độ trí tuệ của tập thể, còn thiếu các nghị quyết chuyên đề có khả năng tạo ra những bước đột phá mới; lãnh đạo công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ đảng viên hiện nay vẫn còn là khâu yếu… Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã là một nội dung cơ bản, trọng tâm trong nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng các đảng bộ phường, xã TSVM hiện nay
Trang 9Việc nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã trong tình hình hiện nay là một tất yếu khách quan, là một đòi hỏi cấp bách và quan trọng được đặt ra trong thực tiễn của quá trình đổi mới đất nước và tỉnh Thanh Hóa nói chung, thành phố Thanh Hóa nói riêng Với mong muốn được vận dụng những tri thức chính trị đã được tiếp thu trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Vinh và những hiểu biết về thực tiễn công tác của bản thân, tôi
chọn đề tài: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” cho Luận văn tốt nghiệp
Cao học chuyên ngành Chính trị học của mình Đề tài luận văn có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
Trong những năm qua, có nhiều công trình, đề tài của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng như cấp ủy Đảng các cấp đã đi sâu tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn Kết quả đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên sách báo, tạp chí Thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiếp cận một số công trình nghiên như sau:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016) Nghị quyết số 04 về tăng cường
xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội
bộ
* Các đề tài khoa học, sách
- TS Nguyễn Ngọc Thịnh (chủ nhiệm, 2007), “Nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên” – Đề tài
khoa học cấp bộ Tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên
- Ban Tổ chức Trung ương (2008) Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tổ
chức xây dựng Đảng
Trang 10- PGS,TS Võ Văn Đức (đồng chủ biên 2014), Nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội
* Các bài viết trên tạp chí chuyên ngành
- PGS, TS Lê Quốc Lý, “Nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2013 Bài viết đã đề cập việc nâng cao
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng trong tình hình hiện nay
- Hà Văn Luyến, “Một số điểm mới trong đánh giá chất lượng tổ chức
đảng và đảng viên”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2015 Tác giả đã quan tâm
đến những điểm mới trong đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên
- Nguyễn Xuân Phương ( 2014) Tập bài giảng xây dựng Đảng, nhà xuất bản Quân đội nhân dân
- PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, lịch sử công tác xây dựng Đảng 2011), xb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2012
(1930 Nguyễn Hồng Sơn (2015)Vai trò của tổ chức cơ sở Đảng trong công tác xây dựng đảng hiện nay, Tạp chí xây dựng Đảng (số tháng 11)
- GS, TS Nguyễn Phú Trọng (2012), “Xây dựng và chỉnh đốn Đảng- Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Trương Thị Mỹ Trang (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí xây dựng Đảng (Số 2, 3)
* Các luận án, luận văn đã được bảo vệ
- Một số đề tài Luận văn Thạc sĩ: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng khối trực thuộc Đảng bộ huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh” của tác giả Phan Văn Long (2014); “Nâng cao năng lực lãnh đạo của các Đảng bộ xã, phường ở thành phố Tân An, tỉnh Long An” của tác giả Nguyễn Văn Hải (2016) Các tác giả đã tập trung đề cập, phân tích, đánh giá về việc nâng cao năng lực lãnh đạo , đề ra các giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng phường, xã của địa phương
Trang 112 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng năng lực lãnh đạo của các Đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các Đảng bộ phường, xã hiện nay
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo của các đảng bộ
phường, xã thuộc đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Ba là, đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của các
đảng bộ phường, xã, thuộc đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về tổ chức cơ sở đảng và năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích, khảo sát, so sánh, điều tra xã hội học, kết hợp lôgíc và lịch sử, thống kê và tổng hợp, phân tích thực tiễn gắn với lý luận…
6 Những đóng góp khoa học của đề tài
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đã xây dựng những tiêu chí đánh giá chất lượng năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã Đồng thời, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những nguyên nhân những kết quả làm được, những tồn tại, hạn chế đối với năng lực lãnh đạo của các Đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của các Đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Những kết quả nghiên cứu trong luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, bồi dưỡng cho các trường chính trị; đồng thời làm tài liệu bồi dưỡng cho các cấp ủy và đảng viên
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ
chức cơ sở đảng
Chương 2: Thực trạng năng lực lãnh đạo của các đảng bộ phường, xã thuộc
Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của
các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 13
B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm tổ chức cơ sở đảng
Khái niệm “tổ chức” cách dùng như một danh từ thì đó là “tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung” như tổ chức đảng, công đoàn, các đoàn thể
Còn “cơ sở đảng” được hiểu chính là tổ chức đảng ở cấp cơ sở, cấp thấp nhất trong hệ thống tổ chức 4 cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam Khái niệm “ cơ
sở Đảng” được xem xét trên quan điểm xã hội học chính trị và quản lý xã hội
Cơ sở lấy đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là một cơ sở bất kỳ nào (gia đình, cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện… ) mà là cơ sở với tư cách là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống quản lý nhà nước bốn cấp hiện hành
Cơ sở đó chính là xã, phường, thị trấn, là cơ sở của quản lý nhà nước
Kế thừa những quan điểm, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin luôn quan tâm chăm lo xây dựng các chi bô cơ sở Khi chuẩn bị thành lập Đảng dân chủ - xã hội Nga, V.I.Lênin chỉ rõ việc thành lập các tổ chức cách mạng trong các xí nghiệp, nhà máy để lãnh đạo phong trào đấu tranh là nhiệm
vụ đầu tiên cấp bách của người dân chủ xã hội Nga Khi Đảng đã giành được chính quyền, Lênin chỉ rõ: Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức…Những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ mà rèn luyện mình, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng
Trang 14một cách có hệ thống… Mỗi chi bộ và mỗi ủy ban công nhân của Đảng phải là một điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức thực hiện trong quần chúng Khi chuyển sang thực hiện “chính sách kinh tế mới” Lênin cho rằng để giành thắng lợi trong việc chuyển biến chiến lược này, các tổ chức
cơ sở Đảng có vai trò hết sức to lớn Chỉ bằng con đường thực hiện nhiều biện pháp nâng cao vai trò tổ chức Đảng, chăm lo xây dựng, phát huy cao tính chủ động sáng tạo của cơ sở, thì nhiệm vụ và mục tiêu của chính sách kinh tế mới của nhà nước Xô -viết mới được thực hiện trong thực tiễn và giành được thắng lợi Là người kế thừa sự nghiệp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục
bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng Đảng kiểu mới và chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng, là hạt nhân chính trị, lãnh đạo phong trào cách mạng [45 tr21]
Khái niệm tổ chức cơ sở Đảng lần đầu tiên được đề cập tại đại hội Đại biểu lần thứ ba của Đảng Công Nhân Dân Chủ - Xã hội Nga (25/4/1905) Đại hội đã xác định “Mỗi tổ chức Đảng cho tới chi bộ công nhân cơ sở của Đảng phải xác định được thành phần và nhất định phải ổn định những mối liên hệ đều đặn với Trung ương” Sau đó trong bài “Tiến tới thống nhất”, V.I.Lênin chỉ rõ
“Những điều kiện khách quan đòi hỏi rằng những chi bộ công nhân phải làm cơ
sở của Đảng [32, tr18]
Vận dụng vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng Cộng sản và tầm quan trọng của tổ chức cơ sở Đảng Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, người luôn quan tâm đến việc xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở, đồng thời coi trọng vai trò to lớn quyết định tới thắng lợi cách mạng của tổ chức cơ sở Đảng Người khẳng định trong công tác xây dựng Đảng, cái gốc là chi bộ, phải làm sao cho chi bộ vững để lúc thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, biết phát huy thắng lợi, khắc phục trở ngại, vững vàng tiến lên, mỗi chi bộ của Đảng là một hạt nhân lãnh đạo quần
Trang 15chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng
Hồ Chí Minh, người sáng lập rèn luyện Đảng ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã nhấn mạnh: Đảng ta có một tổ chức chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, vì vậy phải được thành lập, được tổ chức tại các đơn vị cơ sở Người nói “Ở mỗi xưởng máy, hầm mỏ,
xí nghiệp, cơ quan, trường học, đường phố, nông thôn, đại đội – có ba đảng viên trở lên thì thành lập một chi bộ”
Theo V.I.Lênin, tổ chức cơ sở đảng là tổ chức cơ bản của Đảng, là điểm tựa để Đảng làm chủ trong mọi tình huống, là nơi giáo dục rèn luyện, phân công công việc, quản lý và sàng lọc đảng viên, là nơi Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, tập hợp giáo dục, lãnh đạo quần chúng thực hiện lý tưởng của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, tổ chức cơ sở Đảng là tổ chức cơ bản, là nền tảng nền móng của Đảng, là nơi tiến hành giáo dục, phân công công việc, kiểm tra, quản
lý đảng viên, kết nạp đảng viên, đưa người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng; là nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, là “dây chuyền”, “cây cầu” nối liền Đảng với quần chúng; trực tiếp đưa đường lối chính sách của Đảng vào quần chúng, tuyên truyền, giáo dục, lãnh đạo quần chúng thực hiện; là nhân tố quyết định trên thực
tế đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực; trực tiếp uốn nắn những lệch lạc trong hoạt động của quần chúng và các tổ chức, các đoàn thể ở cơ sở; nơi kiểm nghiệm đường lối, chủ trương, chính sách, đảm bảo cho kinh tế - xã hội ở
cơ sở phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa Ngay từ khi mới thành lập, Đảng
ta đã quan tâm đến việc xây dựng TCCS Đảng, coi các TCCS Đảng là cấp tổ chức nền tảng, là những đơn vị chiến đấu cơ bản, là những tế bào của Đảng, chất lượng của các Đảng bộ, chi bộ cơ sở là nhân tố cơ bản tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng khai thác, những kinh
Trang 16nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở, mà hạt nhân là tổ chức Đảng
Đảng Cộng Sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn quan tâm xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng Trong điều kiện hoạt động bí mật Đảng chú trọng phát triển các chi bộ cộng sản ở các khu công nghiệp đông công nhân, những vùng nông thôn, trong học viên, sinh viên và trí thức, nhằm tuyên truyền cổ động quần chúng đấu tranh giành chính quyền Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn coi các tổ chức cơ sở Đảng là tế bào của Đảng Chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng
là yếu tố tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng trong quá trình cách mạng, là uy tín của Đảng trước quần chúng nhân dân
Đảng Cộng Sản Việt Nam là đôi tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam Theo điều 10 của điều lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam do đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII thông qua, “Hệ thống tổ chức cơ
sở đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước” Bốn cấp tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước mà tổ chức Đảng được thiết lập là Trung ương, tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương, quận/ huyện (và tương đương) xã/ phường/ thị trấn Tính tổ chức của Đảng được thể hiện trước tiên ở chỗ Đảng là một hệ thống các cấp tổ chức từ Trung ương đến
cơ sở, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Trong hệ thống đó, các
tổ chức cơ sở; chi bộ cơ sở và Đảng bộ cơ sở dù được thành lập ở loại hình đơn
vị nào trong xã hội đều có vai trò là nền móng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở
cơ sở, là dây chuyền của Đảng liên hệ với quần chúng Các tổ chức cơ sở Đảng trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được thực hiện có hiệu quả và trở thành hiện thực Vì vậy, xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, là
Trang 17nhiệm vụ rất quan trọng, cấp thiết góp phần xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong mọi tình huống
Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua ghi rõ:
1 Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng,
là hạt nhân chính trị ở cơ sở
2 Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức
cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện) Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức
cơ sở đảng thích hợp
3 Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc
4 Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở,
có các chi bộ trực thuộc đảng ủy
5 Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp
ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện
- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên
- Lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có hơn ba mươi đảng viên
- Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở [22, tr 35- 37]
Tổ chức cơ sở đảng nói chung được thành lập theo ba hình thức:
Chi bộ cơ sở, dưới chi bộ cơ sở có ba tổ chức đảng
Đảng bộ cơ sở, dưới đảng bộ cơ sở là các chi bộ trực thuộc đảng ủy, dưới các chi bộ có thể có các tổ đảng
Trang 18Như vậy, tổ chức cơ sở đảng gồm chi bộ cơ sở hoặc Đảng bộ cơ sở, việc lựa chọn mô hình tổ chức nào (chi bộ cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở) phụ thuộc vào
số lượng đảng viên chính thức và phải được cấp ủy cấp trên ( quận, huyện ủy hoặc tương đương) trực tiếp quyết định
1.1.2 Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản Hệ thống tổ chức của Đảng gồm bốn cấp cơ bản (tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính nhà nước), bao gồm: Cấp trung ương, cấp thành phố trực thuộc trung ương; cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh, cấp cơ sở [43, tr.194-196]
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề xây dựng Đảng, phù hợp với hoàn cảnh của Cách mạng Việt Nam Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi tổ chức cơ sở đảng là đơn vị chiến đấu cơ bản, là những tế bào của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với dân Trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cách mạng, dù trong giai đoạn hoạt động bí mật hay công khai, đấu tranh giành chính quyền hay bảo vệ xây dựng xã hội chủ nghĩa, Đảng đều coi trọng công tác xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt’ [39, tr 92]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khẳng định: Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng đã khai thác, những kinh nghiệm
có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của chúng cơ sở, mà hạt nhân là
tổ chức Đảng, nhưng mặt khác sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhất
là trong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát huy vai trò chủ động sáng tạo của đơn vị kinh tế cơ sở, mở rộng dân chủ
Trang 19xã hội chủ nghĩa thì Đảng ngày càng xác định rõ các tổ chức cơ sở đảng phải thực
sự là các hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao động
Từ những đặc điểm quy mô tổ chức và tính chất hoạt động tại các đơn vị trên địa bàn, lĩnh vực sản xuất và công tác, tổ chức cơ sở Đảng có vị trí, vai trò rất quan trọng để Đảng thực hiện được hai chức năng cơ bản là xây dựng nội bộ
và lãnh đạo cách mạng theo mục tiêu của Đảng đi đến thắng lợi
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng tổ chức cơ
sở Đảng và luôn khẳng định: mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, những bài học thành công cũng như chưa thành công đều gắn liền với vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở
mà hạt nhân là tổ chức cơ sở Đảng Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở Đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng
Vị trí, vai trò của chức cơ sở Đảng được khái quát và khẳng định ở những nội dung sau:
- Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, là cầu nồi giữa các cơ quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng nhân dân, tổ chức cơ sở Đảng có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng
- Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào quần chúng và tổ chức cho quần chúng thực hiện thắng lợi trong thực tiễn Đồng thời phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của quần chúng để Đảng và Nhà nước để ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn, đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Trang 20- Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp, sàng lọc đảng viên; nơi đào tạo cán bộ, nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội
- Tổ chức cơ sở Đảng là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng, nơi bảo đảm tính tiên phong, tính trong sạch của Đảng; là nơi mà mọi hoạt động xây dựng nội
bộ Đảng được tiến hành; là trung tâm đoàn kết nội bộ Đảng và tập hợp đoàn kết
quần chúng nhân dân
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng xã, phường, thị trấn
Chức năng của một tổ chức là sự khái quát cao nhiệm vụ của tổ chức đó trong một hệ thống tổ chức nhất định, đồng thời là ranh giới để phân biệt vai trò, trách nhiệm của các tổ chức khác nhau trong cả hệ thống
* Chức năng của tổ chức cơ sở Đảng:
Khi có chính quyền, Đảng là người thiết lập hệ thống chính trị, lãnh đạo
hệ thống chính trị đó, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dù được thành lập ở loại hình nào, chi bộ cơ sở hay đảng bộ cơ sở đều có hai chức năng: chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở và chức năng xây dựng nội bộ Đảng [43, tr.196]
* Chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở:
Với chức năng là hạt nhân chính trị, tổ chức cơ sở Đảng là nơi bảo đảm tính chất lãnh đạo chính trị của Đảng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đơn
vị cơ sở Tính chất lãnh đạo chính trị được biểu hiện ở các mặt sau:
- Trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết, chỉ thị và nắm vững đặc điểm của địa phương, đơn vị, tổ chức cơ sở đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ công tác, biện pháp thực hiện tại cơ sở; đồng thời nắm vững tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân phản ánh cho Đảng và Nhà nước để định
ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp
Trang 21- Định hướng xây dựng tổ chức và hoạt động của chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội theo đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên và lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả
- Định hướng tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, uốn nắn những lệch lạc, ngăn chặn những tiêu cực, khẳng định và ủng hộ nhân tố mới trong hoạt động của các
tổ chức trong hệ thống chính trị và các tổ chức quần chúng tại cơ sở; phát động
và lãnh đạo các phong trào thi đua yêu nước của quần chúng nhân dân [43, tr.196-197]
* Chức năng xây dựng nội bộ Đảng
Chức năng xây dựng nội bộ Đảng được biểu hiện ở các mặt sau:
- Luôn chăm lo, củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, kết nạp đảng viên mới
- Thực hiện tốt chế độ sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đảng
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, đường lối, Điều lệ Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và cấp mình
- Trực tiếp hoặc gián tiếp bầu các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng; tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên
- Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; thường xuyên tự phê bình và phê bình; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữa tổ chức đảng với chính quyền, giữa tổ chức đảng, chính quyền với nhân dân
Trang 22- Tổ chức cho quần chúng nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên và cấp mình; tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên [43, tr.197-198]
* Nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích cụ thể nhiệm vụ của từng loại hình chi
bộ Đối với chi bộ cơ quan, nhiệm vụ cụ thể là: “Làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng thực hiện đầy đủ chính sách của Đảng, của Chính phủ, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân… vì nhân dân, vì Tổ quốc mà đấu tranh, đều thi đua làm đúng những nghị quyết và kế hoạch của Đảng, của Chính phủ” [41, tr.453-454] Đối với chi bộ ở nông thôn là: “Tăng cường đoàn kết nông thôn và làm cho toàn thể xã viên, toàn thể nông dân phấn khởi, hăng hái sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển và củng cố hợp tác xã… phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh” [42, tr.222]
Điều 23, Điều lệ Đảng khóa XI quy định các tổ chức cơ sở Đảng nói
chung đều có có 5 nhiệm vụ:
“1 Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện
có hiệu quả
2 Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình
độ kiến thức, năng lực công tác; làm tốt công tác phát triển đảng viên
3 Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trang 234 Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
5 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng
Đảng ủy cơ sở nếu được cấp ủy cấp trên trực tiếp ủy quyền thì được quyết định kết nạp và khai trừ đảng viên”
Năm nhiệm vụ trên là năm nội dung cơ bản, chung nhất để thực hiện chức năng lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng Năm nhiệm vụ có vị trí và yêu cầu riêng, không thể coi nhẹ nhiệm vụ nào Bất kỳ tổ chức cơ sở Đảng nào cũng đều phải thực hiện đầy đủ và thường xuyên các nhiệm vụ đó
Trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền, ngoài những nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách, xây dựng Đảng thì nhiệm vụ về lãnh đạo xây dựng chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, lãnh đạo các tổ chức kinh tế, hành chính, văn hoá, xã hội và thường xuyên liên
hệ mật thiết với nhân dân, lãnh đạo quần chúng tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền là những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ kiểm tra của tổ chức cơ sở Đảng cũng cần chú trọng đúng mức, vì “kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng”
Thực hiện những chức năng, nhiệm vụ trên trong tình hình hiện nay, chi
bộ cần kiểm tra để phát hiện, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hoạt động cụ thể cho phù hợp với các loại hình tổ chức cơ sở Đảng, đúng Điều lệ Đảng và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành, đúng pháp luật của Nhà nước Các Chi bộ phải bảo đảm sinh hoạt Chi bộ thường lệ hàng tháng, nâng cao chất lượng sinh hoạt, thực hiện tốt việc phân công và kiểm tra công tác của đảng viên Đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp phải thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, Đảng ủy nơi cư trú theo
Trang 24quy định của Bộ Chính trị và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú Đổi mới công tác phân tích chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên hàng năm, để công tác đánh giá chất lượng tổ chức Đảng, đảng viên hàng năm đi vào
nề nếp và đánh giá đúng thực chất
1.2 Năng lực lãnh đạo và tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
1.2.1 Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng
Năng lực lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua năng lực nhận thức, lý
luận và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản
năm 1848, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nêu rõ: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước,
là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào vô sản” [38, tr614-615]
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, đảm bảo sự thành công trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đòi hỏi Đảng phải có năng lực lãnh đạo Năng lực đó được cấu thành từ các tổ chức cơ sở đảng và từng đảng viên
- Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng: bao gồm tổng hợp các thuộc tính, các yếu tố nhằm đáp ứng yêu cầu của một hoạt động nhất định của một tổ chức cơ sở đảng, và đảm bảo cho hoạt động ấy đạt hiệu quả cao Thuộc tính cơ bản nhất của năng lực lãnh đạo là năng lực hiểu biết và năng lực tổ chức thực tiễn
Khi xem xét năng lực lãnh đạo của một tổ chức, người ta thường đi từ việc xem xét năng lực của cá nhân trên từng lĩnh vực hoạt động, khi đề cấp đến năng lực của người cán bộ Với tinh thần ấy, năng lực cá nhân của người cán bộ
có được là sự kết hợp giữa kiến thức, trình độ học vấn cùng với quá trình công tác tạo nên
Như vậy, năng lực hiểu biết là trí tuệ, tri thức cần có ở mỗi người, mỗi tập thể trong tổ chức nhất định, thể hiện các lĩnh vực chính trị - kinh tế - xã hội –
Trang 25văn hóa… Năng lực trí tuệ là khả năng hoạt động với cường độ lớn, tốc độ nhanh và trình độ cao trong tư duy của con người Năng lực trí tuệ được cấu thành từ những yếu tố cơ bản đó là tính năng động, chiều rộng, chiều sâu, tầm xa
và khả năng khai thác trí lực của tập thể
Năng lực hiểu biết còn là khả năng nắm bắt các quy luật khách quan và vận dụng các quy luật trong thực tiễn Năng lực hiểu biết phải được đưa vào thực tiễn, gắn với hoạt động thực tiễn thì sự hiểu biết đó mới có mục đích Có thể nói thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là nguồn cung cấp cứ liệu và kinh nghiệm cho quá trình nâng cao hiểu biết
Năng lực thực tiễn được thể hiện ở khả năng vận dụng những tri thức đã tích lũy để chinh phục và cải tạo tự nhiên, nhằm phục vụ nhu cầu con người Đây là yếu tố quyết định biến kiến thức khoa học thành hiện thực và quyết định
sự thành công hay thất bại trong lãnh đạo cách mạng của Đảng và Nhà nước ta
Năng lực hiểu biết và năng lực tổ chức thực tiễn có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, năng lực hiểu biết là cơ sở của năng lực thực tiễn Năng lực trí tuệ càng phát triển thì càng có điều kiện hình thành năng lực tổ chức thực tiễn và ngược lại Trong mọi hoạt động, đòi hỏi người lãnh đạo phải có đủ cả năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn
Như vậy, năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hàng đầu là yếu tố chất lượng Đảng viên thể hiện ở phẩm chất chính trị, uy tín cá nhân và tập thể lãnh đạo, khả năng sử dụng cán bộ
và khai thác được sức mạnh của quần chúng nhân dân Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng còn thể hiện ở chất lượng công tác kiểm tra, công tác lãnh đạo, công tác tổ chức của Đảng đối với các hoạt động của xã hội
1.2.2 Tiêu chí đánh gía năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng
Nhằm đánh gía đúng năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng ta phải căn cứ vào các nhiệm vụ của nó Tuy nhiên, hiện nay chưa có một số văn bản nào hướng dẫn cụ thể về việc đánh giá năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở
Trang 26Đảng, mà chỉ vận dụng các quy định của tổ chức cơ sở Đảng để áo dụng cho việc đánh gía Theo tôi để xây dựng tiêu chí để đánh giá năng lực lãnh đạo của
tổ chức cơ sở Đảng cần căn cứ vào vào các quy định sau:
+ Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
+ Quy định số 94-QĐ/TW ngày 03/3/2004 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn
+ Quy định số 95/QĐ-TW ngày 3/3/2004 về chức năng, nhiệm vụ của chi
+ Đẩy mạnh xây dựng, kiện toàn và tăng sức chiến đấu cho tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể cơ sở và phong trào cách mạng của quần chúng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa IX)
+ Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 02/02/2008 Hội nghị Trung ương 6 ( khóa X) về Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên
+ Hướng dẫn số 27-HD/BTTW ngày 25/9/2014 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn kiểm tra điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên hàng năm
+ Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa XI ) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
Trang 27+ Quy định số 220-QĐ/TU ngày 27/12/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về chức năng, nhệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc Huyện ủy, Quận ủy, thị ủy, Thành ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Thành ủy
Do vậy, để đánh giá năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng hiện nay cần dựa trên những tiêu chí chủ yếu sau:
+ Về thực hiện nhiệm vụ chính trị:
Về việc triển khai, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương và nhiệm vụ được cấp ủy cấp trên giao; kết quả thực hiện các nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị và thực hiện quy chế dân chủ ở cở
+ Về công tác chính trị tư tưởng:
Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đấu tranh với những biểu hiện, hành vi sai trái; tuyên truyền, học tập và làm theo báo, tạp chí của Đảng Xây dựng và thực hiện các tiêu chí về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, định kỳ đánh giá kết quả và biểu dương các tập thể,
cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
+ Về công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng đảng bộ, chi bộ:
Kết quả thực hiện công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội
bộ Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; quy chế làm việc của cấp ủy; đổi mới phương thức lãnh đạo; nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức Đảng; xây dựng đội ngũ cấp
ủy viên và bí thư chi bộ; quản lý, phân công nhiệm vụ cho Đảng và kết nạp đảng viên mới; giới thiệu đảng viên đang công tác giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú; thực hiện cải cách hành chính và công tác thi đua, khen thưởng
+ Về lãnh đạo xây dựng chính quyền ( cơ quan, đơn vị)thực hiện công tác dân vận và xây dựng các đoàn thể chính trị xã hội
Trang 28Lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị-xã hội: xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh; phát huy
hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cùng cấp, xem xét, giải quyết những
vấn đề nảy sinh ở cơ sở; củng cố mối quan hệ giữa các tổ chức và khối đại đoàn
kết toàn dân; kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của chính quyền, tổ chức, cơ
quan đơn vị
+ Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng:
Kết quả thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp ủy, Uỷ ban kiểm
tra và công tác tự kiểm tra, giám sát của Đảng bộ, chi bộ Công tác phòng, chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo;
phát hiện, xử lý tổ chức Đảng viên, đảng viên vi phạm
1.3 Tính tất yếu và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng
1.3.1 Tính tất yếu nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
ở Đảng bộ xã, phường
Để làm rõ hơn tính tất yếu về nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ
sở đảng, tại đại hội XII, Nghị quyết đại hội đã nêu rõ mục tiêu tổng quát đó là:
Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Tại Nghị
quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy
lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự
diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ Các Nghị quyết trên càng khẳng định,
nhấn mạnh rõ việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng là nền
tảng của Đảng, hạt nhân chính trị lãnh đạo mọi mặt hoạt động của cơ quan, đơn
vị Sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng là điều kiện bảo đảm cho sự vững
mạnh của toàn Đảng Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo, của các tổ chức cơ sở
đảng là cơ sở vững chắc đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách
Đoạn này em lấy ở tài liệu khác nhưng chưa sửa hình thức
Trang 29mạng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”
Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là tổng hợp những khả năng, điều kiện chủ quan của tổ chức cơ sở đảng được tạo nên từ những yếu tố nội sinh, từ sự phấn đấu của bản thân tổ chức cơ sở đảng để thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng chính là khả năng, điều kiện của
tổ chức cơ sở đảng trong việc thực hiện các khâu, các bước đó của quy trình lãnh đạo nhằm đạt được kết quả cao trong thực tiễn Năng lực đó được phản ánh thông qua việc ra nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết, kiểm tra, giám sát và
sơ, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của các tổ chức cơ sở đảng
Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là vấn đề có tính quy luật, là yêu cầu tất yếu khách quan trong xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức
cơ sở đảng trong sạch vững mạnh Nâng cao năng lực lãnh đạo, của tổ chức cơ
sở đảng được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động, ở tất cả các khâu, các bước, các mối quan hệ trong quá trình xây dựng và lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, với nhiều biện pháp phong phú sinh động
Nhìn lại chặng đường đấu tranh cách mạng và những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới, càng khẳng định: Nếu Đảng chỉ có đường lối đúng đắn thôi thì chưa đủ, mà phải có những chiến sĩ tiên phong cách mạng, đó chính là đội ngũ đảng viên Đội ngũ đảng viên gắn liền với tổ chức cơ sở đảng,
là tế bào của Đảng Đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và toàn Đảng phải là một khối đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ
sở Đảng
1.3.2.1 Tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng
Tổ chức thực hiện Nghị quyết, chủ trương, chính sách là nhiệm vụ không thể thiếu trong quá trình lãnh đạo của cấp ủy Đảng Việc đưa một chủ trương vào trong thực tế cuộc sống cho đến khi mang lại kết quả mới có thể đánh giá
Trang 30được tính đúng đắn của chủ trương đó Tuy nhiên, phương thức lãnh đạo là một trong những yếu tố then chốt dẫn tới kết quả việc thực thi một chính sách nào
đó Dù chính sách có đúng đắn đến mấy mà không có phương thức tổ chức thực hiện trong thực tiễn phù hợp thì cũng sẽ làm giảm thiểu tính hiệu quả của chính sách đó, thậm chí làm mất tác dụng của chính sách đó
Đối với việc lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết tại cấp cơ sở thì càng đòi hỏi tính đa dạng, phong phú linh hoạt, nhạy bén cũng như khả năng quyết đoán của cấp ủy đảng Thực tiễn ở cơ sở là phong phú nhưng cũng gặp phải những khó khăn trong công việc lãnh đạo triển khai Nghị quyết do nhận thức chính trị và trình độ dân trí ở cấp cơ sở thấp hơn, không có sự đồng đều giữa các tầng lớp nhân dân Thực tiễn đòi hỏi trong việc lãnh đạo tổ chức thực hiện cần phải kết hợp nhiều phương thức lãnh đạo khác nhau sao cho có hiệu quả tốt nhất
1.3.2.2 Thực hiện nguyên tắc sinh hoạt của tổ chức cơ sở đảng
Điều lệ Đảng khẳng định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí
và hành động”, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”;Nguyên tắc tự phê bình và phê bình Tự phê bình và phê bình là qui luật phát triển của Đảng; Nguyên tắc đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng; Nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân; Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật;
Các tổ chức sơ sở Đảng phải thực hiện nguyên tắc sinh hoạt đảm bảo, nghiêm túc, có như vậy thì tổ chức đảng mới đạt được các nhiệm vụ chính trị đề ra
1.3.2.3 Trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Trang 31Nâng cao trình độ trí tuệ, trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên để đủ sức giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận là vấn đề đặt ra rất cấp thiết và gay gắt hiện nay Không có trình độ lý luận, nắm không chắc, không vững, không thực chất lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng thì chúng ta không thể giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này Chúng ta cần "Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Có kế hoạch, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hàng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp với từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương"theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII)
Học tập lý luận chính trị là công việc thường xuyên, lâu dài đối với mỗi cán bộ, đảng viên nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác Bồi dưỡng lý luận cho cán bộ, đảng viên, chú trọng bồi dưỡng những cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình
độ cao; nâng cao tinh thần trách nhiệm và tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên, cán bộ nghiên cứu trong tự học, tự bồi dưỡng trình độ lý luận của mình
Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 04-NQ/TW "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", nhất là trong việc ngăn chặn hiện tượng lười học lý luận chính trị, một biểu hiện rất đáng quan ngại, nếu không được ngăn chặn kịp thời, sự suy thoái đó sẽ dễ dàng dẫn đến nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
1.3.2.4 Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Trang 32Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ:
“Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trước bất kỳ tình huống nào”( 25 tr.199) Trước yêu cầu của thực tiễn công tác xây dựng Đảng, cần nhận thức, quán triệt và có các giải pháp hiệu quả
để tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên
Trong công tác chính trị, tư tưởng, phải tổ chức chu đáo việc học tập lý luận Mác - Lênin, học tập những kiến thức về kinh tế, về khoa học, kỹ thuật cho đông đảo cán bộ, đảng viên, trước hết là cho các cán bộ, đảng viên từ tổ chức cơ
sở Đảng Có như vậy, mới làm cho mỗi cán bộ, đảng viên có thể tham gia xây dựng đường lối, có phương pháp tư duy và hành động đúng Phải nghiêm khắc phê phán bệnh chủ quan, bệnh kinh nghiệm, lười học, ngại học lý luận, thái độ coi thường lý luận, hoặc chỉ lý luận suông, xem nhẹ việc nghiên cứu tình hình thực tế, tổng kết rút kinh nghiệm Đội ngũ đảng viên phải là người giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của giai cấp và dân tộc,
có ý thức tổ chức và kỷ luật, có sự hiểu biết nhất định về lý luận cách mạng, nắm được đường lối, chính sách của Đảng, có khả năng làm tốt những nhiệm vụ được giao Cán bộ, Đảng viên phải gắn bó với quần chúng, tôn trọng quyền làm chủ và lợi ích chính đáng của quần chúng Đảng viên tuyệt đối không được có đặc quyền, đặc lợi Vào Đảng là để nhận nhiệm vụ các mạng gian khổ, khó khăn, khi cần thì sẵn sàng hy sinh tính mệnh và hạnh phúc riêng cho cách mạng…
Kết luận chương 1
Để khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, cần xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng; một số tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo của tổ chức
cở sở Đảng; những yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng
Trang 33Việc tập trung củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng là một nôi dung quan trọng trong đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực của Đảng trong tình hình hiện nay
Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng là vấn đề có tính quy luật, là yêu cầu tất yếu khách quan trong xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức
cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ
sở Đảng được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động, ở tất cả các khâu, các
bước, các mối quan hệ trong quá trình xây dựng và lãnh đạo của tổ chức cơ sở
Đảng, với nhiều biện pháp phong phú sinh động Tuy nhiên, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng là một quá trình khó khăn, chịu sự tác động của nhiều nhân tố Quá trình này phải dựa trên đặc điểm, yêu cầu cụ thể của từng địa phương để đề ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp Đây chính là căn cứ để tác giả triển khai tiếp nội dung chương 2 và chương 3
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG, XÃ THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ THANH HÓA,
TỈNH THANH HÓA
2.1 Khái quát về thành phố Thanh Hóa và các đảng bộ phường, xã thuộc Đảng bộ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 Khái quát về thành phố Thanh Hóa
Thành phố Thanh Hóa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học
kỹ thuật và là đô thị tỉnh lỵ của Tỉnh Thanh Hóa, đã được hình thành và phát triển trên 210 năm Diện tích tự nhiên 146,77 km², dân số 406.550 người, có 418 khu dân cư, có gần 500 cơ quan, đơn vị trung ương, địa phương đóng trên địa bàn Thành phố có 37 phường, xã trong đó có 20 phường và 17 xã; có 84 tổ chức
cơ sở đảng trực thuộc với 20.128 đảng viên, trong đó có 20 Đảng bộ phường,
17 Đảng bộ xã, 47 Đảng bộ trực thuộc Thành ủy Thành phố Thanh Hóa là một trong những đô thị có quy mô dân số và diện tích lớn nhất của khu vực phía Bắc,
có kết cấu hạ tầng đô thị, bưu chính viễn thông, giao thông, điện, cấp nước tương đối đồng bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị theo hướng tăng tỷ
trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp [29]
Điều kiện tự nhiên
Thành tphố tThanh tHóa tphía tTây tBắc tgiáp thuyện tThiệu tHóa, tphía tNam tvà
tĐông tNam tgiáp thuyện tQuảng tXương, tphía tBắc tvà tĐông tBắc tgiáp thuyện
tHoằng tHóa, tphía tTây tgiáp thuyện tĐông tSơn, tphía tTây tBắc tgiáp thuyện tThiệu
tHóa. tThành tphố tnằm ttrên ttrục tđường tgiao tthông tBắc t- tNam, tquốc tlộ t1A tchạy
tgiữa tlòng tThành tphố, tsong tsong tlà tđường tsắt txuyên tViệt; tcách tbiển tSầm tSơn
t16 tkm tvề tphía tĐông; tcách tbiên tgiới tViệt t- tLào t135 tkm tvề tphía tTây; tThành tphố
tkhông tnhững tcó tvị ttrí, tvai ttrò trất tquan ttrọng tvề tquốc tphòng t- tan tninh, tmà tcòn tlà
Trang 35tđiểm tgiao tthoa tcó tảnh thưởng ttớ i tsự tphát ttriển tkinh ttế t- txã thội tvùng tBắc tTrung
tBộ tvà tnước tbạn tLào
Địa thình tThành tphố tba tphía tBắc, tTây, tNam tđều tcó tnúi tbao tbọc, ttrong tđó
tđáng tchú tý tlà tdãy tnúi tHàm tRồng tnhấp tnhô tán tngữ tphía tBắc
Dòng tsông tMã t(sông tMẹ) tchảy tdài ttrên tđất tThanh tHóa thơn t200km, tđoạn
tchảy tqua tđi ̣a tbàn tThành tphố ttừ tphía tTây tBắc txuống tĐông tNam tkhoảng t10km
tTrên tdòng tsông tMã tcó tnhững tcây tcầu tlớn tvắt tqua tđôi tbờ, tnhư tcầu tHàm tRồng
t(được tthực tdân tPháp txây tdựng ttừ tđầu tthế tkỷ tXX); tcầu tHoàng tLong t(được txây
tdựng ttrong tthời tkỳ tđổi tmới, tCNH, tHĐH tquê thương)
Hệ tthống tsông tngòi tbao tquanh tThành tphố tđã ttạo tđiều tkiện tthuận tlợi tphát
ttriển tkinh ttế, tgiao tthông tđường tthủy, tcung tcấp tnước tcho tsản txuất tnông tnghiệp
tvà tnước tsinh thoạt tcho tcư tdân tđô tthị, tgóp tphần ttiêu túng, tđiều thòa tmôi ttrường
tsinh tthái t[29]
t t t t t t t t t t t t Điều t kiện t kinh t tế t - t chính t trị t - t văn t hóa t xã t hội
- tVề tkinh ttế:
Thành tphố tThanh tHóa tcó tvị ttrí, tvai ttrò tquan ttrọng ttrong tvùng tđộng tlực
tkinh ttế tcủa ttỉnh tThanh tHoá, tlà tmột ttrong t14 tđô tthị ttrung ttâm tvùng tBắc tTrung
tBộ tvà tduyên thải tmiền tTrung. t
Năm t2016, ttốc tđộ ttăng ttrưởng tkinh ttế tđạt t13,5%, ttrong tđó: tngành tdịch tvụ
ttăng t14,6%, tngành tcông tnghiệp t- txây tdựng ttăng t13,7%, tngành tnông t- tlâm t tthủy
tsản ttăng t3,7%; tcơ tcấu tcác tngành tkinh ttế tchuyển tdịch tđúng thướng: tdịch tvụ
t46,7%, tcông tnghiệp t- txây tdựng t47,4%, tnông t- tlâm t- tthủy tsản t5,9%; tGDP tbình
tquân tđầu tngười tđạt t5.408USD, tđạt t100,1% tkế thoạch, ttăng t4% tso tvới tcùng tkỳ
t[26]
Sản txuất tcông tnghiệp, ttiểu tthủ tcông tnghiệp tvà txây tdựng tduy ttrì tđược ttốc
tđộ ttăng ttrưởng tkhá: ttốc tđộ ttăng ttrưởng tbình tquân thàng tnăm t16,9%, ttrong tđó
tngành tcông tnghiệp ttăng t17,3%, tngành txây tdựng ttăng t15,8%
Trang 36Sản txuất tnông tnghiệp tcó tnhiều tchuyển tbiến ttích tcực: ttốc tđộ ttăng tbình
tquân thàng tnăm tđạt t2,7%; tđến tnay tthành tphố tcó t9 txã tđược tcông tnhận tđạt tchuẩn
tnông tthôn tmới
Cơ tcấu tcác tngành tkinh ttế tchuyển tdịch ttích tcực ttheo thướng ttăng ttỷ ttrọng
tdịch tvụ, tthương tmại tvà tcông tnghiệp t- txây tdựng, ttỷ ttrọng tcác tngành tdịch tvụ,
tcông tnghiệp t- txây tdựng, tnông tlâm, tthủy tsản ttrong tGDP ttương tứng
tlà: t47,1%, t47%, t5,9%
- tVề tvăn thóa t- txã thội:
Thành tphố tThanh tHóa ttọa tlạc ttrên tvùng tđất tcổ tcủa tnền tvăn thoá tĐông
tSơn, tnằm thai tbên tbờ tsông tMã, tcó tvị ttrí, tcảnh tquan tsinh tthái trất tthuận tlợi, tlà
tvùng tđất tthiên tthời, tđịa tlợi, tnhân thoà, tẩn tchứa ttrong tlòng tnhiều ttầng tvăn thoá
tThành tphố tđược tđịnh thướng tđể ttrở tthành tmột ttrong tnhững ttrung ttâm tvăn
thóa, tdu tlịch, tgiáo tdục tđào ttạo, tchăm tsóc tsức tkhỏe tcủa tvùng tphía tNam tBắc
tBộ tvà tBắc tTrung tBộ. tThành tphố tcó tbề tdày tlịch tsử thào thùng tvà ttruyền tthống
tvăn thoá tđộc tđáo, tcó t50 tdi ttích t- tdanh tthắng tcấp tquốc tgia tvà tcấp ttỉnh tđang tđược
tquy thoạch, ttôn ttạo tvà tphát thuy tgiá ttrị
Công ttác tbảo ttồn, ttôn ttạo tvà tphát thuy tgiá ttrị tdi tsản tvăn thóa tđược tquan
ttâm, tkhơi tdậy ttiềm tnăng tvăn thóa txứ tThanh, tnhư tvăn tminh tnúi tĐọ, tvăn thóa
tĐông tSơn, tgốm tcổ tTâm tThọ, tNhiều tcông tviên, tquảng ttrường, thồ tnước tđược
tđầu ttư txây tdựng thoàn tthành tvà tđưa tvào tsử tdụng, ttạo tcảnh tquan tđẹp, tđáp tứng
tnhu tcầu thưởng tthụ tvăn thóa, tphúc tlợi tngày tcàng tcao tcủa tnhân tdân. tCông ttác txây
tdựng tphố, tthôn, tcơ tquan tvăn thóa tđược tchú ttrọng; ttập ttrung tnguồn tlực, ttạo tquỹ
tđất txây tdựng tnhà tvăn thoá
- tVề tan tninh, tquốc tphòng:
Trong tnhững tnăm tqua, tquốc tphòng, tan tninh, ttrật ttự tan ttoàn txã thội ttrên
tđịa tbàn tthành tphố tđược tđảm tbảo tan ttoàn, tổn tđịnh ttạo tthuận tlợi tcho tphát ttriển
tkinh ttế t- txã thội. tChủ tquyền tan tninh tbiên tgiới, tvùng tbiển tđược tgiữ tvững. t
Phát thuy tlợi tthế tso tsánh tvề tvị ttrí tđịa tlý, ttruyền tthống tvăn thoá t- tlịch tsử tvà
Trang 37tvị tthế tcủa tđô tthị ttỉnh tlỵ; tkhai tthác, tsử tdụng tcó thiệu tquả tđể tđẩy tnhanh ttốc tđộ
tCNH t- tHĐH, tphát ttriển tnhanh tvà tbền tvững, txây tdựng tThành tphố ttrở tthành tđô
tthị thiện tđại, tlà ttrung ttâm tchính ttrị, tkinh ttế, tvăn thoá tvà tkhoa thọc t- tkỹ tthuật tcủa
tcả ttỉnh; tđẩy tnhanh ttốc tđộ tđô tthị thóa, tphát ttriển tvà tmở trộng tThành tphố tvề
thướng tĐông tđể tkết tnối tvới tthành tphố tSầm tSơn; tphát ttriển tmở trộng tvề thướng
tĐông tBắc tvà tĐông tNam, txây tdựng tThành tphố thai tbờ tsông tMã tlà tnhững tđịnh
thướng tcơ tbản tphát ttriển tThành tphố ttrong tnhững tnăm tqua t[26]
2.1.2 t Khái t quát t về t Đảng t bộ t thành t phố t Thanh t Hóa, t tỉnh t Thanh t Hóa
Đảng tbộ tthị txã tThanh tHóa tra tđời, tlãnh tđạo tnhân tdân tđấu ttranh tgiữ tvững
tchính tquyền tcách tmạng t(1945-1946)
Cách tmạng tTháng tTám t1945 tthành tcông, tngày t2-9-1945, ttại tQuảng
ttrường tBa tĐình tlịch tsử, tChủ ttịch tHồ tChí tMinh tđọc tbản tTuyên t ngôn t độc t lập
tkhai tsinh tnước tViệt tNam tdân tchủ tCộng thòa
Chiếm tmột tvị tthế ttrọng tyếu tở tkhu tvực tBắc tTrung tBộ tbước tvào txây tdựng
tchế tđộ tmới tsau tCách tmạng tTháng tTám tthành tcông, tchính tquyền tdân tchủ tnhân
tdân tvừa tđược tthiết tlập, tbên tcạnh tnhững tthuận tlợi tto tlớn, tphong ttrào tcách tmạng
tcủa tThị txã tThanh tHóa tđứng ttrước tnhững tkhó tkhăn, tthử tthách tnghiêm ttrọng
Sau tkhi tgiành tđược tchính tquyền t(20-8-1945), tnhiệm tvụ tcấp tbách tlà ttiến
ttới tthành tlập ttổ tchức tĐảng tđể tlãnh tđạo tnhân tdân tchống tthù ttrong, tgiặc tngoài,
txây tdựng tvà tbảo tvệ tchính tquyền tnon ttrẻ
Tháng t11-1945, tTỉnh tủy tThanh tHóa ttổ tchức tHội tnghị ttại tnhà tPhó tSứ
t(đường tVườn tHoa) tThị txã tThanh tHóa, tđánh tgiá ttình thình tchung tcủa ttỉnh ttừ tsau
tngày tkhởi tnghĩa tgiành tchính tquyền tvà tđề tra tchủ ttrương, tbiện tpháp tthực thiện
tnhững tnhiệm tvụ tcấp tbách tmà tTrung tương tĐảng, tChính tphủ tđã tđề tra. tHội tnghị
tchủ ttrương tcủng tcố, tkiện ttoàn tTỉnh tủy tlâm tthời, tđặt tcông ttác tphát ttriển tđảng
tviên, txây tdựng ttổ tchức tcơ tsở tđảng tphù thợp tvới tyêu tcầu ttrong ttình thình tmới;
txây tdựng tvà tcủng tcố tchính tquyền tcách tmạng, tMặt ttrận tViệt tMinh, tcác tđoàn tthể
tquần tchúng, txây tdựng tlực tlượng tvũ ttrang,
Trang 38Đồng tthời tvới ttăng tcường tcán tbộ tcó tnăng tlực, tphẩm tchất, tuy ttín tvề tcác
tđịa tphương tgây tdựng tphong ttrào, tphát ttriển ttổ tchức tcơ tsở tđảng, tTỉnh tủy tcử
tđồng tchí tTrần tTiến tQuân tvề tThị txã tThanh tHóa tđể tphát ttriển tđảng tviên, txây
tdựng, tcủng tcố ttổ tchức tcơ tsở tĐảng, tMặt ttrận tViệt tMinh tvà tcác tđoàn tthể tcứu
tquốc; tphát ttriển tcơ tsở ttrung tkiên tvà ttạo tlập tnhững tđiều tkiện tquan ttrọng tđể
tthành tlập ttổ tchức tcơ tsở tĐảng tđầu ttiên tcủa tThị txã tThanh tHóa. tTrên tcơ tsở tđó,
tngày t15 t- t11 t- t1945, ttại tNhà tmáy tĐèn, tđồng tchí tBùi tĐạt, tđại tdiện tTỉnh tủy tđã
ttriệu ttập tHội tnghị tcông tbố tQuyết tđịnh tcủa tTỉnh tủy tthành tlập tChi tbộ tĐảng tđầu
ttiên tcủa tThị txã, tdo tđồng tchí tTrần tTiến tQuân t(Trịnh tHuy tLãng) tlàm tBí tthư
Tại tHội tnghị, tđồng tchí tBùi tĐạt tnêu tlên ttầm tquan ttrọng tcủa tcông ttác txây
tdựng tĐảng tvà tgiao ttrách tnhiệm tcho tChi tbộ tphải tra tsức ttuyên ttruyền, tgiáo tdục,
tbồi tdưỡng tcán tbộ tcách tmạng, tnhững tcông tnhân tưu ttú tvà tquần tchúng tlao tđộng
ttốt tđể tkết tnạp tvào tĐảng, tlàm tcho tĐảng tngày tcàng tlớn tmạnh, tđể tnhanh tchóng
tthành tlập tThị tủy tchính tthức tđủ tsức tlãnh tđạo tnhân tdân tbảo tvệ tchính tquyền tnon
ttrẻ tvà ttổ tchức txây tdựng tcuộc tsống tmới
Sự tkiện tthành tlập tChi tbộ tcộng tsản tđầu ttiên tcó tý tnghĩa tlớn tlao ttrong tđời
tsống tchính ttrị tcủa tnhân tdân tThị txã. tSuốt tquá ttrình ttheo tĐảng tlàm tcách tmạng
tcho tđến tkhi tgiành tđược tchính tquyền, tlần tđầu ttiên tnhân tdân tThị txã tThanh tHóa
tcó tđược tBộ ttham tmưu ttrực ttiếp tcủa tmình tđể tlãnh tđạo tnhân tdân ttiến tlên tdưới
tngọn tcờ tvinh tquang tcủa tĐảng, tcùng tvới tnhân tdân ttỉnh tvà tcả tnước thoàn tthành
tsứ tmệnh tthiêng tliêng tmà tlịch tsử tgiao tphó ttrong tgiai tđoạn tcách tmạng ttrọng tđại
tnày. t
Ngày t21-12-1945, tChủ ttịch tChính tphủ tlâm tthời tnước tViệt tNam tdân tchủ
tcộng thòa tra tSắc tlệnh tsố t77, tquy tđịnh tcác ttỉnh tlỵ tvà tnhững tnơi tđô thội tbiệt tlập tvà
ttrực ttiếp tvới ttỉnh tvề tmặt thành tchính tđều t“từ tnay tgọi tlà tThị txã”. t t[29 ttr t138]
Sau tkhi tthành tlập, tChi tbộ tđã ttổ tchức tHội tnghị ttại tNhà tmáy tĐèn, tdo tđồng
tchí tTrần tTiến tQuân tchủ ttrì, tđề tra tmột tsố tchủ ttrương tcông ttác tcụ tthể tnhư: tĐẩy
tmạnh tcông ttác txây tdựng tĐảng tvà tphát ttriển tđảng tviên; tkiện ttoàn tbộ tmáy tlãnh
Trang 39tđạo ttrong tcác ttổ tchức tchính tquyền tvà tđoàn tthể tcứu tquốc, tcủng tcố tcác tủy tban
tcông tsở, tủy tban txí tnghiệp t(Nhà tmáy tĐèn, tNhà tmáy tDiêm, tNhà tmáy tÉp tdầu
tHàm tRồng), tgiải ttán tỦy tban tCông tsở tNam tĐồng tÍch; tkết thợp tchặt tchẽ tvới
tchính tquyền tvà tcác tđoàn tthể tcứu tquốc, ttổ tchức tvận tđộng tquần tchúng tđoàn tkết
txung tquanh tMặt ttrận tViệt tMinh; tthành tlập tdân tquân ttự tvệ tở tcác tkhu tphố tđể tgiữ
tgìn ttrật ttự ttrị tan, tđấu ttranh tngăn tchặn, ttrấn táp tmọi thành tđộng tbắt tcóc, ttống ttiền,
tcướp tcủa, tgây trối tcủa tbọn tQuốc tdân tđảng ttay tsai tcủa tbọn tTưởng tGiới tThạch
tChi tbộ tphân tcông tnhiệm tvụ tcho tcác tđồng tchí ttrong tBan tChấp thành tchỉ tđạo tcác
tmặt tcông ttác tmột tcách tkhẩn ttrương, ttập ttrung tvào tnhững tcông tviệc tcần tkíp tcủa
tchính tquyền tcách tmạng
Công ttác txây tdựng tĐảng ttrên tđịa tbàn tThị txã tđược tquan ttâm, tnhư: tphát
ttriển tđảng tviên, tnhanh tchóng txây tdựng tvà tphát ttriển ttổ tchức tcơ tsở tĐảng. tCác
tđồng tchí tđảng tviên tcủa tChi tbộ tđi tsâu ttìm thiểu, tbồi tdưỡng tvà tgiáo tdục tnhững
tcán tbộ tnòng tcốt ttrong tcông tnhân tvà tnhân tdân tlao tđộng tđể tkết tnạp tvào tĐảng
tSau tmột tthời tgian tđi tsâu ttuyên ttruyền tvận tđộng tnhững tcông tnhân ttích tcực, tgiáo
tdục tvà tchọn tlựa tnhững tquần tchúng tưu ttú, ttổ tchức tđã tkết tnạp tđược tmột tsố tđảng
tviên tmới, thình tthành tnên t2 tchi tbộ tCông tvận tvà tPhụ tvận, tcùng tvới tchi tbộ tThanh
tniên ttỉnh tđóng tvai ttrò trất tquan ttrọng, tnòng tcốt ttrong tcông ttác tphát ttriển tđảng,
tgây tdựng tphong ttrào tcách tmạng ttrên tđịa tbàn. tDo tvậy, tchỉ tmột tthời tgian tngắn,
tsố tđảng tviên ttrong tChi tbộ tđã tlên ttới t20 tđồng tchí. tChấp thành tChỉ tthị tcủa tTỉnh
tủy, ttháng t3-1946, ttại ttầng t2 tNhà tmáy tĐèn, tđã tdiễn tra tHội tnghị ttoàn tthể tbầu tThị
tủy tlâm tthời, tgồm t3 tđồng tchí: tTrần tTiến tQuân, tNguyễn tThị tNghiên tvà tVõ
tNguyên tLượng, tdo tđồng tchí tTrần tTiến tQuân tlàm tBí tthư
Sau tHội tnghị tlịch tsử tnày, ttuy tsố tlượng tđảng tviên tcòn tít, tnhưng tĐảng tbộ
tđã tphát thuy tđược tvai ttrò tlãnh tđạo, ttính ttiền tphong tgương tmẫu tcủa tmỗi tđảng
tviên, thướng tdẫn tquần tchúng txây tdựng tcuộc tsống tmới tvà tchống tlại tâm tmưu tphá
thoại tcủa tbọn tphản tđộng
Trang 40Sau tkhi tđược tTỉnh tủy tgiao tnhiệm tvụ txây tdựng, tphụ ttrách tNhà tmáy tin,
tĐảng tbộ tThị txã tđã tđẩy tmạnh tcông ttác tphát ttriển tđảng tviên tmới. tĐến tcuối tnăm
t1946, tNhà tmáy tin tkết tnạp tđược t15 tđảng tviên
Từ tkhi tthành tlập tđến tnay tđảng tbộ tthành tphố tThanh tHóa tđã ttrải tqua t20 tkỳ
tđại thội. tCông ttác txây tdưng tđảng tđược ttăng tcường tvà tđạt tkết tquả tkhá ttoàn tdiện
tvề tcác tmặt tchính ttrị, ttư ttưởng tvà ttổ tchức. tSố tlượng tvà tchất tlượng thoạt tđộng tcủa
ttổ tchức tĐảng tkhông tngừng tđược tnâng tlên, tvững tvàng, tkiên tđịnh tvà tsáng ttạo
ttrong tcông ttác tlãnh tđạo, tchỉ tđạo, ttừ tkhi tthành tlập tchi tbộ tđảng tđầu ttiên, tđến tnay
tĐảng tbộ tthành tphố tđã tcó t20.128 tđảng tviên tsinh thoạt ttại t84 ttổ tchức tcơ tsở tđảng(
ttrong tđó tcó t37 tĐảng tbộ txã, tphường; t47 tđảng tbộ tchi tbộ tcơ tquan, ttrường thọc,
tdoanh tnghiệp)
Trải tqua tcác tgiai tđoạn tkỳ tlịch tsử, tĐảng tbộ tvà tnhân tdân tthành tphố tThanh
tHóa tđã tphát thuy ttruyền tthống tanh thùng, ttinh tthần tchủ tđộng, tsáng ttạo ttrong tđấu
ttranh tcách tmạng, tđã tđem thết tsức tlực, ttrí ttuệ, tphấn tđấu tvượt tqua tmọi tgian tnan,
tthử tthách; tvừa tkhắc tphục thậu tquả tvà thàn tgắn tvết tthương tchiến ttranh, ttừng tbước
tđẩy tlùi tcuộc tkhủng thoảng tkinh ttế t- txã thội; txây tdựng, tphát ttriển tnền tkinh ttế, tvăn
thóa, txã thội, txây tdựng tchính tquyền tnhân tdân, tquốc tphòng ttoàn tdân tvà tan tninh
tnhân tdân tvững tmạnh. tThực thiện tcông tcuộc tđổi tmới tdo tĐảng tkhởi txướng tvà
tlãnh tđạo tthành tphố tThanh tHóa ttiếp ttục tgiành tđược tnhiều tkết tquả tquan ttrọng
ttrên tcác tlĩnh tvực. tThế tvà tlực tcủa tthành tphố tngày tcàng tvững tchắc; tcác tnguồn
tlực tđầu ttư ttrong tnhững tnăm tqua tđã tvà tđang tphát thuy thiệu tquả ttích tcực; ttrình
tđộ, tnăng tlực tcủa tđội tngũ tcán tbộ ttừ tthành tphố tđến tcơ tsở ttừng tbước tđược tnâng
tlên tđáng tkể. tĐường tlối tđổi tmới, tcác tchính tsách tcủa tTrung tương tvà tTỉnh tủy
tngày tcàng tđược tvận tdụng, tcụ tthể thoá tvào tsát tvới ttình thình tthực ttế tcủa tthành
tphố tThanh tHóa, ttạo tđiều tkiện tthuận tlợi tcho tĐảng tbộ tthành tphố tquán ttriệt, ttriển
tkhai, ttổ tchức tthực thiện tcác tnhiệm tvụ tchính ttrị tmột tcách tcó thiệu tquả trõ trệt
2.1.3 t Các t đảng t bộ t phường, t xã t thuộc t Đảng t bộ t thành t phố t Thanh t Hóa,
t tỉnh t Thanh t Hóa t