1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng công tác dân vận của đảng bộ tỉnh ninh thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số

119 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Tỉnh Ninh Thuận Đối Với Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
Tác giả Nguyễn Thanh Hải
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Bình
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Long An
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác dân vận do Đảng trực tiếp lãnh đạo là nhiệm vụ, trách nhiệm tổ chức thực hiện của Nhà nước, chính quyền các cấp; MTTQ, đoàn thể các cấp làm nòng cốt, tham mưu.. Vấn đề đặt ra ở

Trang 1

NGUYỄN THANH HẢI

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN ĐỐI VỚI

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Long An, Tháng 7/2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH HẢI

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN ĐỐI VỚI

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 8.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Bình

Long An, tháng 7/2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy Ninh Thuận, đặc biệt là Tiến sỹ Phạm Thị Bình, Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh đã hướng dẫn học viên hoàn thành

Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học với đề tài Nâng cao chất lượng

công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu

số Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, đánh giá để thực hiện luận

văn, bản thân đã nỗ lực, cố gắng hết mình, song chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót

Học viên xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ, những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô, của các đồng chí lãnh đạo, bạn bè, đồng nghiệp và những người làm công tác dân vận

Trang 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Dân vận và công tác dân vận

1.2 Nội dung, phương châm, phương pháp của Đảng đối với

đồng bào dân tộc thiểu số

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công tác dân vận của

Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

THIỂU SỐ HIỆN NAY

2.1 Những nhân tố tác động đến công tác dân vận của Đảng bộ

tỉnh Ninh Thuận

2.2 Những kết quả và hạn chế về công tác dân vận của Đảng

bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ

YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN

CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN

TỘC THIỂU SỐ

3.1 Quan điểm về công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh

Thuận đối với đồng bào Dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công

tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lực lượng của dân rất

to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [26, tr.700] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Dân vận là vận động lực lượng tất cả mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những việc công Chính phủ và đoàn thể giao cho” [26, tr.698]

Tổng kết 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta đã rút ra bài học quan trọng có giá trị làm quan điểm chỉ đạo công tác dân vận trong thời kỳ mới: “Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế Đó là truyền thống quý báu và

là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta [14, tr.65-66] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” [31, tr.607] Bài học trên là tổng kết thực tiễn sự nghiệp đổi mới

và cũng là việc trực tiếp thực hiện quan điểm chỉ đạo công tác dân vận mà Đảng

và Nhà nước ta rút ra từ các Đại hội VIII, IX, X, XI, XII

Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” nhận định: “Công tác dân vận thời gian qua đã góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết

Trang 7

toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân” [15, tr.1] Bên cạnh những thành tựu nêu trên, Nghị quyết cũng đã chỉ rõ những hạn chế, yếu kém của công tác dân vận trong thời gian qua: “Chưa đánh giá và

dự báo chính xác những diễn biến, thay đổi cơ cấu xã hội, thành phần dân cư, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân để có chủ trương, chính sách phù hợp Một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của Nhân dân Việc thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận chưa kịp thời, nhất là cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” Nhiều bức xúc chưa được giải quyết; quyền làm chủ của Nhân dân ở nhiều nơi

bị vi phạm, làm giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận chưa được quan tâm đúng mức” [15, tr.1]

Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 -

2020 đã khẳng định: “Công tác dân vận của Đảng đã có bước đổi mới về nội dung, hình thức hoạt động sâu sát cơ sở, tham mưu thực hiện tốt đường lối chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải quyết các vấn đề bức xúc của Nhân dân Triển khai thực hiện tốt công tác dân vận chính quyền, QCDC ở cơ sở Phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo, bước đầu phát huy các nguồn lực của các tầng lớp Nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới Công tác dân vận của MTTQ và các đoàn thể trong vùng có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo được thực hiện có hiệu quả, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Công tác giám sát, phản biện xã hội được triển khai thực hiện” [10, tr.47-48]

Xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn

bộ sự nghiệp cách mạng của nước ta, là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng; trong từng giai đoạn cụ thể, Đảng đã có nhiều chủ trương,

Trang 8

quyết sách lớn về công tác dân vận, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là vấn đề quan trọng, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, công chức và viên chức Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận như: Ngày 27/3/1990, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VI) đã ban hành Nghị quyết số 8B-NQ/TW về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân”; ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị (Khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về “Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”; Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) đã ban hành các nghị quyết: Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 về “Công tác dân tộc” và Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003

về “Công tác tôn giáo” Bộ Chính trị (Khóa X) đã ra Quyết định số QĐ/TW, ngày 25/02/2010 về việc ban hành “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”; Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 49-NQ/TW, ngày 20/10/2015 về

290-“Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số” Đặc biệt, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”… Những nghị quyết, chỉ thị nêu trên đã thể hiện Đảng ta hết sức coi trọng công tác dân vận Thông qua công tác dân vận, Đảng đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp Nhân dân, tạo nên động lực to lớn, đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng phát triển

Đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu về công tác dân vận từ khi Đảng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu đó là: TS Vũ Ngọc Am - Vũ Thị Thùy Linh (2013), Tăng cường và

Trang 9

đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội; Nguyễn Duy Việt (2013), Tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới, Nxb Lao động, Hà Nội; Nguyễn Duy Việt (2013), Những nội dung, quan điểm và giải pháp cơ bản về tăng cường, đổi mới công tác dân vận, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội; Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2013), Đề cương chuyên đề bồi dưỡng công tác dân vận (dành cho Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Dân vận các tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương và tương đương); Ban Dân vận Trung ương (2014), Tập bài giảng công tác dân vận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Dân vận Trung ương (2014), Tập bài giảng về công tác Dân vận ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Dân vận Trung ương (2014), Cẩm nang công tác dân vận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Dân vận Trung ương (2014), Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Dân vận Trung ương (2014), Nghiệp vụ công tác dân vận của cán bộ dân vận, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật (2014), Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội; Nguyễn Thế Trung (2015), Một số vấn đề về công tác Dân vận trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; TS Thào Xuân Sùng (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận người DTTS trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Những công trình khoa học trên đây đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng về công tác dân vận trong quá

trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta trong những năm qua

Được chia tách từ tháng 4/1992, Ninh Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ; có diện tích tự nhiên 3.355,34 km2; Tỉnh có 34 thành phần dân tộc với dân số gần 607.130 người, trong đó đồng bào DTTS 142.676 người, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh [50, tr.1] Trong những năm qua, thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và

Trang 10

vùng DTTS nói riêng đã có những đổi thay toàn diện và sâu sắc Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các DTTS từng bước được nâng lên; hệ thống chính trị được củng cố; quốc phòng an ninh được giữ vững Tuy nhiên, do trình độ dân trí thấp, không đồng đều, điều kiện sinh sống còn nhiều khó khăn, trong khi các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng trên nhiều mặt Do đó, vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận luôn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến kết quả công tác dân vận của Đảng và cuộc sống của bà con nói riêng, đến tình hình an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh nói chung Trong đó, nổi cộm là hoạt động truyền đạo trái pháp luật và phát triển tôn giáo vùng DTTS có xu hướng gia tăng; tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai phức tạp; phong tục tập quán của đồng bào DTTS còn nhiều hủ tục lạc hậu; ý thức tự lực phấn đấu vươn lên trong sản xuất và đời sống, thoát nghèo và làm giàu của một bộ phận đồng bào chưa cao; tâm lý tự ti, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động còn chậm; quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, sức cạnh tranh không cao Chất lượng cuộc sống của đồng bào còn thấp Công tác dân vận chưa làm thay đổi căn bản ý thức tự lực, tự cường, phấn đấu tự vươn lên trong cuộc sống của đồng bào DTTS Một số ít cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ, đảng viên người DTTS và cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận còn có biểu hiện xa dân, chưa sâu sát với Nhân dân, tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa thật sự nêu gương, thuyết phục để đồng bào tin tưởng, làm theo

Xuất phát từ yêu cầu của công tác chuyên môn, để nghiên cứu một cách nghiêm túc, khoa học và toàn diện công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào DTTS, xác định những nhân tố tác động đến công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào DTTS, thực trạng và chất lượng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh đối với đồng bào DTTS hiện nay, từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh đối với đồng bào DTTS là vấn đề hết sức cần thiết, không chỉ có ý

Trang 11

nghĩa trước mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài cả trên phương diện lý

luận và thực tiễn Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn vấn đề Nâng cao chất lượng

công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu

số làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Chính trị học

Cho đến nay, chưa có một công trình hay đề tài khoa học nào nghiên cứu

về nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Vì vậy, đề tài của chúng tôi thực hiện không trùng lắp với các đề tài nào khác

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu lý luận và thực trạng về công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số; trên cơ sở đó, đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát cơ sở lý luận về công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số

- Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào DTTS

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng phương pháp luận của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp lịch sử và lôgic; nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, Ngoài các phương pháp chuyên ngành, để phục vụ cho việc khảo sát, đánh giá thực tiễn, luận văn sử dụng các phương pháp: Điều tra và khảo sát thực trạng công tác dân vận qua thống kê tổng hợp số liệu, tư liệu, phân tích đánh giá các dữ kiện đã có

6 Những đóng góp của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác dân vận; phân tích đánh giá thực trạng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay Qua đó, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo cho các cấp ủy Đảng phục vụquá trình lãnh đạo công tác dân vận và Ban Dân vận các cấp trong việc triển khai thực hiện công tác dân vận đối với đồng bào DTTS

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 7 tiết

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG

ĐỐI VỐI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Dân vận và công tác dân vận của Đảng

1.1.1 Khái niệm dân vận và công tác dân vận

1.1.1.1 Khái niệm dân vận

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và

Đoàn thể đã giao cho” [26, tr.698]

Dân vận được hình dung không chỉ ở con người và tổ chức mà được hình dung là hoạt động, bao gồm cả tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, vừa là phong trào xã hội, từ thi đua yêu nước, vận động đoàn kết, vừa là công tác thực

tế hàng ngày Đó là công tác để xây dựng xã hội, tổ chức cuộc sống cho các cộng đồng dân cư, tham gia xây dựng chính thể, thực hành dân chủ, chống quan liêu tham nhũng, chống tham ô lãng phí

Mục đích của dân vận là làm cho Nhân dân trưởng thành cả ý thức dân chủ và năng lực làm chủ, Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước và xây dựng các tổ chức, đoàn thể của mình Qua dân vận mà Đảng, Nhà nước, MTTQ, đoàn thể cũng trưởng thành, do khắc phục được những yếu kém, lạc hậu, bất cập và phát huy được những ưu điểm, mặt mạnh, đảm bảo cho các

tổ chức thể hiện đúng tính chất dân chủ, thực sự là tiếng nói và ý chí của dân, là thực hiện đúng sự trao truyền, ủy quyền của người dân, thực hiện ý chí, quyền lực Nhân dân, lợi ích, nguyện vọng của Nhân dân Tùy thuộc trạng thái, tính chất và kết quả dân vận như thế nào mà niềm tin và hành động của Nhân dân, dựa trên các nền tảng khoa học, đạo đức và nhân văn sẽ như thế ấy

Trang 14

Dân vận như một hàn thử biểu, một chất chỉ thị màu cho thấy Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tất cả hệ thống chính trị có ảnh hưởng, tác động đến dân như thế nào và uy tín đối với Nhân dân, dân tộc và xã hội sẽ ra sao? Nói cách khác, qua thực trạng và kết quả dân vận mà đánh giá được tác dụng và ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong công tác vận động Nhân dân; vì lợi ích và quyền làm chủ của Nhân dân

Dân vận là thước đo của một xã hội phát triển, một nhà nước pháp quyền, một nền dân chủ và hệ thống chính trị đổi mới, phát triển

Tầm quan trọng đặc biệt của “Dân vận” đòi hỏi hệ thống chính trị, với Nhà nước là giường cột phải thực sự là hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân Hệ thống chính trị hiện nay đang ra sức đổi mới để khắc phục những yếu kém và phát huy dân chủ làm cho hệ thống chính trị thực sự là của dân để phục

vụ dân Đổi mới toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực của đời sống, các thiết chế và thể chế, trong đó có hệ thống chính trị để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH, dân chủ hóa và pháp chế xã hội

Trong khái niệm dân vận, rõ ràng có chủ thể và đối tượng, có hoạt động

để thực hiện những quan hệ tương tác và chuyển hóa, có nhiệm vụ và mục đích,

có nội dung và phương pháp thực hiện, có điều kiện để đảm bảo đạt được kết quả và hiệu quả Dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, khách thể của dân vận Với tư cách chủ thể, dân vừa là người chủ, làm chủ, dân cũng vừa làm dân vận, chứ không chỉ có Đảng hay các cán bộ chuyên trách mới làm công tác dân vận

1.1.1.2 Khái niệm công tác dân vận

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Các đảng cộng sản phải làm công tác vận động Nhân dân Đó là một công tác lâu dài và phải kiên trì thực hiện Đó

là một cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân để giành lấy sự đồng tình, giành lấy sự ủng hộ đa số của Nhân dân lao động Mỗi thời kỳ khác nhau phải có những hình thức công tác vận động Nhân dân khác nhau

Trang 15

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: Công tác dân vận là vận động Nhân dân làm cách mạng Toàn Đảng phải làm công tác dân vận, phụ trách công tác dân vận và chịu trách nhiệm cao nhất đối với công tác này bởi Đảng có trọng trách lãnh đạo và cầm quyền Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh, công tác dân vận không phải là nhiệm vụ của riêng của một cá nhân cán bộ, đảng viên hay tổ chức nào Nghĩa là, mọi cấp chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang đều phải có trách nhiệm, thường xuyên làm công tác dân vận

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, Đảng và Nhà nước

ta đã xác định công tác dân vận có vị trí quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Nhà nước; thực hiện công tác dân vận là trách nhiệm toàn Đảng, toàn quân

và toàn dân Đồng thời, công tác dân vận là một trong những công tác cơ bản, gắn liền với sự trưởng thành về khả năng lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng của Đảng Đảng ta hết sức coi trọng công tác dân vận Điều đó đã được thể hiện một cách nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng Thông qua công tác dân vận Đảng đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp Nhân dân, tạo nên động lực to lớn đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng phát triển

Công tác dân vận của Đảng được thực hiện trong điều kiện “nước ta là nước dân chủ” và do vậy người dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra các công việc của Đảng và Chính phủ, trong đó có “công tác dân vận” Như vậy có thể hiểu rằng, trong công tác dân vận của Đảng không thể không tính đến

dư luận xã hội từ phía người dân Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong bối cảnh

mô hình dân vận ở nước ta đang biến đổi từ mô hình cũ đặc trưng cho thời kỳ cách mạng, thời kỳ kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang thời kỳ đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường Nếu dân vận là vận động Nhân dân làm cách mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng và phát triển, vì độc lập tự do của Tổ quốc và dân tộc, vì hạnh phúc cuộc sống của con

Trang 16

người, vì dân chủ và quyền làm chủ thực chất của Nhân dân thì công tác dân vận

là công tác cách mạng do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thực hiện để đạt mục tiêu vĩ đại nêu trên Cũng có thể hình dung công tác dân vận là một nhiệm vụ cách mạng ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, ở thời kỳ nào của cách mạng cũng có tầm chiến lược quan trọng Đó cũng là thực hiện một phương thức, một điều kiện căn bản đảm bảo cho cách mạng thành công

Công tác dân vận còn cần phải hình dung như một hoạt động diễn ra trong đời sống xã hội, trước hết trong đời sống chính trị của Đảng, Nhà nước, MTTQ

và các đoàn thể Nhân dân Hoạt động đó phải tập hợp, thu hút, lôi cuốn và thúc đẩy đông đảo toàn dân tham gia Quần chúng Nhân dân tham gia vào hoạt động

ấy, không phải ở tư thế thụ động, bị động, càng không phải do áp lực, buộc phải tham gia như thực hiện một quyết định hành chính nào Hoàn toàn không phải như vậy, mà trái lại, chính quần chúng Nhân dân tham gia một cách chủ động, tự giác, tích cực vào hoạt động ấy với tư cách chủ thể, tư cách người chủ, trên cơ

sở dân giác ngộ, dân hiểu biết và dân tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Trong việc xác định vị thế và vai trò của dân tham gia vào công tác dân vận, cần phải quán triệt quan điểm của Đảng từ vấn đề con người

mà tập hợp đông đảo những con người trong xã hội, đó là Nhân dân

Công tác dân vận của Đảng rất quan trọng Trong điều kiện và bối cảnh hiện nay, nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng và trình độ của Nhân dân đã khác xa so với trước Nhiều vấn đề mới, phức tạp luôn nảy sinh chưa hề có trong các giai đoạn lịch sử trước đây Giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân lúc này đòi hỏi nhận thức mới, năng lực trí tuệ mới, phương pháp và phong cách mới mà nổi bật là khoa học - dân chủ - nhân văn Đảng không chỉ lãnh đạo sự nghiệp đổi mới mà toàn Đảng phải coi đổi mới là trường học thực tiễn vĩ đại, toàn Đảng phải học tập trong trường học ấy với người thầy vĩ đại của mình là cuộc sống, là dân tộc và Nhân dân

Trang 17

Công tác dân vận do Đảng trực tiếp lãnh đạo là nhiệm vụ, trách nhiệm tổ chức thực hiện của Nhà nước, chính quyền các cấp; MTTQ, đoàn thể các cấp làm nòng cốt, tham mưu Công tác dân vận phải thu hút và lôi cuốn sự tham gia, cộng đồng trách nhiệm, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác các nguồn lực, phối hợp các nguồn lực và sáng kiến hoạt động của tất cả mọi thành viên của hệ thống chính trị, của cộng đồng xã hội, dân tộc và tôn giáo, kể cả sự tham gia của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Nhìn từ phía phương diện công tác xã hội

và hoạt động xã hội, công tác dân vận thông qua các thiết chế tổ chức đại diện của quần chúng hoàn toàn có khả năng thu hút sự hợp tác quốc tế bằng việc thiết lập các mối quan hệ với các đối tác tương ứng (các hội và hiệp hội, các tổ chức đoàn kết, hữu nghị với các nước, quốc tế, khu vực và thế giới, các tổ chức nhân đạo vì hòa bình )

Để phát triển sự hợp tác, đoàn kết và hữu nghị giữa Nhân dân Việt Nam với Nhân dân các nước, còn phải đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao Nhân dân, một phương thức hỗ trợ rất có hiệu quả cho ngoại giao của Đảng và Nhà nước, cùng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước vì mục tiêu phục vụ cuộc sống của Nhân dân

Công tác dân vận chính là toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản nhằm vận động, thuyết phục, tập hợp, hướng dẫn mọi tầng lớp Nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo Thông qua công tác dân vận mà tăng cường mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân Trong điều kiện Đảng cầm quyền xây dựng chủ nghĩa xã hội, mối liên hệ đó được thể hiện bằng đường lối chính sách của Đảng và việc thực hiện đường lối chính sách đó thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thông qua các tổ chức đoàn thể,

tổ chức xã hội và tổ chức Đảng Mối liên hệ giữa Đảng và Nhân dân là một tất yếu khách quan để cách mạng giành thắng lợi

Công tác dân vận không chỉ là trực tiếp vận động mà còn có những hoạt động không trực tiếp vận động: Dân vận chẳng những phải có người làm tuyên

Trang 18

truyền, vận động Nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà còn tập hợp, tổ chức phong trào thi đua trong Nhân dân Điều này đã thường làm từ trước đến nay và rất cần thiết, phải thường xuyên coi trọng, nhưng chưa đủ Dân vận còn là những hoạt động của tổ chức trong hệ thống chính trị và hoạt động của cá nhân ảnh hưởng làm thay đổi nhận thức, thay đổi hành động của người dân theo chiều hướng tiến bộ, cách mạng Như vậy, dân vận không chỉ có những hoạt động trực tiếp vận động Nhân dân mà còn

có những hoạt động gián tiếp như: Xây dựng đường lối, quan điểm, luật pháp,

cơ chế chính sách; sự trong sạch của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể; sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Những hoạt động không trực tiếp vận động này lại là yếu tố cơ bản của công tác dân vận Vấn đề đặt ra ở đây là nghiên cứu và xây dựng quan điểm, giải pháp cho công tác dân vận lại phải coi trọng việc nghiên cứu tìm ra cả trong các giải pháp trực tiếp và giải pháp gián tiếp về xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đường lối, chủ trương, cơ chế chính sách thực sự vì dân, do dân và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gương mẫu cho Nhân dân noi theo để làm cơ sở tuyên truyền, vận động Nhân dân tin Đảng, theo Đảng làm cách mạng

Công tác dân vận là trách nhiệm, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, năng lực, trình độ của tổ chức hay cá nhân làm dân vận, tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi người dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những việc có ích nên làm; chăm lo lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ

1.1.2 Nội dung và lực lượng làm công tác dân vận của Đảng

1.1.2.1 Nội dung công tác dân vận của Đảng

Đảng ta khẳng định: “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ

Trang 19

máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân” [12, tr.65] Công tác dân vận của Đảng không chỉ là vấn đề tập hợp lực lượng mà cao hơn, bản chất hơn nhằm thực hiện được mục đích của cách mạng; là phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Mục tiêu công tác dân vận của Đảng chính là mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể đều hướng tới mục tiêu: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Đảng

ta chỉ rõ: “Các tổ chức Đảng từ Trung ương đến chi bộ phải lấy công tác vận động và chăm lo lợi ích của quần chúng làm một nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình” Như vậy công tác dân vận của Đảng bao gồm hai vấn đề lớn là thực hiện các nhiệm vụ chính trị và chăm lo lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân

Về thực hiện các nhiệm vụ chính trị, tổ chức Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ:

Tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi người dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, những việc có ích nên làm Nâng cao trình độ mọi mặt của Nhân dân như giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục đạo đức, nếp sống; nâng cao trình độ văn hóa, khoa học-kỹ thuật,… của Nhân dân

Đoàn kết tập hợp tất cả các lực lượng của Nhân dân, đó là các giai cấp, giai tầng trong xã hội, dân tộc, tôn giáo,… Tạo tiền đề vật chất và pháp lý để động viên, khích lệ, vận động Nhân dân tổ chức thành phong trào thi đua yêu nước nhằm thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh

Vận động, tập hợp, khuyến khích Nhân dân tham gia vào các loại hình tổ chức khác nhau bao gồm: các đoàn thể chính trị-xã hội; các tổ chức xã hội nghề

Trang 20

nghiệp; tổ chức nhân đạo, từ thiện; tổ chức hữu nghị; các hình thức tổ chức và hoạt động đa dạng khác như câu lạc bộ, các loại hình tự quản ở cơ sở, tổ hòa giải, nhóm sở thích,

Về chăm lo lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, tổ chức Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ:

Cải thiện dân sinh: Tức là chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

của mỗi người dân và cả cộng đồng dân cư, bao gồm các điều kiện về ăn, ở, mặc, học hành, đi lại, bảo vệ sức khỏe, nghỉ ngơi, môi trường sống,…

Nâng cao dân trí: Làm sao cho Nhân dân ai cũng được học hành, được

nâng cao trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật, được hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật, thông tin, được chăm lo lợi ích xã hội: y tế, thể thao, du lịch; chăm lo lợi ích tâm tinh, thực hiện tự do tín ngưỡng; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Phát huy dân chủ: Đảm bảo quyền làm chủ thực sự của Nhân dân trên các

lĩnh vực đời sống xã hội thông qua Nhà nước, các đoàn thể và làm chủ trực tiếp

1.1.2.2 Lực lượng làm công tác dân vận của Đảng

Trong mọi thời kỳ cách mạng, công tác dân vận luôn có tầm chiến lược hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố góp phần quyết định thắng lợi của dân tộc Vậy ai là người có trách nhiệm làm công tác dân vận? Trong bài báo “Dân vận”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh, ) đều phải phụ trách dân vận” [26, tr.699] Điều đó có nghĩa là tất cả cán bộ chính quyền điều phải làm dân vận Đây là đặc điểm công tác dân vận khi Đảng có chính quyền; chính quyền không những cần mà còn có nhiều điều kiện làm công tác dân vận Sau khi nói về trách nhiệm của cán bộ chính quyền, Người đề cập đến trách nhiệm làm công tác dân vận của cán bộ đoàn thể (tức là cán bộ của Đảng), hội viên các tổ chức Nhân dân Như vậy lực lượng làm công tác dân vận bao gồm:

Trước hết là trách nhiệm của Đảng, công tác dân vận là nhiệm vụ chiến lược của Đảng Bởi vì toàn bộ sức mạnh của Đảng không chỉ ở bản thân Đảng

Trang 21

mà còn bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân Đảng là người lãnh đạo cả hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội tiến hành công tác dân vận, vừa là lực lượng trực tiếp vận động, lôi cuốn, tổ chức Nhân dân Các tổ chức Đảng từ Trung ương đến chi bộ phải lấy công tác dân vận và chăm lo lợi ích của quần chúng làm nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình Mọi cán

bộ, đảng viên phải làm công tác dân vận, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và vận động quần chúng thực hiện theo chức trách của mình; khắc phục hiện tượng không muốn làm hoặc không biết làm công tác dân vận

Đảng phải đề ra đường lối, chính sách và phương thức lãnh đạo các giai cấp, tầng lớp Nhân dân một cách phù hợp để đường lối, chính sách của Đảng đi vào lòng dân, khơi dậy và phát huy tính tích cực, sáng tạo của mỗi người dân để mỗi người dân có thể phát huy nội lực, tự giác và quyết tâm đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trước khi thông qua, ban hành, cần trưng cầu ý dân và thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,

đó là: Luôn luôn gần gũi Nhân dân; ra sức nghe ngóng và hiểu biết Nhân dân; học hỏi Nhân dân; lãnh đạo Nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, giáo dục, tổ chức, dựa vào Nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của Nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân” [35, tr.88-89]

Dân vận không chỉ là công việc của Đảng, mà còn là công việc của chính quyền Chính quyền và cán bộ của chính quyền phải coi trọng và tham gia công tác dân vận Theo Hồ Chí Minh, mọi tổ chức, mọi quyền lực, mọi cán bộ nhân viên Nhà nước đều không được quên rằng:

“Nhiệm vụ của Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự Nhân dân Nghĩa là làm đầy tớ cho dân Đã phụng sự Nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò Nghĩa là việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh” [27, tr.88]

Trang 22

Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước làm việc là vì lợi ích của Nhân dân do đó Nhà nước phải là người đại diện trung thành của Nhân dân Mọi cán bộ, nhân viên Nhà nước không thể là “quan cách mạng”, mà phải là “đầy tớ” của Nhân dân, mà đầy tớ “làm việc cho Nhân dân phải làm cho tốt” Phục vụ Nhân dân trở thành điều kiện tồn tại của Nhà nước, của Chính phủ Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy” [26, tr.22]; “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” [25, tr.60]

Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, do đó liên hệ chặt chẽ với dân thuộc về bản chất của Nhà nước Vì vậy, Nhà nước phải làm công tác dân vận Không những vậy, trong điều kiện Đảng cầm quyền thì mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân không chỉ thông qua tổ chức Đảng, đội ngũ đảng viên

mà còn thông qua Nhà nước, chủ yếu được tiến hành thông qua bộ máy Nhà nước Do đó, bộ máy Nhà nước có vai trò quan trọng và trách nhiệm to lớn đối với công tác dân vận

Để Nhà nước thực sự là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, Quốc hội, Chính phủ, HĐND và UBND các cấp phải thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; tạo môi trường thuận lợi cho Nhân dân làm ăn

Bộ máy Nhà nước từ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều phải nâng cao tinh thần phục vụ Nhân dân và ý thức trách nhiệm trước dân, gắn bó chặt chẽ với Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân Mọi cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước đều phải trực tiếp làm công tác dân vận theo chức trách của mình; cán bộ, công chức, viên chức không tự giác trong nhận thức, không coi trọng công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân thì triển khai công tác của Đảng và Nhà nước không thể có hiệu quả Cần có quy chế phục vụ Nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, cải cách hành chính, giảm phiền hà cho dân, góp phần khắc phục tệ hách dịch, mệnh lệnh, cửa quyền Nhà nước còn phải phối hợp và tạo điều kiện để phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể, quyền giám sát của Quốc hội

Trang 23

và HĐND, MTTQ và các đoàn thể với hoạt động của các cơ quan Nhà nước Cán

bộ công chức, viên chức phải thực hành phong cách “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”

Chính quyền làm dân vận bằng các chính sách đúng đắn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng; bằng việc tổ chức điều hành để giải quyết đúng đắn, hiệu quả các vấn đề liên quan đến dân Đồng thời, Chính quyền làm dân vận bằng việc phối hợp với MTTQ, các đoàn thể động viên Nhân dân tham gia các phong trào hành động cách mạng và xây dựng chính quyền Chính sách đúng, cơ chế tốt, khi được phổ biến đến dân, dân hiểu rõ thì tự nó tạo ra sự phấn khởi, hào hứng trong Nhân dân, củng cố lòng tin Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Chính sách và

cơ chế tác động trực tiếp đến đời sống của Nhân dân, đến tư tưởng và hành động của Nhân dân Chính sách đúng, cơ chế không tốt hoặc ngược lại thì không có phương pháp vận động nào có thể làm cho Nhân dân tin tưởng, phấn khởi và hành động có kết quả Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi

Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách

đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu

ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [26, tr.520]

Do đó, cơ quan chính quyền và cán bộ chính quyền phải hiểu rằng chính sách đúng, cơ chế tốt là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của Nhà nước, cơ quan chính quyền để phục vụ Nhân dân và động viên, phát huy sức mạnh của Nhân dân

MTTQ và các đoàn thể có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; phát huy dân chủ nâng cao trách nhiệm công dân của hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối liên hệ mật thiết giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước MTTQ và các đoàn thể là người đại diện cho lợi ích

Trang 24

chung và lợi ích riêng của từng giai cấp, tầng lớp Nhân dân, đồng thời là cầu nối của Đảng, Nhà nước với Nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết Nhân dân với Chính phủ” [26, tr.520] Như vậy, bản chất của đoàn thể là tổ chức của dân, do đó vai trò của MTTQ và các đoàn thể là phải vận động quần chúng bao gồm các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội tham gia vào các tổ chức của mình Công tác vận động quần chúng phải dựa trên chiến lược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công!” [31, tr.607]

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho MTTQ và các đoàn thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; triển khai được chủ trương tới dân, phản ánh được nguyện vọng của Nhân dân tới các cấp bộ Đảng, chính quyền, nâng cao hiệu quả hoạt động, làm cho MTTQ và các đoàn thể thực sự đại diện cho tiếng nói, quyền lợi và nguyện vọng của quần chúng, làm tốt công tác vận động và tổ chức các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia công cuộc đổi mới, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận, đoàn thể và chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, lực lượng làm công tác dân vận không chỉ là lực lượng của MTTQ, các đoàn thể Nhân dân, mà còn là lực lượng của toàn bộ

hệ thống chính trị, đi đầu là các tổ chức Đảng, chính quyền rồi đến MTTQ, các đoàn thể Nhân dân

1.1.3 Phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận và các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác dận vận của Đảng

1.1.3.1 Phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận

Trang 25

Công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, dân tộc, tôn giáo,… hoặc các quyết định thực hiện nghị quyết của Trung ương và tổ chức Đảng cấp trên về công tác dân vận Hình thức quan trọng và chủ yếu để thể hiện một quyết định là văn bản nghị quyết Sau khi có nghị quyết phải xây dựng chương trình hành động

và coi trọng khâu tổ chức, quán triệt nhận thức, tổ chức kiểm tra việc thực hiện

Trong công tác xây dựng Đảng, chi bộ, đảng viên đều phải làm công tác dân vận theo chức trách của mình Chi bộ giáo dục nâng cao năng lực, đạo đức

và tính gương mẫu, tác phong gần gũi quần chúng của cán bộ, đảng viên, trong

đó coi trọng việc bồi dưỡng về mọi mặt văn hóa, chính trị, nghiệp vụ về công tác dân vận và chế độ chính sách đối với cán bộ, đảng viên chuyên trách công tác dân vận của Đảng Chi bộ Đảng có trách nhiệm phân công, đôn đốc và kiểm tra đảng viên làm công tác dân vận

Cấp ủy Đảng phải tăng cường và kiện toàn, đổi mới đội ngũ làm công tác dân vận, cán bộ chủ chốt Mặt trận và đoàn thể ở các cấp là cấp ủy viên hoặc đảng viên phải là người có năng lực, có uy tín và trưởng thành từ phong trào quần chúng Các tổ chức và cấp ủy Đảng có kế hoạch tổng thể về tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân vận; có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ làm công tác dân vận để bổ sung cán bộ cho Đảng và Nhà nước Có chính sách chăm lo để đông đảo cán bộ vận động quần chúng gần dân, sát cơ sở, phát huy người có uy tín trong cộng đồng làm công tác dân vận Chăm lo xây dựng, kiện toàn Ban Dân vận các cấp Ban Dân vận là một ban tham mưu của cấp ủy,

có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở Ở mỗi cấp do ủy viên thường vụ cấp ủy trực tiếp làm Trưởng ban (ở cơ sở là Trưởng Khối dân vận)

Đảng phải dựa vào Nhân dân để tiến hành cuộc vận động đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tổ chức cho Nhân dân tham gia ý kiến nhận xét, phê bình cán

bộ, đảng viên, nhận xét người mà Đảng dự định kết nạp và lựa chọn làm cán bộ lãnh đạo Đẩy mạnh phát triển đảng trong công nhân, nông dân, trí thức, thanh

Trang 26

niên, trong dân tộc thiểu số và đồng bào tín đồ tôn giáo Thông qua đó tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân

- Phương thức Đảng lãnh đạo hệ thống Nhà nước tiến hành công tác dân vận

Thông qua Đảng đoàn Quốc hội, HĐND các cấp, Ban cán sự Đảng chính quyền các cấp, các ngành thông qua đảng viên hoạt động trong các cơ quan chính quyền Nhà nước mà các cấp ủy Đảng lãnh đạo hệ thống chính quyền Nhà nước làm công tác dân vận trên các mặt sau đây:

Đảng lãnh đạo chính quyền thể chế hóa và cụ thể hóa nghị quyết của Đảng về công tác dân vận hoặc liên quan đến Nhân dân thực hiện thành luật, hoặc thành các văn bản pháp quy, tạo điều kiện thuận lợi mọi mặt (vật chất, văn hóa, pháp lý,…) cho Nhân dân làm ăn, sinh sống, học hành,… nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân

Đảng coi trọng lãnh đạo việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân tham gia và kiểm tra công việc Nhà nước, thực hiện QCDC ở cơ sở theo quy trình

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Các cấp chính quyền có cơ chế tiếp dân, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân

Đảng lãnh đạo chính quyền tăng cường mối quan hệ với MTTQ và các đoàn thể, xây dựng và hoàn thiện quy chế phối hợp giữa chính quyền với MTTQ

và các đoàn thể từ Chính phủ đến chính quyền cơ sở trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và giải quyết các vấn đề mà Nhân dân quan tâm Chính quyền các cấp tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và pháp lý để MTTQ và các đoàn thể phát huy vai trò chính trị-xã hội của mình

Đảng coi trọng lãnh đạo và kiểm tra các cấp chính quyền nâng cao năng lực, trình độ văn hóa, nghiệp vụ, nâng cao đạo đức phục vụ Nhân dân của nhân viên và bộ máy chính quyền Xây dựng và hoàn thiện quy chế phục vụ Nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức và bộ máy chính quyền Tiến hành cải cách nền hành chính Nhà nước, kiên quyết bài trừ tệ quan liêu tham nhũng, cửa quyền, ức hiếp Nhân dân

Trang 27

- Phương thức Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể Nhân dân tiến hành công tác dân vận

MTTQ và các đoàn Nhân dân thể hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng,

đó là nguyên tắc Song Đảng tôn trọng tính độc lập về tổ chức và phát huy vai trò, chức năng của MTTQ, các đoàn thể trong hệ thống chính trị, giúp đỡ và ủng

hộ các sáng kiến hoạt động của MTTQ và các đoàn thể, tôn trọng các nguyên tắc của các tổ chức quần chúng Các tổ chức Đảng phải khắc phục hai khuynh hướng không đúng: Buông lỏng lãnh đạo, khoán trắng hoặc bao biện làm thay

Sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ, các đoàn thể trước hết là định hướng chính trị, giúp các tổ chức này xác định mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, xây dựng các nguyên tắc tổ chức, định ra các chương trình hoạt động trong mỗi thời kỳ

Đảng lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội thông qua Đảng đoàn (cấp Trung ương và các tỉnh, thành phố); thông qua cấp ủy viên, đảng viên được Đảng phân công trong MTTQ và các đoàn thể ở các cấp Riêng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có vị trí đặc biệt, là đội hậu bị của Đảng, gắn chặt với công tác xây dựng Đảng, do đó Đoàn do Đảng trực tiếp lãnh đạo

Trong việc lãnh đạo nhân sự đại hội MTTQ và các đoàn thể, việc giới thiệu cấp ủy viên hoặc đảng viên vào chức vụ chủ chốt của MTTQ và các đoàn thể thực sự tôn trọng việc dân chủ bầu cử, tuyệt đối không gò ép Quan tâm lãnh đạo để có cơ cấu với tỷ lệ thích đáng là người ngoài Đảng

Thực hiện tốt chế độ làm việc giữa cấp ủy Đảng với lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể: Định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến về chương trình hoạt động, về tiếp thu những kiến nghị của các đoàn thể, giúp MTTQ và các đoàn thể giải quyết những khó khăn vướng mắc về mặt tổ chức và điều kiện hoạt động

Đảng đối với MTTQ, thực hiện thành nền nếp việc Đảng, Nhà nước cùng bàn và tham khảo ý kiến của MTTQ về những quyết định, chủ trương lớn Qua sinh hoạt MTTQ, Đảng tiếp thu đầy đủ những ý kiến đóng góp của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của mình

Trang 28

1.1.3.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác dận vận của Đảng Một là, việc ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, Đảng phải lấy ý kiến đóng góp của Nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam Đảng ta khẳng định, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và dân tộc, Đảng không

có lợi ích nào khác Xét với tư cách là đại biểu lợi ích, Đảng ta là đảng của Nhân dân, là đảng vì dân, hơn nữa, lợi ích của Nhân dân lao động, của dân tộc thống nhất với lợi ích của giai cấp công nhân Đảng ta cũng khẳng định dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, Đảng lãnh đạo cách mạng trước hết bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết Do đó, việc ban hành mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, trước khi ban hành chủ trương, nghị quyết, Đảng phải lấy ý kiến đóng góp của Nhân dân

Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước Hơn nữa, chúng ta đang thực hiện cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nuớc quản lý, Nhân dân làm chủ Do đó, mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng nhất là những chủ trương, đường lối liên quan mật thiết đến đời sống Nhân dân, tới mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân không những phải được lấy ý kiến của Nhân dân mà còn phải được cụ thể hóa, thể chế hóa thành những chiến lược, chương trình, kế hoạch, chế độ, chính sách của Nhà nước và những quy định cụ thể của pháp luật Những chương trình, kế hoạch, chế

độ, chính sách pháp luật đó có thực sự hướng vào việc phát huy quy làm chủ của Nhân dân, chăm lo lợi ích vật chất, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm các quyền dân sinh, dân chủ, nâng cao dân trí, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Đó là những thước đo quan trọng đánh giá sự quan tâm và mức độ chăm lo của Đảng, Nhà nước đối với Nhân dân

Trang 29

Hai là, các cơ quan nhà nước được bầu cử dân chủ, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; chính sách, pháp luật của Nhà nước vì lợi ích của Nhân dân; đội ngũ cán bộ, công chức phải vì Nhân dân phục vụ

Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyển, Đảng lãnh đạo Nhà nước

cả vể tổ chức bộ máy, cán bộ và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Trên cương vị đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng Nhà nước trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng Đây là nhà nước kiểu mới, khác

về bản chất so với nhà nước dưới các chế độ khác, là nhà nước thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,

vì Nhân dân ( ) tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Chính Nhân dân là chủ nhân của Nhà nước, mọi quyền lực của Nhà nước đều là quyền lực của Nhân dân, thuộc về Nhân dân Điều 3 Hiến pháp quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ

và bảo đảm quyền con người; quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” Điều 6 Hiến pháp chỉ rõ: “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”

Thực hiện đúng và tốt chức năng, nhiệm vụ của mình cũng có nghĩa là các

cơ quan nhà nước đã vì lợi ích của Nhân dân, vì Nhân dân phục vụ, qua đó góp phần củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, đồng thời góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân Ngược lại, nếu thực hiện không đúng, không tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan nhà nước các cấp sẽ trực tiếp góp phần làm giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ, làm cho Đảng, Nhà nước ngày càng xa dân

Trang 30

Thực tế cho thấy, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước là do chính đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện Chúng ta khẳng định, Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết và bằng công tác cán bộ Điều 8 Hiến pháp quy định: “Các

cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu

sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” Do đó, đánh giá mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân ở mức nào, Đảng, Nhà nước có vì dân hay không, có thể thông qua phẩm chất, năng lực, trình độ, ý thức, trách nhiệm của chính đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước các cấp

Ba là, mức độ gần dân, sát dân, nắm bắt tình hình, tâm tư nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên

Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân Ở đâu có quần chúng, ở đó cần có sự lãnh đạo của Đảng và thành lập tổ chức Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” [35, tr.28] Cán bộ, đảng viên “Là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu

rõ, để đặt chính sách cho đúng” [26, tr.309] Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nhất là phải gương mẫu cho mọi người noi theo trong mọi mặt công tác và trong đời sống Nếu không như vậy, thì chẳng những cán bộ, đảng viên không lãnh đạo được dân chúng mà còn không học được dân chúng, chẳng những không nâng cao được nhận thức cho dân chúng,

mà cũng không biết ý kiến của dân chúng Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của Nhân dân lên trên hết, trước hết,

Trang 31

phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyển làm chủ tập thể của Nhân dân Người còn nhấn mạnh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [25, tr.65]

Bốn là, mức độ tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Nước ta là nước dân chủ, dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân, cán bộ, công chức là đầy tớ và công bộc phục vụ dân, bảo vệ dân Bao nhiêu lợi ích là của dân, bao nhiêu quyền hành đều thuộc về dân Quyền hành và lực lượng đều ở trong dân Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn Theo đó, Nhân dân là người giữ vai trò quyết định các vấn đề lớn nhỏ của đất nước, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước

Là Đảng duy nhất cầm quyền, hơn nữa Đảng cầm quyền vì dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của Nhân dân phải được tôn trọng và phát huy

ở mức cao nhất Do đó, quyền làm chủ của Nhân dân chính là một trong những thước đo quan trọng đánh giá mức độ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân

Năm là, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận Nhân dân ngày càng được cải thiện theo sự phát triển của đất nước

Đảng ta khẳng định ngoài lợi ích của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác Mục tiêu lý tưởng của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản Qua 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo

đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận Nhân dân được nâng lên rõ rệt

Trang 32

Cương lĩnh của Đảng khẳng định thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy năng lực sáng tạo của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng giai đoạn và trong từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội Thực tế cho thấy, tình trạng người nghèo ngày càng khó có đủ điều kiện tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ y tế, tình trạng quá tải ở các bệnh viện, tình trạng chạy trường, chạy lớp, quá tải ở những trường mầm non, tiểu học ở những thành phố lớn, tình cảnh nhà ở, việc làm, thu nhập, quyền lợi của công nhân trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước càng cho thấy khoảng cách giữa chủ trương, chính sách với thực tế cuộc sống của Nhân dân có xu hướng ngày càng xa

Sáu là, lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ là biểu hiện sinh động vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng và sức sống của mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân

Có thể khẳng định, đây chính là thước đo cao nhất, chính xác nhất về mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến kiến quốc, mặc

dù đời sống của đại bộ phận Nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, thậm chí rất nhiều người dân cùng con em họ đã phải hy sinh, cống hiến cả xương máu cho cách mạng, nhưng Nhân dân vẫn một lòng theo Đảng, theo cách mạng, sẵn sàng nghe và làm theo lời cán bộ, đảng viên, sẵn sàng nuôi giấu, bảo

vệ cán bộ Đó là vì Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng ở Đảng, tin vào phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, tin vào tương lai tươi sáng khi

Trang 33

đất nước được độc lập, thống nhất Niềm tin ấy được xây đắp từ mối quan hệ bền chặt, gắn bó mật thiết, máu thịt giữa dân với Đảng, Đảng hy sinh phấn đấu cho hạnh phúc của Nhân dân, cho độc lập, tự do của Tổ quốc, Nhân dân đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng Đảng Khi người dân được hưởng quyền tự do dân chủ, quyền và lợi ích thiết thực của người dân được bảo đảm thì niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được khẳng định vững chắc

1.2 Nội dung, phương châm, phương pháp công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Nội dung công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

- Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Chú

trọng công tác phát triển đảng viên ở vùng DTTS, đảm bảo thôn nào cũng có đảng viên viên, xã nào cũng có chi bộ hoặc đảng bộ cơ sở nhằm tăng cường lãnh đạo của Đảng trong các dân tộc Đảng viên là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân,

là lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng ở cơ sở sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của tổ chức Đảng ở cơ sở, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo ở địa phương Các tổ chức Đảng phải lấy việc vận động và chăm lo lợi ích của Nhân dân các dân tộc làm nội dung chủ yếu trong hoạt động; đưa được đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với mọi người dân; đồng thời vận động đồng bào các dân tộc thực hiện tốt các chính sách và pháp luật của Nhà nước Các cấp ủy viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp có chương trình công tác ở cơ sở, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến và trả lời ý kiến chất vấn của cán bộ, đảng viên và Nhân dân

- Nắm vững tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc là trách nhiệm của Đảng, của hệ thống chính trị: Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền, MTTQ

và các đoàn thể Nhân dân phải tăng cường công tác dân vận trong việc tiếp xúc, đối thoại, nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của Nhân dân các dân tộc để tham

Trang 34

mưu cho Đảng lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời những nguyện vọng, bức xúc

chính đáng của Nhân dân Cán bộ làm công tác dân vận của Đảng trong hệ thống

chính trị phải đi sâu, đi sát, tìm hiểu, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, những vấn đề bức xúc chính đáng trong đồng bào các dân tộc ở địa phương Trên cơ sở đó, chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền những giải pháp giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của đồng bào các dân tộc

- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Ban Dân vận nghiên cứu tham mưu Tỉnh ủy chỉ đạo

MTTQ, các đoàn thể phát huy vai trò của mình trong việc phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với các cơ quan nhà nước cùng các lực lượng và tổ chức đứng chân trên địa bàn hướng dẫn hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đặc biệt là vùng DTTS, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Vận động Nhân dân xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp Đi sâu, đi sát

để hiểu tâm tư nguyên vọng của Nhân dân, phát huy, nhân rộng những sáng kiến tích cực của Nhân dân, vừa làm tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, vừa quan tâm, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân Xây dựng MTTQ và các đoàn thể Nhân dân vững mạnh, thu hút được nhiều người tham gia đoàn thể, đảm bảo hoạt động thiết thực, hiệu quả, đáp ứng lợi ích thiết thân của đoàn viên, hội viên, không để đồng bào DTTS bị lôi kéo làm những việc trái pháp luật

- Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số:

Các tổ chức và cấp ủy Đảng có trách nhiệm phát huy dân chủ ở cơ sở, trước mắt khắc phục những trình trạng coi nhẹ dân chủ và dân chủ hình thức; phát huy tốt dân chủ đại diện, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong Nhân dân; lãnh đạo thực hiện tốt QCDC ở cơ sở cả bốn khâu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Tỉnh ủy cần lãnh đạo việc bảo đảm vai trò giám sát của HĐND,

sự phối hợp giữ chính quyền với MTTQ, các đoàn thể Thực hiện các hình thức kiểm tra của Nhân dân, giải quyết những vướng mắt trong Nhân dân theo chủ trương, chính sách, pháp luật Thực sự bảo đảm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân

Trang 35

kiểm tra” những việc có quan hệ đến lợi ích thiết thân của Nhân dân ở cơ sở Đẩy mạnh các hình thức và cơ chế thực hiện dân chủ để Nhân dân có thể lựa chọn những người xứng đáng đại diện cho mình tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Đối với đồng bào DTTS, công tác dân vận của Đảng không chỉ đảm bảo mà phải tạo điều kiện và hướng dẫn để đồng bào thực hiện các quyền đó một cách cụ thể; đề phòng và khắc phục việc làm vi phạm QCDC, sống xa dân, quan liêu, mệnh lệnh với dân

- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Để thực hiện tốt các phong trào, các cuộc vận động ở vùng đồng bào

DTTS, công tác dân vận của Đảng phải tập hợp được quần chúng Nhân dân các dân tộc thành lực lượng xã hội rộng rãi tham gia các phong trào thi đua yêu nước theo tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua” Các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể Nhân dân bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt lợi ích chính đáng của các tầng lớp Nhân dân để xác định nội dung

và lựa chọn cách thức phát động thi đua, nhân rộng các mô hình, điển hình, nêu gương người tốt, việc tốt, chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng trong quần chúng ở vùng DTTS, xây dựng các làng văn hóa, xây dựng mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội với quần chúng, cần nghiên cứu tổ chức, tuyên truyền thực hiện cho phù hợp với từng đối tượng trong vùng đồng bào DTTS

- Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc: Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS, nhất đội ngũ cán bộ dân vận của Đảng, cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vừng vàng, có phẩm chất chính trị

và năng lực, đảm bảo về tiêu chuẩn, cơ cấu dân tộc, trình độ, tính kế thừa giữa các thế hệ Có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng bố trí,

sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ trẻ tuổi, có năng lực nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở,

Trang 36

thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào DTTS

- Phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số: Đồng bào DTTS

sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, lạc hậu nên ít có điều kiện cập nhật thông tin, nhất là thông tin về pháp luật Do đó, Ban Dân vận các cấp phải nghiên cứu, tham mưu đề xuất với các cấp ủy Đảng lãnh đạo chính quyền chỉ đạo các cấp, các ngành và địa phương trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào DTTS trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay

- Công tác dân vận của Đảng gắn với việc phát huy vai trò của người có

uy tín ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Người có uy tín trong đồng bào DTTS

là một bộ phần quần chúng đặc biệt, họ có vai trò vị trí cực kỳ quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả của phong trào, vừa nắm bắt vừa đại diện cho tâm tư tình cảm của quần chúng đồng bào DTTS, vừa là cầu nối giữa Đảng-Nhà nước với Nhân dân Vận động, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào DTTS được Đảng, chính quyền, MTTQ các cấp xác định là nội dung quan trọng,

có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn Người có uy tín bao gồm nhiều thành phần, nhiều dân tộc khác nhau; mỗi người có phạm vi uy tín, mức độ ảnh hưởng và trình độ năng lực, nhận thức khác nhau, nên công tác dân vận của Đảng trong việc vận động, tranh thủ người có uy tín phải được định hướng đúng với quan điểm, đường lối chính sách của Đảng mới đảm bảo phát huy được vài trò của người có

uy tín, do đó, phải được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng các cấp Các cấp ủy Đảng cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng vùng, từng cụm dân cư DTTS để huy động tốt nhất sự tham gia của người có uy tín, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS

Trang 37

Thực tế trong năm năm qua đã khẳng định, người có uy tín trong vùng đồng bào DTTS là lực lượng nòng cốt, có nhiều đóng góp thiết thực trong các phong trào thi đua yêu nước và vận động quần chúng, đồng bào các dân tộc chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là chủ trương, chính sách về công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc; vận động, hướng dẫn đồng bào DTTS tích cực tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh, xóa đói giảm nghèo; xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng, đoàn kết vượt khó, xây dựng gia đình văn hóa, thôn, khu phố văn hóa; phòng chống tệ nạn xã hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh

1.2.2 Phương châm công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Để triển khai thực hiện công tác dân vận ở vùng đồng bào DTTS, gắn với việc thực hiện các chính sách dân tộc đạt kết quả, cán bộ làm công tác dân vận của Đảng trong hệ thống chính trị cần phải nắm vững và thực hiện tốt phương châm công tác vận động đồng bào DTTS là “Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” [7, tr.8]

- Cán bộ làm công tác dân vận phải chân thành: Người cán bộ làm công

tác dân vận phải là người tâm huyết, chân thành, gần gũi với đồng bào Khi triển khai công việc và tiếp xúc với đồng bào DTTS phải thể hiện sự trung thực, cởi

mở, chân tình, vừa chủ động, linh hoạt, lại vừa ân cần, không tự đặc mình cao hơn người khác Phải thật sự tin tưởng, quý trọng đồng bào, xác định rõ thái độ

“vì Nhân dân phục vụ” Trong công tác vận động đồng bào DTTS, người cán bộ phải nghe được dân nói, nói để dân hiểu, làm để dân tin

- Tiến hành công tác dân vận phải tích cực: Công tác dân vận ở vùng

đồng bào DTTS và thực hiện chính sách dân tộc là một việc làm khó khăn; để hoàn thành nhiệm vụ, người cán bộ làm công tác dân vận phải hăn hái, nhiệt tình, chủ động, sáng tạo, không ngại khó khăn gian khổ Khi gặp khó khăn

Trang 38

không nao núng mà phải bình tĩnh, sáng suốt, đề xuất ý kiến với lãnh đạo cấp

ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ngành, Mặt trận, đoàn thể để tìm giải pháp khắc phục; đồng thời bàn bạc, trao đổi với đồng bào để tìm giải pháp khắc tốt nhất, vận động đồng bào thực hiện Như vậy mới có thể triển khai, thực hiện thành công các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

- Công tác dân vận cần phải thận trọng: Làm bất kỳ việc gì cũng cần cân

nhắc, tính toán nhiều mặt kỹ lưỡng, bảo đảm đã làm là đạt được kết quả Tốt nhất là làm thử trước để lấy thực tế thuyết phục, có kinh nghiệm để nhân ra diện rộng Nên chọn nơi khó làm trước để xây dựng lòng tin là có thể làm được Thận trọng đòi hỏi về cách xử lý vấn đề không thể phiêu lưu, làm ẩu, làm bừa; đồng thời cũng không chấp nhận sự nhút nhát, sợ sệt, không dám quyết đoán, bỏ lỡ thời cơ Thận trọng có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác dân vận, đừng để “sai một ly, đi một dặm”, “cái sẩy nảy cái ung” gây ra hậu quả xấu, khó lường

- Thực hiện công tác dân vận phải kiên trì: Đối tượng vận động là đồng bào

DTTS, trình độ phát triển nhiều mặt còn thấp; tâm lý, tư tưởng, nhu cầu, lợi ích có những đặc điểm riêng Vì vậy, tiến hành mọi việc lớn nhỏ đều phải nhẫn nại và biết chờ đợi Nếu hấp tấp, vội vã không tránh khỏi hỏng việc và rất khó xây dựng được lòng tin Tâm lý chung của đồng bào rất nhạy cảm với những hành vi thô bạo, ép buộc phải làm những việc mà “cái bụng chưa ưng” Vì thế làm công tác dân vận phải kiên trì Tuy nhiên, kiên trì không phải là cứ ngồi đấy chờ đợi Trái lại phải tích cực bám sát quần chúng, bằng nhiều cách khéo léo tác động để giúp bà con thông suốt tình hình, nhiệm vụ, hăng hái thực hiện công việc do Đảng đề ra, lợi nhà, ích nước

- Khi tiếp xúc với đồng bào và giải quyết công việc phải tế nhị: Đồng bào

DTTS cư trú ở nhiều địa bàn khác nhau, mỗi dân tộc có bản sắc riêng; vì vậy, khi tiếp xúc trao đổi với đồng bào, phải bình tĩnh, nhã nhặn, nói năng cần rõ ràng, dễ nghe, dẽ hiểu, chủ yếu là tuyên truyền giải thích, động viên, thuyết phục, không nên chê bai, không dùng những từ ngữ làm đồng bào mặc cảm; tôn trọng phong

tục tập quán, tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của đồng bào

Trang 39

- Hiệu quả công tác phải vững chắc: Công tác dân vận không thể làm nhất

thời kiểu “phong trào” mà phải làm việc gì, được việc nấy, làm đến đâu, được đến đấy, không “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi, đuôi chuột”, kết quả công tác phải mang lại hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên, cũng không thể vì chắc chắn mà để công việc trì trệ, kéo dài Không dám tiến nhanh, tiến mạnh; vững chắc là đòi hỏi hiệu quả công tác đạt được phải tạo ra cơ sở cho sự phát triển

1.2.3 Phương pháp công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Để nâng cao hiệu quả công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào DTTS, cán bộ làm công tác dân vận của Đảng trong hệ thống chính trị cần phải nghiên cứu và vận dụng một số phương pháp sau:

- Tìm hiểu và nắm vững phong tục, tập quán sinh hoạt và tổ chức xã hội truyền thống của từng dân tộc

Tìm hiểu phong tục, tập quán sinh hoạt của từng dân tộc đề ra chủ trương, nhiệm vụ công tác đúng đắn, sát hợp, có tính khả thi Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán khác nhau Có hiểu rõ, hiểu sâu phong tục, tập quán của từng dân tộc thì mới dễ dàng, gần gũi với đồng bào, có thể đề ra và thực hiện tốt nhiệm vụ công tác dân tộc trên cả hai mặt xóa bỏ cái cũ, lạc hậu và xây dựng cái mới, tiến bộ

Tìm hiểu về tổ chức xã hội truyền thống trong từng dân tộc để kế thừa và phát huy những nhân tố cần thiết và có tác dụng tích cực Trong vùng đồng bào DTTS, tổ chức xã hội truyền thống còn có vai trò quan trọng và được tin cậy ở mức độ nhất định Cho nên khéo léo sử dụng, phát huy vai trò tổ chức xã hội truyền thống trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một yêu cầu và biện pháp công tác quan trọng

- Quán triệt thực hiện tốt tác phong công tác dân vận: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân” [7, tr.8]

Trọng dân: Tôn trọng quyền dân chủ của Nhân dân, không được phiền nhiễu

Nhân dân; tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng, phong tục tập quán

Trang 40

của đồng bào Người cán bộ phải có thái độ chân thành, hướng dẫn và giúp đỡ Nhân dân, không thành kiến phân biệt đối xử với Nhân dân Khi giao tiếp với đồng bào các dân tộc phải thể hiện đầy đủ sự bình đẳng và quý trọng đối với đồng bào

Gần dân: Phải có cách tiếp cận tốt đối với đồng bào DTTS, thái độ, tác

phong, lối sống phải gần gũi với dân, không được xa dân, cách biệt với dân, thực hiện “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng của đồng bào”; tích cực tham gia mọi hoạt động của Nhân dân địa phương

Hiểu dân: Phải thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, phải nghe

được tiếng nói thực của đồng bào DTTS địa phương công tác, chia sẽ với đồng bào khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống

Học dân: Người cán bộ phải khiêm tốn, biết lắng nghe, học hỏi đồng bào

DTTS, không được tự cho mình cái gì cũng giỏi, cái gì cũng biết

Có trách nhiệm với dân: Thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của

đồng bào DTTS và coi đó là trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên Phải đoàn kết chặt chẽ với Nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc Thực hiện nghiêm việc công khai hóa các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư… và kế hoạch thực hiện để đồng bào biết và tham gia giám sát, quản lý

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.1 Xuất phát từ tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đến mọi mặt đời sống của Nhân dân cả nước, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số

Quy luật kinh tế thị trường có tác động giải phóng nguồn tiềm năng con người, tiềm năng của đất nước, thúc đẩy kinh tế, xã hội cạnh tranh, phát triển Song mặt khác cũng tác động làm cho phân hóa giàu nghèo và gây ra nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội phức tạp Điểm khác nhau giữa kinh tế thị trường nói chung và kinh tế thị trường định hướng XHCN của chúng ta là ở chỗ: Bên cạnh việc vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường để xây dựng cơ chế, chính sách, dân chủ hóa xã hội

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Ngọc Am - Vũ Thị Thùy Linh (2013), Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới
Tác giả: Vũ Ngọc Am, Vũ Thị Thùy Linh
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
[2] Ban Dân vận Trung ương (2014), Cẩm nang công tác Dân vận, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang công tác Dân vận
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
[3] Ban Dân vận Trung ương (2014), Tập bài giảng về công tác dân vận ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về công tác dân vận ở cơ sở
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
[4] Ban Dân vận Trung ương (2014), Nghiệp vụ công tác của cán bộ dân vận, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ công tác của cán bộ dân vận
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
[5] Ban Dân vận Trung ương (2014), Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong thời kỳ mới
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
[6] Ban Dân vận Trung ương (2014), Tập bài giảng về công tác dân vận, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về công tác dân vận
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
[7] Ban Chấp hành Trung ương (2003), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương Khóa IX“Về công tác dân tộc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương Khóa IX "“Về công tác dân tộc
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2003
[8] Ban Chấp hành Trung ương (2010), Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 về ban hành “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 về ban hành "“"Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2010
[9] Ban Chấp hành Trung ương (2015), Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 về Tăng cường và đổi mới công tác Dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 về Tăng cường và đổi mới công tác Dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2015
[10] Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Ninh Thuận lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Ninh Thuận lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận
Năm: 2015
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 8B - NQ/TW ngày 27/3/1990 về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 8B - NQ/TW ngày 27/3/1990 về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1990
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
[16] Trịnh Xuân Giới (2005), Cán bộ dân vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán bộ dân vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ
Tác giả: Trịnh Xuân Giới
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
[17] Nguyễn Văn Hùng (2005), Tác phẩm dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi toả sáng, soi đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi toả sáng, soi đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
[18] Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2013), Đề cương chuyên đề bồi dưỡng công tác dân vận (Dành cho Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Dân vận các tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương và tương đương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương chuyên đề bồi dưỡng công tác dân vận (Dành cho Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Dân vận các tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương và tương đương)
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2013
[19] Phạm Huy Hoàng (2015), “Tư tưởng Hồ chí Minh về công tác dân vận và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc”, Luận văn tiến sỹ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư tưởng Hồ chí Minh về công tác dân vận và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc”
Tác giả: Phạm Huy Hoàng
Năm: 2015
[20] Hà Thị Khiết (2013), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần chúng trong tình hình mới”, Tạp chí Dân vận, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần chúng trong tình hình mới
Tác giả: Hà Thị Khiết
Nhà XB: Tạp chí Dân vận
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w