NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN Ở NGHỆ AN
Điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội
*Về điều kiện tự nhiên:
Nghệ An là tỉnh lớn nhất Việt Nam, thuộc vùng Bắc Trung Bộ, với diện tích 16.487 km², chiếm 5% diện tích cả nước Tỉnh nằm ở tọa độ từ 18°33′ đến 19°25′ vĩ độ bắc và 102°53′ đến 105°46′ kinh độ đông Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, Lào ở phía Tây, Hà Tĩnh ở phía Nam, và Biển Đông ở phía Đông Với vị trí địa lý chiến lược, Nghệ An là trung tâm văn hóa và lịch sử, nơi giao thoa của nhiều luồng văn hóa khác nhau Địa hình Nghệ An đa dạng với 2/3 diện tích là đồi núi và 1/3 là đồng bằng ven biển, trong đó đồi núi chiếm 83% diện tích tự nhiên Tỉnh có 6 huyện miền núi cao và 4 huyện miền núi thấp, tạo nên sự phong phú về cảnh quan và văn hóa.
Dãy Trường Sơn ở phía Tây và Tây Nam Việt Nam tạo nên địa hình hiểm trở với đỉnh Pu-Lai-Leng cao nhất đạt 2711m, cùng nhiều đỉnh khác như Pù Hoạt (2452m) và Pù Mát (1841m) Vùng trung du và đồng bằng có ít núi cao, với các ngọn lèn cao khoảng 200-300m do địa hình không liên tục Ngoài ra, hệ thống núi đá vôi ở Nghệ An cũng góp phần làm phong phú thêm cảnh quan địa lý nơi đây.
Nghệ An sở hữu hệ thống núi non dày đặc và phong phú, tạo nên nhiều hang động nổi tiếng như Hang Bua, Thẩm Ồm, Hang Mặt Trắng và Hang Dơi.
Tài nguyên thiên nhiên phong phú của khu vực bao gồm nhiều nguồn động thực vật đa dạng và trữ lượng gỗ lớn với nhiều loài gỗ quý hiếm như lim, sến táu, đinh hương, lát và trai Ngoài ra, còn có nhiều loài gỗ thông dụng như tre, mét, luồng, song, mây, gai và giang Chính từ đặc điểm tự nhiên này, tín ngưỡng thờ sơn thần đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng.
Vùng đồng bằng, mặc dù không rộng lớn như những đồng bằng miền Bắc, nhưng vẫn hình thành nên những cánh đồng lúa màu mỡ và phì nhiêu, tiêu biểu như ở Yên Thành, Diễn Châu, Nam Đàn, Hưng Nguyên và Nghi Lộc.
Nghệ An nổi bật với nhiều vùng thấp trũng và hệ thống sông ngòi phong phú, trong đó sông Lam là lớn nhất với 86 phụ lưu Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 60-70% tổng lượng dòng chảy hàng năm Tỉnh cũng có bờ biển dài 82km và vùng biển rộng 4.229 hải lý vuông, với nhiều cửa biển như Cửa Cờn, Cửa Lò và Cửa Hội Địa hình đa dạng với biển, sông và núi tạo điều kiện thuận lợi cho người dân Nghệ An phát triển nghề khai thác tự nhiên và nông nghiệp trồng lúa nước.
Hệ thống sông ngòi dày đặc ở Nghệ An không chỉ gắn liền với nghề nghiệp của người dân mà còn thúc đẩy tín ngưỡng thờ thủy thần phát triển Tài nguyên rừng phong phú cũng tạo điều kiện cho kiến trúc chạm khắc gỗ, khiến nhiều công trình ở đây chủ yếu được xây dựng bằng gỗ hoặc tre, mét, thường nằm ở lưng chừng núi Ngay cả ở vùng đồng bằng, các di tích cũng thường tựa vào sườn đồi Các đồ tế khí như hương án, hạc, lọ hoa cũng được làm từ gỗ Hệ thống sông ngòi không chỉ bồi đắp đồng bằng mà còn cung cấp nước, thủy sản và hỗ trợ vận tải.
Sông không chỉ là nguồn sống mà còn là biểu tượng văn hóa, cội nguồn và nguồn cảm hứng sáng tạo cho văn hóa xứ Nghệ Các công trình văn hóa tâm linh thường được xây dựng gần sông hoặc hướng ra sông để thu hút tinh túy và linh khí của đất và nước Địa hình nhiều sông ngòi cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển vật liệu xây dựng di tích qua đường sông, giúp các di tích miền xuôi được làm bằng chất liệu tự nhiên như gỗ, tranh tre, nứa mét.
Khí hậu Nghệ An mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, thường xuyên xuất hiện nắng nóng với nhiệt độ có thể đạt tới 40-41 độ C và độ ẩm thấp Gió phơn Tây Nam, hay còn gọi là gió Lào, từ dãy Trường Sơn thổi vào, mang theo không khí nóng và khô, dẫn đến tình trạng hạn hán và mưa đá, mưa giông gây thiệt hại mùa màng Theo sách Nghệ An chí, từ tháng 3 trở đi, gió Nam bắt đầu thổi mạnh, kèm theo hiện tượng sấm chớp, báo hiệu sự thay đổi thời tiết khi gió đến, tạo ra âm thanh như sấm vang trong rừng rú và nhà cửa.
Mùa thu kéo dài từ tháng 8 đến tháng 10, mang đến khí hậu mát mẻ nhưng cũng là thời điểm của mưa bão Trong mùa này, có thể xảy ra từ 10 đến 12 cơn bão nhiệt đới, gây ra lũ lụt ở đồng bằng, trung du và lũ quét ở miền núi cao Những cơn bão lớn không chỉ gây thiệt hại cho mùa màng, gia súc, gia cầm mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng con người.
Mùa Đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 1 dương lịch, với thời tiết lạnh rét, có khi xuống đến 8-10 độ C Trong những đợt rét đậm, rét hại, nông nghiệp và chăn nuôi thường bị thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng đến mùa màng, cây cối, gia súc và gia cầm.
Mùa Xuân từ tháng 12 đến tháng 3 dương lịch năm sau, mùa này khí hậu ấm áp nhưng lại ẩm ướt, nhiều sâu bệnh
Sách Nghệ An kí có chép về về tiết trời Nghệ An:
“Trời châu Hoan và châu Diễn có nhiều sự lạ Đừng nói đến việc đường xá xa xôi
Mùa hạ đến thì gió nóng như lửa
Mùa thu qua mưa lấm tấm hạt vừng
Trời đã tháng mười sông vẫn còn lụt….”[16; 31]
Khí hậu khắc nghiệt ở Nghệ An đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế, xã hội và tâm linh của cư dân nơi đây Để đối phó với những điều kiện khó khăn, người dân đã phát triển hiện tượng sùng bái tự nhiên, tạo ra các vị thần như thần mây, thần mưa, thần sấm, thần chớp như một cách để tìm kiếm sự an ủi tinh thần Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của khí hậu, người dân Nghệ An rất cẩn trọng trong việc lựa chọn nguyên vật liệu xây dựng, ưu tiên sử dụng gỗ lim cho các công trình như nhà ở, đình, đền, chùa nhờ vào độ bền và khả năng chịu đựng tốt của loại gỗ này.
*Về đặc điểm dân cư:
Nghệ An là một tỉnh đa dạng về dân tộc với sự hiện diện của các nhóm như người Kinh, người Thái, và người Mường Theo thống kê năm 2014, tỉnh này có dân số khoảng 3.037.000 người, bao gồm 6 tộc người thuộc 4 nhóm ngôn ngữ khác nhau: người Việt và Thổ thuộc nhóm Việt – Mường, người Thái thuộc nhóm Tày Thái, người Khơ Mú và Ơ Đu thuộc nhóm Môn Khơ Me, cùng với người Mông thuộc nhóm Mèo – Dao.
Tộc người Việt Mường (Kinh) là nhóm dân tộc đông nhất tại tỉnh Nghệ An, chiếm gần 86,6% dân số và cư trú rộng rãi khắp địa bàn Xuất phát từ tiểu chủng Nam Á Anh-đô-nê-điêng, người Mường đã hiện diện trên mảnh đất này từ rất sớm trong lịch sử Qua quá trình xây dựng và gìn giữ đất đai, người Mường đã từng bước cải tạo và phát triển quê hương của mình.
17 chinh phục tự nhiên, biến những mảnh đất hoang vu thành những vùng đất màu mỡ, trù phú
Người Thổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, sinh sống chủ yếu ở miền tây Nghệ An, bao gồm các huyện Nghĩa Đàn, Qùy Hợp, Tân Kỳ, Con Cuông và Tương Dương Họ được hình thành từ ba bộ phận: người Việt cổ, một số người Kinh di cư lên miền núi do xã hội loạn lạc và bị Kinh hóa, cùng với các luồng di cư của người Mường và người Kinh từ Thanh Hóa Kinh tế của người Thổ chủ yếu dựa vào nương rẫy, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản, thu lượm lâm sản và săn bắn.
Quan niệm về thần và tín ngƣỡng thờ thần
Theo Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, tín ngưỡng được định nghĩa là "lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa."
Theo Nguyễn Minh San trong "Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam," tín ngưỡng được hiểu là biểu hiện của ý thức về hiện tượng thiêng, một sức mạnh do con người tưởng tượng hoặc suy tôn Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 định nghĩa tín ngưỡng là niềm tin của con người, thể hiện qua các lễ nghi gắn liền với phong tục tập quán truyền thống, nhằm mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
Tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo của mỗi cá nhân, trong đó tín ngưỡng thờ thần thể hiện sự tin tưởng của con người vào các đấng thiêng liêng và quyền năng.
Tín ngưỡng của con người tồn tại dưới mấy dạng cơ bản sau:
- Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở của giới tự nhiên và con người
- Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là tín ngưỡng tôn thờ các yếu tố lực lượng tự nhiên vũ trụ, động vật, thực vật
Tín ngưỡng sùng bái con người là hình thức tôn thờ những cá nhân sau khi họ qua đời, có thể là những nhân vật có thật trong lịch sử hoặc là các nhân vật trong truyền thuyết.
Tín ngưỡng thờ thần bao gồm việc tôn thờ các nhân thần có nguồn gốc cụ thể, cũng như các hiện tượng tự nhiên và sự vật Tín ngưỡng này xuất phát từ lòng tin, sự sợ hãi và lòng ngưỡng mộ của con người đối với thế giới hữu hình và vô hình Trong thế giới đó, các vị thần linh có thể theo dõi, giúp đỡ và phù trợ cho con người, đồng thời cũng có khả năng trừng phạt những ai mang tâm địa xấu.
Theo PGS Trần Viết Thụ trong bài viết đăng trên Chuyên san Khoa học Xã hội Nhân văn Nghệ An, có nhiều quan niệm và phân loại khác nhau về “thần” Nhìn chung, các thần là những nhân vật siêu trần, có quyền uy và phép lạ, được con người tôn sùng hoặc sợ hãi Thế giới siêu nhiên, bao gồm các thần, phản ánh hình ảnh của thế giới hiện thực Ngoài yếu tố siêu nhiên và quyền uy, các thần còn là sự khúc xạ đặc điểm của con người trong cuộc sống thực.
Thời kỳ nguyên thủy, các vị thần được hình thành từ quan niệm vạn vật hữu linh, thể hiện những lực lượng siêu nhiên có ảnh hưởng đến con người Hoạt động của các thần thường mang tính chất vô tư, chất phác và bao dung Tín ngưỡng thờ thần lúc bấy giờ chủ yếu thể hiện qua tín ngưỡng tô-tem và thờ vật tổ, phản ánh lòng biết ơn của các thị tộc, bộ lạc đối với những hiện tượng và sự vật có lợi cho cuộc sống, cũng như nỗi sợ hãi trước những điều không hiểu biết.
Trong tín ngưỡng nguyên thủy, các vật tổ như chim Lạc, rắn, rồng, hổ được tôn sùng để tránh những điều có hại Khi xã hội phát triển, của cải dư thừa và sự phân hóa trong thị tộc dẫn đến sự hình thành Nhà nước, các lãnh đạo như Tù trưởng cần có sức mạnh siêu nhiên để củng cố quyền lực Tín ngưỡng vật tổ dần được thay thế bằng việc thờ phụng các hiện tượng tự nhiên vĩ đại như núi, sông, sấm chớp, dẫn đến sự ra đời của các vị thần như Thần núi, Thần sông, Thần biển, và các tinh linh như Mộc tinh, Thạch tinh, Thủy tinh Khi xã hội bộ lạc phát triển, những vị thủ lĩnh và anh hùng xuất hiện, được người dân phong thần sau khi qua đời và lập miếu, đền thờ để tôn vinh.
Khi xã hội phân chia giai cấp, các vị thần cũng được phân loại thành ba hạng: thượng đẳng, trung đẳng và hạ đẳng, thông qua các sắc phong đẳng trật Việc này không chỉ thể hiện quyền uy của nhà nước phong kiến mà còn khẳng định vị thế của vua, người tự xưng là thiên tử, khi ban sắc cho các thần Nhiều vị thần được sắc phong nhiều lần trong các triều đại khác nhau, thậm chí trong cùng một ngày, nhằm tăng cường giá trị và uy tín của họ trong mắt nhân dân.
Thượng đẳng thần là những vị thần linh thiêng, nổi bật với sự tích huyền bí và khả năng che chở, bảo hộ cho con người Các thần như Cao Sơn Cao Các, Tứ vị thánh nương và Bạch y công chúa được coi là những biểu tượng của sức mạnh và sự bảo vệ trong tín ngưỡng dân gian.
Các vị nhân thần thường là những bậc đế vương, tướng lĩnh lỗi lạc và trấn thủ lừng danh như Vua Mai Hắc Đế, An Dương Vương, Lý Nhật Quang và Hoàng Tá Thốn Những vị thần này thường được phong từ trung đẳng lên thượng đẳng và thượng thượng đẳng.
Trung đẳng thần là những vị thần được nhân dân tôn thờ từ lâu, có công lao lớn đối với đất nước và nhân dân, hoặc là những vị thần linh dị thường xuyên phù hộ cho dân.
Hạ đẳng thần là những vị thần có sự tích chưa rõ rệt Cũng có thần khi mới phong lần đầu thì phong hạ đẳng
Các vị thần được phong là những nhân vật công minh, chính trực, có khả năng ban phúc huệ và bảo vệ con người Tuy nhiên, để đạt được những điều mong muốn, con người cũng cần có niềm tin vững chắc.
Các vị thần thường được thờ ở hai dạng:
Trong các ban thờ gia đình, việc thờ cúng thần Thổ Công, Thổ Địa và Thần Tài rất quan trọng, vì những vị thần này bảo vệ gia đình khỏi yêu ma và giúp gia đình phát triển về tài chính, sức khỏe và bình an Ngoài ra, trong cộng đồng làng, người dân thường thờ các vị phúc thần và thần thành hoàng, như các tướng tài có công với đất nước, các vị khai cơ, tổ sư làng nghề, cũng như các thần Sông, thần Núi, thần Cây, những vị thần này có ảnh hưởng rộng lớn hơn, được cả làng, tổng, xã và thậm chí cả nước tôn thờ.
Và nhờ uy linh và sự linh thiêng của thần mà nhân dân được che chở, bảo vệ và phù trì.
Các hình thái của tín ngƣỡng thờ thần
Thiên thần là những vị thần đại diện cho tầng trời, cư ngụ tại thiên đình với các hình tượng như thần gió, thần mưa và thần sấm Trong số các vị thần được thờ cúng phổ biến, nổi bật nhất là Liễu Hạnh công chúa, tiếp theo là Song đồng - Ngọc nữ, và các vị như Đế Thích, Văn Xương đế quân, Đế Thích thần quân.
Một số nhân vật như Giáng Tiên, Liễu Hạnh, và Song đồng ngọc nữ được nhân hóa thành những con người cụ thể với lai lịch rõ ràng, nhưng vẫn mang đậm yếu tố huyền thoại trong hành trạng của họ.
Liễu Hạnh công chúa, con của Lê Thái công ở làng An Thái, đã có một xuất thế rõ ràng Khi vợ ông mang thai, bệnh tật ập đến, và một đạo sĩ đã giúp ông mơ thấy thiên đình, nơi công chúa Quỳnh Hoa bị đày xuống trần gian vì phạm lỗi Sau khi tỉnh dậy, vợ ông sinh ra Giáng Tiên Khi lớn lên, Giáng Tiên được gả cho Đào Lang, và họ sống hạnh phúc với hai con cho đến khi nàng qua đời Trở về thiên cung, Giáng Tiên vẫn nhớ cuộc sống tự do dưới trần gian và xin Ngọc Hoàng cho tái hợp với gia đình Từ đó, nàng sống cuộc sống tự do, thường xuyên du ngoạn khắp nơi, trừng phạt kẻ làm lỗi nhưng cũng giúp đỡ những người gặp nạn.
Còn Song đồng Ngọc nữ thì theo sách “ Kho tàng truyện cổ Việt Nam” của
Gs Nguyễn Đổng Chi đây là hai vị thần vốn là con gái vua Trần Thái Tông
Trong giai đoạn 1218 - 1277, hai chị em Bảo Nương và Ngọc Nương đã đóng góp quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược Bằng kế sách mỹ nhân, hai nàng đã dẫn dụ một cánh thủy quân của địch vào vị trí then chốt, giúp quân nhà Trần tiêu diệt kẻ thù Nhờ những công lao to lớn này, Bảo Nương và Ngọc Nương được phong tặng danh hiệu Song Đồng Ngọc.
Nữ tôn thần, được thờ tại đền làng Đa Mỗi ( nay thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc
Hai nàng tiên nữ trên Thiên đình, vì làm vỡ chén ngọc, đã bị Ngọc Hoàng giáng xuống trần gian Trong thời gian ở hạ giới, họ tận tâm làm việc nghĩa, cứu giúp dân lành và trừ khử tai ương, dịch bệnh Khi hết hạn, hai nàng được Ngọc Hoàng gọi về trời, và để tưởng nhớ công đức của họ, người dân đã lập đền thờ, ghi nhớ những gì mà hai vị thần đã làm cho cuộc sống của họ.
Tại một số địa điểm, người dân thờ các hiện tượng tự nhiên kỳ lạ như ngọn lửa "Thiên tôn thiên thần" ở đền Câu, xã Nam Xuân, và tiếng sấm "Minh uy lôi trấn đại vương" ở đền Độc Lôi, xã Nam Giang Đặc biệt, tại Đền Câu, có truyền thuyết về ngài "Thiên tôn thiên thần" từ thời vua Lý Anh Tông (1140-1162), khi một ngọn lửa lớn bùng lên trên đỉnh núi Lân và kéo dài ba ngày ba đêm Người dân phát hiện và sau đó, thần hiện ra, tự xưng là "Vị uy linh dũng liệt Thiên tôn thiên thần", khuyến khích họ lập đền thờ để cầu nguyện và nhận sự cứu giúp trong những lúc khó khăn Vào thời Trần Thánh Tông, dân xã Nộn Giang đã xây dựng đền thờ để tôn vinh ngài.
Vào năm 1290, quan tri huyện Nam Đường đã nhận ra vị thành hoàng linh thiêng, người đã có nhiều công ơn đối với dân làng, đặc biệt trong những năm thiên tai và địch họa Dân làng thường đến cầu xin, và vị thần này luôn linh ứng Nhận thấy điều đó, quan huyện đã lập bản tấu trình lên triều đình, dẫn đến việc nhà vua ban sắc phong thần.
Vào năm 1424, Lê Lợi đã đóng quân tại thành Lục Niên và cầu nguyện tại đền để nhận sự phù trợ từ thần Sau khi giành chiến thắng, vua Lê Thái Tổ đã phong thần là Thượng đẳng thần Đến năm 1482, vua Lê Thánh Tông đã nâng cấp phong thần lên Thượng thượng thượng đẳng tối linh tôn thần Từ đó, hàng năm vào tháng 6 âm lịch, triều đình tổ chức cấp phát tiền và ban sắc theo nghi thức quốc gia Việc thờ cúng thần đã trở thành một phần quan trọng trong văn hóa và tín ngưỡng của người dân.
28 thiên tôn thần thể hiện bản chất của tín ngưỡng thờ thần lửa, từ đó con người đã sáng tạo và tưởng tượng ra nhiều thần thoại dựa trên các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống.
- Thần tích đền Thần (xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu) còn ghi về sự tích của thần “Mộc lôi linh ứng” như sau:
Vào trưa ngày 14 tháng 5 năm Mậu Thân 1548, dưới triều vua Lê Trang Tông, một dải lụa điều từ trên trời bay từ Nam ra Bắc và hạ xuống một gò đất, nơi xuất hiện một bãi máu Dân làng coi đây là điềm lành và lập miếu thờ, từ đó cuộc sống của họ gặp nhiều may mắn Tuy nhiên, sau bốn năm, hạn hán kéo dài khiến dân làng rơi vào khó khăn Một ngày, giữa trời quang đãng, tiếng sét vang dội làm mọi người sợ hãi, cây đại thụ tại Đò Lỗi bị đánh gãy và cũng có máu xuất hiện Dân làng cho rằng đây là điềm thiêng, nên đã rước linh hồn Thần Sét về thờ tại đền và suy tôn với danh xưng “Mộc lôi linh ứng.”
Cuối cùng, những hiện tượng tự nhiên mà con người tôn thờ và ngưỡng mộ có thể chỉ đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng và sự thần thánh hóa.
Nhiên thần là những vị thần có nguồn gốc từ thiên nhiên như thần núi, thần đá, thần sông và thần cây Loại hình thờ cúng này rất phổ biến tại Nghệ An.
Các thần thuộc nhóm Thủy Thần như Hà Bá, Long Vương và Thủy Tinh thường được thờ cúng tại các khu vực ven biển và ven sông, suối như Yên Thành, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu và Hoàng Mai.
Các thần thuộc nhóm Sơn Thần (như Cao Sơn Cao Các, Mạc Sơn Mạc Các, thần đá, thần núi) và Mộc Thần (thần cây) được thờ cúng chủ yếu ở các vùng miền núi hoặc gần núi, bao gồm Yên Thành, Thanh Chương, Diễn Châu, và Quỳnh Lưu.
Nghệ An nổi bật với sự đa dạng của các thần tích liên quan đến nhiên thần, trong đó một vị thần có thể có nhiều thần tích khác nhau, đôi khi rõ ràng nhưng cũng có lúc mơ hồ Điều này phụ thuộc vào trí tưởng tượng và sự sáng tạo của người dân trong lao động, sản xuất và sinh hoạt văn hóa Việc thờ cúng các hiện tượng tự nhiên không chỉ mang tính chất chung mà còn được cụ thể hóa Chẳng hạn, thần Cao Sơn Cao Các được biết đến với hai vị thần Cao Hiển và Cao Các, là tướng của Đinh Bộ Lĩnh Cao Sơn, tên thật là Cao Hiển, quê ở Bảo Sơn, Trung Quốc, đã đậu Tiến Sỹ ở tuổi 29 và được thăng chức Thượng Thư, Đại Thừa tướng, trước khi được nhà Tống cử làm An.
Nguồn gốc của tín ngƣỡng thờ nhiên thần
Theo Đào Duy Anh, tổ tiên ta trong thời kỳ thượng cổ đã theo đuổi tín ngưỡng đa thần giáo, tin rằng mọi hiện tượng và lực lượng tự nhiên như trời, đất, mưa, gió, núi, sông đều có sự hiện diện của thần linh.
Tín ngưỡng thờ thần xuất phát từ lòng tin của con người vào thế giới vô hình, nơi có các thần linh hỗ trợ cho cuộc sống của họ Với quan niệm "vạn vật hữu linh", mọi sự vật đều mang linh hồn, dẫn đến việc con người từ sự hoài nghi về hiện tượng tự nhiên đã chuyển sang thần hóa và sùng bái chúng Thái độ đối với các thế lực thiên nhiên vừa thể hiện sự sợ hãi, vừa là lòng biết ơn và tôn thờ, với sự hiện diện của thần linh ở khắp mọi nơi như thần sông, thần núi, thần cây, thần biển và thần đất.
Ngay từ những ngày đầu của nền nông nghiệp, con người chủ yếu sống dựa vào trồng lúa và khai thác tài nguyên thiên nhiên như săn bắn, hái lượm và đánh bắt cá Sự thiếu hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, sâu bệnh đã khiến con người tưởng tượng ra một lực lượng siêu nhiên chi phối sự thành bại của mùa màng và vật nuôi, phản ánh sự bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên.
Việc thờ cúng các vị thần như Mây, Mưa, Sấm, Chớp trong hệ thống thần nông phản ánh sự tôn kính đối với thiên nhiên Trong chăn nuôi, người ta thờ các thần Đực, thần Cái, cùng với ông Đùng và Bà Đùng, thậm chí cả thú dữ như hổ, voi, thần sói và rắn cũng được tôn thờ Đối với những người làm nghề đánh bắt thủy, hải sản, các vị thần nước như Hà Bá và Long Vương được tôn kính nhằm cầu mong sự may mắn và thuận lợi trong công việc.
Trong quá trình thực hành tín ngưỡng, sự linh ứng càng củng cố niềm tin của con người Dù xã hội phát triển và con người có thể giải thích hiện tượng bằng khoa học, họ vẫn không thể thoát khỏi quy luật âm dương và quy luật vũ trụ Vì vậy, tín ngưỡng thờ nhiên thần không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ hơn.
Các loại hình nhiên thần đƣợc thờ phổ biến
2.2.1 Tín ngưỡng thờ Mộc Thần (Đại mộc tôn thần)
Tín ngưỡng thờ thần cây là một phần quan trọng trong văn hóa cổ xưa của người Việt, tương tự như tín ngưỡng thờ Sơn Thần và Thủy Thần Người dân tin rằng mọi vật đều mang trong mình linh hồn, và những cây cổ thụ thường được xem là nơi trú ngụ của các thần linh.
“Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”;
“Quỷ cây đa, ma cây giới” hoặc “Quỷ cây đa, ma cây đề”
“Cây thị có ma, cây đa có thần”;
“Ở cho phải phải phân phân
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”
Trước những cây cổ thụ, con người cảm nhận được sự hiện diện của một lực lượng siêu nhiên chi phối đời sống tinh thần của họ Tín ngưỡng thờ cúng cây cối, mặc dù có nhiều cách giải thích, đều liên quan đến việc con người chưa hiểu hết về thế giới xung quanh và nỗi sợ hãi khi gặp khó khăn Họ tin rằng xung quanh cuộc sống hiện thực tồn tại một thế giới vô hình, nơi có thần và ma của cây cối hiện diện khắp nơi.
Tại Nghệ An, người dân thờ cúng thần cây với nhiều tên gọi khác nhau, như Đại mộc tôn thần tại đền Thái Phúc ở Quỳnh Châu, Đức thánh Thái Giám giá mộc tại đền Đạch ở Quỳnh Lâm, và Mộc lôi linh ứng hùng uy đại vương tại đền Quỳnh Đôi Ngoài ra, đình Làng Dụng và đền Tân Mỹ ở xã Nghĩa Dụng, huyện Tân Kỳ được thờ Đức ông mộc thụ tôn thần Nhiều làng có sông chảy qua, nơi gỗ tự nhiên trôi về, đã xây dựng đình, đền như đình Hoành Sơn ở làng Hoành Sơn (Nam Đàn), đền Vua Lê ở làng Lộc Điền (Hưng Nguyên), và đền Trúc ở làng Cát Ngạn (Thanh Chương).
Một số làng ven sông hoặc biển có gỗ trầm hương trôi về được coi là linh thiêng, như làng ở đền Quy Lĩnh, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu Theo truyền thuyết, tượng Hoàng Hậu Dương Nguyệt Quả được chạm khắc từ gỗ này và được thờ tại đền Cờn, là nguồn gốc của tục chạy Ói đặc sắc trong lễ hội đền Cờn ở phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai.
Tuy nhiên, sự tích Mộc thần của mỗi làng lại có sự khác nhau và được địa phương hóa thành các tên tuổi gắn với địa danh từng vùng:
Theo thần tích đền Trúc ở Cát Ngạn (Thanh Chương), Mộc thần là hóa thân của một chàng trai, con của một người phụ nữ goá chồng làm nghề hái măng Một ngày, khi vào rừng hái măng, bà gặp một con khỉ trêu nghẹo và sau đó mang thai, sinh ra một cậu con trai khỏe mạnh Khi lớn lên, chàng trai đi lính và được mẹ kể về nguồn gốc của mình Trước khi lên đường, chàng tìm đến nơi mẹ đã chỉ và chỉ thấy một bụi trúc Chàng bẻ một cành trúc và khấn nguyện: "Cha có linh thiêng xin phù hộ cho con bay lên không trung." Điều kỳ diệu xảy ra, chàng bay lên trời bằng cành trúc và đến kinh đô chỉ trong chốc lát, từ đó phục vụ trong quân đội.
37 lúc việc quân rỗi rãi, chàng thường cưỡi gậy trúc bay về thăm mẹ, sáng sớm lại ra đi
Một lần, mẹ con trò chuyện say sưa đến nỗi không nhận ra trời đã sáng, chàng vội vàng cưỡi gậy trúc bay đến kinh Khi đến nơi, chàng đáp lại tiếng loa điểm danh và hạ xuống trước sự ngạc nhiên của mọi người Quan hình pháp cho rằng chàng có yêu thuật và đã ra án xử trảm Trong lúc chém, đầu chàng kề trên một khúc gỗ trầm, và sau khi chém xong, khúc gỗ và cây gậy trúc bị cuốn ra sông Nhị Hà trong cơn giông tố Chúng trôi theo dòng sông vào biển, rồi ngược lại đến Thanh La Một ông thuyền chài kéo lưới lên, thấy khúc gỗ trầm và cây gậy trúc nhưng không bắt được cá Sau khi khấn cầu, ông thuyền chài liền đánh được nhiều cá, nên đã lập đền thờ phụng, gọi là đền Trúc.
Theo các tài liệu như “Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu”, “Tục thờ thần và thần tích Nghệ An” và “Đền Cờn lịch sử và lễ hội”, Mộc thần tại đền Quy Lĩnh được coi là cây gỗ thần, nơi mà âm hồn Tứ vị Thánh nương đã nhập vào Sự tích này đã được truyền tụng qua nhiều thế hệ, phản ánh tín ngưỡng và văn hóa đặc sắc của vùng đất Nghệ An.
Vào một năm trong thời kỳ Trần, một cây gỗ lớn đã trôi từ biển vào, đi qua đá Ông Cộc và Giếng Giá, trước khi dạt vào bờ gần đền Cờn thuộc làng Phương Cần Cây gỗ nằm lại ở đó một thời gian dài, trong khi người dân Phương Cần mải mê với cuộc sống hàng ngày và không chú ý đến nó, thậm chí có người còn có những hành động và lời nói thiếu tôn trọng đối với cây gỗ.
1 Ninh Viết Giao, 2008, Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
2 Ninh Viết Giao, 2000,Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, NXB Nghệ An.
3 Nguyễn Ngọc Định, 2010, Đền Cờn lịch sử và lễ hội, NXB Văn hóa dân tộc Hà nội
Trong làng Phú Lương, sau khi xảy ra nhiều hiện tượng kỳ lạ như gia súc chết hàng loạt và người dân đau ốm, dân làng nghi ngờ rằng nguyên nhân là do một cây gỗ thần Khi thủy triều dâng, cây gỗ được đẩy xuống sông Mai Giang, trôi qua nhiều địa điểm và cuối cùng mắc cạn tại Bãi Ói Một người dân phát hiện cây gỗ lạ, chặt thử và cảm nhận được mùi thơm cùng vết máu, cho rằng đây là cây gỗ thần Sau khi cầu khẩn Mộc thần, nguyện vọng của họ được đáp ứng khi đánh bắt được nhiều cá Dân làng quyết định kéo cây gỗ lên và lập bài vị thờ tại đền Quy Lĩnh, coi đây là một vị thần linh thiêng.
Theo truyền thuyết của người dân xã Nghĩa Dũng, huyện Tân Kỳ, Mộc thần là cây thiêng đã giúp Lê Lợi trốn khỏi cuộc truy bắt của giặc Minh vào thế kỷ XV Đại diện Hội người cao tuổi xã Nghĩa Dũng đã kể lại câu chuyện này, nhấn mạnh tầm quan trọng của cây thiêng trong lịch sử địa phương.
Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh, trải qua nhiều trận thắng thua Trong một trận thua nặng, Lê Lợi phải chạy vào rừng, ban đầu còn có nghĩa binh bảo vệ nhưng sau đó bị bỏ rơi, quân Minh truy đuổi gắt gao Trong tình thế khẩn cấp, ông tìm chỗ ẩn nấp sau một gốc cây, nhưng quân Minh đã dùng giáo tấn công và cho chó săn lùng kiếm Bất ngờ, một con Chồn trắng từ gốc cây chạy ra, thu hút sự chú ý của quân Minh, giúp Lê Lợi thoát khỏi nguy hiểm Người dân nơi đây tin rằng "trong cây có thần," nên đã thờ cúng Mộc thần để cầu mong sự che chở và tránh khỏi hoạn nạn.
Theo Thần tích làng Thuận Đức, xã Hưng Long, huyện Hưng Nguyên, xưa kia ở xứ Bàu Đái xuất hiện một cồn đất tự nhiên với nhiều cây cối xanh tươi.
Trong một khu rừng rậm rạp, có một người chặt cây và bỗng dưng gió nổi lên, khiến người ấy ốm nặng Gia đình đã đến cầu nguyện, và một cây quế xuất hiện với ba cành vươn ra Mùi hương thơm ngát tỏa ra từ cây quế Khi gia đình khấn vái, ba vị thiên thần xuất hiện và ban cho bùa chữa bệnh Bệnh nhân uống bùa và ngay lập tức khỏi bệnh Nhân dịp này, xã đã lập đền thờ để tôn vinh sự linh thiêng Cây quế sau đó biến mất, nhưng thần linh đã nhập vào đền, mang lại sự yên bình và thịnh vượng cho dân làng.
Mộc thần, dù có nhiều truyền thuyết khác nhau, luôn được người dân Nghệ An tôn thờ như một vị thần linh thiêng, bảo vệ và hỗ trợ họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống Tục thờ Mộc thần đã hình thành từ những ngày đầu, gắn liền với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thể hiện mong muốn của người dân về sự sinh sôi nảy nở của thiên nhiên và sự che chở từ các vị thần linh.
2.2.2 Tín ngưỡng thờ Sơn thần (Thần Núi, Thần Đá)
Tín ngưỡng thờ Sơn thần là một phần quan trọng trong văn hóa của người Việt, thể hiện sự tôn kính đối với thần núi qua nhiều tên gọi khác nhau như Cao Sơn, Linh Sơn, và Thạch Tinh Ở Nghệ An, có nhiều thần tích liên quan đến tín ngưỡng này, cho thấy sự phong phú và đa dạng trong việc thờ cúng Sơn thần.
Một số tín ngƣỡng thờ nhiên thần khác
Thờ thần Thổ Địa, hay thần Thổ Công, là một tín ngưỡng phổ biến trong cộng đồng nông nghiệp tại Phương Đông, đặc biệt là Nghệ An Đối với người dân nông nghiệp, đất không chỉ là nơi sản xuất mà còn là nơi có thần linh bảo vệ mùa màng và cai quản vùng đất Quan niệm "Đất có Thổ công, sông có Hà bá" nhấn mạnh rằng mỗi khu vực đều có thần linh cai quản riêng Khi có những hoạt động liên quan đến đất đai, người dân thường thực hiện lễ động thổ để tôn vinh thần Thổ Công.
Thần thổ địa được thờ cúng rộng rãi, không chỉ tại các đền miếu mà còn trong mỗi gia đình Người dân thường đặt ban thờ thần thổ địa dưới đất hoặc lập bát hương chung trên bàn thờ gia tiên Thổ công được coi là mẹ đất, là thần bảo vệ nhà cửa và quyết định mọi phúc họa cho gia đình Tại Nghệ An, có nhiều câu chuyện và truyền thuyết liên quan đến thần thổ công, thể hiện vai trò quan trọng của ngài trong đời sống tâm linh của người dân.
An rất ít và việc thờ cúng tại các làng xã chủ yếu được thờ ở các miếu thờ được lập riêng
Tại Đền Cửa Rào, xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, Thần Thổ Công được thờ cúng với một thần tích độc đáo, được đặt chính giữa gian nhà Hậu cung Thần có tên là Nữu, hiệu Bá Tướng, Thần Thông, sống vào thế kỷ XV Ông từng làm quan dưới triều đại nhà Lê nhưng không đam mê với cuộc sống quan trường và đã quyết định từ bỏ.
Ngài 58 đi khắp nơi trong dân gian để chữa bệnh và cứu giúp người dân, đặc biệt là những người nghèo, mà không yêu cầu thù lao Chính vì vậy, Ngài được người dân ở nhiều nơi yêu mến và quý trọng.
Dân làng Rào từng trải qua một dịch bệnh nghiêm trọng, với mụn nhọt xuất hiện khắp người, khiến các thầy lang trong làng bất lực Khi nguy cơ lây lan tăng cao, dân làng đã mời Ngài về chữa bệnh và Ngài đã nhận lời, làm việc không ngừng nghỉ để dập tắt dịch bệnh Khi người cuối cùng khỏi bệnh, Ngài đã biến mất Sau đó, dân làng thường nghe tiếng đọc sách vào các đêm trăng sáng từ một cồn đất, nơi được cho là chốn Ngài đã hóa thân, và từ đó, họ gọi nơi này là cồn Thầy Học.
Cồn nằm giữa vùng lau sậy hoang vắng, với âm thanh huyền bí khiến mọi người tránh xa, chỉ có ông Lưu Đức Nhân, người có chút kiến thức về thuốc, dám khám phá Ông đã phát hiện ra rằng các loại cây cỏ trên cồn chính là những vị thuốc quý Sau khi thử nghiệm chữa bệnh cho một số người trong làng và thấy hiệu quả, ông vui mừng ghi chép lại mọi thông tin trong hai quyển sách để tiện sử dụng và truyền lại cho thế hệ sau.
Thấy vị thần linh thiêng, năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624) thời vua Lê Thần Tông
(1619 – 1643 và 1649 - 1662), ông Lưu Đức Nhân đã kêu gọi dân làng lập một ngôi miếu nhỏ ngay trên cồn Thầy Học để hương khói và tôn thần làm vị thần
Cồn Thầy Học, mặc dù là nơi thờ Thổ Địa của làng, nhưng có diện tích nhỏ và bao quanh là đầm lầy, lau sậy, khiến việc di chuyển trở nên khó khăn Trong bối cảnh ngày càng nhiều người đến miếu, dân làng đã quyết định tìm kiếm một địa điểm mới để thuận tiện hơn.
Sau khi xem xét địa hình và địa thế, dân làng quyết định không chuyển miếu về phía Tây 300m mà tìm kiếm một địa điểm khác Vào lúc này, một thầy địa lý danh tiếng tình cờ đi qua và ghé vào thắp hương tại miếu linh thiêng Nhân dịp này, dân làng đã nhờ thầy giúp tìm vị trí tốt để di chuyển miếu.
Sau khi khảo sát địa hình, thầy địa lý đã chọn mảnh đất cách cồn Thầy Học 300m về phía Nam, nơi có phong thủy tốt với rào Biền Bò phía trước và núi Mượu phía sau Khu vực này có hình dáng giống như con rùa, với vị trí xây dựng đền tượng trưng cho đầu con rùa Đặc biệt, địa thế nơi đây mang ý nghĩa tượng trưng liên quan đến nghề thuốc, với dải đất rộng phía trước tượng trưng cho vữa thuốc, bên phải là dăm Nhà Đeo tượng trưng cho dao cắt thuốc, và bên trái là giếng nước tượng trưng cho bát thuốc Vị trí này không chỉ hợp phong thủy mà còn có ý nghĩa sâu sắc với nhân vật thờ, góp phần nâng cấp ngôi miếu nhỏ thành một ngôi đền khang trang và thoáng đãng.
Thời vua Khải Định, danh tiếng của đền Làng Rào được biết đến như một nơi linh thiêng, vì vậy vua đã quyết định thực hiện một phép thử Ông đã ra lệnh cho một hiện vật được đặt trong thùng kín và giao cho sứ giả cùng quan Tri phủ mang đi.
(không rõ tên) mang đến đền, lệnh cho quan viên địa phương và nhân dân trong
3 ngày phải làm lễ cầu xin vị thần tại đền cho biết đó là vật gì, nếu không đoán được, đền sẽ bị dỡ bỏ
Khi nhận lệnh từ vua, quan viên và dân làng Rào cảm thấy lo lắng Ngày đầu tiên, dân làng đã cử cụ Hàn Em (họ Phan) vào đền để cầu nguyện nhưng không thành công Ngày thứ hai, làng tiếp tục cử ông Cửu Hanh (họ khác) để thực hiện nghi lễ.
Phan),cũng không được Đến ngày thứ ba, dân làng đã lo lắng thực sự, mới tìm
8 Tương truyền mạch giếng nước thông với mạch sông Lam nên không bao giờ cạn
Trong một sự kiện đặc biệt, 60 người họ Lưu, bao gồm Hương Êm và Hương Đổng, đã ra cầu và bất ngờ nhận được sự giáng xuống từ vị thần Vị thần đã đọc bốn chữ “thổ, thủy, mộc, hỏa”, giúp lý giải quá trình hình thành viên gạch mà mọi người đang hồi hộp mở chiếc thùng chứa hiện vật do vua gửi tới Tin tức này nhanh chóng đến tai vua, và ông đã ban hành một đạo sắc phong cho vị thần của đền Làng Rào, tôn vinh ngài là Thổ Địa Đức thánh Nhà quan, Dực bảo Trung hưng Linh phù Chi thần.
Tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh nương rất phổ biến trong cộng đồng cư dân ven biển, đặc biệt tại Nghệ An, nơi có hơn 30 ngôi đền thờ Tứ vị Thánh nương được ghi nhận, chủ yếu tập trung ở các vùng ven biển.
Về nhân vật này còn có nhiều tranh cãi, là nhiên thần hay nhân thần Thần tích của Tứ vị thánh nương cũng có rất nhiều dị bản:
-Thần tích Đền Cờn nói là Tứ vị thánh nương là hoàng hậu của Tống Đế Bính và hai công chúa, vị sư;[1;12]
- Thần tích đền Quy Lĩnh, làng Phú Lương: nói là Tứ vị thánh nương là hoàng hậu của vua Tống Đế Bính và 3 cô công chúa;
- Thần tích làng Cơ Xá, Ba Đình, Hà nội lại nói Tứ vị thánh nương là Hoàng hậu Tống Đế Bính, 02 công chúa và thị nữ
- Có thần tích thì cho rằng Tứ Vị thánh nương là gồm Thái Hậu, hoàng hậu, và hai công chúa nước Nam Tống
Tứ vị thánh nương được thờ tại đền Cờn, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, và sau đó lan rộng khắp Việt Nam, gắn liền với một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Nam Tống ở Trung Quốc Những dị bản về tích thần này được ghi chép trong các thư tịch như Đại Việt sử kí toàn thư và Đại Nam nhất thống chí.
Việc lí giải tại sao các vị hoàng gia thời Tống lại lênh đênh trôi dạt xác vào lạch Cờn đang có nhiều điều nghi vấn khó giải thích
Theo PGS Ninh Viết Giao, nghiên cứu về Tứ Vị Thánh nương cho thấy rằng vị thần này chủ yếu được thờ tại các làng ven biển và ven sông Một số nơi ở bán sơn địa thờ thần là do quá trình di cư của người dân vùng biển hoặc vì danh tiếng linh thiêng của thần Ông cho rằng Tứ Vị Thánh nương ban đầu là một dạng thần nước, sau đó được nhân hóa thành các nhân vật như Thái hậu, hoàng hậu, công chúa do sự phong kiến hóa và lịch sử hóa Sự nhân hóa này có xu hướng thiên về Nữ thần, phản ánh ảnh hưởng của chế độ Mẫu hệ.