1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu mộ số dòng họ khoa bảng ở tổng nam kim (nam đàn, nghệ an) từ thế kỷ xv đến đầu thế kỷ xx

117 73 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Một Số Dòng Họ Khoa Bảng Ở Tổng Nam Kim (Nam Đàn, Nghệ An) Từ Thế Kỷ XV Đến Đầu Thế Kỷ XX
Tác giả Nguyễn Thị Quý
Người hướng dẫn TS. Đặng Như Thường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc nghiên cứu về các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa, con người, gia phong của dòng họ xứ Nghệ cũng như mối quan hệ giữa các dòng họ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành Luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo Khoa Lịch sử và những người thân quen

Vì vậy, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đặng Như Thường, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Viện nghiên cứu, các cơ quan, chính quyền địa phương, Thư viện trường Đại học Vinh, Thư viện Nghệ An

đã tạo điều kiện hết sức cho tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban liên lạc các dòng họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Đức, Lê Nguyên, đặc biệt là chú Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Hữu Việt, bác Lê Nguyên Quang, chú Nguyễn Đức Chí Tôi cũng muốn nói lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên, khích lệ tôi để tôi

có thể hoàn thành Luận văn này

Xin tỏ lòng thành kính !

Nghệ An, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Quý

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Nguồn tài liệu 6

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 8

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀTỔNG NAM KIM (NAM ĐÀN, NGHỆ AN) 10

1.1 Vài nét về quê hương Nam Đàn 10

1 2 Khái quát về tổng Nam Kim 14

1.2.1 Vị trí và duyên cách địa lý 14

1.2.2 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế 16

1.2.3 Truyền thống văn hóa 17

1.2.4 Khái quát về một số dòng họ lớn ở Tổng Nam Kim 28

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC, KHOA BẢNG CỦA CÁC DÒNG HỌ KHOA BẢNG Ở TỔNG NAM KIM 35

2.1 Họ Nguyễn Hữu 35

2.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển 35

2.1.2 Truyền thống hiếu học, khoa bảng 43

Trang 5

2.2 Họ Nguyễn Đức 45

2.2.1 Sự hình thành và quá trình phát triển 45

2.2.2 Truyền thống hiếu học, khoa bảng 48

2.3 Dòng họ Nguyễn Trọng 50

2.3.1 Sự hình thành và quá trình phát triển 50

2.3.2 Truyền thống hiếu học, khoa bảng 52

2.4 Dòng họ Lê Nguyên 55

2.4.1 Sự hình thành và quá trình phát triển 55

2.4.2 Truyền thống hiếu học, khoa bảng 57

Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU CỦA CÁC DÒNG HỌ KHOA BẢNG Ở TỔNG NAM KIM 61

3.1 Dòng họ Nguyễn Hữu 61

3.1.1 Nguyễn Văn Giao 61

3.1.2 Nguyễn Hữu Lập 62

3.1.3 Giám sát Ngự sử Nguyễn Hữu Dực 69

3.2 Dòng họ Nguyễn Đức 71

3.2.1 Nguyễn Đức Đạt 71

3.2.2 Nguyễn Đức Quý 73

3.3 Dòng họ Nguyễn Trọng 75

3.3.1 Nguyễn Trọng Thường 75

3.3.2 Nguyễn Trọng Đương 72

3.3.3 Nguyễn Trọng Đường 77

3.4 Dòng họ Lê Nguyên 79

3.4.1 Lê Nguyên Trung 79

3.4.2 Lê Bá Hoan 81

3.5 Đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim đối với quê hương, đất nước 84

Trang 6

3.5.1 Góp phần củng cố bộ máy nhà nước 84

3.5.2 Phát triển văn hóa dân tộc 85

3.5.3 Đóng góp trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ dân tộc 89

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Bảng thống kê những người đậu Đại khoa của tổng Nam Kim 19

Bảng 1.2 Bảng thống kê những người đậu Cử nhân, Tú tài của tổng Nam Kim thời Nguyễn 20

Bảng 2.1 Danh sách những người đỗ đạt của họ Nguyễn Hữu 44

Bảng 2.2 Danh sách những người đỗ đạt của họ Nguyễn Đức 48

Bảng 2.3 Danh sách những người đỗ đạt của họ Nguyễn Trọng 58

Bảng 2.4 Danh sách những người đỗ đạt của họ Lê Nguyên 58

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở Việt Nam, dòng họ là một thiết chế xã hội quan trọng, trực tiếp góp phần tạo nên kết cấu làng xã và rộng hơn nữa là đất nước Ðã có nhiều dòng họ nổi tiếng gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc, luôn đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp chinh phục thiên nhiên, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Theo quan niệm của người Việt là Con chim có tổ, con người có tông, con sông

có nguồn nên với người Việt, dù ở đâu và bất cứ khi nào, ý thức về tổ tiên, dòng

tộc vẫn là sâu sắc nhất, từ đó ý thức về mảnh đất cội nguồn, về trách nhiệm với quê hương cũng ngấm sâu trong máu thịt mỗi người dân Việt Mặt khác, với người Việt Nam dù có mang tên họ khác nhau, dù thuộc các dòng họ đã trải qua quá trình hưng vong thăng trầm khác nhau nhưng đều chung một truyền thống tốt đẹp là luôn có ý niệm về gốc gác tổ tiên để thờ kính, quê hương bản quán để tìm về Nhiều dòng họ, tuy chỉ phát triển ở làng, xã nhưng công đức tiên tổ, huyết mạch cội nguồn, tinh thần con cháu rất được coi trọng Dòng họ Việt Nam ảnh hưởng rất lớn đến sự hưng, suy của đất nước Với tầm quan trọng của dòng

họ trong lịch sử như vậy, việc nghiên cứu về các dòng họ đang là đề tài được nhiều người lựa chọn làm công trình khoa học

Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng là từ xưa đến nay đã nổi tiếng về truyền thống hiếu học, khoa bảng, hơn nữa còn là khổ học Đặc biệt, tổng Nam Kim (còn gọi là Nam Hoa) thuộc huyện Nam Đàn là một vùng đất nghèo khó nhưng lại đạt được không ít những thành tựu nổi trội về giáo dục, khoa cử dưới thời phong kiến Tổng Nam Kim bao gồm các xã, thôn ở phía hữu ngạn sông Lam Đây cũng là mảnh đất được nhiều dòng họ di cư đến lập nghiệp lâu dài Từ một vùng đất dân cư thưa thớt, Nam Kim ngày càng có nhiều người sinh sống, quần tụ trong các làng, xóm, bao quanh là những cánh đồng lúa, hoa màu, núi non Không chỉ cần cù chịu khó trong lao động, người dân Nam Kim còn có

Trang 8

lòng hiếu học, vượt qua cái nghèo, cái khổ để họ tập thành danh Vì vậy, tổng Nam Kim có nhiều nhà nho, nhiều dòng họ khoa bảng nổi tiếng ở xứ Nghệ cũng như trong cả nước

Nói đến các dòng họ nổi tiếng ở Nam Kim, chúng ta không thể không nhắc đến các dòng họ khoa bảng như: Lê Nguyên, Nguyễn Thiện, Nguyễn Đức, Nguyễn Trọng, Nguyễn Hữu… ở tổng Nam Kim Đây đều là những dòng họ có lịch sử lâu đời, có những nhân vật thành đạt và đóng góp to lớn cho quê hương, đất nước Họ Nguyễn Thiện có Tiến sỹ dưới thời Lê sơ là Nguyễn Thiện Chương và nhiều người là cán bộ Tiền khởi nghĩa như Nguyễn Thiện Nguyên, Nguyễn Hoàng Họ Nguyễn Đức có Thám hoa Nguyễn Đức Đạt- người thầy giáo của nhiều học trò thành đạt và nhiều vị đỗ đại khoa khác Dòng họ Nguyễn Hữu nổi tiếng ở Trung Cần với hai chú cháu cùng đỗ đại khoa là Nguyễn Văn Giao và Nguyễn Hữu Lập Dòng họ Nguyễn Trọng với ba đời đi sứ, họ Lê với

danh hiệu “ngũ thế kế khoa” – 5 đời nối tiếp nhau có người đỗ đạt Đây quả là

những điều đáng tự hào của vùng đất Nam Kim, nay là vùng chín Nam hữu ngạn Sông Lam thuộc huyện Nam Đàn Thông qua việc nghiên cứu về các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa, con người, gia phong của dòng họ xứ Nghệ cũng như mối quan hệ giữa các dòng họ ở xứ Nghệ nói riêng và cả nước nói chung Từ đó, chúng ta thêm tự hào và có ý thức gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dòng họ, góp sức mình xây dựng quê hương đất nước ngày càng phát triển

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu một số dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim (Nam Đàn, Nghệ An) từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX” làm Luận văn Thạc sỹ Lịch sử

Trang 9

bảng, nghề truyền thống của dòng họ trở nên quan trọng và đang ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu Cũng như một số dòng họ nổi tiếng khác ở Nghệ An, các dòng họ lớn ở địa bàn huyện Nam Đàn nói chung và tổng Nam Kim nói riêng cũng đã được nhắc đến trong một số công trình khoa học

- Trong “Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919”, tác giả Đào Tam Tĩnh đã xếp

dòng họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Hữu, Lê ở Trung Cần, họ Nguyễn Đức ở làng Hoành Sơn là những dòng họ khoa bảng lớn, và tác giả cũng đã đề cập đến thân thế, sự nghiệp của các nhân vật tiêu biểu thuộc dòng họ Nguyễn như Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Đức Quý là hai anh em họ cùng đỗ Đình nguyên tiến sỹ; Nguyễn Văn Giao và Nguyễn Hữu Lập là hai chú cháu cùng đỗ đại khoa

- Tác phẩm “Nam Đàn xưa và nay” của tập hợp nhiều tác giả (NXB Văn

hóa thông tin 2000) cuốn sách đã viết về các vấn đề “xưa và nay’ trên các lĩnh vực địa lý, kinh tế, văn hóa, nhân vật… của Nam Đàn, trong đó có đề cập ít nhiều về Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giao nhưng lại không nghiên cứu về dòng họ

- Tác phẩm “Nam Đàn – Quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Ninh Viết

Giao – Trần Thanh Tâm – NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh) đã nghiên cứu tổng thể về điều kiện tự nhiên, dân cư, văn hóa, danh thắng của Nam Đàn, trong đó có nói đến truyền thống hiếu học của nhân dân Nam Đàn và đã đề cập đến Tiến sỹ Nguyễn Thiện Chương, Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt, Tiến sỹ Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Lập, các dòng họ khoa bảng như: Nguyễn Trọng, Nguyễn Hữu, Lê Nguyên, Nguyễn Đức nhưng chưa thấy viết thêm gì nhiều về các dòng họ đó

- Luận văn Thạc sỹ “Giáo dục khoa cử Nam Đàn (Nghệ An) từ Lê Sơ đến

Nguyễn (1428- 1919)” của Nguyễn Văn Trung (2005) có đề cập đến tình hình

giáo dục khoa cử và những người đỗ đạt của Nam Đàn nhưng còn mang tính liệt

kê mà chưa khắc họa được các dòng họ khoa bảng tiêu biểu

Trang 10

- Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác cũng đề cập ít nhiều

đến vùng đất Nam Đàn và các nhân vật nổi tiếng về khoa cử như: tác phẩm “An

Tĩnh cổ lục” (Levieux An - Tinh), tác giả Hippolyte Le Breton, “Lịch sử - văn hóa làng Hoành Sơn xã Khánh Sơn – huyện Nam Đàn – Tỉnh Nghệ An (Từ năm

1802 đến năm 1945)” của tác giả Lê Thị Thuý Hằng, “Danh nhân văn hóa Nguyễn Đức Đạt” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền…

- Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu của các công trình có liên quan đó, chúng tôi thấy các công trình đó đã ít nhiều đề cập đến quê hương Nam Đàn, nhắc đến tên một số dòng họ tiêu biểu, một số nhân vật tiêu biểu Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện về tổng Nam Kim và lịch sử hình thành, phát triển của các dòng họ ở tổng Nam Kim, đặc biệt là những đóng góp của các dòng họ đó đối với quê hương, đất nước Đây vẫn là một khoảng trống mà các thế hệ trẻ cần tiếp nối và phát triển Việc nghiên cứu

về các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim chính là sự tiếp nối và ghép thêm một mảnh ghép vào bức tranh của các dòng họ nói riêng và lịch sử, văn hóa của dân tộc nói chung

3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các dòng họ khoa bảng gồm họ Nguyễn Đức, Nguyễn Trọng, Nguyễn Hữu, Lê Nguyên ở tổng Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ An với các vấn đề cụ thể như: lịch sử hình thành dòng họ, quá trình phát triển, văn hóa các dòng họ, những nhân vật tiêu biểu và bước đầu đánh giá những đóng góp của các dòng họ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức được vai trò của các dòng họ nói chung đối với lịch

sử dân tộc và bề dày lịch sử, sự đóng góp của các dòng họ khoa bảng trên địa bàn Tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn, chúng tôi đặt ra cho mình những nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

Trang 11

- Tìm hiểu về lịch sử hình thành, văn hóa truyền thống và cư dân huyện Nam Đàn nói chung và tổng Nam Kim nói riêng, nơi các dòng họ lập nghiệp và phát triển

- Tìm hiểu nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim gồm: Nguyễn Hữu, Nguyễn Trọng, Nguyễn Đức,

Lê Nguyên

- Tìm hiểu những thành tựu về khoa bảng, những người đỗ đạt của các dòng họ tiêu biểu ở tổng Nam Kim

- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của các dòng họ và trên cơ sở đó nêu

ra những đóng góp của các dòng họ đối với quê hương, đất nước

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Chúng tôi tìm hiểu lịch sử và văn hóa của các dòng họ

Nguyễn Hữu, Nguyễn Đức, Lê Nguyên, Nguyễn Trọng từ khoảng thế kỉ XV khi

mà dòng họ đầu tiên lập nghiệp ở tổng Nam Kim là họ Nguyễn Đức (cuối thế kỷ XV) cho đến đầu thế kỷ XX là khi khoa thi Hương cuối cùng của nền giáo dục Nho học được tổ chức (1919)

- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các dòng họ đã nêu trên

địa bàn tổng Nam Kim, nay là địa bàn 9 xã vùng hữu ngạn sông Lam huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An gồm: Nam Thượng, Nam Tân, Nam Lộc, Nam Hoành, Nam Đông, Nam Trung, Nam Cường, Nam Phúc, Nam Kim Ngoài ra, trong quá trình phát triển, các dòng họ đó đã có phân tán sang cả xã Sơn Lệ, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn (Nghệ An), xã Hưng Thông (Hưng Nguyên), xã Thanh La huyện Thanh Chương (Nghệ An) nên có thể chúng tôi có nhắc đến nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về vị trí, điều kiện tự nhiên, dân cư, văn

hóa truyền thống của quê hương các dòng họ; tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triển của các dòng họ; Tìm hiểu truyền thống khoa bảng, các giá trị

Trang 12

văn hóa, các nhân vật tiêu biểu và đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở Tổng Nam Kim

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra, đối chiếu, so sánh, phân tích để tiến hành sưu tầm tư liệu tại Viện Hán Nôm Hà Nội, Thư viện tỉnh Nghệ An, sưu tầm gia phả các dòng họ, phỏng vấn các bậc cao niên của dòng

họ, các tộc trưởng

5 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã tham khảo, nghiên cứu các nguồn

tài liệu sau:

* Tài liệu gốc:

- Các bộ sử của các triều đại phong kiến: “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô

Sỹ Liên; “Đại Nam thực lục”, “Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ”, “Khâm định

Việt sử thông giám cương mục”… của Quốc sử quán triều Nguyễn

- Các cuốn sách ghi chép về các khoa thi và những người đậu đạt: “Quốc

triều Hương khoa lục” của Cao Xuân Dục, “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục”, -

Các cuốn sách có ghi chép về Nam Đàn, Nghệ An như: “An Tĩnh cổ lục” của Hippolyte Le Breton; “Nghệ An ký” của Bùi Dương Lịch, “Lịch triều Hiến

* Tài liệu nghiên cứu

Trang 13

- Chúng tôi tìm đọc các tác phẩm của một số nhà nghiên cứu hoặc các cơ

quan, Ban ngành, tiêu biểu như: “Từ điển các nhân vật lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Thế Bá, “Nghệ An toàn chí”, “Nam Đàn xưa

và nay”, “Lịch sử Đảng bộ xã Khánh Sơn”, “Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn”, “Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Nam Đàn”, “Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919 ” của Đào Tam Tỉnh, “Nghệ An, những tấm gương cộng sản” (tập 5) của Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An, NXB Nghệ An, 2013; “Danh nhân Nghệ An”, NXB Nghệ An, 1998, “Địa danh Lịch sử - văn hóa Nghệ An”

của tác giả Trần Viết Thụ, NXB Nghệ An, xuất bản năm 2006, “Các nhà khoa

bảng Việt Nam (1075 – 1919) của tác giả Ngô Đức Thọ, NXB Văn học (1993),

“Nam Đàn – quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh” do Ninh Viết Giao chủ biên,

NXB tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, “Thanh Chương – đất và người” của

nhiều tác giả,NXB Nghệ An (2005)…

- Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số công trình khoa học như Luận văn Thạc sỹ, các bài báo, tạp chí liên quan đăng trên Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An, các bài viết trên các trang web

* Tài liệu điền dã

Ngoài tài liệu gốc và tài liệu nghiên cứu, chúng tôi còn đi thực tế khảo sát tại các nhà thờ họ Nguyễn Đức ở làng Hoành Hơn (nay là xã Khánh Sơn), nhà thờ họ Nguyễn Hữu, Lê Nguyên, Nguyễn Trọng ở làng Trung Cần (nay là xã Nam Trung), huyện Nam Đàn

Đồng thời chúng tôi còn gặp gỡ, trao đổi với các bậc cao niên, các bác, các chú như: cụ Nguyễn Đức Cúc, tộc trưởng Nguyễn Đức Chí của họ Nguyễn Đức, bác Nguyễn Hữu Hùng, thầy giáo Nguyễn Hữu Việt, thầy giáo Nguyễn Hữu Kim, Nguyễn Hữu Yên của họ Nguyễn Hữu, bác Lê Nguyên Quang – tộc tưởng

họ Lê Nguyên, bác Nguyễn Trọng Phác, Nguyễn Trọng Hồng và một số bậc cao niên của các dòng khác trong vùng

Trang 14

Chúng tôi cũng đã đi khảo sát, tìm hiểu thu thập tư liệu ở các di tích lịch sử

có liên quan như: Đền Thống Chinh, đình Trung Cần, đình Hoành Sơn, mộ Tống Tất Thắng… và tìm hiểu về cuộc sống, sinh hoạt kinh tế, văn hóa của người dân vùng hữu ngạn sông Lam, xưa là đất thuộc tổng Nam Kim mà đề tài đang nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

- Nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện hơn về các dòng họ khoa

bảng ở tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đề tài góp phần làm rõ những nét nổi bật về lịch sử hình thành, quá trình phát triển, văn hoá truyền thống, các nhân vật tiêu biểu và những đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim với quê hương, đất nước

- Đề tài cũng góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ nói chung và thế hệ trẻ

ở vùng 9 Nam của huyện Nam Đàn nói riêng về truyền thống hiếu học của địa phương, biết tự hào và phát huy truyền thống của ông cha trong học tập cũng như công tác

- Khẳng định vai trò của các dòng họ trong việc giữ gìn, phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

- Luận văn cũng là nguồn tư liệu quan trọng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử, văn hóa địa phương Đồng thời, góp phần to lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ ý thức về cội nguồn, tự hào về dòng họ

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về quê hương của các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim

Chương 2: Lịch sử hình thành và phát triển của các dòng họ khoa bảng

ở tổng Nam Kim

Trang 15

Chương 3: Những nhân vật tiêu biểu của các dòng họ khoa bảng ở tổng Nam Kim

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔNG NAM KIM (NAM ĐÀN, NGHỆ AN)

1.1 Vài nét về quê hương Nam Đàn

Nằm trên quốc lộ 46 Vinh - Đô Lương, cách thành phố Vinh 21 km về phía Tây, Nam Đàn là một vùng đất nổi tiếng của Nghệ An về vẻ đẹp tự nhiên cũng như các truyền thống văn hóa Trải dài theo hạ lưu sông Lam, Nam Đàn hiện nay

có diện tích khoảng 29.522km2, phía Đông giáp huyện Hưng Nuyên và huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện Thanh Chương, phía Bắc giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh

Về mặt lịch sử, thời kỳ Văn Lang, nơi đây là trung tâm của bộ Việt Thường Đến thời kỳ Âu Lạc, Nam Đàn vẫn thuộc bộ Việt Thường Từ năm 179 TCN, nước Âu Lạc rơi vào ách cai trị của Triệu Đà và bị chia thành hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, vùng đất thuộc bộ Việt Thường trước đây được nhập

vào quận Cửu Chân

Từ khi nhà Hán thay nhà Triệu cai trị nước ta, Nam Việt bị chia thành những quận, huyện của nước Đại Hán Giao Chỉ, Cửu Chân được chia thành nhiều huyện, mỗi huyện bao gồm một số làng xã Riêng Cửu Chân được chia thành 7 huyện, trong đó huyện Hàm Hoan là huyện lớn nhất trong địa phận Nghệ - Tĩnh ngày nay

Thời kỳ nhà Đường cai trị nước ta, Nghệ Tĩnh được chia thanh hai châu: Hoan Châu và Diễn Châu Hoan Châu có bốn huyện: Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường, Hoài Hoan Việt Thường là một huyện lớn, năm Vũ Đức thứ 5 đặt

là Minh Châu, chia làm 3 huyện: Vạn An, Minh Hoàng và Minh Định Năm

722, Mai Thúc Loan sau khi khởi nghĩa thành công đã lập nhà nước mới, xây thành Vạn An, thuộc xã Vân Diên, huyện Nam Đàn hiện nay Như vậy vào thời

Trang 17

gian đó, Nam Đàn là đất của huyện Vạn An Về sau, nhà Đường gộp Minh Châu, Vạn An, Minh Hoàng, Minh Định vào Việt Thường như trước

Sang thời kỳ phong kiến độc lập, năm 1035, Lý Thái Tổ cho đổi tên Hoan Châu thành châu Nghệ An, còn huyện Hoan Đường vẫn giữ nguyên tên gọi như

cũ Đến thời Hồ Quý Ly, huyện Hoan Đường được đổi thành Thạch Đường Khi Nhà Lê trị vì nước ta, Lê Lợi đã đổi tên Thạch Đường thành Nam Đường, là một trong hai huyện của phủ Anh Đô Nam Đường có địa vực hành chính khá rộng,

“nằm vắt mình theo tả ngạn sông Lam từ Hữu Biệt lên mãi Tam Sơn thuộc huyện Anh Sơn hiện nay Huyện Nam Đường lúc này có tám tổng: Nộn Liễu, Lâm Thịnh, Hoa Lâm, Đại Đồng, Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà, Lãng Điền Trong tám tổng đó có 90 xã thôn, phường, trại, giáp, vạn, sách” [20; 17] Đến thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) có sự thay đổi lớn về duyên cách các khu vực hành chính Nhà Nguyễn cắt bốn tổng của huyện Nam Đường và một tổng của huyện Thanh Chương đặt làm huyện Lương Sơn do phủ Anh Đô kiêm lý Huyện Lương Sơn là đất của huyện Đô Lương và Anh Sơn hiện nay[20; 17] Năm 1866, niên hiệu Đồng Khánh thứ nhất, vì tên riêng của Đồng Khánh là Nguyễn Phúc Đường nên để tránh phạm húy, nhà vua đã cho đổi tên Nam Đường thành Nam Đàn” [30; 15] Tên huyện Nam Đàn bắt đầu có từ

đó Theo cuốn Nam Đàn – quê hương của chủ tịch Hồ Chí Minh, thời Duy Tân (1910), nhà Nguyễn “cắt tổng Nam Kim (trước là Nam Hoa) và một phần tổng Bích Triều của huyện Thanh Chương cho lệ và Nam Đàn và cắt 2 tổng Xuân Lâm, Đại Đồng của Nam Đàn cho lệ vào Thanh Chương”[20; 17] Cùng thời gian đó, một số làng xã của tổng Xuân Liễu (Nam Đàn) được tách ra và nhập cùng các xã thôn từ tổng Bích Triều mới được cắt về thành lập tổng Xuân Khoa

Từ đó về sau, một số làng xã có thay đổi chút ít nhưng về cơ bản cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Nam Đàn có 4 tổng và 77 xã thôn Đó

là các tổng: Xuân Liễu, Lâm Thịnh, Xuân Khoa, Nam Kim [20; 18]

Trang 18

Cách mạng tháng Tám thành công (1945), nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời Sau dó không lâu, các đơn vị hành chính được sắp xếp lại Thực hiện chủ trương bỏ cấp Tổng và sắp xếp lại làng xã của Chính phủ, huyện Nam Đàn

đã bỏ cấp tổng và cơ cấu lại hành chính thành 18 xã gồm: Xuân La, Thanh Thủy, Vân Diên, Hùng Nhẫn, Lạc Hồng, Tự trì, Xuân Lạc, Đồng Xuân, Lâm Thịnh, Hữu Biệt, Chung Lạc, Minh Tân, Vạn Thọ, Tràng Cát, Khánh Sơn, Tân Hợp, Nam Cường và Nam Kim Sau đó, Nam Đàn có một số lần điều chỉnh nhỏ

về đơn vị hành chính, mãi đến năm 1969, các đơn vị xã thôn được sắp xếp lại thành 23 xã và 1 thị trấn và được duy trì cho đến hiện nay đó là các xã: Vân Diên, Hùng Tiến, Hồng Long, Xuân Hòa, Khánh Sơn, Nam Kim, Nam Cường, Nam Trung, Kim Liên Xuân Lâm, Nam Thái, Nam Thượng, Nam Thanh, Nam Giang, Nam Phúc, Nam Anh, Nam Tân, Nam Lộc, Nam Lĩnh, Nam Cát, Nam Nghĩa, Nam Hưng [30; 17]

Về điều kiện tự nhiên, Nam Đàn là một vùng đất non nước hữu tình, có núi non bao bọc, có dòng sông Lam uốn khúc chảy quanh Hai bên bờ Lam Giang làng mạc sầm uất, đồng ruộng phì nhiêu như câu hát cổ vọng mãi ngàn năm:

Nam Đàn gió thổi phi phong Núi non mây bá giăng mùng xung quanh Lam Giang một dãi xanh xanh

Vòng qua Nhẫn, Đụn băng mình về xuôi

Nơi đây có ba dãy núi lớn: Núi Đại Huệ ở phía Bắc, nay thuộc xã Nam Thanh và Nam Anh Núi có hình giống quả chuông úp, trên đỉnh có chùa Đại Tuệ tương truyền do vua Hồ Quý Ly lập nên để thờ Phật bà Đại Tuệ, người đã giúp Hồ Quý Ly xây thành Đại Tuệ là một căn cứ chống quân xâm lược Minh Thứ hai là núi Đụn thuộc địa bàn hai xã Nam Thái, Nam Thượng, cạnh quốc lộ

46 Vinh – Đô Lương Trên núi Đụn có thành Hùng Sơn, nơi Mai Thúc Loan bỏ mình và con là Mai Thúc Huy nối nghiệp Thứ ba là núi Thiên Nhẫn - dãy núi bắt đầu từ huyện Tương Dương đến tận Rú Nghèn – Hà Tĩnh Phần núi Thiên

Trang 19

Nhẫn ở huyện Nam Đàn chạy từ phía Tây đến phía Nam huyện Núi Thiên Nhẫn

có đến 999 ngọn núi với đỉnh đỉnh tròn nối nhau như muôn ngàn con ngựa ruổi rong, khí thế hung vĩ

Bên cạnh hệ thống núi non hùng vĩ, Nam Đàn còn được thiên nhiên ban tặng dòng Lam giang xanh ngát, hiền hòa Lam giang được xếp là một trong những con sông đẹp nhất Việt Nam Bắt nguồn từ núi Ruboi ở Lào, sông Lam khi đổ về Nghệ An chạy qua các huyện Tương Dương, Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương và chảy qua Nam Đàn xuống Hưng Nguyên rồi đổ ra biển Đông

ở cửa Hội Thống [30; 11]

Sông Lam có vai trò quan trọng trong lịch sử Nó vừa đem lại cho vùng đất Nam Đàn, Nghệ An những cánh đồng phì nhiêu mà còn đóng góp trong công cuộc chống ngoại xâm Sông Lam cùng với núi Thiên Nhẫn hiểm trở đã trở thành căn cứ vững chắc của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh Ngoài sông Lam, Nam Đàn còn có một số con sông hồ khác như sông Gang, Hồ Nón, Hồ Bàu Hà

Về truyền thống lịch sử, Nam Đàn được xem là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước Thời kỳ Bắc thuộc, ở Nam Đàn có cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đương do Mai Thúc Loan lãnh đạo (1722) Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, nam Đàn cũng là nơi in dấu nhiều biến cố của lịch sử sử dân tộc: là địa bàn điễn ra cuộc chiến chống Champa, là đất lập căn cứ và xây thành Lục Niên trong khởi nghĩa Lam Sơn, là nơi Quang Trung và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp lựa chọn

để xây Sùng Chính viện Vào cuối thế kỷ XIX, nhân dân Nam Đàn hăng hái tham gia phong trào Cần Vương và hưởng ứng các phong trào yêu nước do Phan Bội Châu phát động Đặc biệt, Nam Đàn đã sinh ra vị lãnh tụ kiệt xuất nhất của dân tộc là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng (1930), nhân dân huyện Nam Đàn đều hăng hái đi theo ngọn cờ lãnh đạo của đảng Nam Đàn đã quật khởi đứng lên trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931), rầm rập đấu tranh trong những ngày diễn ra Cách mạng tháng

Trang 20

Tám năm 1945, tích cực lên đường nhập ngũ, góp thóc, gạo, ngày công cho công cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) và chống Mĩ (1954 – 1975) Điều đó là minh chứng hùng hồn cho truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của quê hương Nam Đàn

Bên cạnh đó, Nam Đàn còn là một vùng đất hiếu học, khổ học và nuôi dưỡng nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng Về số người đậu đại khoa thời kỳ giáo dục Nho họ, Nam Đàn có khoảng 38 người, tiêu biểu như: Trạng Nguyên Trương Xán thời Trần, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt thời Nguyễn, phó bảng Nguyễn Sinh Sắc… Thời hiện đại, Nam Đàn cũng có nhiều nhà trí thức nổi tiếng như: Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Tạ Quang Ngọc, Bành Tiến Long, Trần Quốc Hoàn…

Ngoài ra, Nam Đàn cũng có nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc Đó

là những câu ca, điệu ví, hệ thống di tích, lễ hội dân gian, phong tục tập quán… Với bề dày lịch sử lâu đời, truyền thống lịch sử và văn hóa đặc sắc, Nam Đàn thực sự là vùng đất vị trí đặc biệt quan trọng của xứ Nghệ

1 2 Khái quát về tổng Nam Kim

1.2.1 Vị trí và duyên cách địa lý

Về vị trí địa lý, tổng Nam Kim hay còn gọi là tổng Nam Hoa nằm dọc theo hữu ngạn sông Lam, giáp huyện Thanh Chương (Nghệ An) và huyện Hương Sơn , Đức Thọ (Hà Tĩnh) Nếu đi từ Thành phố Vinh lên theo Quốc lộ 46 lên Thị trấn Nam Đàn rồi qua cầu Nam Đàn đến địa phận của tổng Nam Kim xưa thì quảng đường khoảng 40km Nếu đi theo đường 12/9 qua huyện Hưng Nguyên rồi qua cầu Yên Xuân II mới xây dựng thì từ Vinh đến tổng Nam Kim chỉ

khoảng 20km

Theo cuốn Tên làng xã Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX thì tổng Nam Kim

vốn được gọi là tổng Nam Hoa, thuộc huyện Thanh Chương, phủ Đức Quang Thời đó, Thanh Chương gồm 6 tổng là Bích Triều, Thổ Hào, Võ Liệt, Cát Ngạn, Đặng Sơn, Nam Hoa Trong đó, “tổng Nam Hoa có 21 xã thôn, sở là: Nam Hoa

Trang 21

thượng (thôn Hoành Sơn và Dương Liễu), Nam Hoa Tứ, Xuân Hoa (thôn Đông Đồi, Trung Hội, Tứ Trành), Tiên Hoa (thôn Xuân Mỹ, Thiên Lộc, Khánh Lộc, Bạch Sơn), Xuân Phúc, Trung Cần, Nam Hoa Đông (thôn Đông Viên, Hoàng Cung, Dương Phổ Đông, Vạn Thọ, Quần Xá, Dương Phổ Tứ), sở Nam Hoa, sở

Hạ Phù, sở Xuân Lôi” [44; 100]

Bên cạnh đó, cuốn Thanh Chương- đất và người cũng cho biết: “tổng Nam

Kim (nguyên gọi là tổng Nam Hoa, năm đầu Thiệu Trị (1841), vâng mệnh đổi thành tổng Nam Kim) Tổng này gồm 22 xã thôn như sau: xã Nam Kim Thượng,

xã Nam Kim Đông, thôn Đông Viên, thôn Hoàng Xá, Thôn Dương Phố, Thôn Phố Đông, Thôn Thọ Toán, Xã Nam Kim, Xã Xuân, Thôn Đông Sơn, thôn Trung Hội, thôn Thanh Tứ, thôn Xuân Án, xã Xuân Phúc, xã Tiên Đào , thôn Thiên Lộc, thôn Khánh Lộc, thôn Bạch Sơn, thôn Xuân Mĩ, thôn Xuân Lôi , thôn Hạ Phù, thôn Xuân Kim” [37; 40,41]

“Năm 1831, vua Minh Mạng đã thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn trên phạm vi toàn quốc, cho đổi đơn vị hành chính cấp trấn thành tỉnh Tổng Nam Hoa đổi thành tổng Nam Kim Từ năm 1910, tổng Nam Kim được tách ra

và nhập vào huyện Nam Đàn [50; 16]

Trong tác phẩm “Hương ước xã Nam Trung”, tác giả Hồ Khải Định cũng

cho biết “Nam Hoa là tên tổng có từ thời Lê đến triều Nguyễn từng thuộc các huyện Chi La, Đức Quang, Thanh Chương Đến thời Nguyễn đổi thành Nam Kim rồi sát nhập vào Nam Đàn từ đó” 9; 11

Cuối thế kỷ XIX, tổng Nam Hoa đổi thành tổng Nam Kim Năm 1910, tổng Nam Kim được chuyển sang thuộc vào huyện Nam Đàn Như vậy, qua một số tài liệu đã đề cập cùng với sự đối chiếu tên gọi một số xã thôn đã thay đổi trong quá trình lịch sử, có thể khẳng định rằng tổng Nam Kim vốn thuộc huyện Thanh Chương nhưng từ đầu thế kỷ XX được cắt về cho Nam Đàn Theo ranh giới địa vực, tổng Nam Kim xưa là địa bàn các xã vùng chín Nam của huyện Nam Đàn sau này gồm: Nam Thượng, Nam Tân, Nam Lộc, Nam Kim, Nam Đông, Nam

Trang 22

Hoành, Nam Trung, Nam Phúc, Nam Cường Hiện nay hai xã Nam Đông, Nam Hoành đã nhập lại gọi là xã Khánh Sơn

1.2.2 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế

Nam Kim hội tụ các điều kiện tự nhiên thuận lợi: sông ngòi, núi non, đất đai Ngoài sông Lam bồi đắp phù sa và mang lại nguồn nước ngọt phong phú, Nam Kim còn có nhiều dãy núi đẹp Tiêu biểu là Núi Sắc tại địa phận xã Nam Kim Thượng, tổng Nam Kim, liền kề với hai ngọn Hoành Sơn và Hoàng Sơn đối nhau với thế chồng chất trông sinh động như hai con ngựa đang chạy đua

nhau nên người ta quen gọi là “lưỡng mã giao trì”

Núi Phượng Hoàng (Phượng Hoàng Sơn) tại địa phận xã Tiên Đào, tổng Nam Kim Thế núi như vươn đầu gương cánh bay múa giữa không trung trông tựa một con chim Phượng Hoàng đang lượn cánh khí tượng Thiên Nhẫn

Núi Voi Trắng (Bạch Tượng Sơn) cũng gọi là ngọn núi Hoàng Bảng, Núi

ở xã Nam Kim, tổng Nam Kim Hình thế vuông vức,cao rộng bằng phẳng Dưới chân núi còn có di tích thành lũy xưa mà tương truyền là vào thời Lê, Dĩnh quận công Nguyễn Đình Đống đã dừng chân ở đây để chống lại quân Lê Duy Mật Ngọn núi Lạp (Lạp Phong) thuộc xã Nam Kim, tổng Nam Kim trông giống như cái nón bằng đá lật úp lại hai bên phải, trái là thành vuông vức rộng khoảng

5 mẫu Xưa, Lê Thái Tổ từng tiến đánh đạo quân của tướng Phương Chinh nhà Minh tại đây và tính từ lúc khởi binh (khởi nghĩa Lam Sơn) cho tới lúc đó là vừa tròn 6 năm nên có tên cũ là thành Lục Niên Sử ghi: Lê Thái Tổ từ của ải Khả Lưu dẫn quân đến làng Đa Lôi, huyện Thổ Du tức nghi là vùng này Bởi xã Xuân Hòa, tổng Nam Kim nguyên gọi là xã Xuân Lôi, nay địa bạ thôn Trung Hội xã ấy thấy ghi rõ là xứ Mĩ Lôi Phía dưới ngọn Lạp phong là ngọn núi Bùi Thế núi ôm vòng, khe suối quẩn quanh

Về khí hậu, Nam Kim thuộc vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa nóng dưới sự tác động của gió Lào, khí hậu nóng hầm hập, nhiệt độ có ngày lên đến 400

C, có năm hạn hán kéo dài 7 – 8 tháng liền, từ tháng 7 đến tháng 9 thường có bão mưa

Trang 23

dữ dội kèm theo lũ lụt Mùa lạnh lại rét cắt da, kèm theo mưa phùn giá buốt Sự khắc nghiệt của khí hậu nơi đây đã phần nào tạo nên tính cách rắn rỏi, vượt khó trong cuộc sống của người dân Nam Kim nói riêng và con người xứ Nghệ nói chung Có thể nói người dân Nam Kim luôn biết vươn lên trong mọi lĩnh vực, nhất là con đường học hành lập thân, lập nghiệp

Về kinh tế, Nam Kim có đất đai rộng lớn, được bồi đắp bởi phù sa của dòng Lam giang hiền hòa, và nhiều ao hồ, bàu đầm thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, trao đổi buôn bán ở các chợ trong vùng Nhân dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài ra cư dân cũng rất giỏi các nghề thủ công và thương mại Từ xa xưa, người dân ở đây đã biết đến các nghề thủ công truyền thống như: trồng dâu nuôi tằm, dệt tơ, dệt vải, nghề đan lát, làn nón, mộc, chạm, đặc biệt là nghề làm tương - nguồn thực phẩm quý, nghề vận chuyển thủy Ngày nay, tổng Nam Kim cũ cũng chủ yếu sống bằng nghề nông trồng lúa nước hoặc cây màu, trong đó có những xã chuyên canh cây màu hàng hóa như: Nam Lộc, Nam Tân chuyên về dưa hấu, cà rốt, khoai tây, Nam Cường chuyên canh Ngô, Lạc Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, vùng đất thuộc tổng Nam Kim xưa bây giờ cũng có hoạt động thương mại phát triển

1.2.3 Truyền thống văn hóa

Tổng Nam Kim cũng như bao vùng quê khác của xứ Nghệ, là nơi khởi nguồn và nuôi dưỡng đầy đủ, trọn vẹn những nét đẹp văn hóa truyền thống vừa mang nét chung của dân tộc vừa có cái riêng của địa phương Ngay từ xa xưa, người dân nơi đây đã sống với nhau theo trục Nhà - làng - nước, gắn kết trong một cộng đồng chặt chẽ Cuộc sống bình lặng với cây đa bến nước, lũy tre xanh cùng một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước đã tạo cho con người nơi đây có những nét mang tính tĩnh lặng, ôn hòa Trải qua quá trình lao động sản xuất, vươn lên trong cuộc sống, người dân tổng Nam Kim đã tạo dựng một bề dày văn hoá phát triển từ đời này qua đời khác, ngày càng phong phú đa dạng

Trang 24

Về truyền thống hiếu học, khoa bảng, Nam Kim là nơi sinh ra nhiều nhà khoa bảng, nhiều dòng họ khoa bảng Từ lúc sinh ra, con người nơi đây đã phải sống trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày để kiếm miếng cơm manh áo Họ thấy rằng để thoát khỏi cảnh nghèo đói không có con đường nào khác ngoài con đường học hành khoa cử Bởi vậy dẫu trong hoàn cảnh nào các gia đình cũng muốn cho con em mình học hành kiếm dăm ba chữ thánh hiền và có ngày “vinh quy bái tổ” Coi trọng việc học không chỉ là việc của cả tổng, cả làng mà các dòng họ cũng rất quan tâm Một số dòng

họ như Nguyễn Hữu, Nguyễn Đức, Lê, Nguyễn Trọng đều có học điền để hậu đãi đối với người học Ví như họ Nguyễn Hữu “có 5 mẫu học điền và gọi đó là

“độc điền thư”, số ruộng này họ giao cho một số người cày cấy Hoa lợi thu hoạch được người cày cấy ăn một nửa, một nửa còn lại giao cho dòng họ Đến ngày tế họ, họ đem số thu hoạch đó chia cho những người trong họ đang theo học” [20; 346] Làng xã rất quan tâm đến các kỳ thi có các sĩ tử của làng tham

dự Khi trong làng có người đỗ đạt thì đón rước long trọng, đỗ càng cao thì đón rước càng lớn, Làng Trung Cần định lễ rước: đậu Tiến sĩ thì toàn bộ dân làng ra đón rước, đậu Cử nhân thì lý dịch, các quan viên chức sắc trong làng và bà con

họ hàng trong dòng tộc ra đón Ở làng Hoành Sơn cũng tổ chức lễ rước Tiến sĩ như vậy Bên cạnh đó, làng xã còn có phần thưởng cho những người đỗ đạt như khoán ước của làng Hoành Sơn có ghi: đậu Tiến sỹ bản thôn mừng thưởng một trâu giá tiền 10 quan, Hương thí nếu trúng tứ trường thôn thưởng 5 quan (nếu thủ khoa có thêm 3 quan nữa) Ở Nam Đàn nói chung và Nam Kim nói riêng, các làng xã có nhiều người đỗ đạt đều xây dựng văn từ, dựng bia để thờ đạo thánh hiền, thờ người có công đức và khai khoa cho làng, hiện nay vẫn tồn tại bia nhà Thánh ở thôn Hoành Sơn, bia văn thánh ở làng Trung Cần ghi lại danh sách những người đỗ đạt của tổng

Chính nhờ sự quan tâm, khích lệ của làng xã cùng với sự cố gắng vươn lên vượt khó vượt khổ của bản thân các sỹ tử mà tổng Nam Kim đã có một bề dày

Trang 25

về truyền thống khoa bảng với nhiều người đỗ đạt thành danh Nam Kim trở thành vùng đất hiếu học, là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho đất nước, là quê hương của những con người kiệt xuất trong lịch sử dân tộc Sau đây chúng tôi xin liệt kê những người đỗ đạt của tổng Nam Kim

* Những người đỗ đại khoa

Bảng 1.1 Bảng thống kê những người đậu Đại khoa của tổng Nam Kim

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp qua các tài liệu: Khoa bảng Nghệ An, Giáo dục khoa cử huyện Nam Đàn dưới triều Nguyễn, Giáo dục khoa cử Nam Đàn từ

Lê Sơ đến Nguyễn )

Trang 26

* Những người đỗ Cử nhân dưới triều Nguyễn

Bảng 1.2 Bảng thống kê những người đậu Cử nhân, Tú tài của tổng

Nam Kim thời Nguyễn

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp qua các tài liệu: Khoa bảng Nghệ An, Giáo dục khoa cử huyện Nam Đàn dưới triều Nguyễn, Giáo dục khoa cử Nam Đàn từ Lê Sơ đến Nguyễn)

Trang 27

Qua các bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy số người đậu đại khoa và

Cử nhân của tổng Nam Kim là tương đối nhiều Riêng thời nhà Nguyễn, huyện Nam Đàn có 38 người đỗ đại khoa thì tổng Nam Kim có tới 8 người, chiếm 21% Số người đậu Cử nhân có hàng chục người Điều đó đã chứng tỏ tổng Nam Kim là một vùng đất hiếu học Nơi đây đã sinh ra và nuôi dưỡng biết bao người con có cống hiến lớn cho quê hương, đất nước, dù có học vị cao hay thấy, hay chưa từng đi thi và đỗ đạt Đó là những tấm gương tiêu biểu như: Trung quận công Nguyễn Nhân Mỹ, người có công khôi phục nhà Lê Trung Hưng Tam thế ngũ hoàng hoa: Thượng thư Nguyễn Trọng Thường, thượng thư Nguyễn Trọng Đường, đốc thị Nguyễn Trọng Đương; Đình Nguyên Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập, Cơ mật viện đại thần, Hữu tham tri bộ Binh Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Hàn lâm viện thị độc học sỹ, Tham biện nội các sự vụ, Hồng Lô Tự Khanh và là nhà giáo danh tiếng Thám hoa Nguyễn Đức Đạt làm Át sát Thanh Hóa, đốc học Nghệ An và là người thầy nổi tiếng nhất xứ Nghệ Tiến sĩ -ngự sử Lê Bá Hoan, Tổng đốc tế tửu Lê Nguyên Trung, Phó bảng – tri phủ Thừa Thiên Nguyễn Tư Tái Truyền thống hiếu học và đỗ đạt thành danh của nhân dân tổng Nam Kim không chỉ thể hiện trong thời kỳ phong kiến với nền giáo dục Nho học mà sang thời Pháp thuộc và sau năm 1945 đến nay cũng xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, tiêu biểu có: Nguyễn Tiềm, Bí thư tỉnh ủy đầu tiên của Nghê An; Trần Quốc Hoàn, Ủy viên

Bộ chính trị Bộ trưởng Bộ Nội Vụ của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm; Giáo sư Tạ Quang Bửu, từng giữ chức Bộ trưởng Bộ quốc phòng, tham gia đàm phán ở Fontainebleau Ông từng thay mặt Chính phủ Việt Nam ký Hiệp định Giơnevơ với Chính phủ Pháp năm 1954 Ông cũng là Bộ trưởng Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp (1965 – 1976) và được phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên năm 1996 Ngoài ra, tổng Nam Kim còn có những cán bộ cấp cao như: Nguyễn Hữu Dụng, Nguyễn Thị Đông, Trần Văn Được, Lê Trọng Khoan, Nguyên Phổ, Phạm Bích, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Văn Kích…

Trang 28

Trong bề dày về giáo dục khoa cử của tổng Nam Kim, không thể không kể đến các dòng họ khoa bảng như: Nguyễn Trọng, Lê Nguyên, Nguyễn Thiện, Nguyễn Đức, Nguyễn Hữu Đây là những dòng họ lớn có truyền thống khoa bảng và nhiều người đỗ đạt nhất trong vùng

Về phong tục tập quán, ở Nam Kim sớm hình thành nhiều phong tục mang

tinh thần sống chan hoà cởi mở trong làng xã, tổ chức cưới hỏi và ma chay có

xứ Lá Cờ để làm phần biếu hương lão” [20; 344] Những quy định đó đã nói lên một nét đẹp trong phong tục tôn trọng người già của nhân dân tổng Nam Kim Tục uống nước chè chát cũng là một nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Nam Đàn nói chung, tổng Nam Kim nói riêng Đây là một sinh hoạt tinh thần mang đậm tính chan hòa cởi mở, gắn kết bà con láng giềng Các gia đình trong một làng thay phiên nhau nấu nước chè, một nhà nấu thì sẽ mời các nhà lân cận hoặc cả thôn đến uống nước chè mà họ thường gọi là “uống nước mới” sau đó

họ quây quần bên nhau uống nước chuyện trò vui vẻ

Trang 29

Phong tục cưới hỏi ma chay cũng khá đặc sắc Về cưới hỏi, thông thường trải qua 6 lễ: lễ vấn danh, lễ điểm nhãn, lễ nạp thái, lễ giai lan, lễ vu quy và lễ quy ninh phụ mẫu Ngoài ra, việc cưới hỏi ở đây cũng có những tục lệ riêng ví như trên đường về nhà trai, đám cưới thường bị trai làng dăng dây đón ngõ Một cái dây chăng qua đường một cái án thư đặt bên cạnh bên trên có đĩa trầu, be rượu Dăm thanh niên đứng ra chào hai họ bằng một câu đối, ai đó trong họ nhà trai đối được thì đám cưới được đi qua, nếu không đối được thì phải bỏ ra dăm quan tiền mới được đi Thời bấy giờ có đám cưới của con gái Nguyễn Đức Đạt

và con trai của Nguyễn Văn Giao “Hôm làm lễ rước dâu từ làng Hoành Sơn về

làng Trung Cần, trai làng Trung Cần dăng dây đón ngõ với câu đối: “Nữ thị viết

hôn, hộ khẩu vô văn bất khải” (Gái về nhà chồng, qua cửa ngõ không phải là

người văn chương, không mở) Khi đó, cháu của Nguyễn văn Giao là Nguyễn

Đức Quý đối lại: “Bối trung nhất quý, nhân thần hữu phẩm tác lâm” (Sau lưng

có ông quý, một nhân thần có phẩm trật tới đây)” [20; 355] Về việc ma chay, ở Nam Kim cũng trải qua nhiều lễ như lễ khâm liệm, lễ thiết linh sang, lễ triệu tổ…

Về Lễ hội dân gian, người dân Nam Kim trong quá trình lao động sản xuất cũng đã sáng tạo nên nhiều lễ hội phong phú, tiêu biểu như: lễ hội đình Hoành Sơn (xã Khánh Sơn), hội đền Thống Chinh (Nam Lộc), lễ hội đình Trung Cần, đình Dương Liễu (Nam Trung), lễ hội đền Láng (Nam Kim), lễ hội đền Ông ở Dương Phổ (Nam Cường) “Hội đình Hoành Sơn tổ chức vào dịp lễ kỳ phúc (tháng 2 âm lịch ) để ca ngợi Lý Nhật Quang, thần thành hoàng của làng… người có công đầu trong việc khai cơ dựng nghiệp vùng Nam Kim, ca ngợi Đặng Thạc người chủ sự lập đình cùng các sức thần phép thánh khác” [20; 362] Trong lễ hội còn tổ chức đua thuyền và nhiều trò chơi dân gian khác Cảnh tượng dịp lễ hội đình Hoành Sơn đã được nhân dân truyền khẩu bằng bài vè:

Trang 30

Bày hàng cổ vũ xôn xao Trong đình trò hát, ngoài rào vạn bơi Giữa sân bày đánh cờ người Nơi thời đu ngốc, nơi thời đu tiên Nơi thời kết đốt cây đèn Nơi thời vây hát Trương Viên, trò Kiều Trông ra vui vẻ trăm chiều [20; 362]

Nam Kim còn có ngày hội mùa hoặc hội đón xuân về, nhân dân tổ chức nhiều trò chơi dân gian như cưỡi ngựa, đánh đu, đánh cờ người, hát xoan, hát ghẹo, thi cỗ, thi bánh, thi xôi, thi nấu cơm Mùa xuân còn có lễ hội riêng với

phần lễ và phần hội như “Lễ khai canh” và “Lễ mắc ách trâu”; “Lễ hội Kỳ phúc” đình Trung Cần; “Lễ hội Rước nước”, “Khai hạ kỳ yên” ở đình Dương Liễu, sau

khi tế lễ xong thì rước rồng rắn diễu hành quanh làng Chính những phong tục tập quán, cùng lễ hội đặc trưng đó đã làm nên đời sống văn hóa hết sức đa dạng của vùng đất Nam Kim

Về Kiến trúc, điêu khắc, tổng Nam Kim còn là vùng đất có nhiều công trình kiến trúc đặc sắc, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa Trước hết là kiến trúc Đình làng, trong đó có 4 ngôi đình nổi tiếng là: Đình Hoành Sơn, Đình Trung Cần, Đình Dương Liễu, Đình Đông Châu, trong đó đình Hoành Sơn và Đình Trung Cần được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia

Đình Trung Cần là công trình được xây dựng uy nghi với kiến trúc đẹp, độc đáo là dựa vào thần thế, nhân tài, vật lực và truyền thống lịch sử oai hùng của vùng đất Trung Cần xưa Đình được xây dựng năm 1781 và hoàn thành năm

1782, mặt hướng về phía Nam, trên xà thượng còn ghi dòng chữ: “Tân Sửu hạ

kinh thủy, Nhâm Dần xuân hoàn thành” Thuở trước, đình là nơi tập trung Thần

tổ, Thành hoàng của 22 xã thôn của tổng Nam Kim hội tụ về đây để làm lễ cầu đảo cầu mưa trong những năm hạn hán nặng nề Tại đây, lễ Kỳ phúc (cầu yên) hàng năm được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 âm lịch; lễ hội được tổ chức khá quy

Trang 31

mô, có rước bài vị sắc thần về đình tế lễ rồi được rước quanh làng rồng rắn nhộn nhịp; phần hội có các trò chơi dân gian như vật võ, đánh côn, múa kiếm, thi bơi, đánh cờ người, đu tiên

Đình Hoành Sơn được xây dựng năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ

23 (tức vào tháng 2/1763) và hoàn thành năm 1764 Ngôi đình dựng trên một khu đất bằng phẳng nằm bên sông Lam thơ mộng Đình được bố cục gồm: sân, bái đường và hận cung với chất liệu chủ yếu là gạch ngói và gỗ lim Người khởi xướng và chủ sự xây dựng công trình này là Đặng Thạc Ông đỗ là tri phủ huyện

Kỳ Sơn (phủ Tương Dương) dưới triều vua Lê hiển Tông (1740 – 1786) và thuộc gia đình dòng dõi thế tộc và có quyền uy rất lớn trong vùng Đình Hoành Sơn là sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong làng và các làng phụ cận và cũng là nơi thờ thần Vị Thần được thờ chính tại đình Hoành Sơn là uy minh Vương Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, là người văn võ song toàn, tư chất hơn người Năm 1041 vua Lý Thánh Tông đã xuống chiếu cho Lý Nhật Quang làm tri châu Nghệ An, Ông là người có công khai phá, lập nên làng Hoành Sơn và vùng đất dọc hai bên bờ sông Lam Với tài thao lược về quân sự,

tầm nhìn về vấn đề “Kinh bang thế thế”, trong thời gian đó ông đã có nhiều

đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vùng đất Nghệ An và quốc gia Đại Việt Chính Lý Nhật Quang là người đã có công lao rất lớn bảo vệ kiên cường, làm cho xứ Nghệ từ miền biên viễn đầy khó khăn thành vùng đất hưng thịnh Vì vậy, ông được thờ như thành hoàng của đình làng Ngoài ra đình còn thờ “Tứ vị thánh nương” và phật Thích Ca Mâu Ni

Ngoài đình làng, Nam Kim còn có hệ thống đền thờ, nhà thờ họ: nhà thờ họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Hữu, Lê, Nguyễn Thiện, họ Trần, họ Nguyễn Nhân, nhà Thờ Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt Đền thờ Tạo sĩ Nguyễn Nhân Mỹ, đền thờ Đường Cảnh Thành hoàng, đền thờ Đức Ông sông nước Các chùa thờ Phật có: chùa Xuân Lâm tự, chùa Bàu (Hoa Bảo tự), chùa Giai, chùa Bà Nhà Văn Thánh

xã, nhà Văn Thánh tổng thờ các danh nhân khoa bảng, có thành Lục Niên, khu

Trang 32

mộ và nhà ở của La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, đền thờ Thái bảo Tướng công Bùi Huy Nhượng Tiêu biểu là đền Thống Chinh thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” quyển 5, mục “Đàn Miếu” cho biết Đền Thống Chinh, ở xã Lương Trường, huyện Thanh Chương, thờ Tống Tất Thắng Hiện nay, đền thuộc địa phận xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn, nằm ngay sát quốc lộ 15 Ở Đền còn lưu giữ nhiều sắc phong, câu đối, văn bia Nhiều di tích lịch sử liên quan đến công cuộc khai hoang đất đai, chiêu dân lập làng, lập chợ, dựng đền, miếu hay công cuộc mở đất, giữ nước, đấu tranh chống ngoại xâm của các thế hệ dân cư Nam Đàn nói chung và tổng Nam Kim nói riêng Nhiều địa điểm thuộc tổng Nam Kim đã từng nổi tiếng gần xa như: bến Lương Trường (xã Nam Tân ngày nay), khe Bò Đái (nằm ở Cồn Bầu, trong dãy Thiên Nhẫn, thuộc xã Nam Tân), núi Hoàng Tâm, núi Động Chủ (xã Nam Kim), núi Nam Hoa, Rú Bùi, Núi Trét (Khánh Sơn), chợ Thanh Đàm còn gọi là chợ Đình (Nam Tân), chợ Rồng (Nam Trung) Hệ thống đình làng, chùa, đền, văn bia đó chính là thành quả của sự lao động, sáng tạo của nhân dân cũng là sự thể hiện lòng thành kính của người dân đối với những người có công đối với quê hương đất nước Nó đã góp phần làm đẹp thêm văn hóa truyền thống của mảnh đất Nam Kim và là niềm tự hào của bao thế hệ người dân nơi đây

Về Tôn giáo, Tín ngưỡng, đời sống tôn giáo của nhân dân tổng Nam Kim

cũng khá phong phú Ở đây, tồn tại các tôn giáo Nho, Phật, Thiên Chúa giáo, trong đó, phổ biến nhất và du nhập du nhập sớm nhất có lẽ là Phật Giáo Tác giả Ninh Viết Giao cũng đã khẳng định: “Người Nam Đàn đi theo đạo Phật có lẽ đã

lâu Chùa chiền có mặt trên đất Nam Đàn có từ thời Tùy Đường” [20; 328] Trên

địa bàn tổng Nam Kim vẫn còn dấu tích của nhiều ngôi chùa như: Chùa Bàu, chùa Giai, chùa Bà (ở làng Trung Cần), chùa Ngang, chùa Xuân Long Tự (Hoành Sơn) Sau cách mạng tháng Tám, do quan niệm còn ấu trĩ tả khuynh nên hầu hết các ngôi chùa đều bị tháo dỡ đưa lên làm trụ sở ủy ban nhân dân huyện, duy còn lại chùa Xuân Long tự (thuộc xã Khánh Sơn) hiện nay vẫn được bảo tồn

Trang 33

và trở thành nơi sinh hoạt tâm linh của các tín đồ Phật giáo Nho giáo cũng ảnh hưởng đến Nam Đàn nói chung và Nam Kim nói riêng khá sớm Nói đến ảnh hưởng của Nho Giáo trước hết thể hiện ở việc sớm coi trọng việc học chữ Thánh hiền và tham gia thi cử đỗ đạt dưới nền giáo dục Nho học phong kiến Nơi đây còn lưu giữ các nhà văn thánh, từ vũ, văn chỉ ở làng xã là dấu tích của thành quả

trong học tập thi cử “Nhà Thánh thường được xây dựng kiên cố, lợp ngói xây

tường có nhà thánh 1 tòa, có nhà thánh 2 tòa Có nhà thánh thường là một đàn xây lộ thiên, không có mái che ở nơi cao ráo, đẹp đẽ trong làng” [20; 331] Việc

tế thánh ở các làng cũng được tổ chức nghiêm túc Đáng chú ý nhất là việc học tập khoa cử được con em trong các thôn làng chú trọng, vì vậy có nhiều dòng họ khoa bảng nổi danh, nhiều làng khoa bảng như: Hoành Sơn, Trung Cần Bên cạnh Phật và Nho giáo, đạo Thiên Chúa cũng được du nhập vào Nam Đàn nói chung và Nam Kim nói riêng vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Ngay từ sớm đã hình thành một số Giáo xứ trên địa bàn tổng Nam Kim như: Giáo xứ Vạn Lộc (xã Nam Lộc), Giáo xứ Thanh Khoa (xã Nam Thượng và Nam Tân), Giáo xứ Trung Sơn (xã Khánh Sơn) Hiện nay, số dân theo đạo Thiên Chúa khá đông, như xã Nam Lộc đa số người dân là người theo đạo Thiên Chúa, một phần lớn dân cư các xã Nam Thượng, Nam Kim, Khánh Sơn cũng theo đạo Thiên Chúa Đồng bào công giáo ở tổng Nam Kim từ xưa đến nay vẫn sống tốt đời đẹp đạo, chan hòa với mọi người xung quanh, chăm chỉ làm ăn, xây dựng quê hương

tạo nên sự đoàn kết tại địa phương góp phần ổn định xã hội

Bên cạnh đó, con người nơi đây cũng có những tín ngưỡng dân gian đa dạng như: thờ thần, thờ thành hoàng…

Nói tóm lại, Tổng Nam Kim là nơi “địa linh nhân kiệt”, thời nào cũng có

nhân tài làm rạng rỡ dòng họ, quê hương xứ sở, làm vẻ vang cho đất nước Nam Kim là đất văn vật, có truyền thống văn hóa lâu đời, là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài Nam Kim cũng là vùng đất để nhiều dòng họ sinh cơ lập nghiệp và phát triển thành các dòng họ lớn như: Trần, Hồ, Lê, Nguyễn Hữu, Nguyễn Trọng, Nguyễn

Trang 34

Nhân… Các dòng họ này góp phần tô đậm bề dày văn hoá, vinh danh làng xã của vùng hữu ngạn sông Lam, huyện Nam Đàn ngày nay

1.2.4 Khái quát về một số dòng họ lớn ở Tổng Nam Kim

Trên địa bàn tổng Nam Kim xưa, nay là các xã vùng hữu ngạn sông Lam

có nhiều dòng họ lớn định cư sinh sống Tiêu biểu trong đó phải kể đến các dòng

họ lớn như: Từ, Nguyễn Trọng, Lê, Trần, Tạ, Võ, Nguyễn Đức, Nguyễn Thiện, Phùng, Phan, Bùi, Bành, Nguyễn Nhân… Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một

số dòng họ lớn hiện nay ở Tổng Nam Kim

* Họ Bành ở thôn Dương Phố (nay là xã Nam Cường, Nam Đàn, Nghệ An)

Họ Bành do ông Thủy tổ là Bành Mạnh Lang đến lập nghiệp ở thôn Dương Phố ,xã Nam Phong (nay là làng Phổ Tứ, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn) Ông Bành Mạnh Lang là Hổ đại tướng quân của chúa Nguyễn Phúc Tần Trong thời kỳ Chiến tranh Trịnh – Nguyễn, ông theo chúa dẫn đại quân ra Bắc đánh quân Trịnh, chiếm 7 huyện của Nghệ An Hiện nay chưa biết cội nguồn của cụ Thủy tổ bành Mạnh Lang, chỉ biết là từ lần chinh chiến đó, ông ở lại sinh sống ở thôn Dương Phố mở đầu cho dòng họ Bành ở đây Đến nay họ Bành đã có khoảng gần 400 năm lịch sử với 13 đời

* Họ Phùng ở thôn Dương Phố (nay là xã Nam Cường, Nam Đàn, Nghệ An)

Vị thủy tổ của họ Phùng là Phùng Sĩ Chu, là người có công lớn với nhà Trần, làm quan đến chức Hành khiển, từng đi sứ nhà Thanh Dòng họ Phùng tính đến nay đã có lịch sử lâu đời và có nhiều nhân vật nổi tiếng có công to lớn đối với dân tộc Ngoài cụ Phùng Sĩ Chu, còn có Phùng Quang Lộc tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, giúp Lê Lợi từ những ngày đầu khởi nghĩa cho đến khi thắng lợi Ông còn có công trong việc dẹp loạn Lê Nghi Dân, phù Lê Thánh Tông nên được phong là khai quốc công thần và tước Quận Công, Đông các học sỹ Đặc biệt, dòng họ có Phùng Khắc Khoan (1528-1613) là bậc danh nhân văn hóa, lịch

sử của đất nước Ông rất thông minh nhưng bất mãn nên không đi thì để làm quan cho nhà Mạc Năm 1550, ông đến Thanh Hóa và thi đỗ Hoàng giáp, làm

Trang 35

quan cho nhà Lê Trung hưng, từng đi sứ sang Trung Quốc, giữ chức Thượng Thư bộ Hộ Ông sáng tác nhiều thơ văn, người dời gọi ông là Trạng Bùng Họ Phùng còn có nhiều con cháu tham gia phong trào Cần Vương, kháng chiến chống Pháp, Mỹ sau này Nhà thờ họ Phùng ở xóm 2 xã Nam Cường đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa

* Họ Trần ở làng Dương Liễu (nay là xã Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An)

Theo gia phả dòng họ, cụ Trần Nhật Thăng - con cháu hậu duệ của Trần Nhật Cảnh, Trần Nhật Duật, dời về làng Dương Liễu, tổng Nam Hoa thời Lý chính là Thủy tổ của dòng họ Trong quá trình khai phá mở mang làng xã từ thuở sơ khai, dòng họ Trần - Dương Liễu đã để lại dấu ấn nổi bật về xây dựng cuộc sống, khai

hoang mở đất; sự nghiệp về võ công, bảo vệ đất nước, xóm làng

Trong quá trình phát triển, họ Trần đã có số lượng nhân khẩu, đất đai khá lớn

và lập nhà thờ ở cả làng Dương Liễu và Trung Cần, trong đó có cả đền Giáp Bảo

“Bảo sơn chi tự bi” (bia đền thờ thần Bảo Sơn) ở đó thờ 4 vị thần họ Trần: Đặc

tấn Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ quân vụ sự, Điện Quận công Trần Mậu Long; Bích Vũ hầu Trần Mậu Dị; Diên Khánh hầu Trần Mậu Phổ; Cẩn sự lang Tri phủ Trường Khánh Trần Mậu Xuân

Họ Trần còn lưu giữu được nhiều di sản văn hóa của quê hương và dòng họ như: Bản sơ đồ tưởng niệm, thần tích thần hiệu, văn tế đình đền làng Dương Liễu đã khẳng định một điều: Họ Trần Dương Liễu - Nam Trung là một dòng

họ mang nhiều sắc thái làng xã lâu đời, có truyền thống rõ rệt

* Họ Từ ở làng Xuân Trạch (nay là xã Nam Cường, Nam Đàn, Nghệ An)

Họ Từ là một dòng họ có danh tiếng ở Nam Cường, Nam Đàn, Nghệ An Nếu như các dòng họ khác nổi tiếng về thành tích khoa bảng Nho học thì họ Từ lại nổi tiếng về những đóng góp đối với sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ đất nước Họ Từ được hình thành ở làng Dương Phổ vào khoảng thế kỷ XVI Từ khi được xác lập, các thế hệ con cháu họ Từ đều chăm lo sản xuất, làm ăn sinh sống, lập nhiều công lao từ việc khai khoang mở đất cho đến tham gia chống giặc

Trang 36

ngoại xâm Trong những năm phong trào Cần Vương diễn ra (1885 - 1896) và phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, Từ Lam, Từ Ký cùng với Bùi Hải Thiều đã lợi dụng vị thế của nhà thờ họ Từ với cây cối rậm rạp, xóm làng thưa thớt để làm nơi hội họp bí mật Khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1930) và Tỉnh bộ Nghệ An được thành lập, nhà thờ họ Từ được chọn làm nơi thành lập Nhóm cộng sản đầu tiên của 4 tổng Hưng Nguyên và tổng Nam Kim (Nam Đàn) Từ

đó, nhà thờ họ Từ trở thành nơi hội họp, liên lạc bí mật của Xứ ủy Trung Kỳ, Huyện ủy Nam Đàn, Chi bộ đảng Phù Long và Nam Kim cho đến những ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thắng lợi Trong 30 năm chống Pháp và chống Mĩ (1945 – 1975), nhiều con em của họ Từ tham gia kháng chiến, góp sức vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến Hiện nay, họ Từ có số lượng nhân khẩu khá đông và nhiều người thành đạt Với những cống hiến của dòng họ, nhà thờ họ Từ đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia

* Họ Nguyễn Nhân ở làng Trung Cần (nay là xã Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An)

Họ Nguyễn Nhân có cội nguồn từ dòng họ Nguyễn Viết ở Thanh Hóa, thuộc dòng dõi của Nguyễn Viết Khang - Binh bộ Tả thị lang, Đoan Khánh hầu Thái bảo, thời Lê Chiêu Tôn Vì tôn phò nhà Lê cho nên khi nhà Lê sụp đổ, quyền lực rơi vào tay Mạc Đăng Dung, ông Nguyễn Viết Khang phải đưa gia quyến, họ hàng, bà con chạy loạn về đất Hoan Châu, sinh cơ lập nghiệp Nguyễn Viết Khang đã đến Trang Cần Cung, phủ Đức Quang (sau là làng Trung Cần, thuộc tổng Nam Hoa, huyện Nam Đàn) làm nơi sinh sống lâu dài và mở đầu cho

dòng họ Nguyễn Nhân ở đây

Họ Nguyễn Nhân cũng là một dòng họ có tiếng tăm ở thôn Trung Cần Nhân vật nổi tiếng nhất của dòng họ là Trung Quận công Tạo sĩ Nguyễn Sĩ Mỹ Ông là con cả của Thái bảo Nguyễn Viết Khang, là người có văn võ song toàn và tài mưu lược Nguyễn Sĩ Mỹ nối nghiệp cha mình, tiếp tục phụ giúp nhà Lê, lập được

nhiều công trạng nên được phong là “Kim tử Vinh lộc đại phu”

Trang 37

Vì có nhiều công lao trong việc phù Lê diệt Mạc, Nguyễn Sĩ Mỹ được chúa

Trịnh ban chữ “Nhân” thay cho chữ “Sĩ” và 12 mỹ tự: “Trung hưng”, “Khôi

phục”, “Kiệt tiết”, “Tuyên lực”, “Hiệp mưu”, “Tá lý”, tước Chánh Đại vương

Trung Quận công; được ban “thác đao điền” và có một bản sơ đồ gốc quyền sở

hữu Ông còn có công khai phá thêm các vùng cầu Mới, cầu Vùng, Đuồi Hác, Bãi nổi, Bến Hến, Rào Cùng, góp phần mở rộng đất đai cư trú của làng xã lên thành 12 xóm

Hiện nay, nhà thờ họ Nguyễn Nhân ở xóm Bãi, xã Nam Trung còn lưu giữ nhiều dấu tích về thành tích của dòng họ, còn có khu lăng mộ riêng thờ Đại vương Trung Quận công Tạo sĩ Nguyễn Nhân Mỹ trên cánh đồng Đại Trại gần chùa Hoa Bảo Ngoài ra còn có nhà Thánh Võ nhân dân lập nên để thờ phụng ông Nguyễn Nhân Mỹ - Tiến sĩ võ đầu tiên của đất Trung Cần

* Họ Nguyễn Thiện ở làng Hoành Sơn (nay là xã Khánh Sơn, Nam Đàn, Nghệ An)

Thủy tổ của họ Nguyễn Thiện là Nguyễn Thiện Chư Năm 14 tuổi ông đậu

kỳ thi Hương nhưng không tham dự thi Hội mà ở lại quê nhà làm nghề dạy học Tiếng tăm của thầy Nguyễn Thiện Chư nổi tiếng khắp vùng và còn lan đến tận kinh thành Chính vì vậy, ông được Lê Thánh Tông mời ra giữ chức Giáo thụ ở Quốc tử Giám Không phụ lòng tin của vua, Nguyễn Thiện Chư luôn giữ đúng bổn phận và đạo làm thầy, miệt mài gắng sức dạy học đào tạo ra nhiều thế hệ nhân tài cho đất nước

Họ Nguyễn Thiện nổi tiếng có Tiến sĩ Nguyễn Thiện Chương là vị Tiến sĩ đầu tiên của tổng Nam Kim Khi ông lên 14 tuổi thi đậu Hương cống được học ở Quốc tử giám Năm ông 18 tuổi thi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1469) niên hiệu Quang Thuận thứ 10

Sau khi đậu Tiến sĩ, Nguyễn Thiện Chương được vua ban mũ áo, phi trượng về quê vinh quy bái tổ Ông được bổ chức Hiệu thảo ở khoa hình bộ, hàm tòng thất phẩm, 3 năm sau, ông được thăng chức Giám sát ngự sử đài kiêm

Trang 38

Đô hình bộ Hữu thị lang tước quận công Ông được sống và làm việc gần gũi với vua Lê Thánh Tông được tham gia bàn bạc nhiều vấn đề quan trọng của triều đình Ông có công lớn trong việc biên soạn bộ Quốc triều hình luật (còn gọi là luật Hồng Đức)

Cuộc đời và sự nghiệp của Tiến sĩ Nguyễn Thiện Chương là một tấm gương tiêu biểu về sự hiếu học và cương trực, thanh liêm Ông không chỉ được người dân ghi nhớ, trân trọng mà còn được nhận sắc phong của triều đình Năm

1901, vua Thành Thái ra đạo sắc ca ngợi Nguyễn Thiện Chương là “Hữu bảo ngã lê dân” (bảo vệ lẽ phải, giúp đỡ dân lành) Năm 1924, vua Khải Định ban sắc ca ngợi ông “hộ quốc tý dân” (giúp đất nước, suy nghĩ vì dân) Có thể nói, Nghệ An có nhiều bậc đại khoa nhưng người đậu đại khoa trẻ tuổi lúc vừa 18 tuổi thì chỉ có duy nhất là Nguyễn Thiện Chương Điều đó càng khiến chúng ta khâm phục trí tuệ và tài năng của ông Cùng với tài năng đó, phẩm chất nhân cách của ông khiến cho thế hệ trẻ phải luôn ghi nhớ, tôn thờ và noi gương

Qua tìm hiểu các nguồn cứ liệu cũng như tình hình thực tế, chúng tôi nhận thấy, tổng Nam Kim cũng là nơi tập trung sinh sống của các dòng họ phổ biến của Việt Nam như: họ Lê, họ Từ, họ Phùng, họ Trần, họ Nguyễn, họ Hồ, họ Bùi,

họ Đặng, họ Bành… Trong đó, nổi lên một số dòng họ có danh tiếng, có nhiều người thành danh, có nhiều công trạng về mọi lĩnh vực Tuy nhiên, trong số các dòng ở tổng Nam Kim, các dòng họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Đức, Nguyễn Trọng,

Lê Nguyên vẫn là những dòng họ tiêu biểu nhất về con đường giáo dục khoa cử

tự nhiên nơi đây ngoài việc đem lại những thuận lợi cho cuộc sống mưu sinh của

Trang 39

người dân thì cũng gây ra không ít khó khăn Nhưng chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã rèn luyện cho người dân nơi đây bản tính kiên cường vượt khó, hun đúc lên khát vọng thoát nghèo, lập danh, lập nghiệp

Nam Đàn cũng là mảnh đất có nhiều truyền thống đáng tự hào như: truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống hiếu học và đã tạo dựng được nhiều giá trị văn hóa đặc sắc bao gồm phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, điêu khắc rất độc đáo

Trên nền tảng chung của toàn huyện, tổng Nam Kim cũng mang nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa nhưng lại có nhiều nét riêng biệt đặc sắc Về vị trí và điều kiện tự nhiên, Nam Kim trải dọc theo sông Lam, phía Tây lại tựa lưng vào núi Nam Kim cũng được xem là “rốn” lũ của Nam Đàn với mỗi năm phải hứng chịu nhiều trận lũ lụt do nước sông Lam dâng cao Nhưng người dân Nam Kim từ xưa đến nay chưa hề khuất phục trước sự khắc nghiệt của tự nhiên Họ vẫn cần cù lao động, chăm lo học hành thay đổi cuộc đời và làng xóm Họ cũng tạo dựng cho mình cuộc sống văn hóa tinh thần phong phú, mỗi làng lại có những phong tục văn hóa riêng

Do nhiều yếu tố tác động như nhu cầu mưu sinh, biến động lịch sử… tổng Nam Kim cũng trở thành nơi dừng nhân và lập nghiệp của nhiều người dòng họ Các dòng họ khi khai cơ lập nghiệp ở đây đều sớm hòa nhập với cuộc sống phong tục của người dân địa phương để không ngừng phát triển và có nhiều đóng góp cho quê hương, làng nước Sự phát triển của các dòng học làm cho cuộc sống ở các xã thông của tổng Nam Kim trở nên đông đúc, trù phú Văn hóa các dòng họ góp phần làm cho văn hóa làng, tổng thêm phong phú Nhiều dòng

họ đã sinh ra những người con ưu tú cho dân tộc như: họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Đức, Phùng, Lê…

Nổi bật hơn hết của tổng Nam Kim là truyền thống hiếu học, khoa bảng Nam Kim có những làng khoa bảng nổi tiếng như: Trung Cần, Hoành Sơn Nhiều người con của Nam Kim học hành, đỗ đạt thành danh được lưu danh sử

Trang 40

sách Tiêu biểu có nhiều nhân tài nổi tiếng như: Nguyễn Thiện Chương, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đường… Truyền thống hiếu học của tổng Nam Kim không chỉ được thể hiện qua số người

đỗ đạt mà ngay cả trong phong tục, gia phong của làng, của họ tộc cũng có nhiều quy định về đề cao việc học, coi trọng người tài

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An, (2013), “Nghệ An, những tấm gương cộng sản” (tập 5), NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An, những tấm gương cộng sản
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2013
2. Nguyễn Sỹ Cẩn, (1996), Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng
Tác giả: Nguyễn Sỹ Cẩn
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1996
3. Phan Huy Chú, (1992), Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 1), NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1992
4. Phan Huy Chú, (1992), Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 5), NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1992
5. Nguyễn Tiến Cường, (1998), Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến
Tác giả: Nguyễn Tiến Cường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Cao Xuân Dục, Hương khoa lục Nghệ Tĩnh, Thƣ viện tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương khoa lục Nghệ Tĩnh
7. Cao Xuân Dục, (1993), Quốc triều Hương khoa lục, NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều Hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
Năm: 1993
9. Hồ Khải Định, (1996), Hương ước xã Nam Trung, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước xã Nam Trung
Tác giả: Hồ Khải Định
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1996
10. Trần Kim Đôn (chủ biên), (2005), Thanh Chương đất và người, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chương đất và người
Tác giả: Trần Kim Đôn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2005
11. Gia phả họ Nguyễn Nhân ở, xã Nam Trung,, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, chú Nguyễn Nhân Trung cất giữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Nguyễn Nhân ở, xã Nam Trung,, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
12. Gia phả họ Nguyễn Thiện ở làng Hoành sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, chú Nguyễn Thiện Toàn cất giữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Nguyễn Thiện ở làng Hoành sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
13. Gia phả họ Nguyễn Đức ở làng Hoành sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, chú Nguyễn Đức Chí cất giữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Nguyễn Đức ở làng Hoành sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
14. Gia phả họ Nguyễn Hữu ở làng Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Nguyễn Hữu
15. Gia phả họ Tạ Quang ở làng Hoành sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, chú Tạ Quang Phương cất giữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Tạ Quang ở làng Hoành sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
19. Ninh Viết Giao - Trần Thanh Tâm, (2005), Nam Đàn quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ninh Viết Giao - Trần Thanh Tâm
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2005
20. Ninh Viết Giao, (2008), Từ điển nhân vật xứ Nghệ, NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2008
21. Ninh Viết Giao (chủ biên), (2014), Nghệ An toàn chí, (Tập 10), NXB Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An toàn chí
Tác giả: Ninh Viết Giao (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thông tin và truyền thông
Năm: 2014
22. Ninh Viết Giao, (2004), Về văn học dân gian xứ Nghệ, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học dân gian xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
23. Ninh Viết Giao (chủ biên), (2004), Văn bia Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2004
24. Trần Văn Giáp , (2000), “Lược truyện các tác gia Việt Nam”, NXB văn học 25. Đoàn Thị Hằng, (2004), Giáo dục khoa cử Nam Đàn dưới thời Nguyễn(1802 – 1919) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược truyện các tác gia Việt Nam”", NXB văn học 25. Đoàn Thị Hằng, (2004), "Giáo dục khoa cử Nam Đàn dưới thời Nguyễn
Tác giả: Trần Văn Giáp , (2000), “Lược truyện các tác gia Việt Nam”, NXB văn học 25. Đoàn Thị Hằng
Nhà XB: NXB văn học 25. Đoàn Thị Hằng
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w