1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước ở huyện phú riềng tỉnh bình phước giai đoạn hiện nay

108 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, đảm bảo cho việc thiết lập trật tự xã hội và quản lý nhà nước mà ở đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cán

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN QUỐC CƯỜNG

TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN PHÚ RIỀNG,

TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Long An 2018

Trang 2

TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN PHÚ RIỀNG,

TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: : 8.31.02.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THÁI SƠN

Long An, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên

ngành Chính trị học, với Đề tài “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay”,

Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự ân cần chỉ bảo của Quý thầy cô, sự giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân, tổ chức, sự tham gia góp ý của các cấp lãnh đạo, nhà quản lý, sự động viên, chia sẽ của gia đình cũng như bạn bè Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban lãnh đạo trường, lãnh

đạo khoa Đào tạo sau đại học, khoa Giáo dục Chính trị, đặc biệt thầy PGS.TS Nguyễn Thái Sơn là Giảng viên trực tiếp hướng dẫn về phương pháp nghiên cứu

cũng như những kiến thức chuyên ngành rất thiết thực trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Tôi chân thành cảm ơn lãnh đạo, Huyện Ủy, HĐND, UBND và lãnh đạo các Phòng, Ban, Ngành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc tiếp cận các

hồ sơ, tài liệu để thực hiện hoàn thành Luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng để thực hiện tốt nhất Luận văn này, nhưng sẽ còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết và thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, phản biện của Quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp để tiếp thu, chỉnh lý nhằm làm cho Luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn./

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN … 1

MỤC LỤC 2

BẢNG KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

A MỠ DẦU … 4

B NỘI DUNG

Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc tăng cường pháp chế XHCN trong công tác Quản

lý nhà nước

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài …10 - 19

1.2 Vai trò của pháp chế XHCN trong công tác QLNN …19 - 22

1.3 Mục tiêu, yêu cầu, nội dung tăng cường pháp chế XHCN trong công tác Quản

lý nhà nước …22 - 35

Kết luận chương 1 …35 - 36

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp chế XHCN trong công tác quản lý nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

2.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước

ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước …37 - 41

2.2 Tình hình thực hiện và tăng cường pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước thời gian qua …41 - 60

2.3 Đánh giá về thực hiện pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước thời gian qua …60 - 66

Trang 5

C KẾT LUẬN …89

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVĐK Bệnh viện đa khoa

CNXH Chủ nghĩa xã hội

DS-KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình

UBND Ủy ban nhân dân

QLNN Quản lý nhà nước

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử xã hội loài người, nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội không thể chỉ bằng đạo đức, tập quán, tổ chức, thuyết phục, tuyên truyền… mà pháp luật bao giờ cũng được xác định là công cụ cơ bản nhất Pháp luật là tổng hợp những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, có tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

Ngay từ khi ra đời, pháp luật đã trở thành phương tiện đặc biệt quan trọng trong việc quản lý Nhà nước và xã hội Bởi vì pháp luật có 3 chức năng cơ bản đó là: chức năng điều chỉnh; chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục Việc thực hiện tốt 3 chức năng của pháp luật nói trên tạo nên trật tự pháp luật, nhưng pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực phải dựa trên cơ sở vững chắc của pháp chế Ở nước ta, vai trò

của pháp luật đã được ghi nhận tại điều 12 Hiến pháp năm 1992 “ Nhà nước quản lý

xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN”

Như vậy, pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, đảm bảo cho việc thiết lập trật tự xã hội và quản lý nhà nước mà ở đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, các tổ chức tồn tại trong xã hội

và mọi công dân phải thực hiện pháp luật thường xuyên nghiêm chỉnh và triệt để Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công tác pháp chế Hệ thống pháp luật được quan tâm xây dựng tương đối đầy đủ, từng bước được hoàn thiện Công tác đào tạo cán bộ công chức có thẩm quyền thực thi pháp luật được chú trọng bồi dưỡng Nhận thức của các cấp uỷ Đảng về vai trò quản lý pháp luật được thể hiện đến tận cơ sở và ngày càng mang

Trang 8

tính đại chúng Ý thức pháp luật của nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực Hoạt động kiểm tra giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đang đi vào nề nếp Tuy nhiên, so với những yêu cầu của công cuộc đổi mới đặt ra, sự quản lý xã hội của nhà nước bằng pháp luật cũng còn bộc lộ không ít khuyết điểm và yếu kém Quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa thật đồng bộ và thống nhất Bộ máy nhà nước ta vừa bất cập về trình độ, năng lực quản lý, vừa có bộ phận không nhỏ thiếu trong sạch, nhũng nhiễu gây phiền hà cho nhân dân, hiệu lực quản lý điều hành chưa nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng Ơ nhiều nơi, nhiều lúc còn tình trạng thiếu dân chủ, thiếu kỷ cương dẫn đến quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cửa quền làm trái phái luật chưa bị ngăn chặn Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công chức làm công tác pháp lý còn nhiều bất cập, việc thi hành công vụ còn nhiều hạn chế Chưa coi trọng đúng mức việc tuyên truyền, giáo dục pháp lý trong cán bộ và nhân dân Việc thi hành pháp luật chưa nghiêm, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật chưa thật sự chặt chẽ, chưa nghiêm minh và thiếu kịp thời Sự lãnh đạo của Đảng chưa được tăng cường đúng mức, nhiều cấp uỷ trình độ kiến thức và năng lực lãnh đạo bị hạn chế, phương thức lãnh đạo chậm được đổi mới, còn nhiều lúng túng

Tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay là một trong những quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc chỉ đạo thủ tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hòa XHCN VN nhằm bảo đảm thắng lợi quá trình đổi mới và phát triển đất nước Để tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, không chỉ xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành thường xuyên và nghiêm chỉnh, đấu tranh kiên quyết với những hành

Trang 9

vi vi phạm pháp luật và tội phạm Pháp luật không được tuân theo và chấp hành nghiêm chỉnh thì pháp luật không có hiệu lực và trên thực tế là không có pháp luật

và pháp chế cũng không được củng cố và tăng cường Pháp chế XHCN được xây dựng, củng cố và tăng cường sẽ là cơ sở của trật tự của pháp luật

Xuất phát từ những yêu cầu đó, việc nghiên cứu “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay” dưới góc độ luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính trị học

là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc

Do tính cấp thiết của vấn đề, đã có nhiều công trình khoa học, sách, tạp chí, đề tài luận văn, luận án, văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nghiên cứu về pháp chế xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý Nhà nước ở những khía cạnh và góc độ chuyên môn khác nhau

Tiêu biểu cho những công trình liên quan đến đề tài có thể kể đến:

Những vấn đề cơ bản về pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

(Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật - NXB Công an Nhân dân);

Bảo đảm và tăng cường pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước; Th.s Vũ

Duy Duẩn, Văn phòng Chính phủ, Tạp Chí Cộng Sản 8/2013;

Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tiến sỹ Luật học Đỗ Ngọc Hải, Học

viện Chính trị - Hành chính khu vực I;

Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của Hiến pháp trong đời sống, Tạp chí Cộng Sản

1/1/2014;

Trang 10

10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hướng phát triển (Bộ Tư pháp,

Cục trợ giúp pháp lý);

Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (NXB Lao

động - Xã hội Hà Nội 2009);

Ngoài ra còn một số văn bản của Đảng và Nhà nước, như: Chỉ Thị số 32-CT/TW

Ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hàng pháp luật của cán bộ, nhân dân;

Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ Về

việc phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008-2012;

Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg ngày 24/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về

việc phê duyệt Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người

sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp từ năm 2009-2012;

"Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà nước nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay", Luận án Phó tiến

sĩ Luật học của Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996;

"Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay",

Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001;

"Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền công

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội"…

Dưới những giác độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích bản chất pháp chế xã hội chủ nghĩa và vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 11

trong quản lý Nhà nước nói chung ở tầm vĩ mô Tuy nhiên, cho đến nay chúng tôi thấy vẫn chưa có những công trình nghiên cứu đi sâu phân tích, điều tra khảo sát, tìm hiểu thực trạng vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý Nhà nước để nâng cao hiệu quả của công tác này trên địa bàn cụ thể của một địa phương từ cấp huyện trở xuống Đặc biệt, việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước trên địa bàn huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu, do đó, tôi đã mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài đã nêu

2 Mục đích nghiên cứu

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước để nâng cao hiệu lực của công tác này ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu được xác định trên đây, luận văn hướng tới các nhiệm

vụ cơ bản như sau:

- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp chế xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản

lý Nhà nước thời gian qua ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý Nhà nước và các giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công

tác quản lý Nhà nước

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý Nhà nước trên địa bàn huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước trong bối cảnh thời gian hiện tại và trong tương lai gần, cụ thể là giai đoạn 2015 - 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

- Phương pháp thống kê

6 Đóng góp mới của luận văn

Đề tài góp phần làm rõ lý luận về công tác tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Thông qua khảo sát, phân tích thực trạng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước tại huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước phát hiện những ưu điểm và những vấn đề tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước giai đoạn hiện nay

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý nói chung

và cán bộ quản lý tại huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước nói riêng

Trang 13

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong

quản lý nhà nước

Chương 2 Thực trạng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý

nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

Chương 3 Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường pháp chế xã

hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước ở huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước trong giai

đoạn hiện nay

Trang 14

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm pháp chế và pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong lịch sử xã hội loài người, Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội không thể chỉ bằng đạo đức, tập quán, tổ chức, thuyết phục, tuyên truyền… mà pháp luật bao giờ cũng được xác định là công cụ cơ bản nhất Pháp luật là tổng hợp những quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, có tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Ngay từ khi ra đời, pháp luật đã trở thành phương tiện đặc biệt quan trọng trong việc quản lý Nhà nước và xã hội Bởi vì pháp luật có 3 chức năng cơ bản đó là: chức năng điều chỉnh; chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục Việc thực hiện tốt ba chức năng của pháp luật nói trên tạo nên trật tự pháp luật, nhưng pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực phải dựa trên cơ sở vững chắc của pháp chế Ở nước ta, vai trò của pháp luật đã được ghi nhận tại điều 12 Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [39;

Trang 15

bộ, công chức nhà nước, các tổ chức tồn tại trong xã hội và mọi công dân phải thực hiện pháp luật một cách thường xuyên, nghiêm chỉnh và triệt để

Pháp luật và pháp chế có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau Pháp chế thể hiện những đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải triệt để tuân theo và chấp hành thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật và những văn bản dưới luật Pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực, điều chỉnh có hiệu quả những quan hệ xã hội dựa trên cơ sở vững chắc của pháp chế Ngược lại, pháp chế chỉ có thể được củng

cố, tăng cường khi có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với cơ sở kinh tế - xã hội

Pháp chế cần được đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi công chức, viên chức, người lao động và mọi công dân phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh Các tổ chức, chính trị, xã hội cũng có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của Nhà nước Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế là cơ sở bảo đảm cho bộ máy Nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy đầy đủ hiệu lực của mình và bảo đảm công bằng xã hội, tính thống nhất của pháp chế, tính tối thượng của Hiến pháp và luật

Khái niệm pháp chế XHCN có từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga nin là người đưa ra định nghĩa pháp chế và các nguyên tắc của nó đã làm giàu thêm

V.I.Lê-lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật Theo Tiến sĩ Đỗ Ngọc Hải: “Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong

đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác Mọi hành động xâm

Trang 16

phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” [16; tr.54]

Do ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của pháp chế XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần đề cập trong các nghị quyết, chỉ rõ phương hướng và biện pháp cần thiết để tăng cường pháp chế XHCN Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: “Phải dùng sức mạnh của pháp chế XHCN kết hợp với sức mạnh của dư luận quần chúng để đấu tranh chống những hành vi phạm pháp Các cấp ủy Đảng, từ trên xuống dưới phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế kiểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp chế” [9; tr.121] Nghị quyết Đại hội VII của Đảng khẳng định: “Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân [10; tr.132] Tại Đại hội VIII của Đảng, quan điểm này được xác định: “Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức [11; tr 45]

Như vậy, tăng cường pháp chế XHCN là một đòi hỏi khách quan của quá trình quản lý và lãnh đạo Nó trở thành nguyên tắc hiến định của xã hội ta được quy định tại Điều 12, Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật” [39; tr.8] Do đó, pháp chế XHCN là một khái niệm rất quan trọng trong tổ chức của bộ máy nhà nước, trong hoạt động của mỗi chủ thể, công dân kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, các nghị quyết của Đảng thường xuyên, liên tục đề cập đến vấn đề này Hiến pháp với tính chất là đạo luật cao nhất của nhà nước đã thể chế hóa quan điểm nêu

Trang 17

trên của Đảng, càng chứng tỏ pháp chế XHCN rất cần thiết, không thể thiếu trong đời sống xã hội nước ta

Như vậy, pháp chế XHCN là chế độ pháp luật, trong đó đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế, các đơn

vị lực lượng vũ trang, các cán bộ, công chức, viên chức và mọi công dân phải chấp hành Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, thường xuyên, liên tục, không có ngoại lệ

- Những nguyên tắc của pháp chế XHCN

Một là, pháp chế XHCN đảm bảo tính thống nhất, việc áp dụng pháp luật phải

thống nhất trong phạm vi cả nước V.I.Lênin viết: “Pháp chế không thể là pháp chế của tỉnh Caluga hoặc tỉnh Ca-dan được mà phải là pháp chế duy nhất cho toàn nước Nga và cho cả toàn thể Liên bang các nước cộng hòa Xô-viết nữa [23; tr.232] Nguyên tắc pháp chế nhằm xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương, làm cho các địa phương liên hệ, phát triển, hồi sinh, hợp tác

Hai là, pháp chế XHCN đảm bảo tính hợp lý Trong môi trường pháp luật, tính

hợp lý được biểu hiện là sự phù hợp với luật, đối với các mục đích đặt ra, các chủ thể lựa chọn phương án tối ưu về việc thực hiện pháp luật Cơ sở của tính hợp lý của pháp luật là sự phản ánh đúng đắn trong pháp luật các đòi hỏi của sự phát triển xã hội Nếu pháp luật quy định đúng đắn ý chí của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, các giá trị xã hội, thì chắc chắn pháp luật là hợp lý

Ba là, pháp chế XHCN không có ngoại lệ Nội dung của nguyên tắc này là khi

pháp luật đã ban hành, ai cũng phải thực hiện, nếu vi phạm pháp luật đều phải bị xử

lý theo pháp luật V.I.Lênin viết: “Tính nghiêm minh của pháp luật hoàn toàn không

Trang 18

phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt” [23; tr.233]

Bốn là, pháp chế XHCN gắn liền với dân chủ Dưới chế độ dân chủ, pháp luật

thừa nhận mọi công dân đều có quyền bình đẳng trong việc tham gia quản lý và tham gia công việc nhà nước Chủ nghĩa xã hội và dân chủ gắn bó với nhau Bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân chủ, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội là ở đó Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu dân chủ và dân chủ không thể thực hiện được đầy đủ, mở rộng nếu không thể hiện bằng hệ thống pháp luật XHCN V.I.Lênin viết: “phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển

ấy, đem thử nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn [22; tr.97] Dân chủ là chế

độ chính trị của nhà nước XHCN với sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân lao động vào công việc nhà nước Dân chủ có mối quan hệ không tách rời với pháp chế XHCN Không thể có dân chủ chân chính bên ngoài pháp chế XHCN Ngược lại, trạng thái pháp chế lại phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện dân chủ XHCN trong đời sống nhà nước và xã hội Dân chủ là một trong những tiền đề bảo đảm của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Năm là, pháp chế XHCN đảm bảo mối quan hệ với văn hoá V.I.Lê-nin coi đây

là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp chế XHCN Người viết: “Nếu chúng ta không áp dụng cho bằng được điều kiện cơ bản ấy để thiết lập pháp chế thống nhất trong toàn Liên bang, thì không thể nào nói đến vấn đề bảo vệ và xây dựng bất cứ một nền văn hoá nào được” [23; tr.233] Trình độ văn hoá của nhân dân lao động và những cá nhân có trách nhiệm càng cao thì việc thực hiện pháp luật càng tự giác và thống nhất, ngược lại, sự tăng cường pháp chế lại mở ra khả năng lớn để phát triển văn hoá XHCN

1.1.2 Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước

Trang 19

Theo quan niệm của C.Mác “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc

công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”[29; tr.23]

Có thể hiểu quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý, để chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể

quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [45; tr.63]

Nhìn chung, nói đến quản lý là là nói đến các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nổ lực của người khác, là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một

tổ chức Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra

Chức năng quản lý:

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Chức năng quản lý gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động trong quá trình lao động Quản lý có 4 chức năng chủ yếu, cơ bản có liên quan mật thiết với nhau: kế hoạch hóa,

tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Chức năng kế hoạch:

Trang 20

- Đây là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu

Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được hai nhiệm vụ là xác định đúng những mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quy định những biện pháp có tính khả thi (phù hợp với quan điểm, đường lối theo từng giai đoạn phát triển của đất nước)

- Trong quá trình quản lý, chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên, nó có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động, là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức đơn vị và từng cá nhân của quá trình quản lý

Thứ ba: Chức năng chỉ đạo:

- Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao

- Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý, nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hóa các mục tiêu Chức năng chỉ đạo được xác định từ

Trang 21

việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả Do vậy, chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động

Thứ tư: Chức năng kiểm tra:

- Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức

- Là chức năng cuối cùng của một chu trình quản lý, có vai trò giúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thế nào, tốt, vừa, xấu, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý ban hành có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đỡ hay thúc đẩy các

cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu đề ra

Như vậy, chức năng kiểm tra thể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các cá nhân và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu và kế hoạch đã xác định

Do đó, hoạt động quản lý là quá trình hoạt động để đạt được mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Quá trình này diễn ra trình tự theo một vòng khép kín được gọi là chu trình quản

lý Để thực hiện có hiệu quả chu trình quản lý thì vai trò của thông tin chiếm một vị trí rất quan trọng, bởi quản lý gắn liền với thông tin và thực chất của quản lý là quá trình thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin, nó là phương tiện không thể thiếu trong quá trình hoạt động của quản lý

Trang 22

Sơ đồ 1.1 chu trình quản lý

Nói đến quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước,

từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các

Kế hoạch

Thông tin

Chỉ đạo Kiểm tra,

Trang 23

văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật

* Đặc điểm quản lý nhà nước

Từ khái niệm trên về quản lý nhà nươc ta rút ra các đặc điểm của quản lý nhà nước như sau:

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ sở mối quan

hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”

Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật

xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội

Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học

Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không

Trang 24

bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản

lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định

1.2 Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý nhà nước

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là bước đi có tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đó là quá trình lâu dài với nhiều nội dung phải thực hiện, trong đó có việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác Pháp chế và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng không đồng nhất Pháp chế thể hiện sự đòi hỏi và những yêu cầu đối với các chủ thể pháp luật phải triệt để tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Một nền pháp chế thống nhất, vững chắc là cơ sở cần thiết cho hệ thống pháp luật điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội, phát huy được hiệu lực của mình; mặt khác, chỉ khi có một

hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và được sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời khi cần thiết, thì nền pháp chế mới được củng cố và tăng cường Pháp chế cần được đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi công chức hành chính phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh Các tổ chức chính trị, xã hội cũng có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của Nhà nước Thực hiện tốt

Trang 25

nguyên tắc pháp chế là cơ sở bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy đầy đủ hiệu lực của mình và bảo đảm công bằng xã hội Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Quản lý nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống, tránh được sự cục bộ, phân tán giữa các địa phương hay vùng, miền khác nhau Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa thế mạnh của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản

lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền

tự quyết, tạo sự chủ động, sáng tạo cho chính quyền địa phương

Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi bộ máy hành chính và mọi công dân trong cả nước phải nhận thức và thực hiện thống nhất đối với toàn bộ

hệ thống pháp luật đã ban hành Nó không cho phép mỗi nơi có luật lệ riêng, duy trì tình trạng “phép vua thua lệ làng”, thực hiện pháp luật của Nhà nước theo cách “vận dụng” riêng của mình Nó chống lại tính cục bộ, địa phương Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế là điều kiện không thể thiếu để thực hiện dân chủ đối với mọi công dân và thực thi quyền lực của nhà nước Vai trò của pháp chế trong quản lý nhà nước được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, pháp chế XHCN đảm bảo tính ổn định và minh bạch của pháp luật

Trang 26

Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, pháp luật về mỗi ngành, lĩnh vực là cơ sở thiết lập môi trường pháp luật, tạo ra vùng tự do cho các hành vi pháp lý Mỗi hệ thống pháp luật, mỗi đạo luật là sự thiết lập các giá trị xã hội, các chuẩn mực ứng xử chung áp dụng cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh Môi trường pháp lý, các giá trị xã hội, các chuẩn mực ứng xử tạo ra những giới hạn hành động cho các chủ thể

Tính ổn định của pháp luật với nghĩa là các quy định của nó được khái quát đủ thiết lập một không gian và thời gian hành động cho các chủ thể Theo đó, mỗi chủ thể được định hướng hành vi, định hướng và nhận dạng các giá trị xã hội, các chuẩn mực ứng xử khi tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể Tính minh bạch của pháp luật với nghĩa nó phải được tuyên ngôn chính thức, rõ ràng và đến với xã hội; phải

là sự quy định phân minh, rõ ràng, công khai về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; là

sự xác định rõ, dứt khoát về các chế tài bảo đảm thực thi pháp luật

Tính ổn định và minh bạch của pháp luật là sự bảo đảm cho công dân có thể chủ động, tính cực tham gia vào các quan hệ pháp luật và kiểm soát được hoạt động của

bộ máy công quyền thông qua những quy trình, thủ tục xác định; là sự bảo đảm cho các chủ thể dự báo trước các hành vi pháp lý, có thể tránh được những tranh chấp, xung đột, tạo nên niềm tin đối với quản lý nhà nước Trong nhà nước pháp quyền, minh bạch và ổn định pháp luật phải được thể hiện trong cả quá trình lập pháp và hành pháp

Thứ hai, pháp chế XHCN đảm bảo yếu tố kỹ thuật pháp lý

Bảo đảm kỹ thuật pháp lý là một trong những yếu tố quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật Chất lượng và hiệu quả pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật pháp lý Hơn nữa, trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay, yêu cầu về kỹ thuật pháp lý cần phải được coi trọng và xác định được nội dung cụ thể để vận dụng

Trang 27

vào quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật Để bảo đảm kỹ thuật pháp lý trong xây dựng

và hoàn thiện pháp luật, cần chú trọng các nội dung sau:

- Xác định quy trình chuẩn mực, tối ưu, là cơ sở cho quá trình xây dựng pháp luật Chẳng hạn, việc soạn thảo dự án luật phải bắt đầu từ việc khảo sát, điều tra ban đầu đến đánh giá, tổng kết, phân tích kết quả; từ dự thảo đến hoàn chỉnh, thẩm tra và thông qua

- Lựa chọn cơ cấu thể hiện quy phạm và khả năng sử dụng đúng, chính xác quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội

- Bảo đảm tính cân đối, thống nhất và xác lập mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật trong cùng một hệ thống; giữa các chế định trong cùng một đạo luật hoặc giữa các quy phạm trong mỗi chế định Diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu và đơn nghĩa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong kỹ thuật pháp lý

- Bảo đảm tính cụ thể, giảm tối đa việc diễn đạt qua yếu tố trung gian hoặc qua nhiều văn bản hướng dẫn thi hành

- Bảo đảm tính ổn định, hệ thống các khái niệm rõ ràng, chính xác, phù hợp với phạm vi điều chỉnh

Thứ ba, pháp chế XHCN góp phần đảm bảo ý thức chấp hành pháp luật

Pháp luật là cơ sở của pháp chế, để có pháp chế đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng thời phải có sự tự giác thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, một bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả trong việc bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh Pháp chế đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân

Trang 28

phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật

1.3 Mục tiêu, yêu cầu, nội dung tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý nhà nước

1.3.1 Mục tiêu của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản

lý nhà nước

Sự xuất hiện của pháp luật trong lịch sử phát triển của xã hội loài người là một tất yếu khách quan không thể phủ nhận Kể từ khi ra đời với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, một giá trị xã hội của nhân loại, pháp luật đã, đang và sẽ còn phát huy vai trò to lớn không thể thay thế của mình trong tổ chức, quản lý đời sống xã hội của xã hội có giai cấp Vì vậy, tư tưởng về sự cần thiết phải tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh của các tổ chức và các cá nhân, đặc biệt là của nhà nước đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử tồn tại và phát triển của nhà nước và pháp luật Rất nhiều nhà tư tưởng đã nghiên cứu và đề cập tới vấn đề này, chẳng hạn như Platon đã từng khẳng định: “Ta nhìn thấy sự diệt vong của nhà nước, mà trong đó pháp luật không có sức mạnh và ở dưới quyền lực của ai đấy Còn ở đâu mà pháp luật đứng trên nhà cầm quyền, họ chỉ là nô lệ của luật thì ở đó tôi nhìn thấy sự cứu thoát của nhà nước ” Đến xã hội tư sản thì nhu cầu tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh đã được nâng lên thành nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của nhà nước và xã hội tư sản

Khi chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập thì vấn đề pháp chế lại càng được quan tâm củng cố và tăng cường Tất cả các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều đề cao pháp luật, pháp chế và luôn không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Do vậy, có thể nói vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn to lớn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong

Trang 29

điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân hiện nay

Như vậy, nói đến pháp chế là nói tới một xã hội có pháp luật, nếu không có pháp luật thì không thể có pháp chế Trong xã hội đó, các quan hệ xã hội quan trọng, đặc biệt là các quan hệ có liên quan tới việc thực hiện quyền lực nhà nước, tới quyền

và lợi ích của nhân dân cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật Nhưng nếu chỉ có pháp luật thôi thì vẫn chưa có pháp chế vì tư tưởng chỉ đạo khi nói tới pháp chế là nhu cầu thực hiện pháp luật nghiêm minh Do vậy, nói tới pháp chế, ngoài pháp luật còn đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Cụ thể hơn thì mục tiêu pháp chế được thể hiện ở những đòi hỏi sau:

- Bộ máy nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật

Ở phương diện này pháp chế được coi là một trong những nguyên tắc tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước Điều này đòi hỏi cả bộ máy nhà nước nói chung, từng cơ quan nhà nước nói riêng phải được tổ chức theo đúng quy định của pháp luật

và hoạt động phù hợp với pháp luật; mọi cán bộ, công chức nhà nước phải tôn trọng

và thực hiện nghiêm minh pháp luật, thực hiện chính xác, đầy đủ các quyền và nghĩa

vụ của mình trước nhà nước, trước nhân dân; các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa nhà nước với các tổ chức xã hội, giữa nhà nước với nhân dân phải dựa trên cơ sở pháp luật; nhà nước phải quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội bằng pháp luật, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật theo pháp luật Tránh mọi hiện tượng chủ quan, tùy tiện của những người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động công vụ, xóa bỏ được tình trạng quản lý tùy thuộc vào các tình tiết ngẫu nhiên, vào tâm trạng và tính cách của người quản lý, qua đó, bảo đảm cho

Trang 30

hoạt động của bộ máy nhà nước được thống nhất, nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy hiệu lực của nhà nước và bảo đảm công bằng xã hội

- Các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng phải được thành lập hợp pháp

và phải hoạt động phù hợp với pháp luật

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, pháp chế và trật tự pháp luật là cơ sở của đời sống xã hội có tổ chức; cho nên củng cố pháp chế không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là nhiệm vụ chung của Đảng, của các tổ chức xã hội như công đoàn, đoàn thanh niên và các đoàn thể quần chúng khác Mỗi tổ chức, đoàn thể đó có những phương pháp, hình thức và nguyên tắc tổ chức, hoạt động riêng phù hợp với mục đích thành lập và tồn tại của tổ chức mình Nhưng các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng lại được thành lập và hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của nhà nước có chủ quyền nên họ phải có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện pháp luật của nhà nước Các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng phải được thành lập hợp pháp, phải hoạt động theo điều lệ, theo các quy định của tổ chức mình nhưng phải phù hợp với pháp luật của nhà nước, nằm trong phạm vi mà pháp luật cho phép Ngoài ra các tổ chức, đoàn thể xã hội có trách nhiệm động viên giáo dục các hội viên và những người thuộc giới mình tôn trọng và triệt để thực hiện pháp luật của nhà nước Điều lệ, nghị quyết và các văn bản của các tổ chức xã hội không được trái với pháp luật Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa văn bản của các tổ chức, đoàn thể xã hội với pháp luật thì phải thực hiện theo pháp luật Pháp chế đòi hỏi phải phân biệt rõ chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của các tổ chức đảng với chính quyền để tránh hiện tượng bao biện làm thay Các tổ chức đảng cần gương mẫu, tiên phong trong cuộc đấu tranh nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của mỗi bộ phận cấu thành

hệ thống chính trị xã hội

- Mọi công dân phải xử sự hợp pháp

Trang 31

Pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho công dân tự do, bình đẳng, công bằng, hạnh phúc; do vậy, tuân theo hiến pháp và pháp luật là nghĩa vụ của mỗi công dân Công dân phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách chính xác, triệt để, phải xử

sự theo đúng yêu cầu của pháp luật Trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động là người chủ đất nước, cho nên nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn đòi hỏi công dân có trách nhiệm tham gia quản lý các công việc nhà nước dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Công dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật Để bảo đảm sự an toàn về mặt pháp lý cho mỗi công dân, nguyên tắc pháp chế cho phép

công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Tuy nhiên, mọi công

dân khi sử dụng các quyền, tự do dân chủ của mình không được gây thiệt hại đến lợi ích, tự do của công dân khác và của xã hội Ngoài việc đòi hỏi đối với công dân, pháp chế còn đòi hỏi mọi cá nhân khác như người nước ngoài và người không có quốc tịch cũng phải tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh

Như vậy, mục tiêu cuối cùng của pháp chế là xây dựng và hoàn thiện dân chủ

xã hội chủ nghĩa Pháp chế là nền tảng vững chắc nhất để duy trì và thực hiện những nguyên tắc của dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo ra tính tổ chức kỷ luật, thiết lập kỷ cương của xã hội, bảo đảm công bằng xã hội Sự nghiệp đổi mới ở đất nước ta hiện nay đòi hỏi phải không ngừng củng cố và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng việc mở rộng dân chủ phải đi liền với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Có thể nói dân chủ xã hội chủ nghĩa càng được mở rộng thì pháp chế xã hội chủ nghĩa càng được tăng cường và ngược lại việc tăng cường pháp chế sẽ là điều kiện để củng

cố, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa

Những trình bày trên cho thấy, pháp chế và pháp luật không đồng nhất với nhau

mà chúng có quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau Pháp luật là cơ sở của pháp

Trang 32

chế, để có pháp chế đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng thời phải có sự tự giác thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, một bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả trong việc bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh Pháp chế là môi trường làm cho pháp luật phát huy được hiệu lực của mình, điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội Sự phát triển của pháp chế phụ thuộc vào tình trạng của pháp luật, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

và trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ, nhân dân

Do vậy, nghiêm chỉnh thực hiện các yêu cầu của pháp chế sẽ tạo cho đời sống

xã hội có trật tự, kỷ cương cần thiết, bảo đảm cho hoạt động của toàn xã hội thống nhất, đồng bộ nhịp nhàng theo quy định của pháp luật để xã hội tồn tại và phát triển

vì hạnh phúc của nhân dân Có thể nói, pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa là nhu cầu, vừa là kết quả khách quan của quá trình thiết lập và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Đồng thời pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng để củng cố, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải không ngừng củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Yêu cầu của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

Thứ nhất: Hiến pháp và luật phải có tính tối cao so với các văn bản pháp luật khác

Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trước hết nó đòi hỏi tất cả các quan hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật Nhà nước phải xây dựng và không ngừng hoàn thiện Hiến pháp và các văn bản pháp luật đồng thời phải bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật nhằm tạo ra sự thống nhất của hệ thống pháp luật

Trang 33

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp và các luật là những văn bản luật do

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, thể hiện một cách tập trung ý chí và những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực của đời sống nhà nước

và đời sống xã hội Hiến pháp và các luật là những văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, là cơ sở của hệ thống pháp luật Nhưng Hiến pháp và các luật trong nhiều trường hợp không thể quy định một cách chi tiết và cụ thể để áp dụng trong mọi tình huống, mà chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản mang tính nguyên tắc Chính vì vậy, chúng cần được chi tiết hóa bằng các văn bản dưới luật Các văn bản dưới luật phải được ban hành trên cơ sở những văn bản luật (Hiến pháp và các luật), phù hợp với các văn bản luật về nội dung

Yêu cầu về tính tối cao của Hiến pháp và luật còn đòi hỏi văn bản của các cơ quan chấp hành và điều hành phải được ban hành phù hợp với văn bản của các cơ quan quyền lực, cơ quan đại biểu; văn bản của các cơ quan cấp dưới phải được ban hành phù hợp với văn bản của cơ quan cấp trên, nhưng phải bảo đảm sự phân định

rõ ràng về thẩm quyền của các cơ quan ở mỗi cấp; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Thực hiện được như vậy sẽ tránh được tình trạng tản mạn, trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa các quy phạm pháp luật, tạo nên tính thống nhất của hệ thống pháp luật, làm cho việc nhận thức và thực hiện pháp luật chính xác, thống nhất hơn

Trong những trường hợp có sự mâu thuẫn giữa văn bản của các cơ quan hành chính, văn bản của các tổ chức, đoàn thể xã hội với các văn bản luật của nhà nước thì phải áp dụng quy định của các văn bản luật Để thực hiện tốt yêu cầu này cần không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời phải thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp đối với các văn bản

Trang 34

pháp luật của các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, các văn bản của các tổ chức, đoàn thể xã hội trong nước

Thứ hai: Pháp chế phải thống nhất

Tính thống nhất của pháp chế đòi hỏi mọi quy định của pháp luật phải được nhận thức và tổ chức thực hiện thống nhất trong phạm vi hiệu lực của nó Điều này đòi hỏi các quy định của pháp luật nếu chưa bị thay đổi thì phải luôn được nhận thức thống nhất theo thời gian, theo không gian (trên phạm vi lãnh thổ mà nó có hiệu lực)

và tất cả các chủ thể pháp luật đều phải nhận thức và thực hiện chúng thống nhất Yêu cầu pháp chế thống nhất cũng có nghĩa là việc tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh là nghĩa vụ bắt buộc đối với tất cả mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội, không chấp nhận sự đặc quyền và những ngoại lệ vô nguyên tắc nào Điều này xuất phát từ nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, do vậy: "Mọi cán bộ, bất cứ ở cương vị nào, đều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu trong việc tôn trọng pháp luật Không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật Mọi vi phạm đều phải được xử lý theo quy định của pháp luật Yêu cầu về tính thống nhất của pháp chế là điều kiện để xóa bỏ hiện tượng cục bộ, bản

vị, địa phương chủ nghĩa, hiện tượng "phép vua thua lệ làng", tự do vô chính phủ, bảo đảm công bằng xã hội

Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa không loại trừ hoàn toàn sự cần thiết phải tính đến những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, từng ngành Trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật cần phải xem xét đến những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, từng ngành, tìm ra những hình thức và biện pháp phù hợp để đưa pháp luật vào đời sống với hiệu quả cao nhất mà không vi phạm pháp luật, không xâm hại đến tính thống nhất của pháp chế Do vậy, nhà nước cho phép các địa phương, ngành căn cứ vào tình hình cụ thể

Trang 35

của địa phương, của ngành, có thể ban hành những quy định, quy chế cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, của ngành mình Tuy nhiên, nội dung của tất cả những quy định, quy chế đó không được trái với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và đường lối chính sách của Đảng về vấn đề đó

Thứ ba: Việc thực hiện và áp dụng pháp luật phải chính xác, triệt để

Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường pháp chế, pháp luật được hình thành

và phát triển theo nhu cầu khách quan cần điều chỉnh các quan hệ xã hội Nếu một văn bản pháp luật (văn bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản áp dụng pháp luật) được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi, đúng trình tự, thủ tục và có nội dung hợp pháp, phù hợp điều kiện thực tế thì nó phải có hiệu lực theo quy định của pháp luật Khi văn bản pháp luật đã có hiệu lực thi hành thì nó phải được thực hiện, được

áp dụng chính xác, triệt để đúng với nội dung, tinh thần của văn bản Trong quá trình thực hiện pháp luật không được coi nhẹ một văn bản pháp luật hay một quy định pháp luật nào Tính triệt để trong việc tôn trọng và thực hiện pháp luật là một biểu hiện hơn hẳn của pháp chế xã hội chủ nghĩa so với pháp chế tư sản Yêu cầu về tính chính xác trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật còn đòi hỏi bộ máy nhà nước trong mọi hoạt động quản lý, điều tra, xét xử đều phải có cơ sở pháp lý

Thứ tư: Các quyền tự do của công dân, của các tập thể và các tổ chức trong xã hội phải được đáp ứng và bảo vệ

Một trong những mục đích của pháp luật nước ta là ghi nhận, bảo vệ các quyền

tự do dân chủ cho nhân dân, đưa lại các quyền, lợi ích và hạnh phúc cho nhân dân

Do vậy, nếu như một văn bản pháp luật hoặc một quy định nào đó của pháp luật nước

ta đã lạc hậu hoặc không phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương hay của ngành, không đáp ứng được các quyền, lợi ích của nhân dân thì chúng cần phải được sửa đổi hoặc hủy bỏ Cán bộ, công chức nhà nước, những người có trách nhiệm cũng như

Trang 36

mọi công dân khi phát hiện ra những điều bất cập của pháp luật đều phải báo cáo, kiến nghị để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được những thông tin về những điều bất cập của pháp luật phải nhanh chóng xem xét và giải quyết kịp thời để đáp ứng lợi ích của nhân dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Thứ năm: Mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện và xử lý kịp thời

Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trình điều chỉnh pháp luật, làm tổn hại đến pháp chế Do vậy, nhà nước cần có những biện pháp nhanh chóng và hữu hiệu để xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm Đây vừa là yêu cầu song cũng là điều kiện để đảm bảo cho pháp chế được tăng cường

Thứ sáu: Những khiếu nại và tố cáo của công dân phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúng đắn

Công dân Việt Nam được pháp luật quy định có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm sai trái pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Do vậy, những khiếu nại, tố cáo của công dân cần phải được các cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúng đắn trong thời hạn pháp luật quy định

Thứ bảy: Thường xuyên kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật

Công tác kiểm tra, giám sát là một hoạt động phải được tiến hành thường xuyên nhằm kiểm nghiệm, đánh giá những quy định, những biện pháp hoạt động của các cấp, các ngành, các cơ quan tìm ra những giải pháp tích cực, những ưu điểm cũng như những thiếu sót, hạn chế của các bộ phận để từng bước hoàn thiện bộ máy nhà

Trang 37

nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải tiến các phương pháp hoạt động nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước Thông qua công tác kiểm tra giám sát còn cho phép phát hiện ra những thiếu sót, yếu kém về tổ chức, về hoạt động, những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật từ đó kịp thời đưa

ra những giải pháp khắc phục Hoạt động kiểm tra giám sát còn là phương tiện quan trọng để phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý những biểu hiện vi phạm pháp luật xâm hại tới trật tự quản lý nhà nước, lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích công dân, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ chính xác triệt để, tránh được tình trạng tùy tiện, tự do vô tổ chức trong các hoạt của các cơ quan nhà nước, các tổ chức

xã hội, của công dân và các chủ thể pháp luật khác

1.3 3 Nội dung tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước hiện nay

Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một chế độ xã hội có tổ chức, được xây dựng bằng lao động tự giác tích cực và sáng tạo của nhân dân lao động nhằm đạt tới những mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Để đạt được những mục tiêu đó phải thường xuyên tăng cường vai trò và phát huy hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, trong đó việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa có vị trí vai trò quan trọng Tăng cường pháp chế là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, phù hợp với những điều kiện, những đặc điểm và những nhiệm

vụ phải thực hiện trong từng giai đoạn cách mạng Vì vậy, việc tăng cường pháp chế trong giai đoạn cách mạng hiện nay, vừa cơ bản, vừa cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài Tình trạng coi thường phép nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã nghiêm trọng đến mức nguy hiểm Trật tự kỷ cương đã hết sức lỏng lẻo, chẳng những

đã gây thiệt hại về vật chất mà còn làm suy thoái bản chất vốn có của người Việt

Trang 38

Nam Nếu không tăng cường pháp chế, ngăn chặn, chấn chỉnh, xoá bỏ tình trạng vô

tổ chức, vô chính phủ, vô kỷ luật, không chấp hành nghiêm chỉnh và đầy đủ pháp luật của nhà nước thì chẳng những sự nghiệp đổi mới không thực hiện được mà còn

có thể bị biến dạng, đưa xã hội tới kết quả rất xấu không lường trước được Xuất phát

từ yêu cầu trên, nội dung tăng cường pháp chế trong giai đoạn hiện nay được thể hiện như sau:

1.3.3.1 Kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước và tư pháp

Cải cách nền hành chính là trọng tâm nhưng không phải tách rời mà phải gắn chặt với việc đổi mới hệ thống chính trị, trước hết là đổi mới và chỉnh đốn Đảng; kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan lập pháp phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân Đổi mới tổ chức và cách làm việc của Chính phủ, sắp xếp lại cán bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ một cách hợp

lý gọn nhẹ Sửa đổi cơ cấu tổ chức, phương thức hoạtđộng và chế độ làm việc của UBND các cấp, sắp xếp lại các Sở, Phòng, Ban chuyên môn một cáh hợp lý gọn nhẹ,

có hiệu quả Việc kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước và tư pháp phải gắn liền với việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ quản lý nhà nước và xét xử Cán

bộ quản lý nhà nước và cán bộ tư pháp nhất thiết phải là những người nắm vững pháp luật, để quản lý nhà nước theo đúng pháp luật của Nhà nước, phải đấu tranh khắc phục những nhận thức không đúng đắn, không đầy đủ về pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.3.3.2 Đẩy mạnh xây dựng pháp luật và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật

Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tiền đề của pháp chế xã hội chủ nghĩa Muốn tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật, phải có một hệ thóng pháp luật tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ Hiện nay, trong xã hội còn nhiều những quan hệ xã hội cần sự điều chỉnh của pháp luật, nhưng chưa có pháp luật để

Trang 39

điều chỉnh; trong số những văn bản đã có, còn nhiều văn bản dưới luật hoặc chồng chéo, hoặc lỗi thời, tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác hệ thống hoá pháp luật, đồng thời chú trọng việc xây dựng và ban hành những đạo luật mới nhất là các đạo luật lệ về kinh tế, về an ninh xã hội; trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, điều hết sức quan trọng là pháp luật phải phản ánh đúng quy luật khách quan và nhu cầu xã hội xã hội chủ nghĩa, phản ánh đúng và phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và có thể thực hiện được trong thực tế cuộc sống xã hội đang phát triển Xây dựng pháp luật phải theo đúng thẩm quyền được quy định trong Hiến pháp, đồng thời phải bảo đảm mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa Cần phải tránh khuynh hướng cho rằng kinh tế - xã hội ta còn biến động, phải chăng chỉ xây dựng những văn bản pháp luật mang tính chất định hướng chung Nhưng cũng cần phải tránh những quan điểm ban hành pháp luật không thiết thực đối với cuộc sống và quan điểm lấy chủ trương, chính sách của Đảng thay cho pháp luật của Nhà nước

Do đó, để mọi người thực hiện tốt pháp luật, trước hết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm mục đích hình thành cho mọi người có ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp nhất cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật Đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, Nhà nước, kể cả trường phổ thông, trung học, đại học, các trường của đoàn thể, cán bộ quản lý các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, đơn vị phải có kiến thức quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật, pháp chế Cần sử dụng nhiều hình thứ và biện pháp để giáo dục nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân Các cấp, các ngành, các đơn vị cởơ phải thường xuyên lo củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế để tạo điều kiện cho việc nắm vững và chấp hành nghiêm chỉnh những chế độ quy định của Nhà nước ban hành Phải bảo đảm tuân thủ, thi hành vấp dụng đúng đắn pháp luật Tuân thủ là tự kiềm chế không vi phạm điều cấm

Trang 40

thực hiện của pháp luật Sử dụng là thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép Các quyết định cá biệt có tính đơn phương và chấp hành, buộc thi hành ngay, trong trường hợp cần thiết cơ quan có thẩm quyền huy động công lực để cưỡng chế thi hành các quyết định cá biệt đo, áp dụng pháp luật là hoạt động không thể thiếu được trong tổ chức thực hiện pháp luật và bảo đảm pháp chế Thực hiện pháp luật phải bảo đảm nguyên tắc: công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép

1.3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật

Quan lý nhà nước là sự tác động có tổ chức, có hệ thống bằng pháp luật nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước Trong quá trình tác động điều chỉnh pháp luật phải thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra, giám sát loại trừ những hành vi không hợp pháp khỏi đời sống pháp chế nhà nước Có thể hiểu công tác kiểm tra, giám sát là một khâu nằm trong quá trình quản

lý nhà nước, thiếu khâu này bất thành quản lý Mục đích của công tác kiểm tra, giám sát là phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện pháp luật để kịp thời uốn nắn, sửa chữa những sai sót đó Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát nằm trong quá trình điều chỉnh pháp luật của nhà nước Kiểm tra giám sát là trách nhiệm chung của các

cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tập thể lao động và mọi công dân, nhưng trực tiếp là các cơ quan dân cử, các cơ quan kiểm sát, thanh tra Nhà nước, thanh tra nhân dân Phải tăng cường vai trò, vị trí, chức năng và kiện toàn tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của cơ quan trên, nhằm phát huy vai trò của chúng trong củng cố, bảo vệ pháp chết xã hội hủ nghĩa Trong công tác kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật phải được đặc biệt coi trọng, đảm bảo quyền khiếu nại tố cáo của công dân đối với những hành vi vi phạm pháp luật, việc kiểm tra, giám sát phải quán triệt nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa, phối hợp tốt hoạt động của các cơ quan chuyên trách, với

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật (2007), Một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2007
[5]. Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật (2012), Những vấn đề cơ bản về pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, NXB Công an Nhân dân) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân)
Năm: 2012
[8]. Th.s Vũ Duy Duẩn (2013), Bảo đảm và tăng cường pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước; Tạp Chí Cộng Sản 8/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm và tăng cường pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Th.s Vũ Duy Duẩn
Năm: 2013
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
[16]. Đỗ Ngọc Hải (2014); Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của Hiến pháp trong đời sống, Tạp chí Cộng Sản 1/1/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của Hiến pháp trong đời sống
[23]. V.I.Lênin Toàn tập (1970), Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tác giả: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
[24]. V.I.Lênin Toàn tập (1977), Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tác giả: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
[25]. V.I.Lênin Toàn tập (1981), Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
[27]. C.Mác, Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[28]. C.Mác, Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[29]. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
[30]. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, J.Stalin (1968), Về vấn đề cán bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề cán bộ
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, J.Stalin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1968
[31]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[32]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[33]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[34]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[35]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[36]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w