Tìm hiểu thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn cũng như trong văn học nói chung là một cách góp phần khẳng định tính hữu dụng của văn chương trong sự tham dự trực tiếp vào các vấn đề của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THIÊN NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THIÊN NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2018
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Phạm vi khảo sát 4
7 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 THIÊN NHIÊN - MỘT ĐỐI TƯỢNG MIÊU TẢ QUAN TRỌNG CỦA TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN 6
1.1 Mấy vấn đề về thiên nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 6
1.1.1 Giới thuyết về khái niệm “đương đại” 6
1.1.2 Thiên nhiên - một đối tượng phổ biến của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 7
1.1.3 Một số dạng thức thiên nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 12
1.2 Đỗ Phấn - một hiện tượng đáng chú ý của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 17
1.2.1 Đỗ Phấn - một nghệ sĩ đa tài 17
1.2.2 Nhìn chung về tiểu thuyết của Đỗ Phấn 20
1.2.3 Thiên nhiên - một yếu tố phổ biến trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn 22
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 MỐI QUAN HỆ THIÊN NHIÊN - CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN 27
2.1 Cuộc tương tranh giữa thiên nhiên và con người 27
2.1.1 Thiên nhiên trước quyền lực và lòng tham của con người 27
2.1.2 Con người trước quyền năng của tự nhiên 33
2.1.3 Con người và thiên nhiên - cuộc tranh chấp bất tận 38
Trang 42.2.2 Thiên nhiên - nơi con người chia sẻ tâm tình 50
2.2.3 Thiên nhiên - kẻ “đồng lõa” của con người 53
2.3 Thiên nhiên, nơi thể hiện cảm quan văn hóa của tác giả 58
2.3.1 Sự xâm lấn của thế giới văn minh đối với văn hóa truyền thống 58
2.3.2 Cuộc trở về với nguyên lí mẹ 64
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 SỰ CHI PHỐI CỦA YẾU TỐ THIÊN NHIÊN ĐẾN HÌNH THỨC TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN 70
3.1 Đối với kết cấu - cốt truyện 70
3.1.1 Tạo sự uyển chuyển cho sự vận hành của mạch truyện 70
3.1.2 Làm chùng nhịp độ, tạo độ lắng của cái nhìn về hiện thực và con người 74
3.1.3 Tác nhân quan trọng của việc mờ hóa cốt truyện 78
3.2 Đối với bút pháp trần thuật 81
3.2.1 Đảm bảo cho sự vận hành của một lối trần thuật hướng đến mô tả tâm trạng 81
3.2.2 Cơ sở của bút pháp trần thuật giàu chất thơ 85
3.2.3 Tạo ra tính “hữu họa” của văn chương 90
3.3 Đối với sự lựa chọn ngôn ngữ, giọng điệu 94
3.3.1 Với sự lựa chọn ngôn ngữ 94
3.3.2 Sự chi phối của yếu tố thiên nhiên đến giọng điệu tiểu thuyết Đỗ Phấn 97
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đỗ Phấn là một hiện tượng đặc biệt trong văn xuôi Việt Nam đương đại Mặc dù viết văn là “tay ngang” nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm trên nhiều thể loại: tiểu thuyết, tản văn, truyện dài, trong đó thành công phải kể đến là tiểu thuyết Nghiên cứu tiểu thuyết Đỗ Phấn là góp phần hình dung về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2 Ngày nay, trước sự phát triển vũ bão của khoa học kĩ thuật, sự tác đông của con người đã khiến giới tự nhiên đứng trước những nguy cơ nhãn tiền Sự xuất hiện của thế giới tự nhiên trong văn học càng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, khi nó đạt những vấn đề thiết thực về mối quan hệ môi trường với con người, cất lên tiếng nói có ý nghĩa cảnh tỉnh Những nội dung này thể hiện một cách rõ nét trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Nghiên cứu tiểu thuyết
Đỗ Phấn chính là góp phần làm sáng rõ thêm giá trị của tự nhiên đối với đời sống, cũng như trách nhiệm của con người trước thiên nhiên
1.3 Lâu nay, không ít người đã coi nhẹ vai trò của văn học vì người ta
ít thấy những giá trị nhãn tiền, tức thời của nó, bởi không có cái gọi là “tính ứng dụng” (quan sát biểu chấm các đề tài khoa học, sang kiến kinh nghiệm… thì có thể thấy điều đó) Tìm hiểu thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn (cũng như trong văn học nói chung) là một cách góp phần khẳng định tính hữu dụng của văn chương trong sự tham dự trực tiếp vào các vấn đề của đời sống đương đại, phần nào đó giúp văn chương thoát khỏi tình trạng bị cuộc sống ít nhiều xem nhẹ
Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Chỉ trong vòng chưa đầy mười năm cầm bút nhưng Đỗ phấn đã cho xuất bản hàng loạt tiểu thuyết, tản văn, truyện ngắn, truyện dài Dù mới xuất hiện nhưng những sáng tác của ông được bạn đọc rất quan tâm và đã có một
số nhà phê bình văn học chú ý
Năm 2010 Đỗ Phấn cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tiên đó là tiểu thuyết Vắng mặt Năm 2011, ông ra mắt cuốn Rừng người và Chảy qua miền bóng tối Năm 2013, Đỗ Phấn xuất bản hai cuốn tiểu thuyết Gần như là sống
và Con mắt rỗng Năm 2014 ông xuất bản Ruồi là Ruồi Khẳnng định những thành công của Đỗ Phấn ở phương diện kĩ thuật viết tiểu thuyết, Trần Nhã Thụy trong bài Vừa đi vừa bịa đăng cuốn Tiểu thuyết vắng mặt, Nxb Hội Nhà văn, 2010 viết “Không còn hư thực lẫn lộn nữa mà là vắng mặt Con người soi gương mà hốt hoảng không nhìn thấy khuôn mặt mình Cũng trong bài đó Trần Nhã Thụy nhận xét: “Và về thành phố Tiểu thuyết là tập hợp những bức tranh thành phố, ở những giai đoạn khác nhau, ráp nối lại để nhìn ngắm, soi rọi, nhớ thương hay phẫn nộ Thành phố giữa nhừng ồn tạp tưởng chừng như bất tận, giữa những “hội hè miên man”… thì chừng như vẫn muôn thủa buồn, vẫn không thể cứu vãn những mất mát Thành phố không còn kí ức” [29; 361]
Bài Đỗ Phấn giữa chúng ta của Đoàn Ánh Dương đăng trên trang http://vanchuong plusvn blog spot com ra ngày 20 tháng 4 năm 2012 đã đưa
ra một số đối sánh để làm rõ thêm trong sáng tác của Đỗ Phấn: “… Nguyễn Việt Hà và Đỗ Phấn đều từ các lĩnh vực khá muộn màng đến với văn chương, mỗi người một kiểu, mỗi cách và đều độc đáo Ở Nguyễn Việt Hà nó đọng lại
ở cấu trúc nghệ thuật ngôn từ và Đỗ Phấn, nó lửng lơ ở ngoài cái cấu trúc ngôn từ nghệ thuật ấy (…) Sáng tác của Đỗ Phấn không nhằm bày ra cho người đọc cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, cũng không tham vọng cao đàm khoát
Trang 7luận về giá trị, tư tưởng, tự do, chân lý Nó chỉ bày ra một sự thụ cảm cuộc sống một cách có nghệ thuật Cũng trong bài đó Đoàn Ánh Dương đã nêu lên những cảm nhận và đánh giá về tiểu thuyết Rừng người Đó cũng chính là cảm nhận chung về tiểu thuyết của Đỗ Phấn Đoàn Ánh Dương chỉ ra cách diễn đạt tinh tế của Đỗ Phấn “Sáng tác của Đỗ Phấn không nhằm bày ra cho người đọc cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, cũng không cao đàm thoát luận về giá trị, tư tưởng, tự do, chân lý Nó chỉ bày ra một sự thụ cảm cuộc sống một cách
có nghệ thuật” [31; 365]
Trong trang vannghequandoi.com.vn: “Nếu bạn đọc tìm ở tiểu thuyết
Đỗ Phấn một câu chuyện thì sẽ không thấy, nhưng anh ta tạo ra cảm giác về đời sống” nhà phê bình Hoài Nam nhận xét Hoài Nam nói rằng, không nên tìm Đỗ Phấn ở việc làm mới một cái gì cả, anh chỉ là người kể chuyện, kể lại những gì đã chứng kiến Và như nhiều người vẫn nhận xét, dù nghiệp văn của
Đỗ Phấn chỉ trung thành với một đề tài Hà Nội thì theo Hoài Nam: “Mỗi cuốn sách của ông vẫn là một thế giới khác”
Nguyễn Việt Hà cũng nhận xét về tiểu thuyết Đỗ Phấn: “Bao trùm lên trên của tất cả những đô thị, những đàn bà, những công chức là một tâm cảm xót xa được viết điêu luyện bằng chất văn cố dìm đi day dứt” [35; 2]
Ngoài ra, có rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đã viết bài giới thiệu về tiểu thuyết Đỗ Phấn: Đỗ Xuân Thủy (Sống trong đô thị, viết về đô thị), Hoài Nam (Cao bồi già ở phố không còn cổ), Nguyễn Trương Quý, Phạm Ngọc Tiến, Đỗ Chu, Nguyễn Chí Hoan, Lê Anh Hoài,…
Trên đây chưa phải là tất cả thành tựu nghiên cứu Đỗ Phấn, nhưng do điều kiện tư liệu, khuôn khổ, đối tượng và mục đích của đề tài nên chúng tôi chưa thống kê hết Dẫu chưa thực sự có công trình quy mô nghiên cứu một cách hệ thống yếu tố thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn, nhưng trong tất cả những gì đã viết về ông cũng phần nào giúp chúng ta hiểu về đặc điểm tiểu
Trang 8thuyết Đỗ Phấn Đó sẽ là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn
3 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu trong đề tài của chúng tôi là thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là tìm hiểu những biểu hiện của thiên nhiên trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn và chỉ ra sự chi phối của nó đến hình thức tiểu thuyết của nhà văn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Xác định những cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
4.2.2 Tìm hiểu nội dung, những biểu hiện của thiên nhiên của tự nhiên, quan niệm của tác giả về tự nhiên trong tiểu thuyết
4.2.3 Tìm hiểu sự chi phối của yếu tố thiên nhiên đến các hình thức biểu đạt của tiểu thuyết Đỗ Phấn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng lí thuyết phê bình sinh thái, sử dụng các phương pháp công cụ: phương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp loại hình, phương pháp thống kê…
Trang 9- Chảy qua bóng tối (2011), Nxb Trẻ
- Gần như là sống (2013), Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
- Ruồi là ruồi (2014), Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
- Con mắt rỗng (2014), Nxb Văn học
- Vết gió
- Rụng xuống ngày hư ảo
- Rong chơi miền kí ức
7 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với nhiệm vụ, mục đích đặt ra, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1 Thiên nhiên - một đối tượng miêu tả quan trọng của
tiểu thuyết Đỗ Phấn Chương 2 Mối quan hệ thiên nhiên - con người trong tiểu thuyết
Đỗ Phấn Chương 3 Sự chi phối của yếu tô thiên nhiên đến hình thức tiểu thuyết
Đỗ Phấn
Trang 10Chương 1 THIÊN NHIÊN - MỘT ĐỐI TƯỢNG MIÊU TẢ QUAN TRỌNG
CỦA TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
1.1 Mấy vấn đề về thiên nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 1.1.1 Giới thuyết về khái niệm “đương đại”
Về khái niệm “đương đại”, Từ điển Tiếng Việt của nhóm Hoàng Phê định nghĩa khá ngắn gọn: “thuộc về thời đại hiện nay” với ví dụ: “nền văn học đương đại” [1; 562] Từ điển này cũng chú nghĩa “đương đại” tương đương với nghĩa “hiện đại” Ở trang 678, mục từ “Hiện đại” cũng được từ điển này định nghĩa tương tự: “Thuộc về thời đại ngày nay”, với ví dụ: “Văn học hiện đại, thơ hiện đại…” [1; 678] Như vậy, theo các tác giả, hai thuật ngữ “đương đại” và “hiện đại” có nội hàm khái niệm tương đương, thậm chí là đồng nhất
“thuộc về thời đại hiện nay”
Tuy nhiên, khi gắn với văn học nghệ thuật, hai chữ đương đại (và cả chữ
“hiện đại”) cũng không được hiểu một cách sơ giản như thế Phía sau cả hai khái niệm là những câu chuyện dài của văn hóa, của diễn trình văn học nghệ thuật và liên quan đến nó là sự vận động của lịch sử - xã hội Riêng khái niệm văn học đương đại, hiện nay vẫn đang còn tồn tại một số cách hiểu khác nhau
Trước hết, liên quan đến ngành nghệ thuật, chữ “đương đại” đang được gắn với ít nhất hai cách hiểu khác nhau: thứ nhất, nghệ thuật của thời hiện tại Tuy nhiên, ngay khái niệm “thời hiện tại” này, như chúng tôi biết, hiện nay vẫn còn có sự chưa thống nhất về nội hàm (mốc thời gian tính); thứ hai, là sản phẩm nghệ thuật của một thời đại với những điểm chung nhất định về triết lý sáng tạo, cảm hứng thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật… Ở điểm này, người ta còn phân biệt nghệ thuật đương đại với nghệ thuật hiện đại Nghệ thuật hiện đại thường được hiểu là các tác phẩm nghệ thuật ra đời trong khoảng thập niên 1860 và thập niên 1970 Mặc dù nằm hai thế kỉ khác nhau, nhưng ở hai
Trang 11thời điểm, các hoạt động sáng tạo, trải nghiệm trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhất là nghệ thuật tạo hình - trình diễn đều cố gắng phá bỏ những quy phạm truyền thống, đưa nghệ thuật ra khỏi cách miêu tả thông thường tới tư duy trừu tượng Sự kết thúc của nghệ thuật hiện đại, nhiều khi được nhìn nhận ở thời điểm ra đời của nghệ thuật hậu hiện đại, sự bắt đầu của nghệ thuật đương đại - trong đó có một phần kế thừa tinh hoa của nghệ thuật hậu hiện đại - chính là dấu chấm hết của nghệ thuật hậu hiện đại Đặc điểm chung của nghệ thuật đương đại là sự sáng tạo nên các tác phẩm kết hợp đa dạng chất liệu, phương pháp, khái niệm… tạo nên một thế giới chồng lấn từ sự bất tín về hiện thực Không có cách gọi khái niệm văn học đương đại hay tiểu thuyết đương đại theo nghĩa này, nhưng nhiều khi, khái niệm văn học đương đại hay tiểu thuyết hiện đại dễ gợi những liên tưởng đến trào lưu vốn dùng phổ biến cho - như trên đã nói - là nghệ thuật tạo hình và trình diễn này
Khái niệm “đương đại” trong “văn học đương đại”, “thơ đương đại”,
“tiểu thuyết đương đại” hiện được dùng phổ biến ở Việt Nam với ý nghĩa chỉ một khoảng thời gian, gần với khái niệm “thời hiện nay” mà Từ điển Tiếng Việt xác định Tuy nhiên, điều quan trọng là vấn đề xác định mốc thời gian
Có người tính mốc thời đương đại, là thời kì từ 1945 đến nay, có người tính mốc từ 1975, cũng có người tính mốc 1986 theo cách thức, mục đích tiếp cận vấn đề Ở đây, chúng tôi chọn mốc từ 1986 đến nay, đồng nghĩa với việc xác định một mốc có tính chất ước định, tương đối, khi nói tiểu thuyết Việt Nam đương đại là nói đến những tiểu thuyết được viết và xuất bản từ 1986 đến nay (điều này dựa trên những cứ liệu mà chúng tôi có được)
1.1.2 Thiên nhiên - một đối tượng phổ biến của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Thiên nhiên đã từng được ví von mà không hề ngoa là bà mẹ vĩ đại của loài người, và đó là một phần của hiện thực cuộc sống Và vì thế, ngay từ những tác phẩm văn học đầu tiên, thiên nhiên đã xuất hiện một cách phổ biến
Trang 12và đa dạng, có khi như những người bạn tri âm, là nơi trút xả những nỗi niềm trong thơ cổ phương đông, có khi là người bạn đồng hành, là phương tiện chắp cánh ước mơ cho con người trong truyện cổ phương đông hay như những thử thách, là đối thủ tiềm tàng hay hiện hữu của con người trong những khúc sử thi Hy Lạp cổ đại Tùy vào nhận thức và cảm thức của con người, của nghệ sĩ đối với thiên nhiên, trước thiên nhiên mà mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, thiên nhiên sẽ xuất hiện với những dạng thái khác nhau
Trong văn học Việt Nam, miêu tả (hay ít nhất, đề cập) thiên nhiên cũng
đã trở thành một truyền thống, từ ca dao, cổ tích, qua văn học trung đại đến văn học hiện đại Ở các thể loại khác nhau, người ta có thể thấy thiên nhiên xuất hiện với nhiều dạng thái, dạng thức phong phú, sinh động Điều này nhiều khi được cắt nghĩa như là biểu thị cảm nhận toàn vẹn về thế giới, quan niệm thiên nhân nhất thể hay sự lệ thuộc vào tự nhiên của cư dân nông nghiệp lúa nước Với ca dao cổ tích, thiên nhiên xuất hiện gần gũi, thân thuộc bằng hình ảnh những cây tre, khóm trúc, với những bãi biển, mặt hồ… Thậm chí, thiên nhiên, đúng hơn là một số biến thể của thiên nhiên đã hằn sâu vào đời sống con người qua tên gọi các nhân vật Nếu nhìn vào ca dao, chúng ta đã thấy một thế giới tự nhiên phong phú, sinh động một mặt là biểu hiện tươi đẹp của non sông nước Việt, mặt khác là biểu hiện sự phong phú trong đời sống tâm hồn và khả năng phát hiện, chiêm ngưỡng cái đẹp của người lao động Việt Nam Trong thơ trung đại ở giai đoạn đầu, do các nguyên tắc thi pháp đặc trưng, thiên nhiên về cơ bản khoác lên mình sắc màu cao quý, thanh nhã
và đầy tính ước lệ tượng trưng trong những nét vẽ được quy phạm hóa Sự tự nhiên của thiên nhiên chỉ trở lại trong một số tác phẩm văn học viết giai đoạn cuối của thời kì văn học này Bước sang thế kỉ XX, trong công cuộc hiện đại hóa văn học dân tộc, thiên nhiên được các nghệ sĩ thời hiện đại khoác lên một màu sắc xinh tươi, tự nhiên và đầy cảm giác, là sản phẩm của sự tri nhận bằng
Trang 13các giác quan trần trụi và chân thực Trong văn học giai đoạn 1945 - 1975, người ta có thể thấy thêm một khía cạnh khá lí thú: bên cạnh các chức năng, đặc tính quen thuộc, thiên nhiên còn thực hiện cả các nhiệm vụ cách mạng
“giao cho”, kiểu “Núi giăng thành lũy sắt dày/ Rừng che bộ đội rừng vây quân thù” (Việt Bắc - Tố Hữu); “Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ/ Và hoa trái cũng biến thành vũ khí” (Ê-Mi-Li con - Tố Hữu)
Trong văn học sau 1975, với ý thức đem đến cho văn chương một đời sống mới so với giai đoạn trước đó, thiên nhiên cũng được các nhà văn cung cấp một đời sống mới mẻ hơn Trong một cái nhìn về thế giới tương đối mở, việc tiếp cận, nhận thức và miêu tả thiên nhiên cũng có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực Dĩ nhiên, những biểu hiện phong phú, đa dạng của thiên nhiên trong văn chương giai đoạn này không chỉ bắt nguồn từ cái nhìn mới mẻ, giàu khát vọng, khả năng khám phá đối tượng của các cây bút, mà còn có nguyên nhân rất cơ bản từ số phận của chính thiên nhiên trong một thời đại mới - thời đại mà chiến tranh cùng với nhu cầu phát triển, tham vọng chinh phục của con người đã đặt thiên nhiên vào tình thế hiểm nghèo nhiều khi đến mức thảm họa Điều này được viết trong ý thức trách nhiệm của nhà văn trước những biến chuyển theo chiều hướng thiếu tích cực của môi trường sinh thái
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 kế thừa truyền thống của văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng của các thời kì trước, vẫn tiếp tục tìm đến thiên nhiên như một đối tượng miêu tả hay một thứ phương tiện để bày tỏ một suy nghĩ, một tư tưởng nào đó Ngay từ tên gọi thôi, từ trước cái mốc 1986, nhiều khi chúng ta đã thấy vang lên trong tiểu thuyết một âm hưởng thiên nhiên rộng rãi: Đứng trước biển, Cù lao Chàm (Nguyễn Mạnh Tuấn) Âm hưởng ấy ngày càng thể hiện rõ thêm: Nắng đồng bằng, Bãi bờ hoang lạnh (Chu Lai), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Thủy hỏa đạo tặc
Trang 14(Hoàng Minh Tường), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Sông (Nguyễn Ngọc Tư), Bên dòng Sầu Diện (Nguyễn Đình Tú), Đất trời (Nam Dao)… Nếu
mở rộng ra khu vực truyện ngắn, âm hưởng này càng có khả năng vang vọng, với những Muối của rừng, Mưa Nhã Nam, Chuyện tình kể trong đêm mưa, Chảy đi sông ơi… (Nguyễn Huy Thiệp), Gió lẻ, Cánh đồng bất tận… (Nguyễn Ngọc Tư), Đợi mùa nắng ấm, Đom đóm vào nhà, Mầm đắng… (Tống Ngọc Hân) v.v Dĩ nhiên không phải mọi tác phẩm vừa dẫn đều lấy thiên nhiên làm đối tượng hay vấn đề miêu tả riêng biệt, độc lập, mà thiên nhiên có khi chỉ xuất hiện như là không gian để nhân vật tồn tại, như một phương tiện để miêu tả tâm trạng, hay một kí hiệu, một biểu tượng văn hóa Nhưng sự xuất hiện của đối tượng này ngay tên tác phẩm cũng ít nhiều cho thấy thiên nhiên như một ám ảnh, một nỗi niềm trong suy tư của người viết Cám hứng về thiên nhiên như một dòng bất tận cứ chảy tràn trong tiểu thuyết,
có khi êm đềm nao nao, có khi giận dữ khốc liệt Thiên nhiên trong các tác phẩm có khi như là người bạn, có khi như là đối trọng hay kẻ thù của con người Sự xuất hiện của thiên nhiên nhiều khi mang đến cho tiểu thuyết một sinh khí mới, thậm chí là góp phần quan trọng làm nên văn phong, phong cách của nhà văn, nghĩa là góp phần quan trọng làm phong phú, đa dạng hơn diện mạo của tiểu thuyết Thiên nhiên trong Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần của Tô Hoài chẳng hạn, được khắc họa với đủ cung bậc, sắc màu, đủ trạng thái Đó là những bức tranh tuyệt đẹp, dù là thiên nhiên giận dữ hay thiên nhiên hiền hòa Người đọc có thể thấy được, việc tìm đến thiên nhiên đã khiến các tác phẩm bật nổi một nghệ thuật miêu tả điêu luyện với một phong cách rất khó bắt chước Hệ thống ngôn từ giàu chất tạo hình với một lượng tính từ áp đảo, với sự phổ biến của câu nhiều thành phần và độ hài thanh cao Trong ba tác phẩm kể trên, Tô Hoài vì thế không chỉ xây dựng được hình tượng thiên nhiên mà còn xây dựng được một hình tượng ngôn ngữ sống
Trang 15động, gợi cảm, quyến rũ Trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thiên nhiên xuất hiện cũng với nhiều cung bậc, và tạo được những điểm nhấn rất ấn tượng Thật khó quên những cơn mưa rừng triền miên sũng ướt sự nhẫn nại đau khổ của người lính trong triền miên đêm với những địa danh đầy âm vang chết chóc: truông Gọi Hồn, đồi Xáo Thịt; ánh trăng lã chã trên sân thượng, lã chã trên cơ thể lõa lồ tuyệt mĩ của Phương qua sự cảm nhận tinh tế nhưng gợi một mơ hồ bất lực của Kiên… Thiên nhiên trong tiểu thuyết đương đại nhiều khi gợi một niềm phấn khích nguyên thủy ngay giữa đổ nát và chết chóc, như
là một cách tiếp thêm niềm tin, lẽ sống cho con người - mà không phải là một cái gì khác - trên tinh thần nhân bản Đây là một thoáng thiên nhiên trong Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh):
“Hình như tôi mơ thấy một dòng sông, nước trong leo lẻo Một con cá mềm mại đùa giỡn với tôi và trườn mình trong làn nước ngọt lịm Đâu đó rất
xa như có tiếng ai hát Giọng hát êm đến nỗi, tôi tưởng như mình được bay lên Đầu tôi đã gối lên đùi người đàn bà Chị ta đang thổi đinh - yơng Chị kia nằm chống tay lên mà hát (…) Người đàn bà ngồi hơi nghiêng, đầu lắc lắc thổi Âm thanh bập bùng thoáng nhẹ như lời tấm sự phát ra từ tít sâu trong tâm tưởng con người Nó rung lên, chập chờn phía sau giọng hát rất êm với giai điệu mềm đến nao lòng” [17; 29]
Đoạn văn trên kể về một tình huống trong chuỗi ngày đi lạc của Bình ngay ở trận đánh đầu tiên Người lính mười tám tuổi ấy, từ chỗ luôn mơ ước trở thành dũng sĩ diệt Mĩ đã phải chấp nhận sống trong hang đá với những người khác tộc, xa lạ cả về ngôn ngữ, văn hóa, trong cái đói, cái thiếu của đời sống thời chiến khó khăn chồng chất khó khăn Đấy là cái nhìn trong veo của chàng lính thư sinh tuổi mười tám, lạ lẫm, bỡ ngỡ và đầy khát khao, đầy tò
mò, rạo rực có phần ngây thơ Người lính ấy đứng trước một điệu hát mới, gối đầu lên một phần cơ thể lạ lẫm từ cả cách nhìn giới tính, cách nhìn không gian
Trang 16và sắc tộc, văn hóa Thiên nhiên xuất hiện, dù chỉ là trong giấc mơ (mà giấc
mơ cũng chỉ là “hình như tôi mơ thấy”), cũng rất trong trẻo, đẹp vẻ đẹp của một bức tranh sơn thủy, lại sống động một cách quả quyết, như chính tâm hồn của người lính măng tơ ấy
1.1.3 Một số dạng thức thiên nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Từ những cách nhìn khác nhau, có thể phân chia hoặc khoanh vùng các dạng thức thiên nhiên khác nhau Trên tinh thần cơ bản, chúng tôi phân chia dạng thức thiên nhiên theo trục không gian - địa lý và trục cảm nhận - quan niệm
Theo trục không gian, chúng ta có thể phân chia thiên nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại theo motif không gian rừng núi, không gian đồng bằng, không gian biển; hoặc cũng có thể chia theo không gian miền núi, không gian nông thôn và không gian thành thị Mỗi cách chia như thế lại có những biểu hiện tương ứng về cảm quan văn hóa, cảm quan sinh thái khác nhau
Nếu phân chia theo motif thiên nhiên núi rừng, đồng bằng và biển, chúng ta có thể hình dung đó là hình ảnh thu nhỏ của địa bàn sinh sống của người Việt Sự miêu tả ấy vì thế, mang trong nó một ý niệm văn hóa, ít nhất là
từ cách nhìn của người nghiên cứu Và, dường như tương ứng với mỗi motif thiên nhiên ấy lại có một số nhà văn “chuyên canh”, hay nói chính xác hơn, hình như có một số nhà tiểu thuyết tỏ ra sở trường với những vùng thẩm mĩ tương ứng
Nếu ở khu vực truyện ngắn, một số truyện của Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tống Ngọc Hân là những trang có giá trị vượt trội trong việc miêu tả thiên nhiên núi rừng, thì ở khu vực tiểu thuyết, có thể ghi nhận những thành công của một số tác giả như Đỗ Bích Thủy, Cao Duy Sơn… và một số tác giả
Trang 17miền núi phía Bắc, như Ma Trường Nguyên (Tình xứ mây, Mũi tên ám khói, Gió hoang, rễ người dài…), Vương Trung (Mối tình mường Sinh)…
Với Đỗ Bích Thúy chẳng hạn, cùng thẩm mỹ thiên nhiên núi rừng khá phổ biến trong sáng tác của chị Có ý kiến cho rằng, trong các tiểu thuyết Bóng của cây sồi, Cánh chim kiêu hãnh, Cửa hiệu giặt là, vùng thẩm mỹ được quan tâm miêu tả trước hết, và trung tâm là vùng Hà Giang quê hương của chính tác giả Đó chính là “vương quốc tuổi thơ” của nhà văn Miền tuổi thơ Hà Giang “luôn sống động trên trang văn của Đỗ Bích Thúy” Tác giả đã tạo được một thiên nhiên Tây Bắc “không lẫn vào đâu được” [14; 26- 35], và chị trở thành một trong những nhà văn viết về miền núi hay nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, người đọc có thể cảm nhận được cái hùng vĩ trùng điệp của vùng cao nguyên đá nổi tiếng hàng đầu đất nước, với những buổi trời mây mang sắc dáng riêng biệt ở đây Trên nền thiên nhiên ấy, dĩ nhiên là đời sống con người với những nguồn mạch văn hóa giàu bản sắc của họ; là những định kiến, tập tục và nhất là bi kịch của những người phụ nữ bất hạnh Trong khi đó, thiên nhiên miền núi trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên là những bức tranh vừa nên thơ, trữ tình vừa phủ một màn khói thiêng liêng, nơi thanh lọc tâm hồn con người, chống lại sự vẩn đục, chống lại cái xấu, cái ác… Rừng núi trong Đàn trời của Cao Duy Sơn là chỗ dựa, là nơi con người cảm thấy được chở che, được chia sẻ trong niềm tin và tình yêu vô hạn; rừng núi trong Gió Mù Căng của Hà Lâm Kỳ lại gắn bó với cuộc sống người Mông - một cuộc đi không mỏi trên “những đỉnh núi du ca” (chúng tôi mượn tên một cuốn sách của Trần Mạnh Tiến) v.v
Trong các tiểu thuyết viết về nông thôn, thiên nhiên cũng là một hiện tượng được “chăm sóc” kĩ lưỡng Có thể kể tên hàng loạt các tiểu thuyết có những trang viết về thiên nhiên với đủ các trạng thái, dạng vẻ khác nhau: Thời
xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường),
Trang 18Bến không chồng (Dương Hướng), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Dòng sông mía (Đào Thắng), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Sông (Nguyễn Ngọc Tư), Thoạt kì thủy, Vào cõi (Nguyễn Bình Phương), Xác phàm (Nguyễn Đình Tú),… Có bao nhiêu tiểu thuyết viết về nông thôn là có bấy nhiêu tác phẩm miêu tả thiên nhiên nông thôn Bên cạnh bức tranh thiên nhiên hiện tại, chúng ta có thể thấy vẻ đẹp của thiên nhiên xa xưa trong các tiểu thuyết viết về lịch sử như Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Trăng nước Chương Dương, Bên bờ Thiên Mạc, Trên công truyền hịch (Hà Ân), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải… Nhìn chung, thiên nhiên Việt Nam cổ xưa thường được miêu tả với vẻ đẹp trong sáng, nguyên sơ, gợi cảm giác bồi hồi, hoài niệm quá khứ, và thiên nhiên
ấy, thường nặng về mục đích “ngụ tình” Trong khi đó, thiên nhiên trong các tác phẩm viết về “cái hiện tại ngổn ngang” thường hiện lên đa sắc hơn, trần thế hơn với sự phong phú hơn về ý nghĩa Đó có thể là một cảnh trong sáng yên bình, cũng có thể là những cơn giông gió; đó có thể là một thiên nhiên đầy năng lượng, cũng có thể là một thiên nhiên hoang hoải, phải tàn
Dòng sông mía là một tác phẩm mà ngay tên gọi cũng đã gợi nên cái hoang hoải của một miền sông nước mênh mông nắng gió, bên cạnh ý nghĩa
là nó có thể cuốn trôi bao số phận, cuốn trôi bao cảnh đời Ngay đoạn mở đầu tác phẩm, thiên nhiên đã hiện ra với vẻ khắc nghiệt, giận dữ: “Gió bấc thổi xiết trên mặt sóng, táp làn hơi lạnh buốt lên cái mặt người trắng sáp, nhợt nhạt, bợt thếch, vô hồn như đã chết Cái đầu lâu nhô lên, lại ngụp xuống, mất hút trong làn nước tê buốt thấu xương; cặp môi hắn tím tái và hàm răng đánh vào nhau lập cập, thỉnh thoảng một làn hơi thở như đông đặc, quánh lại, đưa
là là trên mặt sóng Nhìn cái gáo to tổ bố, quấn ngang cái áo nâu rách tã, đứng trên bờ sẽ lầm tưởng đó là một thây người chết trôi, nếu khi hắn nhô lên người ta trông thấy hắn khoác chéo qua vai chiếc dây thừng bện bằng vỏ cây
Trang 19gai Sợi thừng dài, nối hắn với cái giỏ to kềnh đặt trên hai thân chuối ghép lại với nhau, nổi bập bềnh Bên trong cái giỏ ấy lèn chặt những con cọc giậu, con trùng trục và đám trai to cụ kị Vào tiết cuối đông, nước sông Châu xuống thấp, lui ra hẳn thềm sông, chỗ giáp với vực cánh Diễm sâu hút, ngụp xuống
mò, hắn sẽ vớ được những con trai vè, trai cơm vào hàng cụ kị họ nhà trai, miệng lúc nào cũng thè lè cái lưỡi thịt rắn chắc, vỏ đen mầu bùn, lớp vè trên lưng lâu ngày tở ra, sáng óng ánh Người ta bảo kẻ dận trai đến bậc thợ nếu có
số may còn gặp trai ngọc, bên trong đám thịt bầy nhầy giấu kín một hai viên ngọc quý Chưa bao giờ hắn vớ được ngọc, có thể người ta bịa ra để lừa nhau, hay tại số kiếp mạt hạng, dịp may không mỉm cười với hắn Hắn thấy vè trai chạm vào bàn chân tinh nhậy, sục bàn chân vào bùn chắc, bẩy lên rồi hai bàn chân mềm mại, khéo léo như vòi bạch tuộc, nâng một cụ trai lên lửng nước, lòng mừng hấp hởi Bất thần hắn đưa hai cái mỏm tay cụt lủn, sần sùi như hai đầu cọc, kẹp lấy cụ trai cơm, thả vào cái giỏ tre có hom, ướt nhớt nhát Hắn thấy vui vui, cúi người xuống tránh bớt ngọn gió bấc ngằn ngặt trên mặt sông như ngàn mũi im đâm vào da thịt hắn” [45; 8]
Đoạn văn trên miêu tả thiên nhiên trong tương quan với, và trong cảm nhận của một nhân vật đang mò trai bắt ốc dọc sông Châu Một hiện thực nghiệt ngã của tự nhiên lồng trong hiện thực đời sống nghiệt ngã phủ bóng xuống những phận người Tất cả đều hiện lên sinh động, da diết
Và cũng có thể gặp được những bức tranh thiên nhiên đồng bằng hiền hòa, bình yên Đây là cảm nhận thiên nhiên qua mùi thôn ổ: “Đến khi Nam quay ra cửa sổ, không còn nghi ngờ gì nữa, rõ mồn một, cái mùi ấy lại lững lờ dâng lên và đọng lại bên cánh mũi Hay là mùi của đầm sen? Mùi của buổi chiều Nam sục sạo nơi bùn lầy? Mùi của ngó sen gẫy trong đêm vắng? Mùi của rễ sen khuấy nơi đáy đầm? Mùi của lá sen nghiêng mình đón sương? Mùi của hoa sen rụng cánh trong mơ? Mùi của chú cá diếc mắc trong thân sen
Trang 20cạn? Mùi của nắm nhang ai đó đốt vội trưa nay gọi hồn vía Nam về” [60; 35] Một bức tranh đồng quê hiện ra đẹp đẽ, duyên dáng Điều đáng nói ở đây là
sự chấp chới sinh động của cảnh vật, từ cảnh một đầm sen có thể là rất rộng đến những ngó sen trinh bạch dầm mình trong nước; sự cựa động để tìm nguồn sống của những rễ sen; chiếc lá sen nghiêng xuống dịu dàng thục nữ, những cánh sen rơi lả tả hay cú quẫy của con cá rô mắc kẹt trong thân sen cạn đều được hình dung thông qua cảm nhận mơ hồ về mùi hương sen như một biểu tượng của đồng quê, một ẩn dụ của người dân quê hay những tâm thức Phật giáo mà mẹ Nam theo đuổi, cũng là cái gì đó có khả năng tương hợp, chở che linh hồn Nam khi đang tạm rời thể xác thế tục để kiếm tìm một chân
so với những gì người ta vẫn biết qua những bài học khoa học tự nhiên, và cả trong văn học Bởi vì biển ở đây được miêu tả trong một quan niệm khác về hiện thực
Trang 21Ở những góc nhìn khác, có thể chia thiên nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo nhánh thiên nhiên hiện thực Ở nhánh thứ hai, thiên nhiên xuất hiện như những biểu tượng, những ẩn dụ về một điều gì đó trong sự thức nhận phức tạp, sâu sắc của người viết Trường hợp Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn, Sông của Nguyễn Ngọc Tư, Dòng sông mía của Đào Thắng, những dòng sông và núi rừng trong Thoạt kỳ thủy, Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương, Xác Phàm, Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú, Miền hoang của Sương Nguyệt Minh… là những trường hợp giàu ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng của sự tàn phai, biểu tượng của sự sống, biểu tượng cuộc đời, biểu tượng của số phận… Trong nhiều tiểu thuyết viết về miền núi, thiên nhiên nhiều khi như là biểu tượng của tính thiêng, của
sự kì bí, huyền ảo như những sấm truyền hay ký ức dân tộc mang màu sắc nhân học Cũng có thể phân loại theo nhánh thiên nhiên như một vấn đề của sinh thái hay văn hóa - sinh thái như trường hợp Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn, các tác phẩm của Đỗ Phấn… nhưng do dung lượng của luận văn, chúng tôi không thể nói kĩ Nếu có dịp, chúng tôi sẽ bổ sung theo hình thức xen kẽ trong các phần tiếp theo
1.2 Đỗ Phấn - một hiện tượng đáng chú ý của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.1 Đỗ Phấn - một nghệ sĩ đa tài
Đỗ Phấn sinh tại Hà Nội vào năm 1956 Năm 1980, ông tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật, sau đó, trở thành giảng viên bộ môn mĩ thuật tại khoa kiến trúc Đại học xây dựng Hà Nội từ 1980 đến 1990, sau đó, ông sống bằng nghề vẽ, nhất là vẽ bìa sách
Đỗ Phấn là người tự do, ông tự do trong công việc, tự do trong cả sinh hoạt hàng ngày Theo một bài viết trên báo điện tử Tiền Phong, Đỗ Phấn thường dậy lúc 2 giờ sáng (trừ khi thức thâu đêm), để viết, vẽ, và… say,
Trang 22nhưng 4 giờ sáng lại đi bộ tập thể dục dọc đường Giảng Võ và quanh hồ Thành Công [66] Hẳn, những lúc thức khuya, hay dậy sớm, ông muốn cố trải lòng về với những giây phút thầm lặng cố đô để lấy lại những kỉ niệm thâm sâu từ ngày Hà Nội còn phảng phất những văn hóa của băm sáu phố phường? Còn những lúc ông đi bộ trên trục đường Giảng Võ hay quanh hồ Thành Công, phải chăng ông đang muốn tiễn nốt những giọt sương đêm và khấp khởi đón nhận một cái gì của một ngày mới Hà Nội rộn ràng bụi bặm để tích lũy thêm những phấn khởi dằn vặt từ một đô thị đang lên với những dấu cũ đang dần biến mất, những ô cửa rêu phong phố cổ đang bị che khuất bởi những ngôi nhà cao tầng, những tấm biển quảng cáo sặc sỡ với đủ chủng loại đèn nhấp nháy? Không phải ngẫu nhiên mà từng trang viết, từng nét cọ của tác giả về Hà Nội, hay về một đô thị, một làng quê phiếm chỉ đều bâng khuâng một sắc màu Hà Nội, một niềm nuối tiếc của cư dân Bắc Hà trước những gì đang diễn ra không cưỡng nổi?
Gương mặt của Đỗ Phấn dường như phần nào nói lên tính cách của tác giả Rất khó đoán được tuổi ông khi nhìn mái tóc không hẳn đen không hẳn bạc, thường được húi cua hoặc vuốt ngược ra sau để lộ vầng trán rộng, thẳng Phía sau cặp mắt kính tròn là đôi mắt sáng, linh hoạt Viền trên đôi môi đỏ là
bộ ria hai cánh lốm đốm vòng xuống cằm để gặp chòm râu phần lịch lãm, phần ngổ ngáo “Có thể gặp Phấn trên đường, xe máy cũ nát, nhưng đủ chắc
để luồn lách, bật vọt khi cần Mũ bảo hiểm cũ cũ Nghiêm nghị nhìn thẳng Chiếc mặt nạ cô đơn, bơ vơ giữa đồng loại Khép gối Không muốn chạm vào
ai Và chắc chắn không muốn ai chạm vào mình Sau yên xe, một chiếc mũ buộc hờ phòng khi có khách rượu quá giang” [66]
Tài năng và niềm đam mê văn chương của Đỗ Phấn hẳn không tự nhiên
mà có, mà ngược lại, ông nhận được ít nhiều từ truyền thống gia đình Theo một số tài liệu, ông nội của nhà văn từng lều chõng đi thi với cụ đầu xứ Tố,
Trang 23bố của nhà văn từng là Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên từ năm 1959 đến 1964
Đỗ Phấn gắn bó trước hết với mĩ thuật, nhất là kiến trúc và hội họa Con người ông có cả tư cách nghệ sĩ và cả tư cách giảng viên Điều đó lý giải
vì sao trong các sáng tác của mình, bên cạnh cái nhìn phóng khoáng, da diết đậm chất nghệ sĩ luôn luôn lấp lánh vẻ đẹp mực thước, nghiêm cẩn của một người công tác trong môi trường ít nhiều mô phạm Theo Đỗ Phấn, hội họa với ông là đam mê từ nhỏ, với sự kèm cặp, khích lệ của một số nghệ sĩ lớn, trong đó có các nhà văn Kim Lân, Tô Hoài, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Đức Nùng Việc thi đỗ vào đại học xây dựng nhưng lại bỏ ngang để ở nhà luyện vẽ thi vào trường Đại học Mĩ thuật một năm sau đó chính là một biểu hiện sống động của niềm đam mê này Mười năm sau khi tốt nghiệp Đại học, Đỗ Phấn mới có triển lãm cá nhân đầu tiên Đến nay thì ông đã có hơn bốn mươi năm cầm cọ, theo Đỗ Phấn, “nghề vẽ” đã cho ông những gì ông muốn Hiện, ngoài số tranh đã bán vì sinh kế, đã phải chuyển nhà bốn lần vì nhiều tranh quá, đến mức chính tác giả cũng ít xem lại Ông cũng đã có hơn
ba mươi triển lãm cá nhân trong và ngoài nước Một họa sĩ Việt Nam có số triển lãm cá nhân như thế quả thật là một điều đáng suy ngẫm
Dường như hội họa chưa thỏa mãn được khát vọng, nhu cầu của Đỗ Phấn trong việc tự biểu hiện và khái quát các vấn đề của hiện thực, ông tìm đến với tiểu thuyết Thực ra, Đỗ Phấn không phải là người đầu tiên, càng không là người duy nhất đi theo con đường này, nhưng điều đáng nói là thành tựu của tác giả ở lĩnh vực tiểu thuyết cũng đến rất nhanh, và đến một cách ấn tượng Cho đến nay ông đã có một gia tài tiểu thuyết khá đồ sộ Ngoài tiểu thuyết, Đỗ Phấn còn viết truyện ngắn, tạp văn, và ở khu vực nào ông cũng tạo cho mình một bản sắc rất riêng Đặc biệt, những người đã từng đọc văn chương Đỗ Phấn đều có thể thấy rằng sự kết hợp yếu tố văn chương và yếu tố hội họa trong sáng
Trang 24tác của tác giả là khá rõ Các tiểu thuyết, tạp văn hay truyện ngắn của tác giả đều thấm đẫm tinh thần hội họa qua những bức tranh ngôn từ đặc sắc: một góc phố, một dòng sông, một vườn sắn khi ban mai vừa ló hay một ngõ xóm buổi hoàng hôn sẫm màu bởi những rặng tre phủ bóng, một cánh đồng điểm vài cánh chim hay một bãi biển bâng khuâng sắc màu mặt trời lên Thậm chí, ngay tên tác phẩm của nhà văn cũng đã gợi nên những hình tượng sinh động giàu giá trị tạo hình, khiến người ta có thể tưởng đến những bức tranh u trầm bất chợt hiện về: Chảy qua bóng tối, Dằng dặc triền sông mưa, Con mắt rỗng, Rụng xuống ngày hư ảo… Dù việc xét và trao giải thưởng văn học nhiều khi chỉ là tương đối - nhất là thời hiện tại - nhưng cũng có thể coi những giải thưởng mà tác giả đạt được, trong đó có giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội, là sự ghi nhận tài năng và đóng góp của ông cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.2 Nhìn chung về tiểu thuyết của Đỗ Phấn
Đến nay thì Đỗ Phấn đã có ít nhất bảy cuốn tiểu thuyết, và đều là những cuốn để lại những ấn tượng nhất định Thế giới tiểu thuyết Đỗ Phấn là một hiên thực khá đa tạp, trong đó nổi bật là cảm nhận về nỗi cô đơn, bế tắc của con người trước đời sống khá ngột ngạt trong một xã hội đang chuyển mình vội vã trong nền kinh tế thị trường với quá trình đô thị hóa nhanh đến chóng mặt Điều này lý giải vì sao “vùng thẩm mỹ” của tiểu thuyết Đỗ Phấn chủ yếu là các khu vực đô thị, khu vực giáp ranh giữa thành thị và nông thôn Nhiều người cho biết họ cảm nhận thấy không gian phố phường Hà Nội trong hầu hết các tiểu thuyết, tạp văn của tác giả Điều này có thể đúng, nhưng không hẳn có nghĩa đối tượng trung tâm trong tiểu thuyết của nhà văn là Hà Nội Những ám ảnh Hà Nội có hình như là một mạch ngầm kí ức, đôi khi thành vô thức trên trang viết của nhà văn chỉ là một phương tiện để thể hiện một cách đằm thắm hơn những ưu tư của ông về lẽ đời, về trạng thái tồn tại của con người trong thế giới hiện đại
Trang 25Đối tượng miêu tả chủ yếu của Đỗ Phấn là những con người vì một lí do nào đó bị đẩy tới tận cùng của cô đơn hay bất hạnh trong đời sống hiện tại Nói cách khác, đó là con người bị đẩy văng khỏi cái thế giới mà nó mong muốn: một ông lão mù lòa bị tách ra khỏi cộng đồng, tách khỏi những dấu yêu xóm mạc trong quá trình đô thị hóa, với khoảng mênh mông của cô đơn và những khát khao (Chảy qua bóng tối); Những trải nghiệm về đời sống công chức chán nhàm và những nỗ lực chống lại sự nhàm chán của một họa sĩ mang trong mình những đam mê tự do, sáng tạo vả cả ước muốn thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên của đời sống; là hình ảnh con người đi tìm lại chính mình ngay nơi và khi
mà anh ta đang tồn tại (Vắng mặt, Gần như là sống) - kiểu con người này chúng ta cũng gặp trong một số tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương hay tác giả khác Điều đó không chỉ chứng tỏ sự đồng điệu giữa các nhà văn, mà còn chứng tỏ các nhà văn, trong đó có Đỗ Phấn, đã thực sự động chạm đến một phần rất bản chất của hiện thực đương đại; Là sự đánh giá, của một trí thức về gương mặt đô thị Việt Nam - một thứ không gian tù bức, ngột ngạt với những sốt sắng, những tất bật mưu sinh đa dạng của đủ hạng người (Rừng người); Là nỗi niềm trước những biến đổi nghiêm trọng của môi trường sinh thái trước sự tấn công ồ ạt của con người trên hành trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự
mở rộng một cách nhanh chóng các đô thị trong cái nhìn thiếu nhân văn, trong cảm quan văn hóa nghèo nàn, thậm chí là vô cảm (Rụng xuống ngày hư ảo, Ruồi là ruồi); Và, như trên đã nói, cũng như trong tạp văn, tiểu thuyết của Đỗ Phấn dành một phần rất đáng kể để thể hiện những trải nghiệm nồng nàn, những trải nghiệm chua xót về Hà Nội - nơi ông đã sống, có thể nói là, gần trọn cuộc đời Đó là một Hà Nội êm đềm thanh lịch với vẻ đẹp của tình người, của văn hóa Thăng Long cho dù cuộc sống đang nhiều nỗi lo toan; là một Hà Nội
ồn ào bụi bặm, bụi trần và bụi người chen lấn, nhộn nhạo với những mưu toan danh lợi… Phía sau những trạng thái ấy của Hà Nội là hình tượng một người
Trang 26đang nuối tiếc, xót xa trước sự tàn phai của những giá trị làm nên diện mạo của mảnh đất nghìn năm văn hiến
Nhìn chung, tiểu thuyết Đỗ Phấn là sự khái quát “cái hiện thực hôm nay” ngổn ngang, bề bộn bằng cái nhìn tinh thế và năng lực biểu đạt đáng trân trọng Sự mẫn cảm nghệ thuật là điều hoàn toàn có thể nói đến khi bàn năng lực nghệ thuật của nhà văn Mặc dù, đôi khi có chỗ biểu tỏ sự bất lực trước thực tại, nhưng tựu trung, Đỗ Phấn, thông qua nhân vật của mình, vẫn cho người đọc thấy một tinh thần dấn thân trên hành trình giải mã các hiện tượng,
và sau đó là các vấn đề của đời sống đương đại Một thành tựu rất quan trọng trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn là luôn cố gắng khám phá và khám phá thành công một số trạng thái bi kịch nhân sinh, với những cung bậc xúc cảm phong phú nhiều khi đa phức Trên nhiều bình diện của thi pháp, tiểu thuyết Đỗ Phấn đều có sáng tạo và có đóng góp nhất định, đấy là những miêu tả, những cảm nhận vi tế về thời gian, không gian và các chi tiết cảnh vật Hệ thống ngôn ngữ của tiểu thuyết Đỗ Phấn trong sáng, vừa giản dị, mộc mạc, vừa mang một vẻ đẹp đằm thắm, sang trọng, giàu chất triết lí và biểu cảm, và đặc biệt là giàu chất gợi hình, tạo hình với hệ thống tính từ phổ biến, ngời lên đặc trưng của sắc màu, đường nét, hình khối Nhà văn thích sử dụng phối trộn kể,
tả với độc thoại nội tâm và dòng ý thức Chúng tôi hoàn toàn tán thành với các ý kiến cho rằng Đỗ Phấn khẳng định được tài năng, cá tính của mình nhiều hơn cả ở đề tài thành thị, với những trăn trở, âu lo trong cách nhìn thấm đẫm chất hiện sinh Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, nổi lên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn, cũng là góp phần làm nên sức hấp dẫn cho tiểu thuyết của nhà văn chính là vấn đề tính dục, phụ nữ và thiên nhiên
1.2.3 Thiên nhiên - một yếu tố phổ biến trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Như trước đây luận văn đã từng đề cập, thiên nhiên vốn đã từ lâu trở thành bạn đồng hành với con người, và bởi vì là một phần của hiện thực, nên
Trang 27thiên nhiên dường như là yếu tố không thể thiếu trong tuyệt đại đa số các tác phẩm văn học Đông Tây kim cổ Thiên nhiên xuất hiện trong tiểu thuyết Đỗ Phấn trước hết là tinh thần ấy: một yếu tố bất ly của hiện thực Thiên nhiên trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn cũng nhằm mục đích trước hết tạo một môi trường, một không gian tồn tại cho con người theo ký ức cư ngụ, kiến trúc phương Đông: một khu vườn để gieo trồng; một bầu trời để cảm thấy mình trong vũ trụ, để ngửng mặt nhìn khi không biết đặt ánh mắt hay tâm trí vào đâu; một dòng sông mà trong kí ức cộng đồng cư trú trước hết là để lấy nước,
để đánh bắt, để tắm táp…, nghĩa là không gian để sinh tồn; một cành cây có con chim hót vui tai và khi cần, là nguồn sống của con người… Ở ý nghĩa này, thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn nhìn chung khá êm đềm, đẹp một
vẻ nên thơ mặc dù thỉnh thoảng cũng đỏng đảnh nổi lên vài cơn giận dữ Đây
là một cảnh trong Chảy qua bóng tối:
“Lão thèm những khoảng không gian thanh sạch đầy ắp tiếng chim Ở đấy lão mới thực sự tìm thấy mình Ở đấy là thế giới thân thương mà lão có thể cảm nhận đầy đủ nhất Gió lọt qua những cành non hăng hắc mùi lá cây giúp lão nhận biết chiều cao của những gốc phượng già mỗi ngày một lớn Tiếng chim xôn xao trên đầu làm lão hình dung ra tán lá cao rộng của từng cây bàng, cây cơm nguội Vườn cây tếch chò xanh mùa thu rụng xuống những chiếc lá to như cái quạt Chỉ mươi chiếc lá khô là đủ cho lão dọn một chỗ nằm nghỉ trên bãi cỏ êm Tiếng sóng miên man trên hồ nước bị cắt bởi ranh giới giữa con đường sắt phía tây ầm ào tiếng bánh xe lửa vấp nhịp vào lúc chín giờ sáng (…) Thảnh thơi dựa vào gốc cây nghe đàn chim sẻ râm ran cãi cọ chành chọe trong tán lá Con chào mào gọi bạn có giọng hót ậm oạch tức cười Con
ri đá ríu ran theo bầy luồn lách tìm hướng ra bờ sông…” [31; 93]
Trong đoạn văn trên bức tranh thiên nhiên hiện lên với hai điểm đáng chú ý: thứ nhất, từ cảm nhận của một người mù; thứ hai, một phần kí ức Mặc
dù vậy, người đọc vẫn có thể thấy được một bức tranh đẹp, bình dị, êm đềm
Trang 28dường như đang sẵn lòng sẻ chia, mang đến niềm vui, hay ít nhất là niềm an
ủi đối với con người mặc dù chưa đến mức cùng đường tuyệt lộ, nhưng đang đứng trước một bi kịch lớn của số phận
Cũng từ đoạn văn trên, người đọc có thể thấy hé lộ một chức năng khác của thiên nhiên trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn: thiên nhiên xuất hiện như một hoài niệm, như một vẫy gọi con người trở về “rong chơi miền ký ức” (tên một tiểu thuyết của nhà văn) Đã có rất nhiều bức tranh về thế giới tự nhiên được
Đỗ Phấn vẽ nên trong tiểu thuyết của mình như một sự gợi lại ký ức Thiên nhiên xuất hiện là thiên nhiên của một ngày nào đó xa xôi trong thẳm sâu hoài niệm của người kể chuyện, hoặc thiên nhiên là một lý do, một gợi ý để tác giả trở lại ngày xưa Ngày xưa ấy, có khi là kỉ niệm về một vùng thơ ấu êm đềm,
có khi là một miền yêu đương nồng thắm (Chảy qua bóng tối, Gần như là sống, Dằng dặc triền sông mưa…)
Thiên nhiên xuất hiện trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn còn mang những thông điệp về văn hóa Có khi, nó ngấm ngầm chuyển tải những đặc điểm hay nỗi niềm văn hóa Mẹ (hình ảnh con sông trong Chảy qua bóng tối), có khi là biểu tượng của một thời kì quá vãng xa xôi êm đềm (Dằng dặc triền sông mưa)… Đây là cảnh một bờ sông Hồng qua hồi ức ấu thơ trong Dằng dặc triền sông mưa:
“Con Hoa dẫn cả bọn xuống bến sông Bắt đầu mùa nước cạn, con Hoa bảo thế, bờ sông ra mãi ngoài xa Giòng nước réo rắt xiết giữa bờ đất lở ven sông với bãi giữa héo vàng Nước một màu hồng nhạt êm ả không giống với vài năm trước bố cho cậu đi qua cầu Long Biên Bấy giờ giòng sông hung dữ tung ngầu bọt đỏ dưới chân cầu (…)
Vượt qua bờ dốc thoai thoải khô nẻ phù sa ra đến tận bãi cát, con Hoa dẫn cả bọn đến một bãi đất ẩm thơm nức mùi hoa nhài
Sao lại có hoa nhài ở đây nhỉ? Cả bọn nhao nhao
Con Hoa cười, không phải hoa nhài đâu, đây là chỗ nước chảy ra từ
Trang 29xưởng làm xà phòng thơm trong xóm Đất ở đây mịn và thơm lắm, bọn tớ hay chơi pháo tập tang bằng đất này…” [34; 34-35]
Thiên nhiên được miêu tả ở đây là dòng sông với những nét rất đặc trưng của sông Hồng - một kì quan của Hà Nội: phù sa, màu nước đỏ và thứ đất thơm, mịn Hẳn những ai gốc Hà Nội tha hương, khi đọc được những dòng này sẽ rất bồi hồi Đoạn văn gợi lại thời thơ ấu của lũ trẻ Không chỉ dòng sông, con nước mà còn là mùi “hoa nhài” (xà phòng) từ một xưởng sản xuất thoáng gợi một nét văn hóa kinh tế thời bao cấp; trò chơi pháo tập tang đưa người đọc cùng người kể chuyện trở về với tuổi thơ lấm bụi cùng các trò chơi dân gian như một ký ức văn hóa dân tộc
Trong tính thời sự của các vấn đề về môi trường sinh thái, thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn còn xuất hiện như những thông điệp về môi trường sống đang ngày một biến dạng trong nỗi lo âu về những nguy cơ tiềm ẩn hay hiện hữu đối với con người: cuộc tấn công ồ ạt của đô thị đối với nông thôn; cuộc xây dựng triền miên để những bóng cây xanh bị chặt hạ, những khoảng trời xanh bị che lấp bởi những công trình cao tầng kiên cố và khói bụi đang thổi bay những giọt khí trời trong lành (Ruồi là ruồi, Chảy qua bóng tối, Rụng xuống ngày hư ảo, rong chơi miền kí ức, Vết gió…) Những trang viết của nhà văn thường để lại những dư ba nhức nhối trong lòng bạn đọc Đây chính là nơi thể hiện ý thức, trách nhiệm công dân trước những bể dâu của cuộc sống! Trong tiểu thuyết của Đố Phấn, cần chú ý thêm rằng thiên nhiên đôi khi thể hiện sự tồn tại tuyệt vọng trong vài cây bon sai hay một bức tranh tình cờ mà các họa sĩ vẽ trong một khoảnh khắc nào đó mà thôi
Tóm lại, cũng như văn chương truyền thống hay văn chương đương đại, Đỗ Phấn dành nhiều sự quan tâm của mình cho thiên nhiên Và thiên nhiên trong các tiểu thuyết của ông xuất hiện với nhiều dạng thái, cho thấy những suy tư nghiêm chỉnh và da diết của ông trên tinh thần của những đồng cảm, những nuối tiếc, lo âu của một nhà văn có trách nhiệm trước thời cuộc
Trang 30Tiểu kết chương 1
Cuộc sống ngày càng hiện đại và con người ngày càng nghĩ ra được nhiều con đường, chế tác được nhiều phương tiện để thiên nhiên phải phục vụ mình Tuy nhiên, trong quá trình ấy, họ đã không ngừng khiến thiên nhiên phải cạn kiệt và chính họ phải trả giá cho những hành động ấy Cùng với việc khai thác thiên nhiên, con người còn không ngừng phát động các cuộc chiến tranh với mục đích này hay mục đích khác và rất nhiều dòng sông đã nghẽn, rất nhiều khu rừng đã trụi Văn học hiện đại không thể đứng ngoài những sự biến thiên nhiên ấy Văn học đã vào cuộc để cất lên những tiếng nói nhằm sẻ chia, hoặc gióng lên những tiếng chuông cảnh báo về thiên nhiên Đỗ Phấn thuộc số nhà văn không hẳn đã viết nhiều về thiên nhiên nhưng có ý thức gửi gắm những thông điệp về thiên nhiên trong xu trào mà chúng tôi vừa nhắc đến Sự quan tâm của Đỗ Phấn đến thiên nhiên thể hiện tinh thần trách nhiệm của người cầm bút trước những vấn đề của hiện thực thời đại
Trang 31Chương 2 MỐI QUAN HỆ THIÊN NHIÊN - CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
2.1 Cuộc tương tranh giữa thiên nhiên và con người
2.1.1 Thiên nhiên trước quyền lực và lòng tham của con người
Về bản chất, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là mối quan hệ cộng sinh, do vậy việc nương tựa vào nhau là điều tất yếu Tuy nhiên, trình độ văn minh của từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử sẽ quy định một cách căn bản mối quan hệ, và quy định thái độ của con người trong mối quan hệ này Tại thời kì khoa học kĩ thuật chưa phát triển, con người chưa thể giải mã được những bí mật của tự nhiên, họ cố gắng sống hòa mình vào tự nhiên, đôi khi thậm chí lệ thuộc và sợ hãi Đấy cũng là lúc văn chương luôn miêu tả con người như một thành tố của vũ trụ trong nguyên tắc cảm nhận toàn vẹn, nhìn thấy phẩm chất mình trong tự nhiên, phẩm chất tự nhiên trong chính mì và họ say sưa ngợi ca, thưởng thức, sẻ chia với thiên nhiên Và tất nhiên, nỗi sợ hãi khiến nhiều khi họ cũng miêu tả tự nhiên như là “mụ dì ghẻ khắc nghiệt” - nhất là trong các sử thi phương Tây cổ đại Những hiểu biết, khả năng giải
mã, chinh phục thiên nhiên của con người chính là bắt đầu của một hành trình
bi kịch, khi họ tận diệt tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ mình Cho đến nay, vấn
đề môi trường đã trở thành một trong những vấn đề nóng nhất của thế giới Văn học đã phải cất tiếng để bảo vệ tự nhiên, hay hy vọng điều chỉnh mối tự nhiên với con người Trong văn học Việt Nam sau 1975, từ sự mở đường của Nguyễn Minh Châu (Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra), Nguyễn Huy Thiệp (Muối của rừng, Chảy đi sông ơi…), Trần Duy Phiên (Kiến và người, Mối và người) và các tác giả khác, trên các thể loại khác nhau đã đề cập một cách ngày càng thường xuyên hơn các vấn đề về sinh thái, về thiên nhiên
Trang 32trong tương quan phức tạp với con người, trong đó có câu chuyện nhức nhối
về lòng tham và thứ quyền lực đầy ảo tưởng của con người trước thiên nhiên Người ta, qua các tác phẩm văn học đã bắt đầu nhận thấy, con người chính là
kẻ đang sát hại thiên nhiên và chắc chắn họ sẽ phải trả giá cho những hành động quá quắt của mình Đỗ Phấn trong tiểu thuyết cũng miêu tả thiên nhiên
từ góc nhìn này
Sự vận động, phát triển của ý thức, trí tuệ và khát vọng của con người
đã ngày một kéo giãn khoảng cách giữa họ với thiên nhiên Ban đầu, con người sống dựa vào thiên nhiên, lệ thuộc vào thiên nhiên, thiên nhiên là nơi cung cấp một cách hạn chế nguồn sống cho con người Nhưng, từ khi con người không ngừng sáng chế ra các công cụ, phương tiện để chế ngự, trấn áp
và khai thác thiên nhiên thì thiên nhiên trở thành nạn nhân của trí tuệ và lòng tham của con người Trong thời hiện đại, con người không ngừng tác động vào tự nhiên một cách ngày càng tàn nhẫn hơn Thiên nhiên trong tiểu thuyết
Đỗ Phấn cũng xuất hiện với tư cách nạn nhân theo nghĩa này Con người đã nhân danh rất nhiều thứ: mưu sinh, phát triển, hiện đại hóa… để tấn công vào những mảng mẩu thiên nhiên cuối cùng, trong những chuỗi hành động không biết mệt mỏi và không tính đến sự trả giá Điều đặc biệt, và rất có ý nghĩa thời
sự, là câu chuyện tàn phá thiên nhiên thường được nhà văn miêu tả cùng với quá trình đô thị hóa Ở đó, thiên nhiên luôn phải oằn mình chịu đựng những hành vi bức tử của con người Sự bấp bênh của số phận tự nhiên trước quyền lực của con người được nhà văn miêu tả ở nhiều dạng thái, cung bậc khác nhau: có khi chỉ là những hành vi đơn lẻ, thuần túy mưu sinh nơi cùng đường, tuyệt lộ (Chảy qua bóng tối, Vắng mặt); nhưng có khi đấy là chuỗi hành động quyết liệt, có tính toán trong cơn cuồng vọng về một khối tài sản kếch xù, trong các dự án, trong những cái móc ngoặc, những cái bắt tay giữa các thế lực ngầm - đây là một hiện tượng có thật đang được các phương tiện thông tin
Trang 33đại chúng lên tiếng bóc mẽ, phanh phui, báo động hàng ngày, trong đó các dự
án liên quan đến đất đai đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân sinh và cả
an ninh kinh tế, anh ninh chính trị của đất nước - (Ruồi là ruồi, Gần như là sống, Vết gió…) Người đọc có thể thấy trong tiểu thuyết Đỗ Phấn hình ảnh những không gian yên ả với những bờ đê yên bình, những dòng sông đỏng đảnh, những đồng lúa bãi ngô nên thơ của một vùng nông thôn truyền thống
bị phá tan bởi sự xâm lấn của đời sống đô thị với những ngôi nhà bê tông cốt thép quy hoạch lộn xộn, những rác thải xả một cách vô tội vạ khiến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng; Những vũ trường, nhà hàng với các biển hiệu xanh đỏ mọc lên phá nát vẻ đẹp của những thành phố trầm mặc rất sâu vốn đầy bóng cây và tiếng chim (Vắng mặt, chảy qua bóng tối, Gần như là sống…); những khu ăn chơi được gọi là khu du lịch sinh thái với cái tên mĩ miều đầy mỉa mai “Suối thơ” thực chất là đang tàn phá những “lá phổi xanh” của một vùng ngoại ô thành phố; Người ta có thể thấy không khí trong lành đang ngày càng ô nhiễm một cách nghiêm trọng bởi các loại hình kinh doanh quái đản, nơi côn trùng và rác thải tấn công vào tận buồng ngủ, bếp ăn (Ruồi
là ruồi); Trong các bữa ăn diễn ra tại các nhà hàng, các món được chế biến từ thú rừng, từ động vật hoang dã thường xuyên xuất hiện như một thông điệp nhức nhối về sự tàn sát của con người đối với thiên nhiên Và dĩ nhiên, cùng với đó là một đời sống tinh thần hết sức bi đát với rất nhiều sự biến thái, thậm chí là tha hóa của con người
Đây là một cảnh trong Rụng xuống ngày hư ảo:
“Cây cối trong thành phố nhiều năm nay đã bị tàn phá không thương tiếc Nhà mặt phố bán buôn âm thầm hủy hoại cây bằng nhiều cách Bí mật lột từng khoanh vỏ cây về đêm Dội dầu máy cặn lên gốc cây về đêm Điện lực
và điện thoại, truyền hình công khai chặt cành phát ngọn giữa ban ngày Công trình nhà cửa mới nhổ tận gốc những cây cũ già nua chiếm chỗ Thay vào đó
Trang 34những tõn tẽn cau vua vươn trần Những thân cây vô tình gãy đổ trong mùa mưa bão được trồng thay thế bằng cây khác Ưu tiên tuyệt đối những cây dễ sống, mau lớn bất kể thành phố đang trồng loại cây gì Bây giờ khắp thành phố đang bằng lăng, muồng vàng, Đó là những cái cây nhăng nhít như thể
đủ già để gắn biển đánh số bảo vệ” [38; 55]
Quan sát cảnh trên, người ta có thể nhận ra những trăn trở đầy xót xa của nhà văn trước những thảm họa môi trường do quá trình đô thị hóa mang lại Trước hết, đấy là câu chuyện tàn phá thiên nhiên do quá trình đô thị hóa đến chóng mặt của con người mang lại Có một thực tế là, do sự thiếu thông minh của cơ cấu kinh tế, sự thiếu trách nhiệm hay trình độ của các nhà quy hoạch, do bệnh ăn xổi thành tích của các cấp chính quyền, và có thể có nhiều cái “do” khác nữa, người ta có thể thấy các đô thị đang xuất hiện ngày càng nhiều hoặc bành trướng, phình to bất chấp hậu quả là những lá phổi xanh che chở cho thành phố ngày ngày cứ mất đi, đô thị ngày càng nóng lên bởi bê tông, sắt thép; ngập lụt do rác thải làm nghẽn mương cống và do diện tích hồ đầm bị thu hẹp bởi sự tranh lấn của các công trình xây dựng Một trong những cách làm ẩu tả
ấy là câu chuyện Hà Nội gần đây đốn hạ hàng loạt cây cổ thụ và trồng một loạt cây mới đến mức báo chí phải phanh phui Tình huống Đỗ Phấn miêu tả trên đây không hẳn liên quan đến chuyện này, nhưng phản ánh kiểu tư duy ấy: tư duy ăn xổi, vội vàng không tính đến giá trị thẩm mĩ và giá trị văn hóa có chiều sâu của thủ đô ngàn năm văn hiến - một thành phố gắn với hình ảnh những hàng cây cổ thụ, dọc đường Láng, phố Khâm Thiên, đường Bưởi hay đường
Cổ Ngư mà người ta đã tước bỏ âm hưởng cổ kính nhuốm màu huyền thoại của
nó bằng cách gắn cho một cái tên hiện đại: đường Thanh Niên
Nếu như trong phần lớn tiểu thuyết của Đỗ Phấn, thông điệp về quyền lực và lòng tham của con người và những hệ lụy của nó đối với tự nhiên thường được thể hiện một cách khá mạnh mẽ nhưng có phần kín đáo, hoặc
Trang 35không thường xuyên, thì với Ruồi là ruồi, thông điệp này được phát đi một cách thường xuyên, vừa xoáy sâu, vừa tác động một cách trực tiếp và trực diện vào cảm nhận, suy tư của người đọc Bắt đầu từ những hiểu biết về tập tính của loài ruồi, trên cơ sở những trăn trở về sự hủy hoại rất đáng báo động của môi trường sống, Đỗ Phấn đã cho thấy một trong những nguyên nhân chính của sự hủy hoại môi trường ấy chính là quyền lực và lòng tham của con người Có thể thấy ở đây, ruồi chính là nhân tố khiến cuộc sống của con người bị xáo trộn, bằng việc đem đến cho họ những cảm giác bị làm phiền, nỗi lo sợ và cả sự đe dọa tính mạng bởi bệnh dịch Tuy nhiên, sự xuất hiện của ruồi lại bắt đầu từ việc môi trường bị tàn phá, từ những sinh hoạt bừa bãi
và thiếu trách nhiệm của chính họ Người ta có thể thấy ở đây một hiện tượng khá phổ biến của đời sống: con người hồn nhiên, vô tư xả rác thải ra môi trường, trong tình trạng vô ý thức, vô trách nhiệm Con người “xả rác rưởi phân gio như kêu gọi bầy ruồi đến đây mà sinh sôi” [37; 75] Và đây là hậu quả để lại sau một dịp con người có lí do để ăn chơi:
“Sau dịp tết, bãi rác phải thiết lập thêm mấy con đường cho xe đi vào Những xe rác thành phố sau một vài hôm nghỉ tết đã để lại hậu quả không ngờ trên khắp các tuyến phố…
… Những con đường mới mở vào bãi rác hôm nay ùn ùn xe cộ Người
ta đã phải điều thêm hai chiếc máy gạt hoạt động hết công suất suốt ngày đêm mới mong còn lối cho xe rác vào Những rác rưởi hữu cơ ngày tết gồm đủ thứ hoa quả cá thịt, thức ăn thừa và đồ ăn thiu bắt đầu phân hủy sau khi người ta cho phun vào bãi rác một loại vi sinh vật thúc đẩy quá trình lên men Bãi rác nóng lên hôi hổi bốc hơi làm bầy ruồi nhầm tưởng nhiệt độ thời tiết đã vào mùa sinh sản Chúng cố gắng tăng nhịp độ đẻ trứng cao nhất hòng bù đắp cho
số lượng ruồi đã bị vùi lấp bằng máy móc cơ giới và chui vào bụng những sinh vật ăn ruồi…” [37; 110-111]
Trang 36Mà không chỉ vì sự cẩu thả, vô tâm, con người, từ nhu cầu về một đời sống kim tiền, đã không ngần ngại biến không gian sống của mình thành một bãi rác thải có chủ đích:
“Hùng là tay cần cù nhạy bén Hắn bỏ mặt trận đất đai yếm thế để tập trung vào nghề đồng nát của mình Có lẽ hắn là người đầu tiên đề xuất và thực hiện một thương vụ điên rồ kì dị nhất nước Nhập rác thải ở những nước phát triển trong vùng mang về phân loại bán làm phế liệu Tất nhiên phải dưới danh nghĩa rác thải công nghiệp để thuận tiện cho việc xin cấp phép Những danh hiệu cao quý nhất của nghề đồng nát lẽ ra phải trao tặng cho phát minh chưa từng có này của hắn Vua nghề rác chẳng hạn Một đức vua toàn vẹn không chỉ trị vì vương quốc rác mà còn có công lớn trong việc ngoại giao tìm kiếm thêm rác rưởi ở các quốc gia khác mang về” [37; 48]
Đoạn văn miêu tả con đường làm giàu của Hùng, một tội phạm trốn nã Câu chuyện một tội phạm trốn nã kể trong một tiểu thuyết chẳng có gì mới lạ, thậm chí có thể nói là lãng xẹt Nhưng điều quan trọng là cung cách, là công việc làm ăn của gã Đó là câu chuyện biến đất nước thành một bãi rác khổng
lồ mà các phương tiện thông tin đại chúng đã từ lâu đưa ra những cảnh báo,
và bây giờ là những bài phản ánh nhức nhối khiến những ai có lương tâm đều khó thể bình thản khi đọc, nghe…
Cũng trong Ruồi là ruồi, người đọc có thể thấy sự tráo trở, tàn nhẫn của con người trước thiên nhiên Hùng là một thương nhân, anh ta có ít nhất hai thương vụ khiến cho môi trường ô nhiễm đến mức hủy hoại Thương vụ thứ nhất là mua rác thải từ nước ngoài về để bán phế liệu, như vừa dẫn Thương
vụ thứ hai là sản xuất rác thải để nuôi dòi bọ, dùng dòi bọ để nuôi ruồi bán ra nước ngoài Trong cả hai thương vụ này, ngoài những món lợi nhuận trước mắt, Hùng đã mất đi tất cả vào tay gã lái xe, cái còn lại của y là một cô vợ đã từng là gái phục vụ ở các quán karaoke nhuốm bẩn và những đứa con chung
Trang 37và riêng, nhưng những gì Hùng gây ra cho thiên nhiên là một thứ tội nghiệt
Đó là một bãi rác để sản sinh ra những bầy ruồi, là khu chăn nuôi ruồi gây bao bệnh tật, ô nhiễm cho những người chung quanh và thảm cảnh môi trường bị tàn phá Điều quan trọng, tệ hại hơn là Hùng đã phản bội những gì
đã mang lại lợi nhuận cho mình: Tạo rác cho ruồi đến rồi diệt ruồi, nuôi ruồi rồi vì tham lợi nhuận mà quay lưng bỏ mặc ruồi sống cuộc sống vạ vật trong
sự truy sát của con người… Hùng, dĩ nhiên, rốt cuộc đã không thể có gì từ thiên nhiên bởi đã cư xử với thiên nhiên theo cách hữu thủy vô chung, chỉ biết lợi dụng mà không biết đáp trả, dù là sự đáp đền tối thiểu
Nhìn chung, trong các tiểu thuyết của mình, Đỗ Phấn đã gửi đi những thông điệp khiến những người có lương tri phải giật mình: con người, bằng quyền lực và vì lòng tham, đang ngày ngày tàn phá thiên nhiên, đồng thời cũng đang bước từng bước tội lỗi trên hành trình hủy hoại chính mình
2.1.2 Con người trước quyền năng của tự nhiên
Thiên nhiên, như chúng tôi đã từng đề cập đến, không chỉ là nơi con người có thể tìm thấy nguồn sống, nguồn vui, nói cách khác là cung cấp cho con người nguồn sống cả về vật chất và tinh thần, mà còn là đối tượng đem đến cho con người nỗi sợ hãi khi nó nổi giận Điều này đã được đề cập đến nhiều trong văn học đông tây kim cổ Người ta đã từng chứng kiến những cơ giận dữ của thiên nhiên từ các pho sử thi cổ đại đến các tác phẩm của E Hemingway, W Faulkner, Tô Hoài hay Bảo Ninh… Thời hiện tại là thời kỳ
mà những tác động của con người lên tự nhiên vô cùng mạnh mẽ, điều đó khiến tự nhiên ngày càng biến đổi theo chiều hướng xấu thêm và những cơn giận của nó ngày càng nặng nề Những tác động của tự nhiên đến đời sống con người vì thế ngày càng trở nên khủng khiếp Người ta đã chứng kiến, mười mấy năm đầu của thế kỷ XXI, là những thảm họa kinh hoàng do thiên nhiên giáng xuống, như động đất, sóng thần, lũ lụt, giông sét… với hàng triệu
Trang 38người chết và bị thương, với con số giá trị tài sản khó thống kê hết được Cũng chính vì điều này mà ngày càng có nhiều tác phẩm văn học phát đi những thông điệp da diết về môi trường, trong đó có những cảnh báo con người về quyền năng của tự nhiên Chúng ta có thể thấy điều đó trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp…
Trong các tiểu thuyết của mình, Đỗ Phấn cũng không ngần ngại miêu tả tình thế của con người trước quyền năng của tự nhiên Đọc các tiểu thuyết của ông, chúng ta nhận ra rằng, người kể chuyện, hiểu rất rõ một điều: mặc dù, với các phương tiện kỹ thuật, với sự hiểu biết, lòng tham và sự tàn bạo, con người có thể trở thành mối đe dọa khủng khiếp của tự nhiên, nhưng thiên nhiên tưởng chừng vô tri cũng không phải là một thế giới lành hiền mà con người có thể ngang nhiên chà đạp Thiên nhiên không bao giờ tuyệt đối khuất phục Thiên nhiên có quyền năng của mình, thứ quyền năng có thể khiến con người hãi sợ
Người đọc có thể bắt gặp trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn những cảnh huống mà tự nhiên chứng tỏ quyền uy của mình khiến con người, những kẻ, theo một cách nhìn nào đó, luôn kiêu hãnh vì là chủ nhân của thiên nhiên, có thể cải tạo thiên nhiên, phải cúi đầu Đó có thể là một dòng sông chở bao kỉ niệm, nuôi dưỡng con người bằng phù sa và bằng những lời ru mênh mông sóng gió, là chỗ để con người đi về lúc cùng đường mạt vận, nhưng sẵn sàng nhấn chìm, cuốn phăng tất cả trong cơn cuồng nộ; đó có thể là một tiếng sét trong một đêm yên lặng hay một cơn giông gió trong một chiều tình cờ khiến con người bủn rủn sợ sệt; đó có thể là bất cứ sự trả đũa nào của thiên nhiên sau hàng loạt những hành động vô tâm của con người
Người đọc có thể thấy trong Chảy qua bóng tối một dòng sông khi cần thì rất thơ, là cái nôi sản sinh ra những niềm vui, những ước vọng, là nguồn sống, là nơi con người gửi gắm những nỗi niềm hoan hỉ, những âu lo, tuyệt
Trang 39vọng, thậm chí còn là nơi giải thoát cả tâm hồn và thể xác khi không còn tìm thấy những an ủi nơi cuộc sống xô bồ, bất trắc; nhưng người đọc cũng có thể thấy trong Chảy qua bóng tối một dòng sông giận dữ, sẵn sàng nhấn chìm mọi thứ trong làn nước sâu thẳm khôn lường Những cư dân bên bờ sông vẫn thường phải chịu từ con sông ấy “những trận lũ lụt kinh hoàng” Bên dòng sông ấy, những người dân như lão Quảng, lão Hoạt… đều từng phải trải qua những nỗi rợn ngợp bởi những cơn giông bất ngờ đổ đến, và sau đó: “cơn giông chuyển thành một cơn mưa lớn Không còn gió, nước như ập đến từ trên trời Nhao nhao đuổi bắt Quảng biết trong thành phố giờ này hẳn là ngập lụt rất sâu… Anh nghe rõ từng tiếng lục bục sôi réo va chạm của những thứ
đồ bỏ đi vứt bừa trên mặt ngõ nháo nhào cuốn ra sông Những vỏ chai cọc cạch va vào mặt tường Đám túi ni lông rách rào rào cuốn Những chiếc lốp
xe cũ ngắc ngứ giữa hai bờ bị rãnh nước dội vào sục soặc kêu như người chết sặc” [31; 46] Đoạn văn trên miêu tả một cơn mưa mùa hạ - một cơn mưa trong cảm nhận của một người mù Không nhìn thấy tất cả những gì đang xảy
ra quanh mình, mọi cảm nhận của nhân vật về những biến động của thiên nhiên chỉ bằng đôi tai và kinh nghiệm của người đã nhiều năm trải nghiệm cái đáng sợ của thời tiết Mặc dù những thứ trôi trong dòng nước xiết chỉ là chai
lọ, túi bóng rách - nghĩa là đồ phế thải - nhưng cũng khiến cho người đọc có cảm giác rờn rợn, thậm chí, phải đối diện với một cảm giác “sốc”, bởi, dường như cái chết đang lẩn quất đâu đó trong nước, khi người trần thuật ví von
“Những chiếc lốp xe cũ ngắc ngứ giữa hai bờ bị rãnh nước dội vào sục soặc kêu như người chết sặc” Đáng chú ý nhất là tình tiết về cái chết của con Mượt - một con chó, cũng là người bạn, đôi khi là cận vệ trung thành của lão Quảng Vì bị lây bệnh từ một con chó khác mà Liên đem về từ thành phố, con mượt đã không chịu nổi Nó đã chạy ra khỏi nhà trong một chiều mưa dữ dội
và bị cuốn phăng đi giữa dòng nước xiết Một cái chết vô tăm tích mà người
Trang 40đọc không thể lý giải được đó là sự trở về với lòng bao dung của con sông hay là sự trả thù của con sông! Thêm một chú ý nữa là việc con Mượt bị lây bệnh từ con chó gốc gác thành phố Phải chăng sự xuất hiện của yếu tố đô thị (con chó xuất hiện cùng lúc với Liên, cũng đến từ thành phố), đã mang đến cho vùng nông thôn những hiểm họa khôn lường?
Thiên nhiên hiền hòa, thiên nhiên thơ mộng, thiên nhiên cũng là nơi trút gửi những tâm tình của con người Thiên nhiên thường xuất hiện trong văn thơ
cổ, nhất là thơ cổ như là người bạn tâm tình, sẻ chia của con người Khi thất thế hay bất đắc chí, Nguyễn Trãi có thể về chốn lâm tuyền để sống cảnh “Rùa nằm hạc lặn nên bầu bạn/ Ủ ấp cùng ta làm cái con”; Nguyễn Khuyến nhìn thấy bóng dáng mình trong thiên nhiên: “Thời loạn đi về như hạc độc/ Tuổi già hình bóng tựa mây côi”; Nguyễn Du khẳng định: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”… Trong văn học hiện đại, khi con người
có điều kiện và động lực để hiểu mình hơn, hiểu tự nhiên hơn, việc xem thiên nhiên như là bạn tâm giao, là nơi chia sẻ, đi về đã dần thưa thớt, thay vào đó là những quan hệ khác Văn chương sinh thái hay văn chương miêu tả thiên nhiên như những vấn đề của sinh thái không xem xét thiên nhiên trong quan niệm có tính truyền thống Thiên nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Phấn vẫn xuất hiện với tư cách là người bạn để con người chia sẻ tâm tình, hay có khi đồng lõa với những toan tính của con người, nhưng đôi khi, nó cũng đẩy con người đến chỗ cùng cực của cô đơn khi anh sẵn nỗi cô đơn, đến chỗ cùng cực của sợ hãi nếu anh sẵn niềm sợ hãi Hân trong Vết gió đã từng phải chịu cảnh ấy:
“Khi Hân phóng xe đến giữa cầu Long Biên, trời bắt đầu trở gió Những cơn cuồng phong lướt trên cây cầu sắp phát ra tiếng động ù ù như có đoàn tàu hỏa đang đi qua Gió bốc lên làn bụi đỏ hồng bãi giữa như muốn nâng cả khối sắt thép lầm lì ấy lên cao Những thửa ngô non trên bãi giữa ngã rạp Cát bụi mù mịt bốc lên gần đến mặt cầu Dòng người trên cầu chậm lại