1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn khắc trường dưới góc nhìn văn hóa

106 218 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mảnh Đất Lắm Người Nhiều Ma Của Nguyễn Khắc Trường Dưới Góc Nhìn Văn Hóa
Tác giả Nguyễn Khắc Trường
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể hiện được điều đó, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường đã mang đến một cách nhìn mới, chân thực, sâu sắc về nông thôn Việt Nam trong những năm đầu của thời

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRƯƠNG THỊ LIÊN

MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN, 8-2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRƯƠNG THỊ LIÊN

MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN VĂN HẠNH

NGHỆ AN, 8-2018

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA 8

1.1 Tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn trong hai thập niên cuối thế kỷ XX - diện mạo, đặc điểm 8

1.1.1 Những tìm tòi thể nghiệm 8

1.1.2 Những đặc điểm nổi bật 11

1.1.3 Những thành tựu tiêu biểu 14

1.2 Con đường đến với đề tài nông thôn của Nguyễn Khắc Trường 16

1.2.1 Đường đời đường văn của Nguyễn Khắc Trường 16

81.2.2 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma - một dấu mốc trên con đường sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khắc Trường 188

1.3 Mảnh đất lắm người nhiều ma - những tìm tòi thể nghiệm của Nguyễn Khắc Trường về đề tài nông thôn 21

1.3.1 Một cái nhìn đa chiều về nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại 21

1.3.2 Kết hợp, lồng ghép nhiều chủ đề 24

1.3.3 Lựa chọn lối kể chuyện tự nhiên, khách quan, điềm tĩnh với một hệ thống chi tiết, sự kiện bộn bề 26

Chương 2 SỰ BIẾN DẠNG CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA 31

2.1 Sự pha tạp, lỗi thời của nhiều giá trị văn hóa truyền thống 31

2.1.1 Quan hệ làng xã, họ tộc 31

Trang 4

2.2 Sự biến dạng của văn hóa tâm linh 46

2.2.1 Một không gian sống đầy ma mị 47

2.2.2 Mê tín dị đoan 50

2.2.3 Tang lễ và tín ngưỡng thờ cúng 52

2.3 Văn hóa truyền thống trước những thử thách của đời sống hiện đại 56

2.3.1 Văn hóa và quyền lực 56

2.3.2 Văn hóa và đồng tiền 62

2.3.3 Quan hệ cá nhân và cộng đồng 66

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA 70

3.1 Xây dựng một không gian văn hóa mang tính điển hình 70

3.1.1 Giới thuyết khái niệm “Không gian văn hóa” 70

3.1.2 Nghệ thuật tổ chức không gian văn hóa Làng Chùa 71

3.2 Sử dụng cái kỳ ảo để mở rộng các chiều kích văn hóa tâm linh 78

3.2.1 Giới thuyết một số khái niệm hữu quan 78

3.2.2 Cái kỳ ảo với việc mở rộng không gian tâm linh 82

3.2.3 Cái kỳ ảo với việc đào sâu vào bản thể con người 84

3.3 Sử dụng tục ngữ, ngôn ngữ như những ký hiệu văn hóa 88

3.3.1 Giới thuyết khái niệm "Ký hiệu văn hóa" 88

3.3.2 Tục ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma - một dạng ký hiệu 89

3.3.3 Ngôn ngữ - ký hiệu trong Mảnh đất lắm người nhiều ma 93

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Việt Nam là một nước nông nghiệp, cuộc sống của người dân gắn

bó với làng quê; bởi vậy, từ lâu đề tài nông thôn đã thu hút sự quan tâm của đông đảo nhà văn, mà tiêu biểu là Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Khải, Đào Vũ… Cho đến nay, viết về nông thôn vẫn là nguồn cảm hứng mãnh liệt của nhiều thế hệ nhà văn, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới

1.2 Trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX, Nguyễn Khắc Trường là một trong những gương mặt nổi bật của văn xuôi viết về đề tài nông thôn Với tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Giải thưởng Hội Nhà văn 1990), Nguyễn Khắc Trường đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình

và đông đảo người đọc Tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề nóng bỏng, nhức nhối của làng quê Việt Nam trong thời hiện đại Ở đó những nét văn hóa truyền thống đang có nguy cơ bị biến dạng dưới sự tác động của cơ chế thị trường và cả những ấu trĩ, sai lầm trong đường lối chính sách phát triển nông thôn Đằng sau cái vẻ ngoài bình dị, thân quen của làng quê Việt Nam đang xảy ra những xung đột giữa các quan niệm, các giá trị văn hóa Thể hiện được điều đó, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

đã mang đến một cách nhìn mới, chân thực, sâu sắc về nông thôn Việt Nam trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới

1.3 Đã có khá nhiều bài viết, hội thảo bàn về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về tác phẩm từ góc nhìn văn hóa

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Mảnh đất lắm người nhiều

ma của Nguyễn Khắc Trường dưới góc nhìn văn hóa", nhằm góp phần làm

Trang 6

sáng tỏ thêm những giá trị nhiều mặt của tác phẩm và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Khắc Trường

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Cùng với Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường đã thu hút sự chú ý của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong hơn thập kỷ qua Trong cuộc thảo luận tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Trần Đình Sử đã đánh giá cao thành công của Nguyễn Khắc Trường Theo ông, “Cuốn sách có sức lôi cuốn

từ đầu đến cuối, nhà văn đã đề xuất một hiện tượng xã hội nghiêm trọng đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay là ý thức dòng họ, gia tộc đang gây trở ngại cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nông thôn (…) Đọc Nguyễn Khắc Trường thấy anh rất sung sức, rất giàu các vốn sống, đặc biệt ngôn ngữ rất phong phú, sinh động, các thành ngữ, tục ngữ, các ngôn ngữ

“bộ đội” được sử dụng linh hoạt làm cho lời trần thuật tươi tắn và có duyên” Đồng thời, giáo sư cũng chỉ ra mặt hạn chế còn tồn tại của cuốn sách: “Xung đột mâu thuẫn chưa quyết liệt, cách xử lí, lối trần thuật quá thiên về hài, cái bi chưa được khám phá tận đáy” (Thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25/01/1991) Cũng trong cuộc thảo luận này, nhận xét về nghệ thuật Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Đây là một cuốn truyện hấp dẫn nhờ nghệ thuật kể chuyện Sự dẫn dắt tình tiết, sự tổ chức các tình huống đã tạo được nhiều bất ngờ Các nút chuyện thắt vào, cởi ra, lại thắt vào, cởi ra, người đọc khó đoán trước được ( ) Nhiều đoạn rất có không khí nông thôn với những phong tục tưởng rất cổ xưa mà té ra là của hôm nay Tác giả cũng tạo ra được nhiều nhân vật tuy không thật sâu sắc, nhưng có những nét cá tính gây được ấn tượng đậm nét đối với người đọc, đặc biệt là những nhân vật ma quái, dị dạng hoặc những con người bị ma chê, quỉ ám như anh em lão Hàm, chị Bé, Son,

Trang 7

Đào, Quềnh…” Trên báo Giáo dục và thời đại, ngày 27/05/1991, Ngọc Anh viết: “Nguyễn Khắc Trường tỏ ra vững vàng, từ việc xây dựng truyện, xây dựng nhân vật, đến sử dụng ngôn ngữ Trong tác phẩm của anh, sự việc nọ nối tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo theo bi kịch khác, nhiều sự kiện rối rắm phức tạp, nhưng tác giả đã nhìn vào bản chất của sự việc, giải quyết thấu đáo

cứ như sự việc đúng như nó đã xảy ra như thế (…) phải công nhận rằng tác giả Nguyễn Khắc Trường am hiểu sâu về nông thôn và có vốn ngôn ngữ rất phong phú” Có cùng cách nhìn ấy, trên báo Văn nghệ ra ngày 25/01/1991, Hà Minh Đức, Phong Lê, Trung Trung Đỉnh… cho rằng đây là một tác phẩm hay viết về đề tài nông thôn trong thời kì đổi mới, để lại dấu ấn đậm nét trên văn đàn Trong bài Nguyễn Khắc Trường và Mảnh đất lắm người nhiều ma (Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh niên, 1999) thông qua tưởng tượng về cuộc đối thoại giữa người và ma, Trần Đăng Khoa đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma Theo Trần Đăng Khoa, điều đáng ghi nhận ở cuốn tiểu thuyết này là nhà văn đã có vốn sống, sự am hiểu sâu sắc về đời sống nông thôn thể hiện qua nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ của nhân vật Nhược điểm dễ nhận thấy của tác phẩm là kết cấu truyện lỏng lẻo, bố trí sự xuất hiện của nhân vật có phần gượng ép

Trong bài viết Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ cái nhìn văn hóa (Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2006) Lê Nguyên Cẩn cho rằng, “Cái tạo ra giá trị của tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với một thời kì khó khăn của đất nước mà còn là thế giới kì ảo mà Nguyễn Khắc Trường đã dụng công xây dựng với các yếu tố kì ảo rất đặc trưng, đó là môtip cái chết đi liền với môtip ma hiện hồn” Tác giả bài viết đã đi sâu phân tích thế giới kì ảo trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma từ ba góc độ: mối tình kì ảo, những nhân vật kì ảo, những nhân vật ma quái dị dạng tạo ra sự lôi cuốn từ phía

Trang 8

người đọc Tuy chỉ đề cập tới một khía cạnh của tác phẩm, nhưng bài viết đã gợi mở nhiều vấn đề cần suy nghĩ thêm từ góc nhìn văn hóa Ngoài ra còn có các bài viết của Lê Thanh Nghị trên tạp chí Tác phẩm mới tháng 8/1991, Nguyễn Hữu Sơn trên báo Người Hà Nội, Hồng Diệu trên tạp chí Văn nghệ quân đội,… đều đánh giá cao giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời chỉ ra biểu hiện "non tay" về kết cấu của Nguyễn Khắc Trường

Từ góc nhìn văn hóa, Bùi Bình Thi khẳng định: “Điều mà cuốn tiểu thuyết đã đặt ra rất có ý nghĩa đó là nông thôn bấy lâu nay không hẳn chỉ là vấn đề ruộng đất mà trên hết là một đời sống văn hoá”, còn Hồng Diệu đánh giá, đây là một tác phẩm “nổi bật lên một dáng vẻ rất riêng trong những quyển sách viết về nông thôn ta dưới chế độ Đổi mới” (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Văn nghệ Quân đội, Hà Nội số 8, tháng 8/1991) Và theo ông, bên cạnh giọng điệu hài hước, tác phẩm còn có giọng điệu khác, “chìm ở tầng dưới, đó là giọng bi thảm” Lê Nguyên Cẩn trong bài Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ cái nhìn văn hoá (Tạp chí Khoa học, số 5, 2005, Trường ĐHSP Hà Nội) nhận định: “Cái tạo ra giá trị của tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với một thời kỳ khó khăn của đất nước còn là thế giới kỳ ảo mà Nguyễn Khắc Trường đã dụng công xây dựng với các yếu tố kỳ ảo rất đặc trưng, đó là môtip cái chết đi liền với môtip

ma hiện hồn” Tác giả bài viết cũng đã chỉ ra các biểu hiện khác nhau của văn hóa giúp người đọc có hướng tiếp cận tác phẩm theo hướng văn hoá học như

“Văn hóa lịch sử”; “Văn hoá ẩm thực”; “Văn hoá cưới xin tang lễ” Cũng tiếp cận tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa, Nguyễn Văn Hùng trong bài viết Văn hóa như là nguồn mạch sáng tạp và khám phá văn chương (Tạp chí Sông Hương số 217, tháng 3/2007) cũng cho rằng, “Trong những truyện ngắn và tiểu thuyết như Thời xa vắng của Lê Lựu, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Mùa lá rụng trong vườn và đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn

Trang 9

Kháng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, ta dễ nhận thấy khuynh hướng soi sáng các sự việc, tính cách từ góc nhìn văn hoá” Và theo đó, cấu trúc đan cài số phận mỗi con người với mỗi dòng họ, gia đình, làng quê, đan cài hiện tại với các lớp trầm tích văn hóa, lịch sử Mảnh đất lắm người nhiều ma là tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn đầu tiên của Nguyễn Khắc Trường, miêu tả lề thói và thành kiến hủ lậu đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, chi phối nếp nghĩ và cách ứng xử của nông dân Trong bài viết Tín ngưỡng dân gian trong một số tiểu thuyết sau năm 1986 (Tạp chí Khoa học,

số 11 năm 2017), Phan Thúy Hằng cho rằng, “Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 xuất hiện tục thờ động vật trong khá nhiều tác phẩm như thờ Hổ (Mảnh đất lắm người nhiều ma) Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, dòng họ Trịnh

Bá thờ Hổ Gia phả dòng họ kể lại, ông nội của Trịnh Bá Hoành có cơ duyên gặp và có mối quan hệ ân nghĩa với Hổ thần Cũng từ đó, dòng họ Trịnh Bá phất lên như diều Thầy tướng bảo đó làn sự đền bù, sự phù trợ của Hổ thần Không biết do chăm chỉ làm ăn hay do được Hổ thần giúp đỡ mà đến đời Trịnh Bá Hoành đã làm được nhà gỗ, mua được ruộng, lợn đàn, trâu nái Mỗi loài vật khi được phong thần đều mang những ý nghĩa khác nhau Nếu

Hổ thần mang lại sự may mắn, thịnh vượng cho gia chủ" Có cùng quan điểm, Nguyễn Thị Mai Hương trong bài viết Văn hóa nông thôn trong tiểu thuyết sau đổi mới nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ, http://toquoc.vn/, 16/10/2014), đánh giá cao thành công của Nguyễn Khắc Trường trong việc khai thác chất liệu văn hóa dân gian Tác giả viết: “Một tiểu thuyết khác cũng khá thành công với chất liệu dân gian này là Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường: Ai may được ngọc Giếng Chùa/ Rủi ai núi Bụt thả bùa ma trêu; Con hơn cha là nhà có phúc; Muốn ăn thì lăn vào bếp; Hôn nhân, điền thổ, vạn cố chi thù; Con dại cái mang; Đầu xuôi đuôi lọt; Đâm bị thóc, chọc bị

Trang 10

gạo; Sinh có nhà, tử có mồ/ sống hiền thác lành; Rau nào sâu ấy; Cưa đứt đục suốt; Lấy độc trị độc; Miếng ăn giữa làng hơn sàng xó bếp; Ném đá dấu tay Những thành ngữ này tự bản thân nó đã cho thấy tính hàm súc trong việc biểu nghĩa Khi sử dụng thành ngữ, tục ngữ và các câu hát dân gian, tác giả tiểu thuyết đã dựng nên cả một vùng khí hậu nông thôn, vừa thâm thúy sâu sắc, vừa hóm hỉnh sâu cay Có thể nói, khai thác các thành ngữ, tục ngữ, lối nói dân dã của người dân quê chính là khai thác kho tàng minh triết dân gian -

“minh triết Việt”

Điểm lại những bài viết tiêu biểu có liên quan đến vấn đề chúng tôi quan tâm, có thể thấy, hầu hết các ý kiến mới dừng lại ở những cảm nhận bước đầu về đời sống văn hóa làng quê Việt Nam được Nguyễn Khắc Trường thể hiện trong tác phẩm Các ý kiến nhận xét, đánh giá còn thiếu tính hệ thống Chúng tôi xem đó là những ý kiến mang tính gợi mở để thực hiện đề tài, với mong muốn đưa ra một cái nhìn đa diện, có tính hệ thống về những vấn đề của văn hóa làng quê Việt Nam được Nguyễn Khắc Trường thể hiện trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát, phân tích những phương diện của đời sống văn hóa được thể hiện trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra được vị trí của tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều

ma của Nguyễn Khắc Trường trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX

Thứ hai, khảo sát, phân tích những phương diện của đời sống văn hóa được Nguyễn Khắc Trường thể hiện trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

Trang 11

Thứ ba, phân tích những phương diện nghệ thuật thể hiện các phương diện văn hóa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương diện của đời sống văn hóa Việt Nam được thể hiện trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều

ma của Nguyễn Khắc Trường

4.2 Tư liệu khảo sát chính của đề tài là tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2012) Ngoài ra, để có cơ sở so sánh, mở rộng vấn đề, chúng tôi chọn khảo sát một số tiểu thuyết viết về nông thông trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt các nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp thống kê, miêu tả

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Đề tài nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma Chương 2 Sự biến dạng của văn hóa truyền thống trong Mảnh đất

lắm người nhiều ma Chương 3 Nghệ thuật thể hiện văn hóa làng quê trong Mảnh đất lắm

người nhiều ma

Và cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo

Trang 12

về quan niệm và nghệ thuật thể hiện

Trước hết, là sự biến đổi về cấu trúc Ngoài một số tiểu thuyết có xu hướng quay về với mô hình tự sự truyền thống, kết cấu rõ ràng, mạch lạc, có

mở đầu, có kết thúc, cách kể không quá phức tạp (Thời xa vắng, Giời cao đất dày, Đứa con của thần linh, Ma làng, Bến không chồng, Thủy hỏa đạo tặc), là kiểu kết cấu phức hợp Ở đó các nhân vật (người kể chuyện, nhân vật xưng tôi, tác giả…) đối thoại với nhau trên một tinh thần bình đẳng, dân chủ, không

ai có quyền phán xét, áp đặt (Chuyện làng Cuội, Bên kia bờ ảo vọng, Ba người khác) Kết cấu như một trò chơi rubich, tạo nên sự hỗn loạn, lỏng lẻo, rời rạc, lắp ghép, gấp khúc, khó nắm bắt (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ) Kết cấu theo lối đảo lộn thời gian (quá khứ - hiện tại - tương lai), không có sự tổ chức sắp xếp theo quy luật nào (Lão Khổ, Chuyện làng Cuội) Kết cấu “buông lửng”, “bỏ ngỏ”, nhằm đưa người đọc tự do suy nghĩ, tự do sáng tạo kết thúc riêng theo quan niệm của mỗi cá nhân (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía) Bên cạnh đó là kiểu kết cấu liên văn bản, “tiểu thuyết lồng tiểu

Trang 13

thuyết” (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ, Dòng chảy đất đai)… Chính tư duy tiểu thuyết và những thay đổi quan niệm về tiểu thuyết đã chi phối nguyên tắc xây dựng tác phẩm, tạo ra nhiều mô hình cấu trúc mới mẻ Chẳng hạn: cấu trúc theo đường đời nhân vật (Thời xa vắng, Giời cao đất dày); cấu trúc đan cài số phận mỗi con người với mỗi dòng họ, gia đình, làng quê, đan cài hiện tại với các lớp trầm tích văn hóa, lịch sử (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lời nguyền hai trăm năm, Lão Khổ); cấu trúc theo ký ức hồi cố (Giời cao đất dày, Lão Khổ), cấu trúc tập trung vào nhân vật cá nhân dị biệt (Dòng sông Mía), cấu trúc đảo lộn thời gian xen kẽ quá khứ và hiện tại (Chuyện làng Cuội), cấu trúc dồn tụ chất liệu hiện thực để khắc sâu một tư tưởng, một luận đề (Dưới chín tầng trời)… Nghĩa là điểm nhìn đã được tối ưu hóa Một khi tư duy tiểu thuyết thắng thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ trong tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này cũng biến đổi Do nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống xã hội nông thôn trong thời đại mới, các nhà văn tiếp cận đời sống ở cự li gần chứ không phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M Bakhtin) nên ngôn ngữ ít mực thước, trang trọng, chuẩn mực, mĩ lệ, mà xu hướng đời thường hóa, đậm tính khẩu ngữ, thậm chí thô tục trở thành một “hiệu ứng” riêng trong phản ứng mĩ cảm của nhà văn với thế giới (Lão Khổ, Ba người khác, Thời của thánh thần) Xuất phát từ tinh thần dân chủ và ý thức cái tôi cá nhân trong việc tìm hiểu khám phá đời sống nông thôn ở bề sâu, ngôn ngữ tiểu thuyết ngày càng có xu hướng gia tăng tính triết luận, khái quát, tự do, phóng khoáng Điều đó đã đem lại những hiệu ứng tích cực trong sự tiếp nhận của công chúng (Lão Khổ, Giã biệt bóng tối, Màu rừng ruộng)

Các thế hệ nhà văn, từ những người trưởng thành trước thời kỳ Đổi mới đến lớp nhà văn xuất hiện sau thời kỳ đổi mới và cả những cây bút mới xuất hiện đều nỗ lực tìm tòi thể nghiệm Đã có hàng loạt tiểu thuyết viết về nông thôn mang một dáng vẻ, một phong cách mới lạ Thay vì lối thể hiện trường

Trang 14

thiên, là lối viết ngắn gọn, dồn nén chi tiết sự kiện trong một dung lượng khiêm tốn Nói về điều này, Tạ Duy Anh nhận xét: “Xu hướng ngắn, thu hẹp

bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa

ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không

áp đặt chân lý là dễ thấy Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó Ở đó con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” [12] Dưới áp lực của cơ chế thị trường, và sự cạnh tranh của các phương tiện nghe nhìn, con người bị cuốn vào nhịp sống gấp gáp, hối hả chạy đua với thời gian Bởi thế, ngoại trừ những nhà nghiên cứu, phê bình và những ai quan tâm đến tiểu thuyết, ít người chịu bỏ thời gian để đọc những cuốn tiểu thuyết dày hàng trăm, hàng nghìn trang như thời chống Pháp, chống Mỹ (Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyễn Hồng, Xung đột của Nguyễn Khải ) Tiểu thuyết buộc phải “thu mình lại” để có một “khuôn hình” phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin Một số tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn gây được sự chú ý với khuôn khổ nhỏ, có hình thức rất ngắn gọn, chú trọng sự cô đọng, gói gọn trong một tập, với số trang giao động trên dưới 300 Có thể dẫn ra một số tác phẩm, như: Bến không chồng (281 trang), Lời nguyền hai trăm năm (191 trang), Lão Khổ (260 trang), Ma làng (187 trang), Ba người khác (250 trang), Đứa con của thần linh (231 trang), Giời cao đất dày (243 trang), Trăm năm thoáng chốc (183 trang), Họ vẫn chưa về (210 trang), Cánh đồng lưu lạc (256 trang), Cách trở

âm dương (260 trang) Với độ dài như thế, các tác phẩm có thể chưa nói được điều gì đáng kể, song ít nhất “sự thành công của không ít tác phẩm thuộc dạng này đã nói lên rằng giá trị của một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn không phụ thuộc vào bề dày và số trang của nó” Mặt khác, nó thể hiện thiên hướng “chống lại một xu hướng chính từng ngự trị trong truyền thống: viết

Trang 15

những bộ sử thi, tùng thư dài trang được xem như một giá trị, còn viết ngắn đồng nghĩa với sự non yếu, thất bại; mặt khác minh chứng cho một sự mới mẻ rằng: tính toàn thể của thế giới chỉ có thể được biểu hiện và nhận ra trong từng phân mảnh của thực tại, rằng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt được, do vậy mà tiểu thuyết truyền thống đã rơi vào tình trạng quá nhiều lời

và thừa mứa ngôn từ” [12] Và dĩ nhiên, khuôn hình ấy không làm giảm đi dung lượng phản ánh, trái lại có sự dồn nén lớn về nội dung phản ánh hiện thực, góp phần tạo nên chất thơ và tính triết lí trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại

Như vậy, một mặt tiểu thuyết viết về nông thôn từ đổi mới trở về sau vẫn kế thừa, phát triển những đặc điểm ưu việt của hình thức nghệ thuật truyền thống, mặt khác đã tiếp thu những kỹ thuật mới của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại trên thế giới Những nét mới mẻ, tinh túy nhất được tiểu thuyết viết về nông thôn vận dụng, biến hóa linh hoạt, uyển chuyển trên tinh thần dân tộc

1.1.2 Những đặc điểm nổi bật

Sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết nói chung và trong tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn, từ sau 1986 thể hiện trên nhiều phương diện: đề tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ Cảm hứng chiến tranh, lịch sử, dân tộc của giai đoạn trước đó được thay thế bằng cảm hứng thế sự, đời tư Các tác phẩm đã tập trung tái hiện một bức tranh hiện thực đời sống ở nông thôn với nhiều mảng màu tối sáng Đó là cải cách ruộng đất, công cuộc sửa sai; là phong trào hợp tác hóa; là những nổi chìm của làng quê trong thời bao cấp

Trong mỗi biến động của thời cuộc, những làng quê Việt Nam không còn sự bình yên, êm đềm như trước đó Tất cả dường như bị xáo tung náo

Trang 16

động, rối ren Cái mới chưa được hình thành, cái cũ đã bị chao đảo, ngả nghiêng, xô lệch Đó là mảnh đất màu mỡ để những tàn tích văn hóa lạc hậu trỗi dậy Các tác giả không đi sâu khai thác mâu thuẫn giai cấp như giai đoạn trước 1945, thay vào đó là chỉ ra những bất cập trong quá trình hiện đại hóa nông thôn Đó là những mâu thuẫn giữa các dòng họ, giữa các thế hệ; là tình trạng tăm tối lạc hậu trong nhận thức của người nông dân khi để cho mê tín,

dị đoan đưa đường dẫn lối Trong mỗi trang viết, sự lãng mạn hồn nhiên đã thưa vắng Thay vào đó là những lo âu, trăn trở, nghĩ suy về cuộc sống nơi làng quê Đó dường như là bức tranh thu nhỏ của hiện thực đời sống đất nước trước những biến động của thời cuộc Trên cái nền hiện thực đời sống với đủ gam màu tối sáng, các nhà văn thời đổi mới đặc biệt quan tâm đến thân phận người nông dân Ở đó có những bi kịch của kiếp nhân sinh và cả những bi kịch dành cho những người nông dân khuất lấp sau bóng thị thành Giang Minh Sài trong Thời xa vắng (Lê Lựu) là một nhân vật như vậy Sài mang bi kịch của con người đã đánh mất mình, sống vì sự định đoạt, toan tính của người khác Nhận ra tình thế, nhưng không dám vượt thoát những trói buộc, những quan niệm, tập tục lỗi thời để nắm giữ lấy tình yêu, hạnh phúc, sống cho mình, vì mình

Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới đã có những cách tân trong tổ chức cốt truyện Không khó để nhận ra những cốt truyện được xây dựng nên bởi sự kiện giàu kịch tính Cốt truyện trong các tác phẩm như: Thời

xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Dòng sông mía (Đào Thắng), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường) đều khá rõ ràng, với

mở đầu, phát triển, kịch tính, kết thúc Người đọc có thể dựa vào những sự kiện ấy mà kể lại cho người nghe về nội dung câu chuyện Tuy nhiên, trong một số tiểu thuyết có sử dụng kết hợp thủ pháp đồng hiện giữa quá khứ và

Trang 17

hiện tại Bằng cách thức ấy, người đọc có thể hiểu rõ hơn về các sự kiện và số phận nhân vật

Nếu con người trong tiểu thuyết trước năm 1975 có sự hài hòa giữa cá nhân và tập thể, là con người được nhìn nhận trong chiều kích của lịch sử, dân tộc thì con người trong tiểu thời kỳ đổi mới là con người cá nhân, cá thể Ở

đó, con người trở thành trung tâm cho mọi kiếm tìm khám phá Có con người

ý thức, vô thức, tiềm thức, bản năng không cao ngạo, xa lạ mà gần gũi, đời thường như vốn có Đó là những người nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội với một hành trang tri thức nghèo nàn, với tâm thế của con người bị cuốn vào những lớp sóng của thời cuộc Họ chưa ý thức được một cách đầy đủ về những đổi thay, biến động của thời kỳ mới Cái có nhiều nhất ở họ là những thói quen, những toan tính của một tiểu nông quen quẩn quanh trong ao làng, chưa bao giờ được nhìn biển lớn Trong tiểu thuyết, người đọc bắt gặp một số nhân vật có thân phận, có tính cách đặc biệt, là sản phẩm của hoàn cảnh sống

Sự lầm lì, cam chịu của Sài trong Thời xa vắng có căn nguyên từ những trói buộc của tập tục, những áp đặt từ phía gia đình, sự xơ cứng máy móc của những người lãnh đạo Ẩn sâu bên trong cái vẻ ngoài nhẫn nhục cam chịu ấy

là một con người muốn vượt thoát hoàn cảnh, đi tìm hạnh phúc nhưng chưa

đủ bản lĩnh, quyết tâm để vứt bỏ tất cả những cái được coi là danh dự, là sự nghiệp Cũng như thế là số phận của Nhân, Hạnh, Vạn trong Bến không chồng của Dương Hướng Họ là nạn nhân của hoàn cảnh sống và của cả những định kiến trong quan niệm, lối sống của bản thân Danh dự và niềm kiêu hãnh của một người lính Điện Biên đã trở thành rào cản để Vạn đến với Nhân Và cũng như thế, là ý thức về tiết hạnh của người vợ liệt sĩ đã khiến cho Nhân phải chấp nhận sống cuộc đời cô quả, mặc cho những khát vọng, ước muốn trần thế trỗi dậy trong mình Vẻ đẹp của các nhân vật trong tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ này là vẻ đẹp của những tâm hồn thuần phác,

Trang 18

trong lành được bám rễ từ nền tảng đạo đức truyền thống Họ đến với cuộc sống mới với những nghĩ suy, toan tính của con người truyền thống, không dám vứt bỏ những giá trị truyền thống, ngay cả khi nó đã lỗi thời, trói buộc khát vọng sống của con người thời đại mới

Phát hiện và khắc họa thành công những nhân vật mang tính bi kịch, tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ Đổi mới đã thể hiện một diện mạo mới, thấm đẫm tình thần nhân bản Tiểu thuyết đã không còn hướng tới những đại

tự sự mà đi vào những số phận, những cảnh đời cụ thể sau lũy tre làng Ở đó con người vừa là nạn nhân của hoàn cảnh, vừa là nạn nhân của chính mình Các nhà văn đã nhìn họ bằng một cái nhìn đa diện, phát hiện con người bề sâu chìm lấp đằng sau vẻ khắc khổ, nhẫn nhục Họ vừa đáng thương, vừa đáng tội Rất ít khoảng sáng nhưng cũng không hoàn toàn tăm tối Đó đây vẫn le lói sáng khát vọng sống, ý thức vươn lên của nhân vật Nhưng tuyệt nhiên, đó không hề là sự dễ dàng, bằng phẳng, mà đầy chông gai, thử thách So với tiểu thuyết viết về nông thôn trước đó, đây là điều hoàn toàn mới mẻ, khác lạ

1.1.3 Những thành tựu tiêu biểu

Khả năng đi sâu vào thế giới nội tâm, tái hiện lại những thăng trầm của hành trình số phận con người là đặc trưng nổi bật của thể loại tiểu thuyết; bởi vậy, hiện thực đời sống nông thôn Việt Nam khi bước vào thời kì đổi mới thực

sự là mảnh đất màu mỡ cho sự bứt phá của thể loại này Nửa sau hai thập niên

80, 90 của thế kỷ trước, trong đời sống văn học đã xuất hiện một loạt tiểu thuyết

“làm cho văn đàn sôi động và sóng gió” Theo thống kê của Bùi Việt Thắng, sau

1975 “đã xuất hiện hàng loạt nhà văn chuyên tâm viết tiểu thuyết và có nhiều thành công đáng kể như: Chu Lai (11 tiểu thuyết), Lê Lựu (7 tiểu thuyết), Nguyễn Khải (7 tiểu thuyết), Ma Văn Kháng (8 tiểu thuyết) ” [50, tr 183]

Khi chiến tranh đã lùi xa, con người bắt đầu làm quen với cuộc sống đời thường, song dư âm của nó chưa thể hết trong ký ức của các nhà văn,

Trang 19

nhất là những nhà văn từng một thời trận mạc Chiến tranh vẫn ám ảnh, đi về trong tâm trí họ Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh (1991), Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng (1992), Nguyễn Quang Lập với Những mảnh đời đen trắng là những minh chứng cho sức sống của đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết thời hậu chiến

Góp phần làm nên sự phong phú, sôi động của văn đàn thời kì đổi mới

là tiểu thuyết viết về nông thôn Sự nở rộ của dòng tiểu thuyết này cho thấy một cái nhìn mới về hiện thực, con người của các nhà văn Họ đi tìm cảm hứng không phải từ những gì lớn lao, đồ sộ, mà từ những cảnh đời, những số phận ở xung quanh Gần gũi, chân thực, như chính cuộc sống vậy Hàng loạt nhà văn đã thành danh ở mảng đề tài này Đó là Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Dưới chín tầng trời (2007), Ngô Ngọc Bội với Ác mộng (1990), Tạ Duy Anh với Lão Khổ (1992), Đào Thắng với Dòng sông mía (2004), Trịnh Thanh Phong với Ma làng (2002), Hoàng Minh Tường với bộ tiểu thuyết Gia phả của đất, gồm: Thuỷ hoả đạo tặc, Đồng sau bão, Ngư phủ,

và tiểu thuyết Thời của Thánh Thần, Phạm Ngọc Tiến với Những trận gió người (sau đổi thành Gió làng Kình) Nhìn vào đó có thể thấy sức hấp dẫn của đề tài nông thôn trong cảm hứng sáng tạo của các nhà văn Phạm Ngọc Tiến đã nhận ra rằng: “chất dân dã của người nông dân tạo nên diện mạo cho nhân vật có tính cách riêng biệt, điển hình, sinh sắc Hình thái sinh hoạt nông thôn dễ đưa vào tác phẩm Đề tài nông thôn chứa đựng nhiều vấn đề trong đó như nhân sinh, đổi đời, băng hoại đạo đức ” Vấn đề không mới, song giá trị

và sức hấp dẫn nằm ở sự khám phá của mỗi nhà văn

Sự nổi trội của đề tài nông thôn không chỉ được đánh giá bằng tiêu chí

số lượng mà còn được khẳng định bằng chất lượng nghệ thuật Nhiều tác

Trang 20

phẩm viết về nông thôn đã đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhà văn, được đông đảo công chúng hồ hởi đón nhận Năm 1991, có ba tiểu thuyết đoạt giải thưởng Hội Nhà văn thì có hai tác phẩm viết về nông thôn Đó là Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng Sau nhiều năm không có tiểu thuyết đoạt giải, năm 1997 Thuỷ hoả đạo tặc đã được trao giải thưởng Cùng với đó, tiểu thuyết Dòng sông mía (Đào Thắng) được xem là hiện tượng văn học đáng chú ý thời bấy giờ

1.2 Con đường đến với đề tài nông thôn của Nguyễn Khắc Trường 1.2.1 Đường đời đường văn của Nguyễn Khắc Trường

Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 06/07/1946 tại huyện Đồng Hỉ, một vùng quê thuần nông của tỉnh Thái Nguyên Năm 1965, ông nhập ngũ, vào quân chủng Phòng không - Không quân, làm kĩ thuật vô tuyến điện ở sân bay Vĩnh Phúc Năm 1971, ông tham gia chiến dịch Đường 9 và sau đó là chiến dịch Quảng Trị, năm 1972 Năm 1993, ông chuyển về công tác tại tổ văn xuôi của báo Văn nghệ Đến năm 1986, nhà văn được trao giải nhất cho cuộc thi bút kí do tuần báo Văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức Khi đang là Phó Tổng biên tập Báo Văn Nghệ, năm 2003, ông chuyển sang làm Phó giám đốc Tổng biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn đến năm 2011 thì nghỉ hưu Hiện ông sống tại Hà Nội, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam

Nguyễn Khắc Trường đến với văn học từ những năm 20 tuổi, với bút danh Thao Trường Đó là đầu những năm 70 của thế kỷ trước, từ người lính

kĩ thuật của Quân chủng Phòng không - Không quân, Nguyễn Khắc Trường trở thành phóng viên mặt trận, viết cho tờ tin của báo binh chủng Đó là sự khởi đầu để về sau ông tham gia tạp chí Văn nghệ quân đội Cho đến nay, Nguyễn Khắc Trường mới xuất bản ba tập truyện và một tiểu thuyết Tuy nhiên, chỉ ở tiểu thuyết ông mới thể hiện được năng lực văn chương của mình

Trang 21

Với tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, ông đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong đời sống văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Nguyễn Khắc Trường đã thể hiện một cái nhìn đa chiều về nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại Ở đó, đằng sau cái vẻ ngoài bình yên là những cơn sóng ngầm

dữ dội Nó xới lật lên bao điều về làng quê Việt Nam, giúp người đọc nhận ra những vấn đề đang tiềm ẩn nguy cơ hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống

Lần đầu viết về nông thôn, cũng là lần đầu hoàn thành một cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Khắc Trường đạt được thành công lớn (trước kia ông đã từng bỏ dở một cuốn tiểu thuyết về Quảng Trị) Nhiều bạn đọc, bạn viết ngạc nhiên về vốn hiểu biết nông thôn của Nguyễn Khắc Trường, một người

mà trước đó ít bộc lộ vốn sống, sự hiểu biết về làng quê Sinh ra và lớn lên ở huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Khắc Trường là nông dân thực

sự từ nếp cảm đến lối sống Vào bộ đội rồi thành cán bộ ở cơ quan, viết văn nhưng tác giả luôn nhớ về thôn quê, nơi chôn rau cắt rốn và nhiều nơi khác ông đã từng gửi gắm một phần đời mình Bởi thế, từ lâu, Nguyễn Khắc Trường đã nung nấu ý định viết một cái gì đấy sâu sắc, tầm vóc về nông thôn, cái mảng hiện thực mà bấy giờ chứa chất bao ngổn ngang, vui ít buồn nhiều Năm 1988, hết phiên trực biên tập văn xuôi ở tạp chí Văn nghệ quân đội, Nguyễn Khắc Trường nhận nhiệm vụ đi làm phóng viên Ông đi liền ba tháng ở các tỉnh Bắc Thái, Thanh Hóa, Hải Hưng Những làng quê ở Thanh Hóa đã cuốn hút ông Ông đã sử dụng phần lớn quỹ thời gian đi lang thang khắp ba huyện Triệu Sơn, Thọ Xuân, Nga Sơn của Thanh Hóa Đó là những nơi làm ăn rất tốt hoặc trái lại, có “vụ việc” từng gây xôn xao dư luận Nhà văn đã nhiều lần thổ lộ với bạn bè rằng, ông đã say mê Thanh Hóa từ lâu Bởi lẽ, đó là một vùng không phẳng lặng Với thể loại tiểu thuyết, đó thực sự

là miền đất hứa Sau khi hoàn thành bút kí Ghi chép về một vùng quê nạp cho Tạp chí Văn nghệ quân đội, Nguyễn Khắc Trường bắt đầu viết những

Trang 22

dòng đầu tiên của tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma Nguyễn Khắc Trường chỉ lấy tư tưởng, vấn đề, cốt truyện, sự việc, con người… ở xứ Thanh, còn lời ăn tiếng nói, địa danh… thì lấy ở quê hương mình để rồi tất

cả nhào nhuyễn, hòa quyện thành tác phẩm

Là một người lính vô tuyến điện, rồi trở thành nhà văn, lại xuất thân từ nông dân, Nguyễn Khắc Trường rất thông thuộc hai đối tượng, hai đề tài, đó

là nông thôn và người lính Khi trả lời một cuộc phỏng vấn, ông bộc bạch:

“Tôi tự thấy mình thông thuộc hai đối tượng, hai đề tài, đó là nông thôn và người lính Tôi nhập ngũ từ đầu cuộc chiến tranh chống Mĩ và ở liên tục 26 năm đến khi chuyển ngành ra báo Văn nghệ Trước khi nhập ngũ, tôi đi học phổ thông và là xã viên hợp tác xã nông nghiệp, thông thạo chuyện cày bừa, gánh phân, nhổ mạ (…) Tôi yêu mến những tác giả viết về nông thôn từ bé Đến bây giờ tôi vẫn nhớ cảm giác bâng khuâng, bần thần khi đọc những trang văn viết về cảnh “nhà quê” của Nam Cao, Kim Lân và trong tôi bỗng có một

mơ ước rằng có lẽ mình cũng nên thử sức” Dám nghĩ, dám thử sức và Nguyễn Khắc Trường đã thành công khi viết về nông thôn “như tìm lại chính con người mình”

Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Nguyễn Khắc Trường đã nhận được những giải thưởng, như: Giải nhất cuộc thi bút kí của báo Văn nghệ và Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1986 với bút kí Gặp lại anh hùng Núp; giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 với tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật năm 2007 Các tác phẩm chính của ông: Cửa khẩu (Tập truyện vừa, 1972), Thác rừng (Tập truyện ngắn, 1976), Mảnh đất lắm người nhiều

ma (tiểu thuyết, 1990), Miền đất Mặt trời (tập truyện, 1982)…

1.2.2 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma - một dấu mốc trên con đường sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khắc Trường

Trang 23

Năm 1986 đã đánh dấu thời khắc quan trọng trong đời sống văn hóa

xã hội Việt Nam Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Theo đó, các nhà văn được "cởi trói", hăm hở bước vào đổi mới văn học Bầu không khí cởi mở dân chủ của đời sống đã tác động mạnh mẽ đến các nhà văn Từ các nhà văn lớp trước đi qua hai cuộc chiến tranh, như Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyên Ngọc đến những nhà văn mới xuất hiện trong thời đổi mới, như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh… tất cả đều tìm đến những quan niệm mới, cách viết mới, nhằm giải phóng cho văn học, đưa văn học đến gần hơn với cuộc sống con người Nguyễn Khắc Trường xuất hiện trong bối cảnh đó, và trở thành một trong những gương mặt nổi trội của tiểu thuyết viết về nông thôn

Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma ra đời năm 1988 Đó thực sự

là một thời khắc, một dấu mốc đáng nhớ trên hành trình sáng tạo của Nguyễn Khắc Trường Trước đó, trong bút danh Thao Trường, ông đã có một số truyện ngắn được đăng trên các báo, tạp chí, song quả là còn rất ít người biết đến ông Nói cách khác, ông chưa có gì nổi trội so với những người cùng thời Tuy nhiên, ngay sau khi tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma được xuất bản, Nguyễn Khắc Trường nhanh chóng chiếm được vị trí hàng đầu trên các báo, tạp chí bàn về văn học Nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, phỏng vấn đã liên tiếp được tổ chức, thu hút sự quan tâm không chỉ của giới nghiên cứu phê bình văn học, mà cả đông đảo quần chúng, đủ mọi ngành, mọi giới Có thể xem, Mảnh đất lắm người nhiều ma là một phát hiện, một hiện tượng văn học viết về nông thôn bấy giờ

Với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường đã thể hiện cái nhìn mới về nông thôn Xen lẫn, đan cài trong những chi tiết, sự kiện xảy

ra ở một vùng quê là một bức tranh lắm mảng màu, nhiều gam tối sáng về nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại Quá khứ và hiện tại, truyền thống và

Trang 24

hiện đại, cái tốt và cái xấu đều được hòa trộn, đan cài, không phân chia thành tuyến như phần nhiều tiểu thuyết viết về nông thôn trước đó Nhiều kỹ thuật viết của tiểu thuyết hiện đại đã được ông tiếp thu một cách sáng tạo, bên cạnh việc kế thừa lối viết quen thuộc của tiểu thuyết Việt nam truyền thống, tạo nên tính đa thanh, đa giọng Và cùng với đó là sự mới lạ, độc đáo trong tổ chức kết cấu và nghệ thuật trần thuật

Với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường đã cho thấy một khả năng phát hiện, suy tư và một cách thể hiện mới mẻ về đề tài nông thôn, một đề tài mà trước đó nhiều nhà văn đã khẳng định được vị thế của mình trong văn học Việt Nam Ở vào tuổi 44, cái tuổi đủ những trải nghiệm trong cảm xúc, chín chắn trong nghĩ suy, Nguyễn Khắc Trường đã khẳng định mình trên con đường sáng tạo nghệ thuật bằng một cuốn tiểu thuyết mà cho đến nay vẫn là duy nhất của ông Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình, với sự đạo diễn của Nguyễn Hữu Phần, dài 20 tập với tiêu đề Đất

và người ra mắt bạn xem truyền hình vào giữa năm 2002 Hãng phim truyền hình Việt Nam đã mời nhà văn Khuất Quang Thụy là người có nhiều vốn sống về nông thôn miền Bắc và hiểu biết khá kĩ lưỡng về nhà văn Nguyễn Khắc Trường làm người biên kịch, với sự trợ giúp của một biên tập viên có kinh nghiệm của hãng là nhà văn Phạm Ngọc Tiến Trong một bài trả lời phỏng vấn, đạo diễn Nguyễn Hữu Phần cho biết đã “thay đổi một phần kết cấu truyện, thêm bớt các tình tiết và nhân vật để phù hợp với ngôn ngữ điện ảnh và tính chất của phim truyền hình Tác giả tiểu thuyết cũng như kịch bản

là những người rất am hiểu về nông thôn, tạo thuận lợi cho đoàn làm phim Nội dung phim cũng có nhiều biến tấu Điều quan trọng là những thay đổi đó không làm mất đi sự hấp dẫn, ngược lại phần nào làm phong phú, đa dạng hơn về cuộc sống, tính cách người nông dân và thể hiện cách nhìn nhân hậu, đầm ấm hơn về nông thôn…” Bộ phim đã tạo được ấn tượng, thu hút sự chú

Trang 25

ý của công chúng xem truyền hình, được phát sóng trên kênh VTV1, Đài truyền hình Việt Nam

1.3 Mảnh đất lắm người nhiều ma - những tìm tòi thể nghiệm của Nguyễn Khắc Trường về đề tài nông thôn

1.3.1 Một cái nhìn đa chiều về nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại

Đề tài nông thôn là niềm trăn trở, ấp ủ từ lâu của nhà văn Nguyễn Khắc Trường Viết một cái gì đó về nông thôn luôn là niềm thôi thúc trong ý tưởng sáng tạo của ông Và dịp đó đã đến Sau thời gian dài đi thực tế ở một số vùng nông thôn ở Thanh Hóa, cộng với vốn sống của một nhà văn xuất thân từ bờ tre gốc rạ, ông đã nhìn thấy nhiều vấn đề của nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại, chìm lấp đằng sau cái vẻ ngoài êm đềm, bình lặng, mà nếu không

"cố tìm" sẽ không thể nào thấy được

Không gian, bối cảnh của câu chuyện là vùng nông thôn ven sông Công (Thái Nguyên) trong thời kỳ đất nước bước vào công cuộc đổi mới Nội dung chính của tiểu thuyết xoay quanh cuộc đấu đá giữa hai dòng họ, họ Vũ và họ Trịnh ở làng Giếng Chùa, mà đại diện là Vũ Đình Phúc (trưởng họ Vũ) và anh

em Trịnh Bá Hàm (trưởng họ Trịnh), Trịnh Bá Thủ (em của Hàm, bí thư Đảng ủy xã) Đây là hai dòng họ lớn nhất và có máu mặt nhất trong làng Nhiều người giàu có, có quyền chức, lại có nhiều người đi thoát li, biết nhiều

và cũng rất xảo quyệt Mối hiềm khích, thâm thù giữa hai dòng họ có từ lâu

và chưa có dấu hiệu chấm dứt Đến đời Phúc - Hàm mâu thuẫn càng trở nên gay gắt vì nhiều lẽ Có nguyên nhân từ những cuộc tình trắc trở của Phúc và Hàm; có nguyên nhân từ hội chứng "nghiện chức quyền", hãnh tiến của những con người tham lam trục lợi Trước kia, khi còn trẻ, Phúc yêu bà Son, lúc đó Phúc đã có vợ Không dám vượt qua dư luận, đặc biệt là sự thù hận giữa hai dòng họ, Phúc đã bỏ bà Son Bà Son bị bố mẹ ép gả cho Hàm (có biệt danh Hàm thọt) Sau ngày cưới, Hàm phát hiện vợ mình đã không còn

Trang 26

trinh tiết, điều trước đó Hàm không thể nào tưởng tượng nổi Bà Son hóa thành cái bóng trong nhà Hàm Âm thầm, lầm lũi, nhẫn nhục Nỗi nhục, niềm đau không thể nói thành lời đã khiến cho Hàm cay cú, thù hận Phúc

Từ câu chuyện xung đột, đấu đá, ân oán giữa hai dòng họ, Nguyễn Khắc Trường đã mở rộng vấn đề, phát triển câu chuyện theo nhiều chiều kích với những xung đột đan cài Ở đó có xung đột giữa những người đảng viên thoái hóa biến chất Họ để cho sự nhỏ nhen ích kỷ, mối tư thù lấn át lý tưởng, công việc, quên trách nhiệm, bổn phận của người đảng viên trước nhân dân Nhân danh tổ chức Đảng, họ đã phân chia quyền lực theo dòng họ, ngấm ngầm cạnh tranh, hạ bệ nhau Theo đó, Trịnh Bá Thủ làm bí thư, Vũ Đình Phúc làm chủ nhiệm hợp tác xã Những kẻ thoái hóa biến chất trong hàng ngũ của đảng đã làm cho bức tranh nông thôn thêm ảm đạm, xám xịt Cuộc chiến quyền lực dường như không có điểm dừng Hai họ không thể dung hòa Tổ chức đảng ở nông thôn đã bị lũng đoạn, thao túng Đó là một phát hiện có ý nghĩa cảnh báo sâu sắc của Nguyễn Khắc Trường về thực trạng nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại Đỉnh điểm của xung đột, ân oán là việc Trịnh

Bá Hàm âm mưu đào mộ bố Vũ Đình Phúc vừa mới mất, để yểm bùa, hãm hại dòng họ Vũ Việc bại lộ, Trịnh Bá Hàm bị bắt giam Mọi mưu mô thủ đoạn đều được dùng để tìm cách hạ bệ, làm nhục đối thủ Trịnh Bá Thủ dùng

bà Son, chị dâu mình để giăng bẫy Vũ Đình Phúc Và kết quả là Phúc bị ép phải đồng ý để ông Hàm được tự do Bà Son bị ép, giả mạo viết đơn tố cáo Phúc có ý định cưỡng hiếp mình Cái chết vì không chịu được sự nhục nhã của bà Son đã đẩy xung đột và ý nghĩa câu chuyện rẽ sang một hướng khác

Đó là sự xuống cấp của đạo đức, cạn kiệt của tình người ở làng quê, khi những người lãnh đạo thoái hóa biến chất, còn số đông dân chúng thờ ơ, vô cảm Tình làng nghĩa xóm vốn là một giá trị cốt lõi của văn hóa làng quê đã không còn Thay vào đó là lối sống thực dụng, toan tính Theo đó, nhiều giá

Trang 27

trị đã bị đảo lộn

Nếu câu chuyện về mối thâm thù giữa hai dòng họ và sự thoái hóa biến chất của những kẻ nhân danh đảng, nhân danh tổ chức để trục lợi là khoảng tối, phần u ám của hiện thực nông thôn, thì câu chuyện tình yêu của Đào và Tùng là khoảng sáng, niềm hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn của nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Đào con gái của ông Hàm yêu Tùng, cháu gọi ông Phúc bằng cậu (mẹ Tùng là chị gái ông Phúc, người họ Vũ) Tùng là Đảng viên tốt, cựu quân nhân, có chí vươn lên và muốn vượt qua những định kiến, xóa bỏ hận thù giữa hai dòng họ, làm trong sạch đội ngũ để xây dựng quê hương Sát cánh với Tùng còn có trung tá Chỉnh, bạn chiến đấu của bố Tùng Một già, một trẻ Câu chuyện đã được Nguyễn Khắc Trường mở

ra ở một chiều hướng khác Những nhân tố mới, tích cực chưa thể làm thay đổi cuộc sống ở làng quê, nhưng cũng đã thắp lên niềm tin về sự chiến thắng của cái mới, cái tiến bộ Nguyễn Khắc Trường đã rất có ý thức nghệ thuật khi

mở rộng xung đột dòng họ theo nhiều hướng, nhiều chiều kích khác nhau Từ

đó, gợi lên nhiều vấn đề chìm khuất của hiện thực nông thôn Mâu thuẫn giữa hai dòng họ có chiều hướng được hóa giải ở cuối tác phẩm Tình yêu của Tùng và Đào có những tín hiệu tốt đẹp Đó là một cái kết mở, có sức gợi đối với người đọc

Lồng ghép vào câu chuyện xung đột giữa hai dòng họ là những biến dạng của văn hóa làng quê trong cơn lốc kinh tế thị trường Ở đó, những hủ tục lạc hậu như mê tín, dị đoan đang có xu hướng trỗi dậy, được những kẻ gian manh xảo quyệt lợi dụng để phục vụ cho mưu đồ của mình Mê tín, dị đoan, hồn ma, bóng quỷ dường như đều có mặt Ở đó "ma" và người cùng chung sống, tạo nên một sự hỗn tạp như một mê lộ đối với những người lương thiện, trong sáng như Đào, Tùng, Minh Câu chuyện bị che phủ bởi những bóng ma, từ huyền thoại của nhân vật Quỳnh - Quềnh, đến sự hiện diện của

Trang 28

một thầy mo cô thống Biệu Chính hiện thực ngột ngạt, hỗn loạn ấy đã làm sản sinh ra một thế giới ma quái lấn lướt con người Lời lý giải của nhân vật người trừ ma - cô thống Biệu, đã hé mở cách nhìn hiện thực của Nguyễn Khắc Trường: “Đừng tưởng đất này đã hết ma Ma còn đang đẻ sinh đôi sinh ba nữa

cơ đấy! ( ) Thế mà hôm ấy tôi đi nhận ruộng hộ con cháu thấy hốt quá! Nhìn chả thấy người đâu, toàn ma! Những người thân ngồi đấy mà cấm còn nhận ra

ai nữa” [57, tr.14]

Nguyễn Khắc Trường đã viết về nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại với cái nhìn chân thực, đa chiều Con đường xây dựng cuộc sống mới văn minh hiện đại cho nông thôn quả là không hề đơn giản Bởi lẽ, ở đó còn có vô vàn những tàn dư lạc hậu, những toan tính cá nhân, ích kỷ của những kẻ nhân danh cách mạng, nhân danh Đảng Cuộc xung đột giữa các phe cánh mượn danh đoàn thể, Đảng, Đoàn để đấu đá nhau thực chất là cuộc xung đột giữa các dòng họ, các gia đình mang nặng tư tưởng và lề thói phong kiến cũ Trần Đăng Khoa cho rằng từ Nam Cao, qua một chút Kim Lân, đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ thiệt

1986 đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kỹ càng hơn Họ nhìn thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn Không phải họ

Trang 29

không hiểu chuyện tình nghĩa và những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống, nhưng không vì thế mà làm mờ đi những vấn đề thuộc thực trạng của

xã hội nông thôn hiện đại” [7] Hướng ngòi bút vào hiện thực đời sống nông thôn và nông dân, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã bóc trần, phơi bày những vấn đề nhức nhối đã và đang tồn tại ở làng quê, đằng sau cái

vẻ ngoài mới mẻ, tinh tươm

Là người có ý thức thâm nhập vào nông thôn, chịu khó đi, ưa quan sát, thích suy tư, Nguyễn Khắc Trường không chỉ có sự hiểu biết mà còn cả những trải nghiệm sâu sắc về nông thôn Việt Nam trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX Điều đó mở ra khả năng kết hợp lồng ghép nhiều chủ đề Những vấn đề của hiện tại luôn được ông đặt trong một trường liên tưởng đa chiều với cái một nhìn nhân văn Nhờ đó, ông tiếp cận hiện thực nông thôn cả

bề nổi lẫn phần khuất chìm theo nhiều lớp lang chi tiết, thoạt nhìn là hỗn độn, nhưng lại rất logic trong mạch ngầm văn bản Nói cách khác, đó là sự hỗn độn

có ý thức Hàng loạt vấn đề nóng bỏng của hiện thực đời sống ở nông thôn, như di hại của cải cách ruộng đất, hậu quả của chiến tranh, những cơn xung đột phe cánh, dòng họ trong bộ máy lãnh đạo ở nông thôn; những hủ tục, tập tục lạc hậu, lỗi thời đều được tái hiện chân thực sinh động trong tác phẩm Bên cạnh đó là sự phân biệt giàu nghèo, là xu hướng trỗi dậy của cái ác, cái xấu khi lòng tin, sự ấu trĩ của con người bị lợi dụng Sức mạnh của đồng tiền, lòng tham, quyền lực đã làm thay đổi nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa truyền thống Trong cơn lốc kim tiền, mọi ngõ ngách làng quê dường như đều bị xới tung lên với những mảng màu tối, sáng đan cài, pha trộn, không thể bóc tách một cách rạch ròi Đó là môi trường thử thách tính người, là không gian kiểm chứng sức sống của các giá trị văn hóa truyền thống Những khuất lấp trong mỗi con người dần dần lộ sáng Nguy cơ con người bị tha hóa, tình người phai nhạt, nhất là ở những kẻ gian manh, tham lam, trục lợi, đã hiện hữu Đó

Trang 30

là những khám phá, phát hiện có chiều sâu về hiện thực nông thôn Việt Nam thời hiện đại của Nguyễn Khắc Trường

Có thể thấy, sự lồng ghép, đan cài nhiều chủ đề là một thử nghiệm thành công của Nguyễn Khắc Trường trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiêu ma Với một số lượng trang viết không nhiều, tác phẩm đã chuyển tải được nhiều thông điệp về hiện thực nông thôn Việt Nam trong thời hiện đại

Ở đó có những ung nhọt đã vỡ, và có cả những nguy cơ đang tiềm ẩn Kinh

tế và văn hóa, truyền thống và hiện đại đều được Nguyễn Khắc Trường thể hiện trong tác phẩm Sức hấp dẫn của tác phẩm, vì vậy không chỉ ở bức tranh hiện thực được tái hiện chân thực sinh động, mà còn ở ý nghĩa cảnh tỉnh về nguy cơ băng hoại, đảo lộn của các thang bậc giá trị trong đời sống hiện đại

1.3.3 Lựa chọn lối kể chuyện tự nhiên, khách quan, điềm tĩnh với một hệ thống chi tiết, sự kiện bộn bề

Trong xu thế đổi mới mạnh mẽ của văn học Việt Nam từ nửa sau thập niên 80 của thế kỷ trước, không ít nhà văn đã thành công trong việc cách tân nghệ thuật kể chuyện trong sáng tạo tiểu thuyết, truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh là những ví dụ Không khó để nhận ra lối

kể chuyện sắc lạnh, pha chút đùa bỡn có phần cay nghiệt trong văn Nguyễn Huy Thiệp, cái lạnh lùng, lý trí trong văn Phạm Thị Hoài Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường đã có một thể nghiệm cho riêng mình

Và ông đã thành công

Linh hoạt trong tổ chức điểm nhìn, hướng nhìn, cự li, là điểm nổi bật trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Khắc Trường Điều này giúp ông tái hiện bức tranh hiện thực nông thôn Việt Nam thời hiện đại chân thực, sinh động với nhiều mảng màu, tầng nấc Trong đó, việc trao điểm nhìn trần thuật cho nhân vật là cách ông tạo nên tính chân thực, khách quan cho chi tiết, sự

Trang 31

kiện Nhân vật tự bộc bạch, trải lòng Chẳng hạn: “Nỗi uất ức sự chán ngán đến cực điểm vì bị làm nhục…bà Son không còn thiết gì, không còn sợ gì nữa…Trong lòng, trong trí bà Son cũng đang mù mịt tựa khói ám Đôi chân chạy như bị xui bị khiến Có tiếng nước chảy ồ ồ phía trước Bà Son hổn hển lao tới,…” [57, tr.264] Những tình huống có tính kịch đều được tác giả kể lại bằng một giọng điệu điềm tĩnh, pha chút hài hước dí dỏm Đó không hẳn là sự

đả kích châm biếm, mà chỉ nhằm tạo nên dư vị cuộc sống như vốn có Ẩn đằng sau nụ cười dí dỏm là sự cảm thông chia sẻ, thậm chí là nỗi đau của một nhà văn trải đời, am hiểu sâu sắc người dân quê lam lũ Chẳng hạn: “Vậy lão Quềnh được ưu đãi hay lão phải chết hai lần Chôn xuống rồi lại moi lên là điều xưa nay người ta cấm kỵ Nhưng lão Quềnh ơi! Để được nằm trong bộ

áo quan, nghĩa là được chết bình đẳng như những người chết khác, lão phải vui lòng nhận thêm một sự vất vả khi đã nhắm mắt xuôi tay.” [57, tr.57] Còn đây là đoạn kể về cảnh lão Quềnh bị chôn lần thứ hai: “lão phải hy sinh một lần nữa để cứu danh dự cho những người khác đấy! Sứ mệnh của lão thế mà to! Thôi thì đại xá cho sự khôn ngoan của người đời lão Quềnh à!” [57, tr.57] Cùng với thống Biệu, Quềnh là kiểu nhận vật dị nhân Quềnh đã sống, gắn bó với làng Giếng Chùa chứng kiến bao thăng trầm, biến dịch của làng và trở thành một nhân chứng sống, một biểu tượng của mảnh đất lắm người nhiều

ma này

Nhân vật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma không nhiều, nhưng khá đa dạng Mỗi một nhân vật đều có cá tính riêng Mưu mô thủ đoạn như Thủ, Phúc, láu lỉnh, cơ hội như Sửu, nhu nhược, cả tin như Son, mạnh

mẽ, quyết liệt, bộc trực như Đào, Tùng, Minh Gia trưởng, cửa quyền, độc đoán như ông Hàm… Không hiểu, không yêu người dân quê đến độ sâu sắc, mãnh liệt không thể viết được như vậy Nó góp phần tạo nên một bức tranh sinh động về thân phận người nông dân trong cơn lốc kinh tế thị trường Ở họ,

Trang 32

dường như có sự trộn lẫn phần người và phần ma Họ vừa là nạn nhân lại vừa

là tội nhân của hoàn cảnh sống: “Nơi vùng quê bề ngoài rất yên tĩnh này, vừa

có những người ngơ ngác dại khờ, những người thật thà như đếm, nhưng cũng lại là những kẻ đủ mưu ma chước quỷ… cũng xúi bẩy, kích động ném đá giấu tay, cũng cười bả lả chạm cốc nhau lanh canh trong những bữa tiệc đồng chí, nhưng trong bụng lại thầm rủa sau bữa rượu này mày sa chân lỡ bước chết đi cho rảnh” [57, tr.71] Nhận xét về nghệ thuật của Mảnh đất lắm người nhiều

ma, Nguyễn Hữu Sơn cho rằng, tác phẩm “không có những trang miêu tả, thể hiện thời gian tâm lí, tâm trạng gây ấn tượng như “Sầu đong càng lắc càng đầy - Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!” (Truyện Kiều), song chính mối liên

hệ giữa các biến cố, sự kiện với thời điểm nảy sinh các biến cố, sự kiện đó mới là đặc điểm chính yếu tạo nên đặc trưng thời gian cho tác phẩm” Và theo ông, đặc trưng thời gian của tác phẩm là thời gian bóng đêm Các phân đoạn

mở đầu hay kết thúc trong tác phẩm cũng gắn liền với cảnh chiều tà, bóng tối Phần lớn những thời gian được đặc tả trong tác phẩm là thời gian bóng đêm, hơn thế nữa chúng lại thuộc về đêm cuối tháng không trăng sao, hoặc có trăng thì chỉ thấy hình hài kì dị, không bao giờ được miêu tả như cái đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên Đây là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn Đêm cũng là thời điểm bộc lộ thân phận, tính cách của con người: ngay đầu tác phẩm là những hồi ức về chuyện mấy mươi năm trước lão Quềnh đã từng gặp ma và ăn ở với ma trong đêm, rồi đến cảnh đám ma cụ cố Đại trong đêm, cảnh Thó lợi dụng đêm tối bê trộm hũ rượu Đó là một “đêm cuối tháng tối lờ mờ” [57, tr.33] Cảnh bí thư Thủ và phó công an Cao đã bày trận địa giả đẩy bà Son phải ra mặt chống ông Phúc - người tình của bà năm xưa nay là là kẻ thù của dòng họ nhà chồng cũng được tiến hành trong đêm: “đã về khuya, ánh sáng sao nhạt nhòa, hơi sương phơ phất như khói nhạt, khiến cảnh bãi lờ mờ như trong chiêm bao.” [57, tr.194], bà Son bị dồn đẩy cũng lao mình xuống sông

Trang 33

tự vẫn giữa đêm tối: “Trăng đầu tháng đã lặn Làng ngủ thiếp Đường tối nhờ nhờ như hư như thực…” [57, tr.263] Có thể thấy rất nhiều ẩn ý của nhà văn được chuyển tải ở đó

Sử dụng bút pháp tả thực một cách linh hoạt, trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường đã gợi mở cho người đọc nhiều nhận thức mới mẻ, sâu sắc về hiện thực nông thôn trong thời kỳ đổi mới Nhiều vấn đề được nhận thức lại với một cái nhìn đa chiều, đa diện, và tuyệt nhiên không

có cái gì là hoàn hảo, tuyệt đối Có thể xem đây như một biểu hiện của khuynh hướng "nhận thức lại" trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới Tính cách, số phận người nông dân trong Mảnh đất lắm người nhiều ma được Nguyễn Khắc Trường soi chiếu từ nhiều chiều kích Cùng với đó là bức tranh làng quê Dưới ngòi bút Nguyễn Khắc Trường, cái các ác, xấu có mặt khắp nơi, thả sức hoành hoành Con người, đặc biệt là những kẻ tham lam xảo quyệt, hành động như những kẻ cuồng tín, bất chấp tất cả Sự ấu trĩ trong nhận thức, sự hạn hẹp về tầm nhìn của một số cán bộ có chức quyền đã khiến biết bao gia đình tan nát, bao số phận dang dở Đó là tấn bi kịch ở làng quê Việt Nam những năm đầu đổi mới Những mảnh đời đen trắng, trái ngang đã hiện dần lên một cách tự nhiên sinh động qua cách kể, tả rất riêng của Nguyễn Khắc Trường Đấy là hình ảnh đám tang của Quềnh, một chứng nhân của làng Giếng chùa: “Bốn người khiêng Quềnh bó trong chiếc chiếu hoa…đi lặng lẽ trong bóng chiều chạng vạng” Còn đây là cảnh đám tang của Cụ Cố Đại, một

kẻ giàu có, quyền thế trong làng: “có trống có kèn như đêm hát đêm nhạc”,

“trong gian nhà ngói năm gian đông chật người, hương khói nghi ngút” Đã bước vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, vậy mà làng quê Việt Nam vẫn chưa có nhiều thay đổi so với mấy chục năm trước đó Thấp thoáng sau rặng tre làng vẫn là số phận những con người bất hạnh, tăm tối, nạn nhân của

đủ thứ mưu mô, xảo quyệt Khoảng cách giàu nghèo vẫn tồn tại, và có xu

Trang 34

hướng ngày càng nới rộng Ở đó, những phận đời như Quềnh, bà Son không phải là cá biệt

Những phân tích trên đây cho thấy, Nguyễn Khắc Trường đã thực sự thành công với Mảnh đất lắm người nhiều ma Ông đã tạo được dấu ấn riêng bằng một cái nhìn hiện thực nông thôn đa chiều đa diện, kết hợp, lồng ghép nhiều chủ đề trong tác phẩm Lối kể chuyện linh hoạt biến hóa với bộn bề chi tiết, sự kiện gần gũi, rất đời, chứa đựng một dung lượng hiện thực rộng lớn, sâu sắc Thuộc vào số những tiểu thuyết không dài trong văn học thời đổi mới, Mảnh đất lắm người nhiều ma đã đánh dấu một chẳng đường phát triển mới của tiểu thuyết viết về nông thôn, mà trước đó nhiều tên tuổi lớn trong văn học Việt Nam hiện đại đã xác lập được chỗ đứng và tên tuổi của mình

Trang 35

Chương 2

SỰ BIẾN DẠNG CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA

2.1 Sự pha tạp, lỗi thời của nhiều giá trị văn hóa truyền thống 2.1.1 Quan hệ làng xã, họ tộc

Ở nông thôn Việt Nam, dòng họ, gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng Đó là kiểu quan hệ xã hội dựa trên huyết thống, vì vậy có tính bền vững, chi phối đến nhiều quan hệ khác trong cộng đồng làng xã Một làng quê Việt Nam truyền thống được hình thành nên bởi nhiều cộng đồng họ tộc, và được ứng xử theo lối trọng tình Tương thân, tương ái, "tắt lửa tối đèn có nhau", "chị ngã em nâng" là kiểu ứng xử văn hóa phổ biến của làng quê Việt Nam trong truyền thống Sự phát triển bền vững của văn hóa xã hội Việt Nam truyền thống đều bắt đầu từ làng xã Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới tác động của kinh tế thị trường, văn hóa làng xã, họ tộc đã có những biến động dữ dội Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, văn hóa làng xã, họ tộc không chỉ biến động mà còn bị biến dạng

Cũng như mọi cộng đồng văn hóa khác, cộng đồng họ tộc có tính hai mặt Một mặt là hướng ngoại, liên kết với các cộng đồng khác, tạo nên những cộng đồng làng xã có tính bền vững Mặt khác cộng đồng họ tộc luôn có xu hướng khép kín, hướng nội, tìm cách bảo vệ các giá trị truyền thống theo nề nếp, gia phong Hai mặt đó song hành, vừa xung đột, mâu thuẫn lại vừa thống nhất và luôn có biểu hiện khác nhau trong những hoàn cảnh cụ thể, dưới tác động của hoàn cảnh sống hoặc ý đồ của các chủ thể văn hóa Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma có hai cộng đồng họ tộc chung sống, cạnh tranh trên một không gian văn hóa - Làng Chùa Ở đó hai dòng họ Vũ và Trịnh đã tồn tại, chung sống, và cạnh tranh, hiềm khích, thâm thù từ bao đời Mọi mặt hoạt

Trang 36

động, mọi quan hệ văn hóa xã hội của Làng Chùa đều bị chi phối, ảnh hưởng bởi quan hệ giữa hai họ tộc này

Cũng như nhiều miền quê khác ở Việt Nam, Làng Chùa vẻ ngoài hiền hòa, bình yên với những hình ảnh quen thuộc, như: cổng trước, cổng sau, lũy tre, giếng làng, mái nhà lợp ngói đỏ rêu phong, cổ kính Tuy nhiên, ẩn sâu trong vẻ ngoài bình yên ấy là những xung đột gay gắt, triền miên giữa hai dòng họ lớn, quyền thế nhất làng: Trịnh Bá và Vũ Đình Mối bất hòa dẫn tới thâm thù được khởi đầu từ chuyện hôn nhân bất thành, tranh chấp đất đai, địa

vị, quyền lực Theo đó, mối bất hòa từ âm ỉ đến công khai, từ ghen ghét đến hận thù, từ riêng tư đến tập thể, từ đời này sang đời khác, trở thành mối thù truyền kiếp Lối sống trọng tình, "dĩ hòa vi quý", "một sự nhịn chín sự lành",

"một trăm cái lý không bằng tý cái tình", "bán anh em xa mua láng giếng gần" vốn ăn sâu trong tiềm thức, trở thành nguyên tắc ứng xử ngàn đời ở làng quê

đã bị biến dạng Sự cạnh tranh, giành giật quyền lực giữa hai dòng họ Vũ - Trịnh không chỉ vì quyền lợi vật chất, mà còn vì thói sĩ diện, háo danh theo kiểu "đầu gà hơn má lợn", “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, "con

gà tức nhau tiếng gáy" Từ xưa, Trịnh Bá Hoành, cha đẻ của Trịnh Bá Hàm đã dùng mọi thủ đoạn để tranh giành chức lý trưởng Làng Chùa với địa chủ Vũ Đình Đại, cha đẻ Vũ Đình Phúc Để có được chức lý trưởng, Hoành vung tiền, "lợn sề trâu nái, ruộng sâu giữa đồng", nhưng kết cục “lợn sề trâu nái, ruộng sâu giữa đồng cứ lần lượt ra đi, mà cái chức lý trưởng lại về tay Vũ Đình Đại” [57, tr.77] Nỗi đau mất ruộng vườn, tiền bạc chẳng thấm tháp gì với nỗi nhục tham vọng không thành, thanh danh dòng họ bị tổn thương Thêm vào đó, là việc cha con Vũ Đình Phúc lẻn vào nhà phá bức tranh hổ thần - bức tranh hộ mệnh của dòng họ Trịnh Bá, được thờ phụng từ thời cụ kị càng thêm xát muối vào lòng Danh tiếng và quyền lợi dòng họ Trịnh Bá bị xúc phạm Từ đó, mối thâm thù giữa hai dòng họ ngày một nặng nề sâu sắc

Trang 37

hơn Nó theo suốt cuộc đời Trịnh Bá Hoành, với quyết tâm phải trả bằng được mối thù để rửa nhục Cho đến cuối đời, Trịnh Bá Hoành vẫn không rửa được nỗi nhục Thù hận giữa hai dòng họ ngày càng dày thêm và được truyền lại cho đời sau Mang trong mình nỗi nhục của tiên tổ, Trịnh Bá Hàm đã làm tất

cả những gì có thể để thực hiện di nguyện của cha và thỏa chí bình sinh Hàm nuôi khát vọng trả thù, triệt hạ bằng được dòng họ Vũ, không thể để họ Vũ

“mọc mũi sủi tăm” Quyết tâm ấy càng quyết liệt hơn, khi mối thù tổ tông được bồi đắp thêm mối tư thù Nó đã biến Trịnh Bá Hàm thành kẻ độc ác, nhẫn tâm, quỷ quyệt, xảo trá, mà đỉnh điểm của nó là việc Hàm cùng đám con cháu Trịnh Bá đào mả cụ cố Đại mới chôn chưa được ba ngày, lật úp xác để yểm, làm mất khả năng phù hộ, giúp đỡ con cháu Mê tín, dị đoan đã tiếp tay cho những kẻ độc ác, quỷ quyệt, mất nhân tính, giết chết tình nghĩa láng giềng, phá nát cộng đồng làng xã vốn thanh bình, hòa thuận

Dưới góc nhìn văn hóa, có thể thấy một sự rạn nứt, hỗn tạp các giá trị văn hóa truyền thống Cách ứng xử, lối sống của người dân Làng Chùa, nhất

là ở những kẻ "chức sắc" đã khác xưa Họ không còn toàn tâm toàn ý vun vén, đắp xây tình làng, nghĩa xóm theo lối ứng xử trọng tình, hòa hiếu Mọi thứ bậc, giá trị đã bị đảo lộn dưới tác động của quyền lực và sức mạnh đồng tiền Lối ứng xử của Thủ, Phúc và các cán bộ ở Làng Chùa dựa trên mối quan hệ dòng họ, gia đình là chính Tuy công việc của làng xã nhưng những kẻ trục lợi như Bí thư Đảng ủy Trịnh Bá Thủ, chủ nhiệm hợp tác xã Vũ Đình Phúc luôn xem là việc nhà, việc họ Họ lợi dụng quyền hành, địa vị để phục vụ ý đồ cá nhân, thu vén cho dòng họ Từ họp hành, bầu bán, sản xuất… cho đến tổ chức bầu bán cán bộ trong làng, xã đều xuất phát từ lợi ích của dòng họ, gia đình

Kể từ khi Vũ Đình Phúc trúng chủ nhiệm xã, cuộc sống gia đình trở nên khá giả Không những lo cho gia đình, Phúc còn tìm cách để đưa những người anh

em họ hàng vào Đảng; giúp em trai, chị gái mua được gạch ngói làm nhà với

Trang 38

giá gần như cho không, chỉ bằng một phần mười giá trị thực tế Trịnh Bá Hàm dám chi rất nhiều tiền để vận động người dân bầu em trai mình là Trịnh Bá Thủ vào chức bí thư xã Khi có quyền lực trong tay, Thủ tìm cách đưa Cao, cháu vợ vào ghế phó ban công an xã, ra sức vận động để Cao trúng hội đồng nhân dân; Dinh, cháu gọi Thủ bằng chú, được ra quân khi chưa hết hạn nghĩa

vụ để đi xuất khẩu nước ngoài Đám cháu Ngạc, Ưởng cậy vào cái bóng của Thủ suốt ngày gây gổ, đánh nhau và hống hách, hung hăng với người dân Làng Chùa Có thể thấy, quan hệ họ tộc thay vì hướng ra bên ngoài để góp phần xây dựng làng xã văn minh hòa thuận, đã khép kín, xung khắc với các thành tố bên ngoài Theo đó, tình làng nghĩa xóm đã không còn, kinh tế bị đình trệ, xã hội rối loạn Từ góc nhìn văn hóa, đó là một sự biến dạng các giá trị văn hóa Mất văn hóa là mất tất cả Làng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma đã rơi vào tình trạng khủng hoảng, hỗn loạn Số phận bi kịch và cái chết nghiệt ngã của bà Son, một người phụ nữ thuần phác, nhân hậu là một bằng chứng về sự xuống cấp của đạo đức, văn hóa Bên cạnh đó, thân phận nhân vật Quềnh góp phần tô đậm thêm bi kịch người nông dân ở Làng Chùa, trong bối cảnh tình người nhạt phai, văn hóa bị biến dạng Quềnh sống chân chất, thật thà, suốt đời chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, không hại ai, mất lòng ai Vậy mà cho đến khi chết, vẫn chưa được yên phận Quềnh phải hi sinh thêm một lần nữa để “cứu danh dự”, phục vụ cho những toan tính đểu cáng của kẻ khác Với những kẻ như Hàm, Phúc tình làng nghĩa xóm đã trở thành thứ xa xỉ Bởi lẽ, tất cả đã bị cuốn vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng và những toan tính cá nhân ích kỷ Ở Làng Chùa đã tồn tại một luật lệ bất thành văn, trở thành một nguyên tắc ứng xử: "những ai ở đây muốn có một chân dù nhỏ, từ đội sản xuất trở lên, và ai muốn phấn đấu vào Đảng thì nếu không có họ hàng thân thích với những người đang nắm quyền, thì cũng phải là người được thu nạp vào trong vây cánh mới có điều kiện để phấn đấu!

Trang 39

Còn nếu không mà muốn thành cán bộ Đảng viên thì phải đi ra ngoài… Những Đảng viên ở nơi khác chuyển về đây sinh sống, nếu muốn yên, muốn tốt thì phải khuất phục, nếu không sẽ đủ thứ việc xảy ra” [57, tr.340-341] Các quan hệ xã hội rạch ròi, khách quan bị biến thành quan hệ gia đình, dòng tộc

cả nể, du di, làm nảy sinh tiêu cực, tạo cơ hội để cán bộ thoái hóa, biến chất Nhìn từ góc độ xã hội, mỗi gia đình là một tế bào, mỗi dòng họ là những mảng tế bào, những bộ phận cấu thành của xã hội nông thôn Vì thế, họ tộc, làng xã tạo được sự đoàn kết sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội nông thôn Hiện thực Làng Chùa là lời cảnh tĩnh về sự xuống cấp, biến dạng của văn hóa làng xã trong quá trình hiện đại hóa nông thôn Sự

đổ vỡ của nhiều giá trị văn hóa truyền thống là nguy cơ về sự pha tạp lai căng văn hóa ở nông thôn, mà trước hết là ở quan điểm, lối sống của một bộ phận những kẻ có thế lực, địa vị Một sự xuống cấp, tha hóa đã nhìn thấy từ sự đổ

vỡ, biến dạng của văn hóa truyền thống, trở thành lực cản đối với nỗ lực xây dựng, phát triển nông thôn theo con đường hiện đại, văn minh

2.1.2 Hôn nhân và gia đình

Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, sự biến dạng của văn hóa truyền thống còn được thể hiện ở hôn nhân và gia đình, được phản ánh qua cuộc hôn nhân đẫm nước mắt của bà Son và Trịnh Bá Hàm Đó là cuộc hôn nhân không

có tình yêu, thay vào đó là những toan tính, thủ đoạn Nó được "lập trình" bởi một kẻ nhiều mưu mô, xảo quyệt, đi ngược lại các giá trị của hôn nhân và hạnh phúc gia đình

Trong văn hóa Việt Nam, hôn nhân và gia đình giữ một vai trò quan trọng Gia đình là tế bào của xã hội Nó được khởi đầu bằng hôn nhân Cũng như nhiều quốc gia ở châu Á, trong tình trạng lạc hậu, thấp kém của nền sản xuất nông nghiệp, nhiêu phong tục tập quán đã dần trở thành những hủ tục Một trong số đó là tập tục hôn nhân Có nhiều hình thức hôn nhân tồn tại ở

Trang 40

các nước nông nghiệp như Việt Nam, như: hôn nhân do luyến ái tự do; hôn nhân do sắp đặt, cưỡng ép; hôn nhân do "cướp" Trong đó, hôn nhân do sắp đặt, cưỡng bức của cha mẹ diễn ra khá phổ biến Nó đã đi vào ca dao, tục ngữ, vào sáng tác của nhiều nhà văn qua bao thế hệ Những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ chấp nhận hình thức hôn nhân này như một lẽ tự nhiên:

"Dẫu khi lá thắm chỉ hồng/ Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha" (Truyện Kiều, Nguyễn Du) Điều này có nguyên nhân ở quan niệm về đạo đức thẩm

mỹ Theo đó, "Tam tòng, tứ đức" được xem là chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ gia giáo, không chỉ trong gia đình quyền quý mà cả ở những gia đình bình dân Sống tòng thuộc vào cha khi ở nhà, tòng thuộc vào chồng khi xuất giá là một nguyên tắc sống của người con gái Hôn nhân không có tình yêu, được sắp đặt bởi cha, mẹ, vì vậy là tình trạng phổ biến của hôn nhân trong xã hội cũ, nhất là ở làng quê Bước vào thế kỷ XX, những tập tục ấy đã trở thành

hủ tục, ngăn cản, kìm hãm lứa đôi đến với tình yêu, hạnh phúc Hoàng Ngọc Phách đã thể hiện chủ đề này trong tiểu thuyết Tố Tâm (1925), đặt nền móng cho tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam thế kỷ XX, báo hiệu sự thức tỉnh của con người cá nhân, cá tính với khát vọng mạnh mẽ về tự do trong tình yêu, hạnh phúc Đó là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ hướng tới những giá trị tốt đẹp của đời sống Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, xung đột này được thể hiện qua cuộc hôn nhân giữa Trịnh Bá Hàm

và bà Son, một cuộc hôn nhân thoạt nhìn bình thường, không có gì đặc biệt

Dưới ngòi bút tả thực của Nguyễn Khắc Trường, đám cưới của cô Son

và Trịnh Bá Hàm hiện lên chân thực, cụ thể đến từng chi tiết Một đám cưới linh đình, hợp với gia thế và để chứng tỏ với mọi người, nhất là những người bên họ Vũ: “với cỗ bàn dàn dạt từ bên trong ra tít ngoài sân Người ăn hết lớp này đến lớp khác rào rào từ sáng đến chiều tà như tằm ăn rỗi” [57, tr.36] Một đám cưới lớn, nghi thức trang trọng, có phần thiêng liêng theo nề nếp, phong

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1995
[2]. Lại Nguyên Ân (2002), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[3]. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[4]. Ngô Ngọc Bội (1990), Ác mộng, Nxb Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ác mộng
Tác giả: Ngô Ngọc Bội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1990
[6]. Văn Chinh, Cha, con và dòng sông mía, nguồn: http://Phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha, con và dòng sông mía
Tác giả: Văn Chinh
[7]. Trần Cương (1995), “Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80”, Tạp chí Văn học, (12), tr.37-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1995
[9]. Thành Duy (1971), “Vấn đề văn học phản ánh nông thôn hợp tác hoá”, Tạp chí văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn học phản ánh nông thôn hợp tác hoá
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1971
[10]. Thành Duy (1975), “Văn học và những chuyển biến mới của nông thôn miền Bắc”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và những chuyển biến mới của nông thôn miền Bắc
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1975
[11]. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, 2
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1974
[12]. Phan Cự Đệ (1978), “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học”, Văn nghệ quân đội, (12), Tr 108 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Văn nghệ quân đội
Năm: 1978
[13]. Bùi Như Hải (2013), Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn đương đại, Tạp chí Non nước, (187), nguồn: http://vannghedanang.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn đương đại
Tác giả: Bùi Như Hải
Nhà XB: Tạp chí Non nước
Năm: 2013
[14]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[15]. Trần Mạnh Hảo (2005), “Dòng sông mía của Đào Thắng hay tiếng nấc của sông Châu Giang”, Tạp chí Nhà văn, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng sông mía của Đào Thắng hay tiếng nấc của sông Châu Giang
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Nhà XB: Tạp chí Nhà văn
Năm: 2005
[16]. Hoàng Ngọc Hiến (2009), "Trên đất nước có bao nhiêu làng mía", nguồn: http://Tạp chí Sông Hương.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đất nước có bao nhiêu làng mía
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Tạp chí Sông Hương.com.vn
Năm: 2009
[17]. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[18]. Nguyễn Công Hoan (1997), Bước đường cùng, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đường cùng
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
[20]. Lê Thanh Hùng (2006), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (giai đoạn 1980-1989), Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (giai đoạn 1980-1989)
Tác giả: Lê Thanh Hùng
Nhà XB: Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Năm: 2006
[21]. Mai Hương (1970), Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 3, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Tác giả: Mai Hương
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1970
[22]. Nguyễn Thị Mai Hương (2014), “Văn hóa nông thôn trong tiểu thuyết sau đổi mới nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ”, http://toquoc.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nông thôn trong tiểu thuyết sau đổi mới nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hương
Năm: 2014
[8]. Ngô Thị Kim Cúc (2004), Đắng như dòng sông mía, nguồn: http://Thanhnien.com.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w