Từ vấn đề nghịch dị, nhìn rộng ra, ta có thể thấy được cảm quan hậu hiện đại của tác giả, đối sánh nét riêng biệt của chất nghịch dị trong sáng tác của các nhà văn đương đại, nhìn thấy n
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ THANH HIẾU
NGHỆ AN - 2018
Trang 3Chúng tôi xin cam đoan và khẳng định đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các tài liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Bùi Thị Hiền
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hiếu, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới quý thầy cô giáo Khoa
Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Vinh vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để tôi được bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa học của mình
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Bùi Thị Hiền
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 13
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận văn 15
7 Cấu trúc của luận văn 15
Chương 1 NGHỊCH DỊ NHƯ LÀ MỘT KIỂU TƯ DUY NGHỆ THUẬT ĐẶC THÙ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 16
1.1 Giới thuyết khái niệm nghịch dị 16
1.2 Sự xuất hiện của kiểu tư duy nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 20
1.2.1 Tiền đề xuất hiện nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 20
1.2.2 Nhận diện nghịch dị trong sáng tác của một số tác giả tiêu biểu 26
1.3 Khái lược về nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương 29
1.3.1 Nguyễn Bình Phương - một hiện tượng nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 29
1.3.2 Nghịch dị như là một kiểu tư duy nghệ thuật và cảm nhận đời sống đặc thù trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương 31
Chương 2 NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 34
2.1 Tính lưỡng trị của không gian và thời gian nghệ thuật 34
2.1.1 Pha trộn yếu tố thực và phi thực của không gian 34
2.1.2 Mờ hóa ranh giới quá khứ và hiện tại của thời gian 42
2.1.3 Không gian hóa thời gian và thời gian hóa không gian 46
Trang 62.2.2 Những con người méo mó về tâm sinh lý 54
2.2.3 Nhân vật đám đông 64
2.3 Nghịch dị và cảm quan hậu hiện đại của Nguyễn Bình Phương 67
2.3.1 Quan niệm về tính ngẫu nhiên và bất định của thế giới 68
2.3.2 Quan niệm về tính oái oăm và bất trắc của đời sống 71
Chương 3 NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN TỪ HỆ THỐNG THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT 74
3.1 Gia tăng yếu tố huyền ảo để đặc tả tính chất phi lý, vô nghĩa của thế giới 74
3.1.1 Đa dạng hóa các yếu tố huyền ảo 74
3.1.2 Phóng đại những yếu tố đời thường thành dị thường 77
3.2 Kiến tạo lớp ngôn ngữ “lệch chuẩn” để nhắm tới việc biểu đạt cái khiếm khuyết 79
3.2.1 Ngôn ngữ của người điên 79
3.2.2 Ngôn ngữ của người bị quá khứ đeo bám 84
3.2.3 Ngôn ngữ của thế giới bạo lực 86
3.3 Phục dựng các cổ mẫu với mục đích giải huyền thoại 89
3.3.1 Cổ mẫu giấc mơ 90
3.3.2 Cổ mẫu cái chết 94
3.3.3 Cổ mẫu rừng núi 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Bình Phương là một trong những nhà văn nổi bật nhất trên văn đàn Việt Nam những năm gần đây Bằng chứng là, những tác phẩm đã ra đời của ông luôn thu hutswj chú ý, kích thích hứng thú đọc, tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà phê bình và đông đảo công chúng Nguyễn Bình Phương sáng tác đều tay cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết Nhưng làm nên tên tuổi
của ông vẫn là tiểu thuyết Với những Bả giời, Những đứa trẻ chết già, Người
đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Mình và họ, Kể xong rồi đi…
Nguyễn Bình Phương đã thể hiện nỗ lực sáng tạo không mệt mỏi, ý thức làm mới mình và năng lượng dồi dào cho những công trình sắp sửa Có thể nói, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thực sự có vai trò vô cùng quan trọng làm nên diện mạo đầy khí sắc của văn xuôi Việt Nam đương đại
1.2 Nghịch dị (hay thô kệch) được dịch từ thuật ngữ grotesque trong tiếng Pháp, để chỉ một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật đặc thù, dựa vào cái huyễn tưởng, vào sự kết hợp và tương phản những bình diện đối lập, từ
đó, nó tạo ra một thế giới dị thường, kỳ cục, trái tự nhiên Nghịch dị không phải là một vấn đề mới, mà lịch sử của nó đã có từ xa xưa trong thần thoại Trong văn học hiện đại, nghịch dị, vì nhiều lý do, mà ngày càng trở nên phổ biến, phổ quát Đã có nhiều công trình, lý thuyết lẫn ứng dụng, nghiên cứu về cái nghịch dị Dẫu vậy, với tính chất phức tạp của khái niệm, sự biến hóa linh hoạt của nó trong thực tiễn sáng tác khiến cho nghịch dị, với phần đông người đọc, vẫn còn nhiều bí ẩn Vì thế, cần nhiều hơn những công trình quy mô về nội dung này
1.3 Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương đậm đặc màu sắc nghịch dị Đây là một trong những đặc điểm độc đáo tạo nên sức hấp dẫn cho tiểu thuyết
Trang 8Nguyễn Bình Phương Đồng thời, yếu tố này cũng góp phần xác lập phong cách nghệ thuật của tác giả Từ vấn đề nghịch dị, nhìn rộng ra, ta có thể thấy được cảm quan hậu hiện đại của tác giả, đối sánh nét riêng biệt của chất nghịch dị trong sáng tác của các nhà văn đương đại, nhìn thấy những biến đổi khả thể của nghịch dị trong văn học tương lai… Nói chung, vấn đề này có khả năng gọi mời một loạt những vấn đề liên quan khác
Với những lí do trên đây, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
của mình là Nghịch dị trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
- Lịch sử nghiên cứu cái nghịch dị trong văn học
Nghịch dị trong văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng từ lâu
đã trở thành đối tượng tìm hiểu của các nhà nghiên cứu
Trước hết phải kể đến công trình nổi tiếng của M.M Bakhtin về
F.Rabelais có tên Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian
Trung cổ và Phục hưng Rabelais là một trong những nhà văn xuất sắc nhất
của văn học Phục hưng Pháp Tác phẩm của ông gây tranh cãi bởi những yếu
tố được xem là phi chính thống, thuộc “hiện thực thứ hai”, đối lập với hiện thực thứ nhất, hiện thực trước mặt Lựa chọn nhà văn này để nghiên cứu đã là một thách thức lớn với Bakhtin Công trình được triển khai thành 7 chương, trong đó, Bakhtin đã chỉ ra ảnh hưởng của nền văn hoá trào tiếu dân gian đến
sáng tác Rabelais Bakhtin nêu ra hẳn một phạm trù mới: “Văn hóa trào tiếu
dân gian” (Narodnaja smekhovaja kultura) gồm 3 thể loại hình thức chủ yếu: các hình thức hội hè dân gian, các tác phẩm văn học trào tiếu dân gian và các hình thức “ngôn ngữ chợ búa - quảng trường” “Cả ba hình thức cơ bản của
nền văn hóa trào tiếu dân gian nói trên đại diện cho một kiểu hình tượng thống nhất hoặc nói rộng hơn một hệ thống quan niệm thẩm mỹ thống nhất mà
ở đây hãy tạm gọi là chủ nghĩa hiện thực nghịch dị” [46; tr.8] Đồng thời,
Trang 9trong công trình này, Bakhtin đã chỉ ra sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực nghịch dị qua các thời kỳ Trong thời kỳ Phục hưng, hình tượng nghịch dị hiện thân cho tiếng cười lưỡng trị Tiếng cười ấy có hai ý nghĩa: nó vừa nhằm chôn vùi những gì đã lỗi thời, cũ kỹ, xơ cứng; vừa khai sinh cho những điều mới mẻ, tốt tươi Sau thời kỳ Phục hưng, từ thế kỷ XVII, chủ nghĩa hiện thực nghịch dị bước vào giai đoạn suy thoái Trong hình tượng nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa tiếng cười trở nên bi lụy và cay đắng “Nó hầu như chỉ còn “hạ huyệt” mà mất đi khả năng “cải tử hoàn sinh” Nó thể hiện tinh thần khiếp sợ hiện thực và bộc lộ bộ mặt đáng sợ của hiện thực Nó tha hóa thế giới, biến tất
cả những gì quen thuộc thành xa lạ Nó nói lên sự bất lực của con người trước hiện thực xã hội và xu hướng rút lui vào thế giới nội tâm để lẩn tránh hiện thực ấy” [46; tr.11] Biểu hiện của hình tượng nghịch dị trong chủ nghĩa lãng mạn đó là motif người điên, mặt nạ, búp bê-con rối Trong thế kỷ XIX, với sự
ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán, kiểu xây dựng hình tượng nghịch dị
ít được vận dụng trong văn hóa và ít được khoa học để ý tới Vào thế kỷ XX, cùng với sự hình thành nhiều trường phái sáng tác khác nhau, kiểu hình tượng nghịch dị được hồi sinh một cách mãnh liệt
Bakhtin đã rất công phu trong việc tìm hiểu hình tượng nghịch dị và ngôn ngữ nghịch dị trong sáng tác của Rabelais cũng như nguồn gốc của chúng Sự phóng đại, phép ngoa dụ, sự nói quá, sự dư thừa là những biểu hiện
cơ bản của nghịch dị Nghịch dị trong sáng tác của Rabelais “cho phép kết hợp những cái trái nghịch và xích gần lại những cái xa cách, giúp giải phóng ý thức con người khỏi quan điểm chính thống về thế giới, khỏi mọi sự ước lệ, mọi chân lý khuôn sáo, khỏi tất cả những gì là bình thường, quen thuộc, được mọi người thừa nhận Nó cho phép nhìn thế giới bằng con mắt mới, nhận thấy tính tương đối của mọi thực tại hiện hữu và khả năng có thể có một trật tự thế giới hoàn toàn khác” [10; tr.6]
Trang 10Mặc dầu Bakhtin chỉ tập trung khai thác sáng tác của Rabelais nhưng công trình này giúp chúng ta có được một cái nhìn toàn thể về văn học Phục hưng, về cái nghịch dị, về lịch sử tiếng cười Hơn thế, đó còn là phương pháp tiếp cận vấn đề một cách khoa học và đầy lý thú, đưa tên tuổi của Bakhtin vào hàng những nhà nghiên cứu xã hội nhân văn tầm cỡ của thế kỷ XX
Như vậy, theo quan niệm của Bakhtin, có một kiểu chủ nghĩa hiện thực nghịch dị trong sáng tác của Rabelais mà biểu hiện của nó là sự lệch chuẩn,
“chuẩn” ở đây là những gì đã trở thành chính thức, chính thống, đã xơ cứng, hoàn kết
Các công trình: Nghịch dị trong nghệ thuật và văn học (Wolfgang Kayser), Cơ thể nghịch dị trong tác phẩm của Gogol (H.Hunter), Cái nghịch
dị và cái lạ kỳ (K.K Dzhafarova), Mỹ học nghịch dị và thi pháp tiểu thuyết
(N.D.Tamarchenko), Cái nghịch dị trong cấu trúc trần thuật của chùm truyện
Những buổi tối ở gần ấp Didanka (S.Ovechkin), Nghệ thuật nghịch dị Châu
Âu và Mĩ qua 3 tác giả Anderson, Bretch và Winiams (James Schevill), Các nhân vật của John Barth như là “những nhân vật nghịch dị”(T.I.Vorontsova), Yếu tố nghịch dị trong tiểu thuyết Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi
(Phan Tuấn Anh), Thi pháp nhân vật trong tiểu thuyết của Victor Hugo, từ
quan niệm nghịch dị của M.Bakhtin (Bửu Nam),… đã tập trung nghiên cứu
nghịch dị trong văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng từ nhiều khía cạnh, nhiều góc độ
Khi nghiên cứu về văn học phi lý, tác giả Nguyễn Văn Dân cho rằng nghịch dị là thủ pháp mà nhiều nhà văn phi lí thuộc dòng văn học này sử dụng
và được kịch phi lí đẩy lên thành một thủ pháp chủ đạo Đồng thời, tác giả nhận định: “Gốc gác của cái nghịch dị có thể được tìm thấy ở F.Rabelais, ở Cervantes, với những mẫu hình nhân vật kì cục, quái dị Sau đó, Gogol và
Dostoevski cũng đã sử dụng thủ pháp này (truyện ngắn Cái mũi của Gogol,
Trang 11Con cá sấu của Dostoevski) Và đến Alfred Jarry, nhà văn Pháp cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX, cái nghịch dị được đẩy lên thành nhân vật chính với bộ tác phẩm kịch Ubu Ở Jarry, cái nghịch dị xâm nhập ngay vào bản thân ngôn ngữ biểu đạt mà sau này một số nhà soạn kịch phi lí như Beckett và Ionesco
đã tiếp thu một cách triệt để Nguyên tắc của thủ pháp nghịch dị là phá hủy logic biểu đạt ngôn ngữ thông thường” [6; tr.96,97].
Nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu khác cũng lấy điểm tựa là cái nghịch dị, chủ nghĩa hiện thực nghịch dị hay hình tượng nghịch dị Nhưng
về cơ bản, các ngữ liệu được khảo sát ở đây là cụ thể Đó chủ yếu là các kết quả nghiên cứu ứng dụng lý thuyết nghịch dị của Bakhtin vào những trường
hợp riêng biệt Trong bài Chủ nghĩa hiện thực nghịch dị trong tiểu thuyết Don
Quixote của Cervantes, tác giả Phan Trọng Hoàng Linh cho rằng tác phẩm Don Quixote có sự suy giảm tính ngoa dụ và phóng đại trong bút pháp nghịch
dị khi xây dựng hình tượng Don Quixote Sự kết hợp từ dáng hình đến suy nghĩ giữa Don Quixote và Sancho Pansa vẫn tạo nên một cặp đôi nghịch dị kiểu hội giả trang, nhưng xét trên bình diện thân xác, cả hai đều là những con người bình thường Đặc biệt, tác giả đào sâu sự đối lập giữa cặp đôi nhân vật độc đáo này, từ đó, cho ta thấy những tương phản nghịch dị thú vị bậc nhất trong lịch sử văn học
Ngoài ra, còn nhiều nhà văn lớn trên thế giới cũng được nhìn nhận từ lý thuyết nghịch dị
Dễ thấy, mảng lý thuyết về nghịch dị nhìn chung mỏng hơn rất nhiều so với sự dày dặn của mảng nghiên cứu ứng dụng Điều này dễ dẫn tới những hệ lụy sau: thứ nhất, lý thuyết chưa đủ vững chắc cho các nghiên cứu cụ thể; thứ hai, các nghiên cứu cụ thể nhiều khi đi “lệch” so với hệ thống lý thuyết Vì thế, chúng ta cần nhiều hơn những công trình có tính chuyên sâu về thuật ngữ
phức tạp này
Trang 12- Lịch sử nghiên cứu nghịch dị trong văn học Việt Nam
So với văn học thế giới, nghịch dị trong văn học Việt Nam xuất hiện còn mờ nhạt, và chủ yếu ở phạm vi đơn lẻ Sáng tác của Hồ Xuân Hương trong văn học trung đại và sáng tác của một số tác giả thế kỷ XX được xem là nơi cái nghịch dị bộc lộ rõ nét nhất Tình hình sáng tác là vậy đã tác động đến tình hình nghiên cứu Chúng ta chưa thực sự có một công trình dài hơi tập trung bàn về nghịch dị trong văn học Việt Nam
Khi nghiên cứu Những biến hoá của chất nghịch dị trong truyện ngắn
Nam Cao, Vương Trí Nhàn cho rằng truyện Nam Cao đầy rẫy những sự kiện,
hiện tượng, con người quái dị, quái gỡ, kỳ cục, quái tượng Ông viết: “Còn
phổ biến hơn, trong truyện ngắn Nam Cao, ấy là những trường hợp cái quái dị khoác áo cái thông thường, hoà tan vào cái hàng ngày Khi làm rõ những ca, những kiểu người, kiểu hành động và nói năng đó, tác giả dường như thầm bảo: mọi chuyện kỳ quặc quái gở vẫn đầy ra đấy, chỉ bởi chúng ta không biết nhìn nên không nhận ra, thế thôi!
Nam Cao không thể đi quá xa như một Kafka, một Buzzati (Ý) hoặc một vài nhà văn Mỹ la tinh nào đó Đọc Nam Cao, không thấy có sự biến hình
- người biến thành gián, thành nhện, hoặc nguời có cánh - như ở các nhà văn
phóng túng khác Trong Dì Hảo, Nhỏ nhen hoặc trong Cười, Cái mặt không
chơi được… các nhân vật thường khi vẫn là con người với những mong muốn
tầm thường của họ, cái kỳ quái có được miêu tả thì cũng là mộ thứ kỳ quái còn nhiều dây dưa với những hình hài những kích thước con người hàng ngày Chúng ta vẫn gặp vẫn thấy, về căn bản chúng là cái thông thường chẳng qua bị lỡ tay xô đẩy nên méo mó xẹo xọ đi một chút mà thôi Ngoài ra, cảm giác về sự kỳ dị nảy sinh do chỗ tác giả tạo nên một hiệu quả ngột ngạt tức thở, gợi ra cảm tưởng về một thứ lưới vô tình bao quanh nguời ta Lưới chỉ mỏng mảnh nhẹ nhàng, nhưng ngày mỗi thít chặt thêm, không ai thoát ra nổi
Trang 13Nói rộng ra, có thể bảo ở Nam Cao cái kỳ dị không phải chỉ hiện ra ở dạng dương tính ai cũng thấy (trong nhân vật, đó là ông Thiên Lôi, Trạch Văn Đoành, Lang Rận) mà còn có dạng âm tính (Dì Hảo, Nhu, Đức… và một số biến thể của nhân vật xưng tôi) Và đấy cũng là một khía cạnh làm cho chất nghịch dị này mang sắc thái riêng của con người Việt Nam, xã hội Việt Nam”[55; tr.3] Ở đây, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn không định danh khái niệm “nghịch dị” nhưng cách phân tích của ông, từ ngữ mà ông nêu ra như quái gở, kỳ dị, kỳ cục, quái tượng…, về bản chất, chính là cái nghịch dị
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thành trong công trình Thi pháp tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng đã lý giải hình tượng nghịch dị trong sáng tác của nhà văn
hiện thực này được tạo ra bởi thực trạng vô nghĩa và phi lí của thời đô thị hóa
Tác giả Đào Tuấn Ảnh trong bài Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi
Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga đã nhận thấy sự tương đồng giữa văn
xuôi Việt Nam và văn xuôi Nga ở yếu tố nghịch dị: “Một trong những điểm chung nhất trong sáng tác của các nhà hậu hiện đại Nga với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái là sự giã từ không hề lưu luyến lối viết của chủ nghĩa hiện thực cổ điển và hiện thực xã hội chủ nghĩa Trong các tác phẩm của họ, không thấy bóng dáng của nhân vật điển hình (anh hùng hay gian hùng - ý Hoàng Ngọc Hiến) mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao trong đời, mà thay vào là đủ mọi thứ hạng trong nhân gian, đại đa số là đám người u tối, dị nghịch cả về thể xác lẫn tinh thần và khá nhiều người điên Tiểu thuyết của S Sokolov có hẳn một trại tâm thần, mà ông gọi diễu là
"trường học giành cho lũ ngốc" làm liên tưởng tới tiểu thuyết Thoạt kì thuỷ
của Nguyễn Bình Phương Cái thế giới người dị nghịch trong sáng tác của Erofeev, Petrusevskaia, Iu Buida, sau này là của Sorokin, Pelevin gần với thế giới người trong các truyện của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, tiểu
Trang 14thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, trong sáng tác của Bình Phương và
Hồ Anh Thái” [1;tr 8] Trong bài viết Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và thi pháp
hậu hiện đại, Phùng Gia Thế cho rằng: “Nghịch dị và giễu nhại không phải
cái mới hoàn toàn của văn chương hậu hiện đại Vốn, nó đã xuất hiện từ lâu trong truyền thống… Không thể nói tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà “vô can” với thời cuộc Song, thay vì giọng điệu đau đớn khắc khoải (như thường thấy
trong các tác phẩm thời đầu đổi mới), Nguyễn Việt Hà, trong Cơ hội của
Chúa, lại sử dụng khá triệt để cái nghịch - dị - trào - lộng để thể hiện sự hỗn
tạp trớ trêu của cuộc đời” [85; tr.5]
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Thị
Thu Hậu - Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 - 2012
Tác giả luận án làm được những nhiệm vụ quan trọng, đó là “xác lập được khái niệm nghịch dị với tinh thần cơ bản đó là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật, dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, là sự hòa trộn của cái bình thường với cái bất thường, quái
dị, kinh dị, cái giống như thực với cái biếm họa Đồng thời, đặc trưng quan trọng nhất của nghịch dị là tính lưỡng trị, tính nước đôi, tính chưa hoàn kết Hơn thế nữa, mĩ học của nghịch dị là mĩ học của cái xấu đẹp đẽ Nghịch dị hiện đại gắn liền với cái phi lí, cái méo mó và xấu xí Từ đó, phóng chiếu vào lịch sử văn học dân tộc, nhận thấy rằng nghịch dị đã có mặt từ lâu trong mạch nguồn văn học, từ văn học truyền thống (văn học dân gian, văn học trung đại, văn học 1930-1945, văn học 1945-1975) và văn học sau 1975 đến nay Tất nhiên, mức độ đậm nhạt của nghệ thuật nghịch dị ở mỗi thời kì văn học là không đồng nhất với nhau, tùy vào đặc trưng của thời đại và văn học Có thể nói, từ 1986 đến nay, grotesque được hồi sinh mạnh mẽ trong tiểu thuyết Việt Nam Đó là nhờ cái nhìn dân chủ được phát huy Grotesque đã góp phần tạo
Trang 15nên cái nhìn tự do với tiếng cười châm biếm, giải phóng bản thể của con người trước mọi sự rập khuôn, sáo rỗng Thông qua grotesque, nhiều trật tự được định nghĩa, thế giới được nhìn khác đi Tinh thần của nghịch dị phù hợp với sự đổi mới quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm
về thể loại của văn học Việt Nam đương đại" [20; tr.77]
Với tinh thần đó, luận án tập phân tích nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 từ nhiều phương diện khác nhau Các kiểu hình tượng nghịch dị phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam là: Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị biếm hoạ, kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị lệch pha giới, kiểu hình tượng nhân vật nữ nghịch dị, hình tượng không gian nghịch dị, thời gian nghịch dị Từ phương thức biểu hiện, ngôn ngữ nghệ thuật nghịch
dị, giọng điệu nghịch dị, các biểu tượng nghịch dị cũng được tác giả tìm hiểu
và phân tích kỹ lưỡng Ở mỗi phương diện, tác giả đều đưa ra những nhận xét, đánh giá sắc sảo và chứng minh một cách thuyết phục qua các tiểu thuyết của các tác giả tiêu biểu
Trong số các nhà văn đương đại, Nguyễn Bình Phương nổi lên như một hiện tượng độc đáo Nghịch dị trong tiểu thuyết của ông được nhiều người quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu ở những mức độ khác nhau
- Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương từ góc nhìn nghịch dị
Mặc dầu Nguyễn Bình Phương tập trung sáng tác nhiều trong mấy thập
kỷ gần đây nhưng hệ thống công trình nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thì vô cùng phong phú
Thụy Khuê trong Sóng từ trường II đã có những đánh giá sâu sắc về
những nỗ lực tìm tòi và cách tân tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương Theo
tác giả có một hiện thực huyền ảo trong Những đứa trẻ chết già, hiện thực linh ảo âm dương của những Người đi vắng hiện thực hiện sinh trong Trí nhớ
Trang 16suy tàn Phùng Văn Tửu với bài viết Kỹ thuật trần thuật của Nguyễn Bình Phương trong Trí nhớ suy tàn đặc biệt chú ý đến vấn đề người kể chuyện:
"Kỹ thuật tự sự ở ngôi thứ hai này cũng được sử dụng trong Trí nhớ suy tàn
Tuy nhiên, ở đây nhân vật “tôi” ảo ấy không chỉ đối diện và trò chuyện vói
“em”, mà đồng thời còn mang dáng dấp nhân vật người kể chuyện hướng tới
độc giả" [33; tr.6] Phùng Gia Thế trong bài Dấu ấn hậu hiện đại trong văn
học Việt Nam sau 1986 đã nhận định: “Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám
ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào con người
và cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, xã hội và gia đình, sự băng hoại đạo đức, sự đau đớn bơ vơ, tình trạng bất an của con người”[83; tr.2]
Trong bài Dấu ấn hậu hiện đại trong Thoạt kỳ thuỷ và Những đứa trẻ chết
già, tác giả Lê Minh Hiền thừa nhận: “Đọc và hiểu được tác phẩm của
Nguyễn Bình Phương là rất khó, tiểu thuyết của ông vì thế cũng rất kén chọn
độc giả Các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương như Thoạt kỳ thuỷ,
Ngồi…dường như không đem đến cho người đọc một sự khoái cảm dễ dãi
thường thấy như ở các tiểu thuyết khác mà nó thường bắt người đọc phải trăn trở, suy tư, nghiền ngẫm để rồi từ đó mới tìm được sự thoả mãn và những ẩn nghĩa sau một quá trình vật lộn với sự đọc Đây cũng chính là nét khác biệt của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và các cây bút văn xuôi hiện nay” [23; tr.2]
Các yếu tố kỳ ảo, huyền ảo, dị thường, hiện thực phân mảnh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương được tác giả nghiên cứu chú ý khai thác “Biểu hiện rõ nhất trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là sự đan cài, lồng ghép giữa các yếu tố ảo - thực - đời thường, nội tâm - hành động, thiện - ác…
Thoạt kỳ thuỷ, Những đứa trẻ chết già là hai trong số nhiều tiểu thuyết của tác
giả thể hiện rõ nhất tư duy hậu hiện đại với hiện thực phân mảnh và yếu tố huyền ảo Các nhân vật luôn mang trong mình một tâm trạng hoang mang, dằn
Trang 17vặt, đổ vỡ, lạc lõng với thế giới xung quanh và ngay cả với chính mình Tất cả như phơi bày trước mắt một thực tại hỗn độn với những cơn ác mộng chập
chờn luôn rình rập bủa vây và những ảo giác siêu thực" [23; tr.2] “Ở Thoạt kỳ
thuỷ, Nguyễn Bình Phương tiếp tục đi sâu khai thác yếu tố huyền ảo ở những
khía cạnh dị thường, chủ yếu là ở những toan tính, hiếu sát, thô tục, điên loạn
như một hiện hữu bất thường của cuộc sống Càng đi sâu vào tác phẩm Những
đứa trẻ chết già và Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, người đọc càng
như thấy cái thực và ảo, cái hữu thức và vô thức đan xen vào nhau như hoà làm một, khó tách bạch một cách rạch ròi, đòi hỏi cần được nhận thức” [23; tr.5]
Đoàn Cầm Thi với bài viết Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên (Đọc
Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương) đã đi vào tìm hiểu thế giới vô thức
trong Thoạt kỳ thủy và chỉ ra những nét mới của Nguyễn Bình Phương khi
viết về thế giới vô thức và ngôn ngữ người điên: “Vô thức chiếm vị trí trọng
tâm trong Thoạt kỳ thủy, được diễn tả trong một văn phong chậm, ngắn, chính
xác, phản ánh một tư duy đang khảo sát, chiêm nghiệm Đặc biệt, nó được xem xét trong mối quan hệ với điên và mộng, là hai trạng thái trong đó vô thức hoạt động tích cực nhất, và lại khá gần nhau… Bên cạnh các giấc mộng, một trong những sáng tạo của Nguyễn Bình Phương là cách chuyển tải ngôn ngữ của Tính, ngôn ngữ điên” [86; tr.5]
Thuỵ Khuê ở bài viết Thế tĩnh toạ trong tác phẩm Ngồi đi vào phân
tích nghệ thuật hiện thực hư ảo và một không khí Kafka Việt Nam trong tác phẩm Tác giả cho rằng: “Nguyễn Bình Phương đưa thêm yếu tố huyền ảo
(fantastique) vào tác phẩm và với tiểu thuyết Ngồi, anh khai thác những nhận
thức bên trong nhân vật dựa vào triết học hiện sinh… Sự giăng mắc những hiện tượng bí mật gây nên không khí đe doạ thường trực Những nhân vật khả nghi, những sự kiện bất trắc tạo nên không khí Kafka toàn diện mà tất cả đều
có cảm tưởng mình đang bị theo dõi, rình rập, gài bẫy Sợ hãi và bất an bao
Trang 18trùm Những truyện hoang đường, những truyền thuyết, mê tín dị đoan được nghiền nát để đem vào truyện, nhào nặn với không khí trinh thám tạo nên một
thứ ám ảnh ma quái, thần sầu" [34; tr.12]
Đoàn Minh Tâm tìm hiểu Những đặc trưng của bút pháp huyền ảo
trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương và nhận định: “Bút pháp chủ
đạo trong Ngồi là huyền ảo” [79; tr.2] và tác giả đã chỉ ra chất huyền ảo trong
Ngồi là sự pha trộn giữa ba dòng bút pháp huyền ảo: Huyền ảo phi lý, huyền
ảo siêu nhiên và huyền ảo tâm lý
Trong bài Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình
Phương, tác giả Trương Thị Ngọc Hân viết: “Với Nguyễn Bình Phương, yếu
tố kỳ ảo đã trở thành một công cụ đắc dụng trong việc chuyển tải ý tưởng Và
ở tác phẩm của anh thì yế tố kỳ ảo mang đậm màu sắc tâm linh Từ Những
đứa trẻ chết già, Thoạt kỳ thủy, Người đi vắng đến “Chị em Nhiêu, Quỳnh nọ
Quỳnh kia và con mèo tam thể”, Nguyễn Bình Phương đều trở đi trở lại một ngôi làng Linh Nham với bầu không khí ảm đạm, bí ẩn Ở đó con người quen dần với mọi việc kỳ dị, quái đản, hư hoặc” [21; tr.5]
Trong luận án của Huỳnh Thị Thu Hậu mà chúng tôi nói ở trên, nghịch
dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng được tác giả khảo sát kỹ lưỡng Tác giả viết: “Kết hợp những yếu tố tương phản lẫn nhau: vô nghĩa và hàm chứa, nhìn mà không nhằm vào ai, những giấc mơ với đường biên là bãi
bờ hoang vắng, Nguyễn Bình Phương kiến tạo một thế giới khác với thế giới hiện thực, đó là thế giới của những điều đang hình thành, đang diễn ra, thế giới tâm linh, vô thức mà con người chạm đến một cách vừa thích thú vừa cảm thấy khó hiểu” [20; tr.24]
Ngoài ra, nhiều luận văn thạc sỹ, khóa luận đại học cũng lựa chọn tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương làm đối tượng khảo cứu, như “Kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, “Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn
Trang 19Bình Phương”, “Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”… Có thể nói, Nguyễn Bình Phương đã trở thành một cái tên được các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc trông chờ nhất, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, văn chương Việt nhiều nhưng không tinh, nên những hiện tượng như Nguyễn Bình Phương càng đáng quý và đáng trọng
Chúng tôi nhận thấy rằng, việc tái hiện tình hình nghiên cứu vấn đề nghịch dị cũng như tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là một việc vô cùng quan trọng, giúp chúng tôi có một cái nhìn bao quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu Kết quả của các tác giả đi trước đã gợi mở rất nhiều dữ liệu cần thiết để chúng tôi thực hiện đề tài
Cụ thể là, các công trình đã chỉ ra được một số biểu hiện của nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, phân tích hiệu quả nghệ thuật của nó cũng như vai trò của nó trong việc xác lập phong cách nghệ thuật tác giả Tuy nhiên, nhìn chung, các nhà nghiên cứu chỉ mới tập trung bàn về nghịch dị ở những tiểu thuyết cụ thể mà chưa có những khảo cứu toàn diện, hệ thống Vì vậy, nỗ lực của chúng tôi là góp thêm một tiếng nói để làm phong phú hơn các công trình nghiên cứu về một trong những tác giả độc đáo nhất của văn học Việt Nam đương đại
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Các tiểu thuyết đã được xuất bản của Nguyễn Bình Phương, gồm: Bả
giời (1991), Nxb Quân đội nhân dân; Vào cõi (1991), Nxb Thanh niên; Những đứa trẻ chết già (1994), Nxb Văn học; Người đi vắng (1999), Nxb Văn học; Trí nhớ suy tàn (2000), Nxb Thanh niên; Thoạt kỳ thủy (2005), Nxb Văn học; Ngồi (2006), Nxb Đà Nẵng; Mình và họ (2015), Nxb Trẻ; Kể xong rồi đi
Trang 20(2017), Nxb Hội Nhà văn Các tiểu thuyết của các nhà văn khác cũng được chúng tôi đưa vào để đối sánh, mở rộng vấn đề
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Xác định nghịch dị như là một kiểu tư duy nghệ thuật đặc thù của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
4.2.2 Nhận diện và làm rõ những biểu hiện của nghịch dị trong hệ thống hình tượng của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
4.2.3 Đánh giá nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể hiện qua hệ thống các thủ pháp nghệ thuật
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Các phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này được chúng tôi sử dụng xuyên suốt luận văn Chúng tôi đặt nghịch dị trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học cũng như tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong bức tranh chung của văn xuôi Việt Nam đương đại
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Phương pháp này giúp ta thấy tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có sự đổi mới với tinh thần đồng bộ, từ đổi mới
tư duy đến đổi mới quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, từ đó, kiến giải nghệ thuật nghịch dị của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương một cách thuyết phục
Trang 21- Phương pháp loại hình: Phương pháp này phát huy ưu điểm khi đề tài tập trung nghiên cứu loại hình văn xuôi, cụ thể là tiểu thuyết, qua đó, đưa lại những khái quát có tính chất đặc trưng về loại hình
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nghệ thuật nghịch dị được nghiên cứu trên nhiều phương diện, từ nội dung đến nghệ thuật, để rút ra các nhận định tổng quát
- Phương pháp so sánh- đối chiếu: Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, người viết nhìn nhận đánh giá vấn đề trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại để thấy được những nét kế thừa, sáng tạo cũng như những nét riêng Nguyễn Bình Phương trong việc sử dụng nghệ thuật nghịch dị
6 Đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu vấn đề nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, chỉ ra những biểu hiện của nghịch dị ở phương diện hình tượng và thủ pháp nghệ thuật, từ đó, góp thêm một tiếng nói khẳng định những đóp góp của Nguyễn Bình Phương cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Nghịch dị như là một kiểu tư duy nghệ thuật đặc thù trong
tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 2: Nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ
hệ thống hình tượng
Chương 3: Nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ
hệ thống thủ pháp nghệ thuật
Trang 22Chương 1 NGHỊCH DỊ NHƯ LÀ MỘT KIỂU TƯ DUY NGHỆ THUẬT ĐẶC THÙ
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Giới thuyết khái niệm nghịch dị
Khái niệm nghịch dị dù đã được sử dụng đến mức khá phổ biến, nhưng trên thực tế, vẫn chưa có sự thống nhất Khái niệm này được dịch từ tiếng
Pháp là grotesque, từ nguyên của nó là grotto (nghĩa là cái hang, cái động)
Sang tiếng Việt, có người dịch là nghịch dị, lại có người dịch là thô kệch Chúng tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc nắm vững khái niệm gốc Nếu như chỉ dựa vào khái niệm chuyển dịch, chắc chắn nội hàm khái niệm sẽ có vênh lệch
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “nghịch dị là một kiểu tổ chức hình
tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, cái giống như thực với cái biếm họa Nghệ thuật nghịch dị là một kiểu ước lệ đặc thù: nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên, chẳng hạn: “Lỗ mũi thì tám gánh lông - Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho”
(Ca dao) Hoặc trong Cái mũi của Gogol, cái mũi trên mặt viên tướng
Kô-va-lép bỗng nhiên biến mất một cách không sao giải thích được rồi sau lại trở về chỗ cũ và cái việc bất thường ấy dần dà trở thành bình thường đến nỗi
có viên quan nọ ngả mũ chào cái mũi của ông ta đang đi dạo trên bờ sông Nê-va Những thế giới người tí hon và người khổng lồ mà chàng Gu-li-vơ gặp phải cũng là một thế giới nghịch dị Nghịch dị khác với kì ảo (fantastique) và châm biếm (satire), mặc dù có sự gần gũi và có sử dụng yếu
tố này Kiểu hình tượng nghịch dị vốn có trong thần thoại và trong nghệ
Trang 23thuật cổ sơ của mọi dân tộc, nhưng chỉ trong sáng tác của một số nhà văn cổ đại ở văn học Châu Âu và trong văn học dân gian, nó mới trở thành thủ pháp Ở thế kỉ XX, chất nghịch dị trở thành hình thức tiêu biểu của nghệ thuật, kể cả một loại khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa (chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực) Ở kiểu hình tượng nghịch dị hiện đại chủ nghĩa, thế giới quen thuộc với ta bỗng chốc biến thành thế giới thù địch, xa lạ, ở đó ngự trị cái vô nghĩa giống như một sức mạnh siêu nhân không thể hiểu được, một tất yếu vô điều kiện biến con người thành con rối, chất nghịch dị ở đây trở thành nỗi sợ sống, trở thành ý thức về sự phí lí sinh tồn” [19; tr.141,142]
Theo 150 Thuật ngữ văn học, thuật ngữ grotesque được quan niệm “là
một kiểu tổ chức hình tượng (hình tượng, phong cách, thể loại), dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, vào tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp
và tương phản một cách kì quặc cái huyền hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái giống thực và cái biếm họa” [2; tr.263] Cũng theo cuốn sách này, trong lịch sử và lí luận văn học, nghịch dị khi được xem là thủ pháp của cái hài, khi được xem là mức sắc sảo của châm biếm, khi thì được nhấn mạnh ở tính táo bạo của hình tượng huyễn tưởng Với tất cả những phương thức phương tiện nói trên và những phương thức phương tiện khác của sự miêu tả nghệ thuật, nghịch dị nổi bật như một kiểu ước lệ đặc thù, phô trương một cách công nhiên và chủ ý, nó tạo ra thế giới nghịch dị - một thế giới dị thường, phi tự nhiên, lạ kì, như chính tác giả của nó muốn trình bày
Đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực nghịch dị, qua sự phân tích sắc sảo
của Bakhtin, là Gargantua và Pantagruel của F Rabelais “Các nguyên tắc
quy định cấu trúc hình tượng của nghịch dị thời Phục Hưng là: thái độ đối với thời gian, đối với sự hình thành và gắn với hai nguyên tắc trên là tính lưỡng trị, là việc miêu tả một cách chỉnh thể không tách biệt cả hai cực của sự hình thành: cả cái cũ lẫn cái mới, cả cái chết chóc lẫn cái sinh thành Tiếng cười do
Trang 24hình tượng nghịch dị gây nên cũng mang tính hai chiều: nó vừa phủ định vừa khẳng định, và do vậy, nó khác tiếng cười châm biếm của thời cận đại Chất nghịch dị thời Phục hưng gắn với cảm quan hội cải trang, diễn đạt cảm quan
về tính tương đối đầy vui nhộn và tính không hoàn tất vĩnh cửu của tồn tại” [2; tr.264]
Nghịch dị có sự biến hóa theo thời gian Nghịch dị thời Phục hưng khác nghịc dị thời Khai sáng, cũng khác nghịch dị trong văn học thế kỷ XIX và thế
kỷ XX Chẳng hạn như, “văn học Khai sáng xây dựng kiểu nghịch dị mang tính châm biếm sắc sảo, tố cáo cái thế giới vô học và bạo lực Các nhà lãng mạn dùng nghịch dị để nhấn mạnh rằng không thể nào thanh toán được những đối kháng có cơ sở thế giới quan, nhất là đối kháng giữa cái thẩm mĩ và cái đạo lí Các nhà lãng mạn Đức phân chia rạch ròi trong thế giới với kiểu nghịch dị thiện và ác, tách rời đến mức đối lập chúng với nhau” [2; tr.217] Đặc biệt, sang đến thế kỷ XX, nghịch dị xuất hiện trở lại, với một màu sắc mới Ở đây, sự trở lại của nghịch dị có sự gặp gỡ với sự trở lại của huyền thoại “Nó là một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật Xu thế của kiểu nghịch
dị này là sự biến hóa đột ngột từ thế giới quen thuộc của ta thành thế giới xa
lạ và thù nghịch, do nó cai quản, nó là một thế lực phi nhân và không thể hiểu được, một thế giới khó có thể tiếp cận, ở đó, con người bị biến thành con rối” [2; tr.266] Nghịch dị thấm nhuần ý thức về sự phi lý của tồn tại Ta dễ bắt gặp hàng loạt các hình tượng nghịch dị trong sáng tác của nhà văn Tiệp Khắc Franz Kafka, các nhà viết kịch phi lý… Rõ ràng, sự khác nhau trong việc tiếp cận cái nghịch dị là do bối cảnh xã hội, quan niệm về hiện thực của nhà văn
và những yếu tố khác có liên quan tác động
Theo quan niệm của Nadan Tamarchenco, Trần Đình Sử lược dịch, thì nghịch dị là “một trong những thủ pháp tiếp cận thẩm mĩ đối với hiện thực, trong đó hiện thực được cấu tạo bằng sự xâm nhập lẫn nhau của cái
Trang 25chủ thể và cái khách thể trong nghĩa rộng nhất của hai yếu tố đó (tích cực và tiêu cực, con ngươi và tự nhiên, tưởng tượng và kì ảo…)” [48; tr.1] Tác giả phân tích thêm: nghịch dị được sinh ra từ sự lẫn lộn của cái chủ thể và khách thể, tạo thành một vật lai ghép, do đó, nó còn bao gồm cả nghịch
dị trong sự trần thuật, kết quả là có những văn bản là sự lai ghép các phiến đoạn với nhau
Khái niệm nghịch dị phải được phân biệt một cách tương đối rạch ròi với những khái niệm mà một số người dễ cho rằng chúng có sự chồng lấn về nghĩa: nghịch dị và nghịch lý, nghịch lý và kỳ quặc, nghịch dị và quái dị, nghịch dị và kỳ ảo
Ngoài ra, ta cũng có thể thấy được mối tương quan giữa các thuật ngữ
đều cùng lấy nghịch dị làm từ gốc: nghịch dị, cái nghịch dị, chủ nghĩa hiện
thực nghịch dị, hình tượng nghịch dị, yếu tố nghịch dị… Chúng tôi không sử
dụng cái nghịch dị vì nó hướng tới việc xác lập cái cụ thể; hình tượng nghịch
dị hay yếu tố nghịch dị cũng nhắm tới cái cụ thể như thế; còn chủ nghĩa hiện thực nghịch dị, vốn là thuật ngữ của Bakhtin khi nghiên cứu sáng tác của
Rabelais Chúng tôi sử dụng từ nghịch dị với mục đích hướng tới những vấn
đề phổ quát hơn Đó không đơn thuần là nghịch dị ở phương diện hình tượng,
mà còn ở thủ pháp nghệ thuật; không đơn thuần là các biểu hiện cụ thể, mà còn là kiểu tư duy nghệ thuật có tính đặc thù Nói như tác giả Huỳnh Thị Thu Hậu: “Tư duy nghịch dị là kiểu tư duy đối lập, tương phản nhưng không phải
là kiểu đối lập của những mâu thuẫn, có cái này phải có cái kia, mà thực chất theo khuynh hướng tha hóa, phi lí Cái nhìn nghịch dị là cái nhìn mang tính chủ quan của nhà văn Muốn có cái nhìn nghịch dị, nhà văn cần phải có tư duy nghịch dị để phát hiện ra cái nghịch dị Nghịch dị tồn tại như thế nào, do đâu mà có, qua đó cảnh báo để đề xuất thay đổi Văn học nghịch dị là một khuynh hướng, một trào lưu gắn với hiện thực nghịch dị.” [20; tr.50]
Trang 26Từ những phân tích ở trên, chúng tôi xác định khái niệm nghịch dị
trong công trình nghiên cứu của mình Nghịch dị là một kiểu tư duy nghệ thuật dựa vào cái huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, dựa vào cả những sự kết hợp tưởng như không thể kết hợp được (cái đẹp và cái xấu, cái thực và cái
ảo, cái bi và cái hài, cái sinh thành và cái tiêu hủy…), nhằm đưa đến một cách tiếp cận thẩm mỹ đối với hiện thực Trong văn học Việt Nam, nghịch dị đã xuất hiện từ những tác phẩm văn học dân gian Đến văn học viết, đặc biệt là văn học đương đại, nghịch dị ngày càng trở nên phổ biến
1.2 Sự xuất hiện của kiểu tư duy nghịch dị trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại
Đương đại được sử dụng nhiều đến mức đôi khi ta không nhận biết
được đâu là nội hàm khái niệm của nó Nhạc đương đại, múa đương đại, hội họa đương đại, văn học đương đại… và còn rất nhiều những cụm từ có chứa yếu tố “đương đại” khác nữa Nói tới đương đại, rõ ràng, ta muốn nhấn mạnh tính chất đương thời, đang diễn tiến, đang xẩy ra Văn học đương đại ở đây được chúng tôi tính từ mốc sau năm 1986 đến nay Từ thời điểm này, văn học
đã thực sự có những đổi mới so với trước Nhiều kiểu tư duy mới xuất hiện hoặc trở nên thịnh hành hơn Nghịch dị là một minh chứng
1.2.1 Tiền đề xuất hiện nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tiền đề lịch sử, văn hóa - xã hội là yếu tố chi phối sự xuất hiện nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Như ta biết, từ năm 1945 - 1975, nền văn học vận động và phát triển trong điều kiện vô cùng đặc biệt, đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm Trong hoàn cảnh đó, những vấn đề thuộc về con người cá nhân, những vấn đề thế sự đời tư phải tạm gác lại, nhường chỗ cho những vấn đề lớn lao Sự tồn vong của Tổ quốc được đặt lên hàng đầu, vấn đề độc lập dân tộc hay nô lệ được coi là vấn đề cốt tử Đó là một thời đại đau
Trang 27thương nhưng vô cùng hào hùng của dân tộc Một thời đại mà “Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt/ Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng” (Chế Lan Viên), thời đại “Chẳng có ai là xoàng” (Nguyễn Khải), thời đại “ra ngõ gặp anh hùng”, thời đại mà mỗi người đều ý thức rằng “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật) Nói như nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn, trong hoàn cảnh đó “lòng yêu nước của mọi công dân đều được kích hoạt quyết liệt” Và “Chiến tranh là chuyện bất thường, hòng cướp đi đời sống bình thường của mỗi người dân Muốn tồn tại, cần phải có một sức mạnh phi thường… Hiện thực kháng chiến là một hiện thực phi thường Trong hệ thẩm mỹ thời chiến, cái phi thường tất phải lên ngôi Và nó có tên là chủ nghĩa anh hùng Xu hướng thẩm mỹ bao trùm của thời chiến là làm nổi bật cái phi thường/cái anh hùng Âm hưởng chủ đạo tất phải là âm hưởng anh hùng ca Phương cách làm nổi bật cái phi thường trùm lên
tư duy thẩm mỹ cả thời đại ấy là: tìm cái bình thường trong cái bất thường, và
bình thường hóa cái bất thường chính là sự phi thường” [7; tr.5]
Sau 1975, nền văn học vận động và phát triển trong bối cảnh mới: đất nước hòa bình, thống nhất nhưng con người phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách của cuộc sống thời hậu chiến Hiện thực cuộc sống thời hậu chiến bộn bề, phồn tạp, đa dạng, đa chiều với tất cả cái bi - hài, đẹp - xấu, dơ dáy - thanh cao… Trở về với cuộc sống đời thường con người cũng bộc lộ mình với nhiều mặt tốt, xấu; cao thượng, thấp hèn… Tất cả đều hiện hữu Cuộc sống trở lại với những quy luật bình thường của nó nên văn học cũng có
sự thay đổi Hiện thực cuộc sống thời hậu chiến là mảnh đất thuận lợi để nghịch dị nảy sinh, phát triển
Không thể không nói tới một sự kiện quan trọng năm 1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng với tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật”,
tư tưởng “cởi trói” cho văn học đã đem đến những thay đổi trong quan niệm
về hiện thực, về con người, quan niệm về vai trò, chức năng của văn học
Trang 28Các phát ngôn nổi tiếng thời này như “Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh họa” hay “văn học phải đạo” của các nhà văn, nhà phê bình đã cho thấy, đổi mới là cần thiết, là cấp bách Điều đó tạo nên xu hướng dân chủ hóa trong văn học Đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng, tiếp sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã đem đến cho đời sống văn học một không khí tự do, dân chủ Đến nửa cuối những năm 80 và đầu những năm 90 văn học phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Nhiều vấn đề của đời sống xã hội được nhìn nhận với tinh thần phản tỉnh Những gì trước
đó đã từng được xem là chân lý đúng đắn, là phù hợp, nay được lật xới, phân tích, cật vấn
Hơn thế, sau 1986, đặc biệt là từ những năm đầu thế kỷ XXI trở đi, hội nhập quốc tế trở thành một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với mỗi dân tộc Người ta không thể tự giam mình trong tháp ngà như trước, mà buộc phải mở lòng mình đón nhận những luồng văn hóa mới từ các nước khác Nhiều tác phẩm văn học, tác phẩm phê bình, nghiên cứu được chuyển ngữ Nhiều lý thuyết văn học được cập nhật Nghịch dị, trong bối cảnh ấy, càng trở nên phổ biến hơn trong văn học Việt Nam đương đại nói chung, tiểu thuyết nói riêng
Bên cạnh bối cảnh xã hội, quan niệm về nhà văn, về văn học và quan niệm về hiện thực cũng quyết định đến sự xuất hiện nghịch dị trong tiểu thuyết đương đại
Xuất phát từ yêu cầu của thời đại, nền văn học giai đoạn 1945-1975 là một nền văn học cách mạng, gắn bó sâu sắc với vận mệnh của dân tộc Nền văn học đó đã sản sinh ra một thế hệ nhà văn - chiến sĩ “Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Bác Hồ) Tầm vóc nhà văn
Trang 29do đó mà trở nên lớn lao, kỳ vĩ: “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/ Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi” (Chế Lan Viên);
và Chế Lan Viên đã “Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ”: “Vầng trán năm 68 các nhà thơ/ Giống vầng trán đổ mồ hôi những người thợ trên cầu/ Và giọt mồ hôi các thi sĩ hè 1972/ Chung với giọt mồ hôi những anh hùng trên mâm pháo/ Nào máu có cấu trúc gì đâu, mà lòng ta chấn động/ Chẳng cấu trúc nào trên trang giấy của anh thay được máu người”… Sau 1975, quan niệm về vai trò của nhà văn đã thay đổi “Người đọc của ngày hôm nay đòi hỏi mỗi nhà văn là một nhà
tư tưởng, một nhà hoạt động xã hội để không chỉ soi sáng mà còn khơi gợi suy nghĩ của họ, để cùng bàn bạc, đối thoại về mọi vấn đề của cuộc sống” [40; tr.1] Từ đó, mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc trở nên bình đẳng hơn
Đặc biệt, từ 1986, văn học đã có những bước chuyển mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - xã hội Đề tài được mở rộng biên độ Trở về với cuộc sống sau chiến tranh, bên cạnh đề tài về chiến tranh tiếp tục được khám phá, các tác giả hướng ngòi bút của mình đến số phận cá nhân, soi rọi những mảng tối, góc khuất bên trong con người, phơi lộ những mạch ngầm, chiều sâu còn ẩn kín của hiện thực Những gì mà văn học trước đây tạm “quên” vì cuộc chiến nay được đưa lên trang sách Cái nhìn của nhà văn về hiện thực cũng thay đổi Hiện thực cuộc sống cũng được nhận thức lại trong sự đa chiều, đa dạng của
nó với nhiều nghịch lí, với những gì mà trước đây người ta né tránh không dám thừa nhận Văn học sau Đổi mới quan tâm nhiều đến các vấn đề thế sự, đời tư với tất cả sự phức tạp của đời sống hàng ngày
Nền văn học 1945 - 1975 phát triển trong điều kiện đất nước có chiến tranh là nền văn học của những vấn đề lớn lao, nền văn học nhân danh cộng đồng, nhân danh cái ta Vì vậy, cảm hứng chủ đạo, bao trùm văn học là cảm hứng ngợi ca Âm hưởng sử thi chiếm ưu thế Từ sau 1975, nhất là cái mốc
1986, khi cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con
Trang 30người trở về với cuộc sống đời thường, phải đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống, cảm hứng ngợi ca đã dần được thay bằng cảm hứng thế sự đời tư Quan tâm đến số phận cá nhân, nhà văn đã nhìn thấy được những nghịch
lí đang diễn ra trong cuốc sống đòi hỏi mỗi người phải nhận thức lại Chiến tranh
đã qua đi nhưng cuộc sống của con người thời hậu chiến thật không dễ dàng, con người phải đối mặt với một cuộc chiến mới, đó là cuộc chiến chống lại đói nghèo, lạc hậu, bảo vệ phẩm tính, thiên lương của con người
Quan tâm đến vấn đề thế sự, đời tư dẫn đến quan niệm về con người trong văn học có sự thay đổi Con người luôn là đối tượng phản ánh, phục vụ của văn học Viết về con người, hướng đến con người, phục vụ con người là
sứ mệnh thiêng liêng của văn học mọi thời đại Sau 1975, con người được đặt
ở nhiều mối quan hệ: con người trong mối quan hệ với gia tộc, gia đình, con người xã hội, con người trong mối quan hệ với thiên nhiên, với những người xung quanh,… Không chỉ thế, con người trong văn học thời kỳ này còn được nhìn ngắm, phản ánh ở nhiều mặt: ý thức và vô thức, khát vọng cao đẹp và dục vọng bản năng tầm thường, con người tâm lí, tâm linh và con người sinh
lí, con người dị biệt và con người mang tính phổ quát,… Có thể thấy rằng, con người trong văn học thời kì này không còn là nguyên phiến, đơn giản mà
là con người lưỡng trị, đa diện, phức tạp, đa đoan Trong con người luôn tồn tại hai mặt: tốt - xấu, thiện - ác, cao cả - thấp hèn,… Đặt con người trong nhiều mối quan hệ, soi chiếu con người ở nhiều mặt, văn học đã phản ánh được cuộc sống trong tính đa chiều, phồn tạp của nó
Các nhà văn với sự mẫn cảm trước những biến động của thời đại, với những trăn trở, vật vã, tìm tòi đã đem đến sự vận động mạnh mẽ trong chiều sâu của đời sống văn học, đem đến cho văn học một diện mạo mới Một số cây bút tiên phong trong phong trào đổi mới văn học như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Dương Thu
Trang 31Hương, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Thanh Thảo, Lưu Quang Vũ, Xuân Trình…
Sự nở rộ của một loạt tác phẩm trên tinh thần đổi mới đã đem đến cho nền văn học dân tộc một diện mạo mới, đời sống văn học trở nên sôi đông hơn Những tác phẩm đó đã tạo cú hích, tạo đà cho sự đổi mới rầm rồ trong văn học
giai đoạn tiếp theo Thời xa vắng của Lê Lựu được coi là tác phẩm khơi dòng
cho khuynh hướng này và đã trở thành sự kiện văn học nổi bật của những năm 1986-1987 Và được xem là một trong những người mở đường tài năng và tinh anh của văn học sau đổi mới, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn sâu sắc hơn về chiến tranh, về cuộc sống, con người Chiến tranh không chỉ được nhìn nhận ở những chiến công, những kỳ tích mà chiến tranh còn được Nguyễn Minh Châu nhìn nhận ở những mặt trái của nó với sự tác động
sâu sắc đến số phận và tính cách con người (Cỏ lau và Mùa trái cóc ở Miền
Nam) Số phận cá nhân được nhà văn quan tâm (Phiên chợ Giát, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp lại đi vào những
góc tối của đời sống tâm hồn con người, đó là sự tha hóa, xuống cấp trầm trọng
về đạo đức, nhân cách, sự đảo lộn các thang bảng giá trị và lối sống (Tướng về
hưu, Không có vua) Những tác phẩm như Bến không chồng của Dương
Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Đám cưới
không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng,… đã đem đến một cái nhìn nhiều
chiều hơn về hiện thực - một hiện thực phồn tạp với bao vấn đề nhức nhối mà trước đây người ta tạm quên đi thì giờ hiển hiện một cách trần trụi Viết về hiện thực với nhiều góc tối, góc khuất đó, nhà văn buộc mỗi người cần phải có cái nhìn tỉnh táo trước cuộc sống Nhìn sâu vào hiện thực để khai thác các tầng vỉa còn chìm lấp là điều cần thiết Tuy nhiên mọi sự thái quá, sa đà sẽ nguy hại cho
sự phát triển của văn học và sự phát triển của xã hội
Có thể nói, chính sự thay đổi về bối cảnh lịch sử, xã hội, sự thay đổi quan niệm về nhà văn, văn học và hiện thực là những tiền đề khiến cho
Trang 32nghịch dị trở nên phổ biến, hơn thế, được hồi sinh mạnh mẽ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Như đã nói, nghịch dị là kiểu tư duy nghệ thuật đặc thù
Nó cũng phải tồn tại trong một không gian đặc thù nhất định Văn học đương đại là văn học của sự đổi mới, của cách tân Đó là bầu khí quyển đảm bảo sự tồn tại của nghịch dị Do đó, khi và chỉ khi những điều kiện khách quan và chủ quan được đáp ứng, nghịch dị mới trở nên phổ biến, tạo thành một dòng chảy thực sự và có đóng góp
1.2.2 Nhận diện nghịch dị trong sáng tác của một số tác giả tiêu biểu
Xuất phát từ những tiền đề lịch sử, xã hội, văn học, nền văn học sau
1975, đặc biệt là từ sau 1986 đã có những bước chuyển mạnh mẽ để đáp ứng với nhu cầu của thời đại Tiểu thuyết là thể loại đạt được nhiều thành tựu nổi bật Nhìn vào bức tranh chung của tiểu thuyết đương đại Việt Nam, ta thấy nghịch dị trở thành một thủ pháp, một kiểu tư duy nghệ thuật phổ biến trong các sáng tác của các tác giả như: Hồ Anh Thái, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Việt Hà, Thuận,…
Nghịch dị đã có từ lâu trong văn học nhưng ở mỗi thời đại khác nhau đối tượng của nghịch dị có sự khác nhau Trước 1975, nghịch dị nghiêng về châm biếm cái xấu như cái lố lăng của phong trào Âu hoá trong sáng tác của
Vũ Trọng Phụng, hay sự dị hình dị dạng, méo mó nhân hình, nhân tính của con người trước cái đói và miếng ăn trong sáng tác của Nam Cao,… Sau
1986, văn học hướng đến phản ánh hiện thực cuộc sống trong sự đa dạng, đa chiều và đặc biệt quan tâm đến số phận con người cá nhân với những mối quan hệ phong phú, phức tạp Dưới góc nhìn nghịch dị, nhiều vấn đề của hiện thực được soi chiếu lại Hiện thực chiến tranh trở nên trần trụi, ám ảnh hơn
với những đau thương, mất mát trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến
không chồng (Dương Hướng),… Cuộc sống hậu chiến với những mảng tối,
góc khuất được đưa lên trang sách Nếu trước đây, hình tượng con người
Trang 33tương đối đơn giản Nhân vật tốt, thường là tốt từ đầu đến cuối Nhân vật xấu, hầu như chả có cơ hội để tốt lên Đấy là những nhân vật một màu Không cần suy đoán, không cần phân tích, ta vẫn dễ dàng nhận ra cái diện mạo chung của con người thời ấy Còn ở đương đại, mọi thứ phức tạp hơn nhiều lần Cuộc sống đầy mối lo toan Vì thế, con người không còn đơn giản, nguyên phiến
mà phức tạp, đa diện, đa chiều Con người được nhìn nhận như những cá thể trần trụi Con người luôn có sự trộn lẫn của thiên thần và ác quỷ, của thiện và
ác, của lí trí và bản năng, của thể xác và tâm hồn Bức chân dung nhân vật trong sáng tác của các tác giả thời kỳ này thường mang những nét kì dị, quái đản Đó là thế giới kì quái về ngoại hình: nhân vật với đôi bàn tay màu cam
trong Thế giới C - Vũ Lập Nhật, nhân vật với gương mặt kì dị trong Những
đứa trẻ chết già - Nguyễn Bình Phương, là thế giới không trọng lượng trong SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái,… Thế giới nhân vật còn là những con
người tha hóa về đạo đức, méo mó về nhân cách, dị thường về tâm sinh lí với
sự trỗi dạy của những dục vọng bản năng, với những sở thích kỳ quái: thích khỏa thân, thích trồng cây chuối, thích máu… Trong văn học dường như cái đẹp dần trở nên xa vắng, hiếm hoi, cái xấu, cái ác đăng quang, lên ngôi Qua
đó cho thấy sự khủng hoảng, đổ vỡ niềm tin của con người trước cuộc sống trở thành một nỗi ám ảnh ghê gớm trong sáng tác của các tác giả thời kỳ này
Ta thử tìm hiểu nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Hồ Anh Thái
là một nhà văn xuất sắc của thế hệ văn chương sáng tác thời hậu chiến Nhiều tác phẩm của ông được đánh giá là đỉnh cao của tiểu thuyết Việt Nam đương
đại như Cõi người rung chuông tận thế, 265 ngày, Mười lẻ một đêm… Sáng
tác của ông đã tái hiện được bức tranh bộn bề, phức tạp, đầy khủng hoảng của một giai đoạn đầy nhiễu rối Thế giới nhân vật trần tục, đầy những thói hư tật xấu, đẩy con người lấn sâu vào vực thẳm tha hóa Đó là người mẹ đa dâm, đã trải qua năm cuộc li dị với năm người chồng và vô số những mối tình không
Trang 34tên khác, là những nhân vật thừa tiền, thừa giàu sang nhưng lệch lạc về tâm sinh lý, nhân cách… Nghịch dị trong sáng tác của Hồ Anh Thái có thể gói trong hai từ, là vô nghĩa và trống rỗng Họ loay hoay, chệnh choạng, dò dẫm tìm đường nhưng cuối cùng, cái còn lại vẫn là một nỗi hoài nghi kéo dài không dứt Nghịch dị đậm đặc trong hầu hết các tiểu thuyết Hồ Anh Thái Thêm nữa, chất hài hước càng khiến cho nghịch dị trở nên thâm thúy hơn, ý nghĩa phê phán sâu sắc hơn
Nghịch dị cũng là vấn đề đáng nói trong tiểu thuyết của Thuận Trong
Vân Vy, một tiểu thuyết có tiếng của Thuận, dễ thấy nhân vật được nhìn nhận
với tư cách là một người lệch lạc giới tính, chịu sự ruồng rẫy của xã hội, của cộng đồng, hơn thế, còn của người thân Nhưng khát vọng yêu, được yêu trong tâm hồn nhân vật thì vô cùng mãnh liệt Kết hợp hai yếu tố đối lập này với nhau, thông điệp mà Thuận đưa ra không đơn thuần chỉ là bảo vệ cho những người lệch pha về giới, mà hơn thế, còn là tiếng nói cổ súy cho việc đi tìm những căn tính tốt đẹp để được là mình Nói chung, nghịch dị trong tiểu thuyết của Thuận buộc người đọc phải thay đổi cách nhìn thế giới Đó là thế giới được định nghĩa lại, được tái cấu trúc
Trên thực tế, các nhà văn không dễ dàng gì trong việc tạo được màu sắc riêng cho nghịch dị trong tác phẩm của mình Do đó, nhận diện cái độc đáo của từng tác giả khi xử lý vấn đề nghịch dị là rất khó Nhất là trong bức tranh tiểu thuyết Việt Nam đương đại, nơi có nhiều tiếng nói cất lên, để tiếng nói của mình độc đáo thì nhà văn phải có một thực tiễn sáng tạo phong phú và dày dặn
Để phản ánh cuộc sống và con người trong tính đa chiều của nó, ngôn ngữ và giọng điệu trong tác phẩm cũng phải có sự thích ứng Nghịch dị cho phép nhà văn dung nạp nhiều dạng thức ngôn ngữ như ngôn ngữ suồng sã, chợ búa, ngôn ngữ của người điên, ngôn ngữ giễu nhại, ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ trò chơi… Giọng điệu cũng đa sắc, có thể là giọng giễu nhại, giọng tự
Trang 35trào, giọng bất tín và âu lo Trước những nhu cầu, đòi hỏi của người đọc, sự thúc bách được viết của bản thân, Nguyễn Bình Phương đã cặm cụi, nỗ lực ở từng trang viết Chúng ta có thể nhận thấy rằng: quả thực, có một nghịch dị của riêng Nguyễn Bình Phương
1.3 Khái lược về nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
1.3.1 Nguyễn Bình Phương - một hiện tượng nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Nguyễn Bình Phương quả thực là một hiện tượng nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Trong bối cảnh văn học không được đông đảo công chúng thực sự mặn mà, Nguyễn Bình Phương vẫn có độc giả, mà còn là độc giả đích thực, độc giả luôn mong ngóng, chờ đợi các sản phẩm nghệ thuật của nhà văn mình yêu thích Điều này thực sự đáng quý
Nguyễn Bình Phương tên thật là Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1965 tại Thái Nguyên Do chiến tranh nên gia đình sơ tán về xã Linh Nham, thuộc huyện Đồng Hưng, tỉnh Thái Nguyên, đến năm 1979 mới trở lại thành phố Thái Nguyên Năm 1985, Nguyễn Bình Phương tốt nghiệp trường cấp ba Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên, đi bộ đội từ 1985 đến 1989, từng đóng quân và làm báo tại biên giới phía Bắc Năm 1989, Nguyễn Bình Phương thi vào trường viết văn Nguyễn Du Sau khi tốt nghiệp khóa IV, Nguyễn Bình Phương làm biên kịch tại đoàn kịch nói Quân đội, sau đó là biên tập viên của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân với cấp bậc đại úy Từ năm 2014 đến nay, Nguyễn Bình Phương là Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Nguyễn Bình Phương bắt đầu viết văn từ năm 1986 Nhờ trải qua những năm tháng rèn luyện trong quân đội nên ông có một vốn sống rất phong phú và nhiều trải nghiệm Ở Nguyễn Bình Phương, ta có thể thấy một trái tim đau đáu với nghề, chăm chút cho nghề Nguyễn Bình Phương ít khi xuất hiện trên báo chí, hiếm nói về mình, tránh xa những bộc bạch về đời tư,
Trang 36nói cách khác, không thuộc “thế giới showbiz văn chương” Ông lặng lẽ viết
Do đó, các nhà phê bình nghiên cứu và bạn đọc chú tâm hoàn toàn vào sáng tác của ông, không bị sao nhãng bởi những tuyên ngôn bên ngoài trang viết
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bình Phương trải dài ba thập kỷ Ông sáng tác ở nhiều thể loại và thể loại nào cũng in được dấu ấn riêng Thơ của Nguyễn Bình Phương có sức hấp dẫn đặc biệt, đọc vô cùng thích thú Các
tập Khách của trần gian (Trường ca NXB Văn học 1986), Lam chướng (1992),
Xa thân (1997), Từ chết sang trời biếc (2001), Thơ Nguyễn Bình Phương
(2005) đã đáp ứng được nhiều kỳ vọng của bạn đọc yêu thơ, mê thơ Đặc biệt, đầu năm 2010 thơ của Nguyễn Bình Phương cùng với một số nhà thơ tiêu biểu khác như Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy…được chọn dịch trong
Tuyển tập thơ Việt Nam, xuất bản ở Thụy Điển Cho đến nay, tuyển này đã
nhận được những phản hồi tích cực từ những tờ báo lớn của Thụy Điển
Ngoài ra, ông còn viết một số tiểu luận, truyện ngắn, bút ký tiêu biểu
như truyện ngắn Đi (in trên văn nghệ trẻ số ra ngày 10/1/1999), Bút ký Lững
thững với ngàn năm (2009)… Ta dễ thấy Nguyễn Bình Phương luôn “tròn
vai” Ở vị trí nào, ông cũng thể hiện mình xuất sắc Đó không phải là cuộc chơi ngông, mà là cuộc dấn thân thực sự nghiêm túc của một nhà văn chuyên nghiệp Tuy nhiên, làm nên Nguyễn Bình Phương hôm nay chính là tiểu thuyết
Bả giời (năm 1991, NXB Quân đội Nhân dân, 2004 tái bản), Vào cõi (NXB
Thanh niên 1991), Những đứa trẻ chết già (NXB Văn học 1994), Người đi
vắng (NXB Văn học 1999), Trí nhớ suy tàn (NXB Thanh niên 2000), Thoạt kỳ thủy (NXB Hội Nhà văn 2004), Ngồi (NXB Đà Nẵng 2006), Mình và họ (NXB
Trẻ, 2014), Kể xong rồi đi (NXB Trẻ, 2017)… là những tiểu thuyết xứng đáng
được nêu tên trong số những tiểu thuyết đương đại hay nhất hiện nay
Buổi tọa đàm về cuốn Chiêm nghiệm về cái chết ngày 3 tháng 10 năm
2017 tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội là một ví dụ cho thấy tiểu thuyết
Trang 37Nguyễn Bình Phương thu hút độc giả đến thế nào Tác giả không xuất hiện
mà độc giả thì rất đông, đến nỗi ban tổ chức phải đổi phòng rộng hơn mới đáp ứng đủ số người tham dự Những hình ảnh ấy là mơ ước của rất nhiều nhà văn trong bối cảnh sáng tạo này
Như nhận xét của nhà văn Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương là cây bút hay nhất của văn học Việt đương thời Ông còn thêm rằng, nhiều nhà văn chỉ viết được một cuốn, sau đó không viết được nữa, hoặc càng viết càng dở, nhưng Nguyễn Bình Phương viết cuốn nào cũng hay
Với quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, đầy sức sáng tạo, Nguyễn Bình Phương đã đem đến cho nền văn học đương đại một tiếng nói riêng, một cái nhìn mới mẻ về cuộc sống, con người Là nhà văn luôn trăn trở, tìm tòi, đổi mới, những sáng tác của ông dù không dễ đọc nhưng luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với độc giả Mỗi tác phẩm mang một nét riêng nhưng vẫn
có sự thống nhất trong phong cách chung, không hề trộn lẫn
1.3.2 Nghịch dị như là một kiểu tư duy nghệ thuật và cảm nhận đời sống đặc thù trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Nghịch dị bao trùm sáng tác của Nguyễn Bình Phương Từ tiểu thuyết đầu tiên đến tiểu thuyết vừa mới xuất bản, kiểu tư duy này xuất hiện trở đi trở lại, nhưng đầy linh hoạt, biến hóa
Đi vào tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, ta nhận thấy một lối viết rất riêng biệt, mới mẻ từ cách tư duy, quan niệm về hiện thực, về con người đến việc xây dựng cốt truyện, không gian - thời gian nghệ thuật cho đến sử dụng ngôn từ, tạo dựng các biểu tượng… Phá vỡ lối mòn truyền thống, chối bỏ các đại tự sự, Nguyễn Bình Phương hướng tới một hiện thực phân mảnh, tan rã, đầy những yếu tố dị thường, ở đó luôn có sự đan xen của thực và ảo, hữu thức
và vô thức, cõi âm và cõi dương, thật và giả, quá khứ và hiện tại Đó là giấc
mơ của kẻ điên loạn, hình ảnh của một con cú trôi dọc triền sông (Thoạt kỳ
Trang 38thủy), những kẻ đi tìm kho báu (Những đứa trẻ chết già), sự suy tàn của trí
nhớ (Trí nhớ suy tàn), sự lơ lửng, chơi vơi giữa hai cõi âm dương của một linh hồn (Mình và họ)… Bức tranh hiện thực trong sáng tác của Nguyễn Bình
Phương luôn được bao bọc bởi màu sắc huyền ảo và một không khí ma mị, kì quái, gần như thoát li cõi thực Ở đó yếu tố kỳ ảo được tác giả sử dụng một cách đậm đặc và hiệu quả Nếu trong sáng tác của các tác giả khác, yếu tố kỳ
ảo được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật thì với Nguyễn Bình Phương, cái kỳ ảo như là một phần của hiện thực cuộc sống Thực - ảo đan xen, trộn lẫn trong tác phẩm ông khiến người đọc rất khó nhận diện Sử dụng các yếu tố tưởng như không thể kết hợp được với nhau mà vẫn có thể tồn tại song hành
là một cách thức nhà văn làm nhòe ranh giới của hiện thực, đề cao biểu tượng, coi biểu tượng như là một siêu ngôn ngữ
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đưa người đọc trở về với hoàn cảnh
xã hội Việt Nam trong thời đại chuyển giao cơ chế thị trường, nơi mà truyền thống và hiện đại đang dần dần mất đi ranh giới Hiện thực được nhìn từ nhiều chiều, được quan sát từ các cấp độ Đã thế, nó còn được đẩy lên tới mức cực đoan, tận cùng, khó phân giới được giữa mơ và thực Nhiều yếu tố được phóng đại Nhưng phóng đại vẫn chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý Vì thế, nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đôi khi bị lẫn một cách tự nhiên vào các yếu tố khác chứ không hề khiên cưỡng
Không quan tâm đến các đại tự sự, Nguyễn Bình Phương hướng ngòi bút của mình đến số phận con người cá nhân để từ đó chỉ ra những đổ vỡ của trật tự đời sống, sự lạc loài, hồ nghi về tồn tại Hầu hết nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương luôn mang nặng những ẩn ức riêng Họ luôn bị dằn vặt với những mối bận tâm về công việc, tình yêu, tiền bạc, tình dục Họ sống hoang tưởng, điên loạn, chập chờn giữa quá khứ và hiện tại; bản năng, dục vọng và sự thanh cao… Những con người với những sở thích kỳ quái, lập dị (thích giết công cống, thích máu,…) Con người luôn cảm thấy cô đơn, lạc
Trang 39lõng giữa đồng loại, sống vật vờ, tầm thường, vô nghĩa lí Có thể nhận thấy rằng dường như mỗi nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương đều mang trong mình một bóng ma ám ảnh, họ đều có những nỗi ẩn ức riêng tư, những ám ảnh mơ hồ mà dai dẳng, những khát khao thầm lặng, những nỗi sợ
hãi, âu lo mơ hồ không xác định Nhân vật Vang trong Vào cõi; Thủy trong
Bả giời; Tính, Hiền trong Thoạt kỳ thủy; Thắng trong Người đi vắng, Khẩn
trong Ngồi, là những con người như thế
Trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, màu sắc huyễn hoặc như một lớp sương dày bao phủ toàn bộ tiểu thuyết tạo nên một không khí ma mị, khó phân biệt thực hư Nhân vật nghịch dị trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương gồm nhiều hạng người khác nhau: công chức, nông dân; những con người bình thường trong cuộc sống đời thường nhưng có những nét tính cách, tâm sinh lí khác thường, dị biệt, những sở thích kì quái Từ hệ thống nhân vật nghịch dị đó, nhà văn muốn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về tình trạng tha hóa của con người trước áp lực của cuộc sống, trước một hiện thực nham nhở, đa diện, đa chiều
Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đầy những yếu tố nghịch dị Thế giới nghệ thuật đó vừa mê hoặc, dẫn dụ vừa đem đến cho người đọc cảm giác bức bối, ngột ngạt, muốn vượt thoát khỏi nó Một điều đặc biệt làm nên sức hấp dẫn trong sáng tác của ông, đó là, thông qua hệ thống nhân vật nghịch dị trong những môi trường, hoàn cảnh cụ thể đã đem đến cho người đọc những suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc về những giá trị của cuộc sống, về bản thân mình
Trang 40Chương 2 NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
Hình tượng nghệ thuật là phương tiện có tính đặc thù để người nghệ sĩ phản ánh thế giới hiện thực Đó không phải là hình ảnh trực tiếp của thế giới khách quan, mà là thế giới khách quan được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người sáng tác Do đó, hình tượng có một số đặc trưng cơ bản như tính cụ thể và tính trừu tượng, khái quát; tính chủ quan và tính khách quan, tính đa nghĩa… Một tác phẩm văn học đặc sắc, nhất thiết hình tượng nghệ thuật của
nó phải ấn tượng, độc đáo Thế giới hình tượng trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là một thế giới “biết nói” Ở đó, đời sống hiện lên mang đậm chất nghịch dị
2.1 Tính lưỡng trị của không gian và thời gian nghệ thuật
Chúng tôi mượn từ “lưỡng trị” của Bakhtin, với ý nghĩa là hai chức năng, hai giá trị Ở không gian nghệ thuật, đó là yếu tố thực và phi thực; ở thời gian nghệ thuật, đó là quá khứ và hiện tại
2.1.1 Pha trộn yếu tố thực và phi thực của không gian
Không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nó là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, thể hiện cách nhìn về đời sống và quan niệm về con người Hình tượng nghệ thuật nào cũng tồn tại trong một không gian nhất định Trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, không gian luôn có sự trộn lẫn giữa yếu tố thực và phi thực Đây là cơ sở tạo nên nghịch dị trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Khảo sát tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, ta thấy có hai loại không gian được lựa chọn làm bối cảnh triển khai cốt truyện, đó là không gian làng quê và không gian phố phường Không gian làng quê gắn liền với mảnh