1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam vận động viên đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 16 tỉnh lào cai

63 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 840,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam vận động viên Đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai” 2..

Trang 1

LỨA TUỔI 15 – 16 TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN TRÍ LỤC

NGHỆ AN – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân cũng như sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tôi xin gửi lời cảm

ơn tới những người đã giúp đỡ trong thời gian học tập, nghiên cứu vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Vinh, Khoa Giáo Dục Thể Chất, Phòng đạo tạo sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành việc học tập cũng như nghiên cứu khoa học

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo TS Nguyễn Trí Lục đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đơn vị công tác Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai, đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tác giả

Đào Tiến Bình

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu 10

4 Giả thuyết khoa học 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5.1 Nhiệm vụ 1 11

5.2 Nhiệm vụ 2 12

6 Phương pháp nghiên cứu 12

6.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu 12

6.2 Phương pháp quan sát sư phạm 12

6.3 Phương pháp phỏng vấn 13

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 13

6.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 14

6.6 Phương pháp toán thống kê 15

7 Kết quả nghiên cứu 16

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17

1.1 Khái niệm và tính đa dạng của sức bền 17

1.1.1 Khái niệm sức bền 17

1.1.2 Tính đa dạng của sức bền 17

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở sinh lý của sức bền tốc độ 19

1.2.1 Cơ sở lý luận 19

1.2.2 Cơ sở sinh lý 22

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 15 - 16 23

1.3.1 Đặc điểm sinh lý 23

1.3.2 Đặc điểm tâm lý 25

1.4 Đặc điểm sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao 26

1.4.1 Cơ sở lý luận sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao 26

1.4.2 Đặc điểm sinh lý của sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao 28

CHƯƠNG 2 31

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN 31

SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN ĐUA XE ĐẠP 31

THỂ THAO LỨA TUỔI 15 – 16 TỈNH LÀO CAI 31

2.1 Lựa chọn các test làm cơ sở đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai 31

2.1.1 Cơ sở khoa học lựa chọn test 31

2.1.2 Lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai ………32

2.2 Thực trạng công tác huấn luyện bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai ………34

Trang 7

2.2.1 Thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa

tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai ……….………34

2.2.2 Thực trạng đội ngũ huấn luyện viên đua xe đạp thể thao của Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai ………35

2.2.3 Thực trạng kế hoạch huấn luyện nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai ……….………36

2.2.4 Thực trạng sử dụng bài tập huấn luyện sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai …… ………37

CHƯƠNG 3 40

ỨNG DỤNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC BÀI TẬP 40

PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN 40

ĐUA XE ĐẠP THỂ THAO LỨA TUỔI 15-16 TỈNH LÀO CAI 40

3.1 Lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai 40

3.2 Ứng dụng bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai 48

3.2.1 Tổ chức thực nghiệm 48

3.2.2 Tiến hành thực nghiệm 49

3.2.3 Kết quả thực nghiệm 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1 Kết luận 54

2 Kiến nghị 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VH-TT&DL : Văn hóa – Thể thao và Du lịch

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thể dục thể thao là yếu tố cần thiết trong đời sống xã hội, thể dục thể thao làm tăng cường thể chất cho nhân dân, nâng cao sức khỏe, trình độ thể thao của đất nước từng bước vươn lên những đỉnh cao quốc tế mà trước hết là khu vực châu Á Và góp phần làm phong phú, lành mạnh đời sống văn hóa và giáo dục con người phát triển toàn diện phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Một đất nước có nền thể dục thể thao phát triển điều đó chứng tỏ sức sống tiềm năng mãnh liệt của một dân tộc Hoạt động thể dục thể thao vô cùng phong phú và đa dạng, mỗi môn thể thao đều có đặc thù riêng, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Trong đó Đua xe đạp thể thao là môn thể thao được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi nhất trên thế giới Về mặt nội dung lẫn hình thức tập luyện đều rất đa dạng và phong phú, gần gũi với hoạt động tự nhiên của con người

Cuộc đua xe đạp chính thức đầu tiên tổ chức tại Pháp năm 1869, trên quãng đường 120 km Giải vô địch thế giới nam đầu tiên trên đường đua chuyên dùng tổ chức tại Chicago (1893), trên đường nhựa tại Copenhaghen (1921); của

nữ (1958), việt dã

Đua xe đạp thể thao được đưa vào chương trình đại hội Olympic từ 1896 Hiệp hội đua Xe đạp Quốc tế (UIC) thành lập năm 1900, có 120 quốc gia thành viên (1985), gồm Liên đoàn Đua Xe đạp Nghiệp dư Quốc tế (FIAC) và Liên đoàn Đua Xe đạp Chuyên nghiệp Quốc tế (FICP)

Cuộc đua xe đạp xuyên Đông Dương lần thứ nhất (1936), với đường đua 4.000 kilômét, chia 25 chặng Cuộc đua xuyên Việt (Thành phố Hồ Chí Minh -

Hà Nội, 1985) dài 1.720 km Giải vô địch quốc gia lần thứ nhất tổ chức ở Quảng Nam - Đà Nẵng (1986) với cự li 100 km đồng đội và 180 km cá nhân

Trang 10

Huấn luyện môn Xe đạp thể thao, cũng như đối với các môn thể thao khác, là một hoạt động mang tính khoa học cao, đòi hỏi sự chính xác, sự thống nhất và đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa những người tham gia quá trình huấn luyện Để đạt được những mục tiêu huấn luyện, người HLV cần có những kiến thức nền tảng cùng khả năng chuyên môn Những yêu cầu đó không phải là

tự nhiên mà có được mà chỉ có thể đến nhờ quá trình học tập và sự tìm hiểu của mỗi HLV

Bộ môn Xe đạp thể thao là một bộ môn mới thuộc trung tâm Huấn Luyện

và thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai - tổng biên chế 12 em vận động viên trẻ Trong công tác đào tạo, huấn luyện cho VĐV xe đạp thể thao có rất nhiều kỹ thuật và chiến thuật đa dạng đòi hỏi VĐV phải có nền tảng thể lực chung, sức bền tốt và

sự am hiểu cũng như tình yêu với bộ môn xe đạp thể thao, chính vì vậy Công tác đào tạo thể lực ban đầu cho vận động viên xe đạp thể thao là hết sức quan trọng

Được UBND tỉnh Lào Cai và Sở VH-TT&DL đưa bộ môn xe đạp vào hệ thống các môn thể thao phát triển của tỉnh, nhằm phát triển phong trào đi xe đạp rộng khắp toàn tỉnh Mục tiêu thứ nhất để phát triển phong trào đi xe đạp với toàn nhân dân, với công chức, viên chức, để giảm chất thải độc hại ra môi trường Mục tiêu thứ hai để theo kịp phong trào đua xe đạp đang phát triển mạnh

mẽ của các tỉnh bạn

Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam vận động

viên Đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai”

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng về công tác huấn luyện vận động viên đua xe đạp tỉnh Lào Cai; từ đó lựa chọn và ứng dụng các bài tập phát triển sức bền cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 tỉnh Lào Cai,

Trang 11

góp phần nâng cao hiệu quả công tác huấn luyện đội tuyển đua xe đạp thể thao

tỉnh Lào Cai

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khách thể đối tượng nghiên cứu: Cho nam vận động viên đua xe đạp thể

thao lứa tuổi 15-16 Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai

- Quy mô nghiên cứu bao gồm:

+ Đối tượng thực nghiệm: Gồm 12 nam vận động viên đua xe đạp thể

thao lứa tuổi 15-16 Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai

+ Không gian nghiên cứu:

Khoa thể dục Trường Đại học Vinh, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai

+ Thời gian nghiên cứu: Được tiến hành từ tháng 10/2017 đến tháng 7/2018 và được chia làm 3 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017, đề tài tiến

hành các công việc sau:

Xây dựng và bảo vệ đề cương nghiên cứu Thu thập nghiên cứu tài liệu có liên quan nhằm xác định cơ sở lý luận của đề tài

Lựa chọn và xác định tính thông báo, độ tin cậy của các test đánh giá thể lực chung cho nam vận động viên Đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 thuộc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai

Trang 12

Lập phiếu phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn lựa chọn nội dung và quy trình ứng dụng các bài tập giảng dạy và huấn luyện

Giai đoạn 2: Từ tháng 1/2018 đến tháng 4/2018: Ứng dụng và đánh giá

hiệu quả của các bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho nam vận động viên viên Đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 thuộc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai

Giai đoạn 3: Từ tháng 05/2017 đến tháng 07/2017: Phân tích kết quả

nghiên cứu, viết và hoàn thiện luận văn, chuẩn bị và bảo vệ kết quả nghiên cứu trước Hội đồng nghiệm thu

4 Giả thuyết khoa học

Từ quan sát trao đổi, mạn đàm với các chuyên gia, huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện cho thấy, sức bền tốc độ của nam vận động viên viên Đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 thuộc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai còn kém, mà nguyên nhân cơ bản từ việc áp dụng bài tập chưa đa dạng hóa, đặc biệt là các bài tập phát triển sức bền tốc độ Với việc lựa chọn và ứng dụng các bài tập mà đề tài nghiên cứu sẽ đạt được hiệu quả cao cho quá trình huấn luyện và tập luyện của vận động viên đua xe đạp tỉnh Lào Cai

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên,đề tài tiến hành và nghiên cứu giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau:

5.1 Nhiệm vụ 1

Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

Để giải quyết mục tiêu này đề tài tiến hành các bước sau:

- Lựa chọn các test làm cơ sở để đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

Trang 13

- Đánh giá thực trạng việc sử dụng kế hoạch và các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

- Đánh giá thực trạng trình độ sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

5.2 Nhiệm vụ 2

Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

Để giải quyết mục tiêu này đề tài tiến hành các bước:

- Lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Lào Cai

- Xây dựng kế hoạch thực nghiệm

- Tổ chức thực nghiệm

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu

Việc sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu là phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết mục tiêu 1 và 2 của đề tài Khi sử dụng phương pháp này, qua nghiên cứu tổng hợp các nguồn tư liệu khác nhau, để tìm ra các luận cứ khoa học phù hợp với thực tiễn VĐV đua xe đạp thể thao tỉnh Lào Cai Ngoài ra cũng thông qua các nguồn tài liệu, đề tài tiến hành xác định lựa chọn các test đánh giá và hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV đua xe đạp thể thao tỉnh Lào Cai Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu này đề tài tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau Các tài liệu về đua xe đạp thể thao, phương pháp giáo dục thể chất, các sách giáo khoa, các bài báo khoa học TDTT, các nguồn tư liệu thuộc thư viện trường Đại học TDTT Bắc Ninh, Viện khoa học TDTT và các tư liệu có liên quan khác… Nhằm xác định luận đề, luận chứng và

Trang 14

các mục tiêu, phương pháp, cũng như tổ chức nghiên cứu Các tài liệu được dùng trong luận văn được trình bày ở danh mục “Các tài liệu tham khảo”

6.2 Phương pháp quan sát sư phạm

- Mục đích sử dụng phương pháp: Quan sát đối tượng nghiên cứu của đề tài đầy đủ để biết được sự thay đổi của đối tượng trong suốt quá trình nghiên cứu của đề tài

- Vận dụng phương pháp vào trong đề tài: Đề tài sử dụng phương pháp quan sát sư phạm để tiếp cận đối tượng nghiên cứu, nhằm thu thập, theo dõi trực tiếp quá trình tập luyện và thi đấu, về thực tế huấn luyện VĐV cũng như các bài tập và phương pháp mà HLV thường sử dụng, từ đó tìm ra những phương tiện phát triển sức bền cho nam VĐV tỉnh Lào Cai cũng như rút ra những test phục

vụ cho việc kiểm tra, đánh giá trình độ sức bền của VĐV trong quá trình huấn luyện

Trang 15

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Mục đích sử dụng phương pháp: Tìm ra được sự khác biệt của của đối tượng thực nghiệm so với đối tượng đối chứng ở mức độ có ý nghĩa hay không

có ý nghĩa về thống kê

- Vận dụng phương pháp vào trong đề tài: Là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài để đánh giá hiệu quả của hệ thống các bài tập đã lựa chọn ứng dụng nhằm phát triển sức bền cho đối tượng nghiên cứu Thời gian thực nghiệm của đề tài là 12 tháng Đối tượng nghiên cứu của đề tài là

12 nam VĐV đua xe đạp thể thao lứa tuổi 15-16 thuộc trung tâm huấn luyện và thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai (đây là những VĐV thuộc đội tuyển trẻ của tỉnh Lào Cai), và được chia thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng theo ngẫu nhiên bằng nhau về số lượng, giới tính, trình độ và trạng thái sức khỏe Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng có mẫu đủ lớn (n > 20; n< 20)

6.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Đề tài sử dụng phương pháp này để kiểm tra,đánh giá sức bền của VĐV một cách chính xác và khách quan trước và sau thực nghiệm, làm cơ sở phân tích, so sánh và đánh giá mức độ phát triển sức mạnh tốc độ của VĐV khi sử dụng các bài tập đã được lựa chọn Quá trình tổ chức kiểm tra được tiến hành trong 12 tháng Đối tượng kiểm tra là 12 nam VĐV đua xe đạp thể thao thuộc trung tâm huấn luyện và thi đấu TDTT tỉnh Lào Cai Trong quá trình nghiên cứu

đề tài đã tiến hành sử dụng hệ thống các test đánh giá tố chất sức bền đã lựa chọn trong các giai đoạn kiểm tra (giai đoạn kiểm tra ban đầu, sau 6 tháng và sau 12 tháng)

Cách thực hiện của Test

1 Đạp xe 8 km (phút)

- Mục đích: Đánh giá sức bền tốc độ cơ chân

- Dụng cụ: Đồng hồ bấm giây, còi

Trang 16

- Thực hiện Test: Người thực hiện đạp gắng hết sức

6.6 Phương pháp toán thống kê

Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đã được xử lý bằng phương pháp toán học thống kê Việc tính toán được thực hiện trên máy tính với các phần mềm chuyên dụng

Dùng để xử lý những số liệu trong quá trình lập test, đề tài đã sử dụng những công thức sau:

Trang 17

B

A A

B A

n n

x x t

B A

n n

x x

) (

2 1

2 2 2 2

1 1

x x x

1

2 

n n

2 1

1 ) (

) ( ) (

) )(

(

y y x

x

y y x x

i i

i i

6 Công thức Brondy (tính nhịp độ tăng trưởng)

) (

5 , 0

) (

100

2 1

1 2

V V

V V

Trong đó: V 1: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm

V 2: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm

7 Kết quả nghiên cứu

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và tính đa dạng của sức bền

1.1.1 Khái niệm sức bền

Trong bất kỳ một hoạt động nào, kể cả hoạt động trí óc lẫn hoạt động chân tay, theo thời gian con người đều cảm thấy mệt mỏi Mệt mỏi có thể biểu hiện ra bằng thái độ như sự giảm sút ý chí, toát mồ hôi, các thao tác hoạt động không còn chính xác và dẫn tới hiệu suất công việc bị giảm sút Người ta gọi trạng thái giảm sút tạm thời khả năng vận động do hoạt động gây nên là trạng thái mệt mỏi

Mệt mỏi diễn ra theo hai giai đoạn:

- Giai đoạn xuất hiện mệt mỏi nhưng nhờ nỗ lực ý chí mà con người vẫn

có thể duy trì được cường độ hoạt động ở mức tương đối cao, gọi là giai đoạn mệt mỏi có bù

- Tiếp theo đó dù có cố gắng đến mấy thì cường độ vận động vẫn bị giảm sút và tới mức phải dừng công việc, gọi là giai đoạn mệt mỏi mất bù

Có khi hai người cùng thực hiện một công việc như nhau, nhưng lại thấy các thời điểm xuất hiện mệt mỏi khác nhau Bởi vì mỗi người có một sức bền riêng

Từ đó có định nghĩa sức bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó

Trang 19

*Căn cứ vào số lượng sợi cơ tham gia hoạt động

- Nếu có khoảng 1/3 số sợi cơ tham gia hoạt động gọi là hoạt động cục bộ hay sức bền cục bộ Loại hoạt động này không đòi hỏi sự hoạt động tích cực của hệ tuần hoàn, hô hấp, không gây những biến đổi sâu sắc

- Nếu có khoảng 2/3 số sợi cơ tham gia hoạt động trở lên gọi là hoạt động toàn bộ hay sức bền chung Loại hoạt động này đòi hỏi hệ tuần hoàn hô hấp hoạt động ở mức tương đối khẩn trương đảm bảo cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động Muốn hoạt động được như vậy trong thời gian dài cần phát triển tốt các chức năng thực vật Người ta gọi đó là sức bền chung (sức bền thực vật)

Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường độ thấp

có sự tham gia phần lớn hệ cơ Sức bền chung có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống và khả năng chuyển động lớn, là tiền đề của quá trình hình thành sức bền tốc độ

Sức bền tốc độ là khả năng chống lại mệt mỏi của cơ thể VĐV khi thực hiện một lượng vận động nhất định nào đó

* Căn cứ vào thời gian hoạt động, sức bền gồm ba loại

- Từ 11 phút trở lên gọi là sức bền trong thời gian dài Thành tích phụ thuộc vào khả năng hoạt động ưa khí

- Từ 2 đến 11 phút gọi là sức bền trong thời gian trung bình Thành tích phụ thuộc vào cả khả năng hoạt động ưa và yếm khí

- Từ 40 giây đến 2 phút gọi là sức bền trong thời gian ngắn Thành tích phụ thuộc vào khả năng hoạt động yếm khí

* Căn cứ vào tố chất thể lực gồm có

- Sức bền tốc độ: Là khả năng duy trì tốc độ cao trong một khoảng thời gian dài

Trang 20

- Sức mạnh bền: Là khả năng khắc phục lực cản trong một khoảng thời gian dài

* Từ các quan niệm trên, ta đi tới khái niệm sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao như sau: Sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao là sức bền đặc trưng tương ứng với quãng đường đua

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở sinh lý của sức bền tốc độ

1.2.1 Cơ sở lý luận

Trong hoạt động TDTT sức bền được hiểu là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó Tại vì sức bền đảm bảo cho vận động viên duy trì khả năng hấp thụ Oxy Do vậy sức bền không những là nhân tố xác định và ảnh hưởng đến thành tích thi đấu mà còn là nhân tố để xác định thành tích tập luyện

Trình độ sức bền được xác định bởi chức năng của hệ tuần hoàn tim, sự trao đổi chất hệ thần kinh và sự phối hợp vận động của các cơ quan trong cơ thể Sức bền phụ thuộc nhiều vào tình trạng phối hợp vận động tính chất điều khiển tâm lý và đặc biệt là điều khiển ý chí của vận động viên (tức là khi ta thực hiện một hoạt động nào đó với cường độ lớn trong một thời gian ngắn thôi ta đã cảm thấy việc thực hiện công việc đó thật khó khăn hơn và biểu hiện ra bên ngoài như cơ mặt căng thẳng mồ hôi ra nhiều và gây nên những biến đổi tâm lý) Nhưng con người vẫn duy trì được hoạt động đó nhờ sự nỗ lực của ý chí và khả năng chống lại mệt mỏi

Do đó khi huấn luyện sức bền ta phải tìm ra các phương pháp, phương tiện phù hợp với yêu cầu của môn thể thao để nâng cao được thành tích

Vì vậy để huấn luyện được sức bền tốt người ta phải quan sát sức bền theo yêu cầu cụ thể của thi đấu Sức bền là một trong những nhân tố để xác định thành tích cho nên huấn luyện sức bền phải phù hợp với tất cả các điều kiện khác của thi

Trang 21

đấu, dưới góc độ nào đó nhất thiết phải có một sức bền đặc trưng của từng môn thể thao, sức bền đặc trưng này gọi là sức bền thi đấu chuyên môn

Nâng cao sức bền chung là cơ sở để nâng cao sức bền chuyên môn và nâng cao được năng lực vận động của cơ thể Tập luyện có hệ thống sẽ nâng cao được sức bền một cách đáng kể Nhưng cũng cần thấy khả năng sức bền phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố di truyền đặc biệt là cơ bắp, năng lực hấp thụ oxy của cơ thể

Vì vậy việc tổ chức tập luyện đúng phương pháp thì cần phải thử nghiệm

dự báo để tuyển chọn và xác định các cự ly chuyên môn hoá phù hợp nhất cho từng vận động viên

Tất cả các phương pháp huấn luyện để nâng cao sức bền trong các môn thể thao có chu kỳ đều dựa trên sự kết hợp của 5 yếu tố cơ bản sau:

- Tốc độ (cường độ) bài tập

- Thời gian của bài tập

- Thời gian nghỉ giữa quãng

- Tính chất nghỉ ngơi

- Số lần lặp lại

Các yếu tố này có ý nghĩa rất lớn và có mối quan hệ khăng khít và luôn bổ sung cho nhau trong quá trình huấn luyện Vì vậy nếu thay đổi một trong các yếu tố trên thì cơ thể sẽ xuất hiện những biến đổi rất lớn, bất lợi và từ đó sẽ làm giảm thành tích vận động

Các bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ ở đây chủ yếu là các bài tập lặp lại với tốc độ tới hạn và gần tới hạn của cơ thể trong trạng thái hiện trạng có như vậy mới tạo được sự chuyển sức bền tốc độ mới đạt được kết quả cao

Vậy cần giải quyết các nhiệm vụ có liên quan trước tiên phải đảm bảo hoạt động trong tình trạng thiếu Oxy của cơ quan nội tạng, hoàn thiện và nâng

Trang 22

cao các chức năng của cơ thể, mặt khác cơ sở sinh lý để phát triển sức bền tốc

độ không những chỉ áp dụng các bài tập một cách máy móc mà phải căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi, giới tính

Nội dung chính của huấn luyện sức bền tốc độ trước hết là phải nâng cao khả năng yếm khí và ưa khí

* Đặc điểm của sức bền ưa khí

- Cường độ hoạt động: 40 - 80% cường độ tối đa

- Thời gian hoạt động: Từ 30 phút trở lên

- Quãng nghỉ ngắn đến rất ngắn dưới hình thức tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạt động từ động sang tĩnh rút ngắn quá trình hồi phục

- Số lần lặp lại: Cần dựa vào mức độ hấp thụ Oxy

* Đặc điểm của sức bền yếm khí

+ Hoàn thiện cơ chế gluco phân:

- Cường độ hoạt động: Xấp xỉ tốc độ tối đa (90 - 95%)

- Thời gian mỗi lần lặp lại: 20" - 2'

- Khoảng cách nghỉ ngơi: Giảm dần sau mỗi lần lặp lại

- Tính chất nghỉ ngơi: Không cần phải nghỉ ngơi tích cực nhưng cần tránh trạng thái hoàn toàn yên tĩnh

- Số lần lặp lại 3-4 lần

+ Hoàn thiện cơ chế CP (Creatin phốt phát)

- Cường độ hoạt động gần mức tối đa: 95%

- Thời gian nghỉ: 3-8"

- Quãng nghỉ 2 - 3' hoặc phân nhóm mỗi nhóm cách nhau 7-10'

- Tính chất nghỉ ngơi: Cần nghỉ tích cực

Trang 23

- Số lần lặp lặi: Tuỳ thuộc vào tốc độ vận động viên sao cho tốc độ không

bị giảm

Để nâng cao thành tích đua xe đạp thể thao cần phát triển toàn diện các tố chất thể lực và áp dụng tổng hợp các phương pháp nhằm nâng cao khả năng ưa yếm khí của cơ thể, việc huấn luyện sức bền tốc độ cho vận động viên đua xe đạp thể thao là yếu tố rất cần thiết không thể thiếu

cả các hệ cơ quan để chống lại các mệt mỏi

- Hệ vận động: Do quá trình hưng phấn của vận động viên cao nên đòi

hỏi chức năng vận động của cơ quan vận động cũng rất cao, thời trị cơ bắp ngắn, thời trị cơ đối kháng và cơ co giãn giống nhau

- Hệ thần kinh: Quá trình hưng phấn chiếm ưu thế bởi vì tốc độ chạy

nhanh nhất với cường độ cao cho nên cơ quan cảm thụ bản thể bị xung đột rất lớn và chuyển tới vỏ não liên tục gây nên sự hưng phấn cao ở trung tâm vận động ở võ não và tất nhiên là quá trình hưng phấn cao hơn ức chế cho nên nâng cao được tính linh hoạt của quá trình thần kinh

- Hệ hô hấp: Là khâu đầu tiên của hệ vận chuyển Oxy Hệ hô hấp đảm

bảo sự trao đổi khí giữa bên trong và bên ngoài Trong hoạt động yếm khí cơ thể hoạt động trong điều kiện ổn định giả nên hệ hô hấp đòi hỏi phải hoạt động với tần suất lớn Sự tăng công suất của hệ hô hấp, hô hấp ngoài là do lực và sức bền của các cơ hô hấp tăng nên độ sâu hô hấp giảm

- Hệ máu: Thể tích máu và hàm lượng Hemoglobin quyết định đến khả

năng vận chuyển Oxy của cơ thể Tập luyện sức bền tốc độ làm tăng lượng máu

Trang 24

tuần hoàn Nhờ lượng máu tuần hoàn lớn mà lượng máu trở về tim cũng lớn hơn, tạo điều kiện cho thể tích tâm thu tăng lên Lượng máu tuần hoàn tăng lên pha loãng các sản phẩm trao đổi chất như axit lactic có trong máu và làm giảm nồng độ của chúng, tránh hiện tượng rối loạn môi trường nội môi ảnh hưởng đến hoạt động của cơ

Axit lactic trong máu của vận động viên tập luyện sức bền tốc độ do các yếu tố sau quyết định

Cơ bắp của vận động viên tập luyện sức bền tốc độ chủ yếu sử dụng nguồn năng lượng yếm khí nên tạo ra nhiều axit lactic hơn ở vận động viên tập luyện sức bền

+ Hệ vận chuyển oxy thích nghi chậm trong quá trình hoạt động, do đó không thể cung cấp đầy đủ lượng oxy cho cơ hoạt động

+ Các vận động viên tập luyện sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao

có tỷ lệ các sợi cơ nhanh cao hơn so với sợi cơ chậm, nên ít có khả năng sử dụng axit lactic làm nhiên liệu cung cấp năng lượng

- Hệ tim mạch: Trong quá trình tập luyện nâng cao sức bền tốc độ tim và

mạch máu có sự biến đổi sâu sắc về cấu tạo và chức năng

Về cấu tạo buồng tim giảm, cơ tim phì đại: Giảm buồng tim làm cho lượng máu chứa trong các buồng tim tăng lên Phì đại cơ tim làm cho lực bóp của thành tim và mạch máu tăng lên, máu xuống nhiều động mạch làm cho máu lưu thông đến hệ cơ quan nhiều hơn

Về chức năng: Làm giảm tần số co bóp của tim khi yên tĩnh Sự giảm nhịp tim làm cho tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao năng lượng hơn đồng thời thời gian nghỉ nhiều hơn Những biến đổi do đó có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng khả năng tối đa của tim trong vận động

- Hệ cơ: Sức bền của vận động viên phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo

và hoá sinh của cơ Tập luyện sức bền làm cho cơ phì đại điều đó làm cho

Trang 25

khả năng hấp thụ oxy của cơ tăng lên Tập luyện sức bền nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ thể trong hoạt động với công suất lớn trong thời ngan ngắn

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 15 - 16

1.3.1 Đặc điểm sinh lý

Đối với lứa tuổi này cơ thể đã phát triển tương đối hoàn chỉnh các hệ cơ quan cũng như yếu tố thể lực để tiến tới sự hoàn thiện về chức năng

- Hệ vận động

+ Hệ xương: Xương các em phát triển mạnh mẽ về chiều dài và độ dày,

tính đàn hồi của xương giảm dần do hàm lượng photpho, canxi và magiê tăng, xuất hiện sự cốt hoá ở một số bộ phận của xương như mặt cột xương sống, các

tổ chức dần được thay thế bằng các mô xương nên cùng với sự phát triển chiều dài cột sống tăng lên và có thể có xu hướng bị cong vẹo

+ Hệ cơ: ở giai đoạn này hệ cơ phát triển với tốc độ nhanh nhưng vẫn

chậm hơn so với hệ xương, biểu hiện là các em cao, gầy, khối lượng cơ tăng nhanh, đàn tính cơ tăng, nhưng không đồng đều, chủ yếu là các cơ nhỏ và dài do đó khi có hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi vì độ phì đại cơ chưa cao Vì vậy trong quá trình huấn luyện giảng dạy, giáo viên cần phải chú ý phát triển cơ bắp cho các em nhằm phát triển một cách hoàn thiện cho hệ cơ

- Hệ tuần hoàn: Lứa tuổi 15 - 16 kích thước của tim tương đối lớn, tần số

co bóp của tim đã giảm và tương đối ổn định Hệ tim ở lứa tuổi này đã thích nghi với sự tăng công suất của hoạt động và có thể ở những bài tập dai sức, thể tích tâm thu và thể tích phút tăng cao, điều đó làm tăng dự trữ lượng máu trong tâm thất để khi vận động bổ sung cho thể tích của dòng máu

- Hệ máu: Hoạt động cơ bắp làm cho hệ máu có những thay đổi nhất định

sau: Thời gian tập luyện dài, tốc độ cao và căng thẳng, khối lượng của máu tỷ lệ

Trang 26

với trọng lượng cơ thể tăng ở mức hoàn thiện, hồng cầu trong máu tăng Sau các hoạt động kéo dài lượng hồng cầu giảm đi và quá trình hồi phục xảy ra nhanh

- Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi này có sự biến đổi cơ bản về trạng thái, chức

năng hệ hô hấp Dung tích sống và thông khí phổi tăng tối đa, khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2 max)

- Hệ thần kinh: Các tổ chức thần kinh ở lứa tuổi này đang tiếp tục phát

triển và hoàn thiện, khả năng tư duy nhất là khả năng phân tích tổng hợp trừu tượng hoá phát triển rất thuận lợi cho việc hình thành phản xạ có điều kiện Tuy nhiên đối với một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho VĐV chóng mệt mỏi, vì vậy cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách phong phú đặc biệt tạo điều kiện hoàn thành tốt bài tập chính, nhất là các bài tập sức bền Ngoài ra do hoạt động của các tuyến giáp, tuyến sinh dục … Làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế và ức chế không cân bằng làm ảnh hưởng đến hoạt động thể lực

Ở lứa tuổi này của nam tính nhịp điệu giảm sút nhanh chóng khả năng chịu đựng lực vận động kém, cần sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể của nam vận động viên để có biện pháp giải quyết kịp thời

Trao đổi chất và năng lượng: ở đối tượng nam VĐV lứa tuổi này đòi hỏi

về các chất (đường, đạm và muối khoáng) rất lớn, quá trình chuyển hoá xảy ra nhanh, tăng lượng tế bào lớn, mặt khác do quá trình trưởng thành của cơ thể, cung cấp cho quá trình vận động thể lực

1.3.2 Đặc điểm tâm lý

Ở lứa tuổi này các em đã tỏ ra mình là người lớn và đã có nhận thức rõ ràng, hưng phấn cao Đã hình thành được nhân sinh quan và thế giới quan cũng như hình thành mơ ước, lý tưởng và mục tiêu theo đuổi rõ ràng nên hoạt động mang tính lý trí nhiều hơn sự cảm tính chủ quan

Trang 27

Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế cho nên các

em tiếp thu cái mới rất nhanh nhưng lại chóng chán ở lứa tuổi này do kinh nghiệm của cuộc sống còn ít nên mọi việc làm, suy nghĩ đều thiếu chín chắn, dễ mang tính bồng bột Vì vậy khi tiến hành công tác giáo dục TDTT cho các em cần phải uốn nắn nhắc nhở, chỉ bảo kịp thời định hướng và động viên các em hoàn thành tốt nhiệm vụ làm theo khen thưởng và động viên đúng mức

1.4 Đặc điểm sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao

1.4.1 Cơ sở lý luận sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao

Ở đua xe đạp thể thao (khoảng cách trung bình thuộc vùng công suất gần cực đại) thì nhân tố quan trọng của sức bền là những biến đổi của môi trường bên trong cơ thể (sự tích luỹ số lượng lớn axit và đioxit các bon trong máu )

Những biến đổi đột ngột thành phần hoá học trong máu ảnh hưởng đến các trung tâm thần kinh, làm giảm sút trạng thái của chúng

Đặc điểm hệ năng lượng trong đua xe đạp thể thao đó là:

75% sử dụng năng lượng yếm khí

25% sử dụng năng lượng ưa khí

Như vậy việc giáo dục sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao đồng nghĩa với việc chúng ta phải nâng cao được khả năng ưa khí và yếm khí Để cơ thể hoạt động trong điều kiện yếm khí lâu dài thì phải trên cơ sở giáo dục khả năng ưa khí Vì 2 cơ chế này luôn tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau

* Để nâng cao khả năng ưa khí, chúng tôi giải quyết những nhiệm vụ sau:

Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo ra nguồn năng lượng cho hoạt động cơ bắp thông qua quá trình oxy hoá các hợp chất giàu năng lượng trong cơ thể

Trang 28

Việc nâng cao khả năng ưa khí thì cần giải quyết 3 yếu tố: Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa, làm cho hệ tuần hoàn và hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt động với hiệu suất cao

Các phương pháp chủ yếu để nâng cao khả năng ưa khí là phương pháp lặp lại và phương pháp biến đổi Các phương pháp giãn cách và phương pháp biến đổi được sử dụng để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể thường có cấu trúc các thành phần của lượng vận động như sau:

- Cường độ hoạt động cao hơn mức tới hạn (vào khoảng 70-80% tốc độ tối đa) sao cho cuối mỗi lần lặp lại tần số mạch xấp xỉ 160 lần/ phút

- Độ dài quãng đường phải được lựa chọn sao cho thời gian thực hiện không quá 5 - 6 phút, chỉ trong trường hợp này hoạt động mới diễn ra trong điều kiện yếm khí và mới đạt được mức hấp thụ oxy tối đa vào lúc nghỉ giữa quãng

- Thời gian nghỉ giữa quãng: Sao cho lần tập tiếp theo phải được tiến hành trong điều kiện thuận lợi trên nền của hoạt động trước đó

- Tính chất quãng nghỉ: Nên tiếp tục hoạt động với cường độ thấp để tránh sự chuyển đột ngột từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh và ngược lại nhằm tăng nhanh quá trình hồi phục, tạo điều kiện thuận lợi cho lần lặp lại tiếp theo

- Số lần lặp lại: Cần duy trì trạng thái ổn định trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ thể, thể hiện ở khả năng hấp thụ oxy ổn định ở mức

độ tương đối cao, đồng thời số lần lặp lại còn phụ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV

* Để nâng cao khả năng yếm khí của cơ thể cần giải quyết những vấn

đề sau:

Khả năng yếm khí là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí (các phản ứng giải phóng năng lượng không có sự tham gia của ôxy)

Trang 29

- Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng từ CP có những đặc điểm sau:

+ Cường độ hoạt động: Gần mức tối đa hoặc thấp hơn một ít tức là từ 85 - 100% tốc độ tối đa

+ Thời gian thực hiện bài tập (mỗi lần lặp lại) chỉ giới hạn từ 45s – 1 phút bởi vì dự trữ photphcrêatin trong cơ rất ít Sự phân huỷ hợp chất này chỉ diễn ra (45s – 1 phút) sau khi bắt đầu hoạt động

+ Thời gian nghỉ giữa quãng: Từ 4 – 5 phút, đó là thời gian đủ để phục hồi photphocrêatin - sự phân huỷ photphocrêatin không tạo ra axit lactic nên tốc độ trả

nợ oxy diễn ra nhanh nhưng dự trữ photphocrêatin trong cơ rất ít, nên sau 3-4 lần lặp lại thì hoạt động của cơ thể Glucôphân tăng lên còn cơ chế photphocrêatin giảm

đi Để khắc phục hiện tượng này người ta chia bài tập thành 2-3 nhóm (tổ) mỗi tổ 3-5 lần lặp lại, thời gian nghỉ giữa các nhóm từ 7-10'

+ Số lần lặp lại dựa vào trình độ tập luyện VĐV sao cho tốc độ không bị giảm

- Các bài tập để hoàn thiện cơ chế glucôphân có đặc điểm sau:

+ Cường độ vận động xấp xỉ tối đa (90 - 95% tốc độ tối đa)

+ Thời gian lặp lại: 20" - 2'

+ Khoảng cách nghỉ ngơi: Giảm dần sau mỗi lần lặp lại

+ Tính chất nghỉ ngơi: Không cần nghỉ ngơi tích cực nhưng cũng tránh trạng thái hoàn thiện yên tĩnh

+ Số lần lặp lại: Không quá 3-4 lần

Trên đây đã trình bày phương pháp tác động có chọn lọc đến những cơ chế yếm khí riêng biệt, trong thực tế các phương pháp được áp dụng thường mang tính tổng hợp hơn Kết hợp những tác động nhằm nâng cao khả năng ưa khí với khả năng yếm khí

Trang 30

1.4.2 Đặc điểm sinh lý của sức bền tốc độ trong đua xe đạp thể thao

a Hệ thần kinh

Tính linh hoạt thần kinh tương đối cao, tốc độ tương đối nhanh nên yêu cầu có khả năng thay đổi quá trình hưng phấn và ức chế ở vỏ não, nâng cao không ngừng tính linh hoạt thần kinh ở võ não

Tính ổn định tốt chức năng cơ quan vận động

Hệ thần kinh cũng dễ bị mệt mỏi bởi quá trình hưng phấn hệ thần kinh trung ương kéo dài, tiếp nhận và điều khiển xung động cao

b Hệ tuần hoàn

Hệ thống thần kinh thực vật buộc phải thích ứng với yêu cầu chức năng vận động cơ năng thay đổi không thể nhanh chóng nâng cao

Nhịp tim: 200 - 220 l/ p đạt mức độ cao khả năng cơ thể con người

Huyết áp tối đa tăng 185 - 220 mmHg

Huyết áp tối thiểu giảm rõ rệt

Lưu lượng tâm thu đạt 30 - 40 l/ phút gấp 6,7 lần so với lúc yên tĩnh, lượng tâm thu vào khoảng 150 - 210 ml

c Sự biến đổi hệ hô hấp

Giống như chức năng hệ tuần hoàn, hô hấp không đáp ứng với cường độ hoạt động cơ bắp

Tần số hô hấp: 45 - 55 lần/ phút

Lưu lượng thông khí phổi đạt 100 lần/ phút

Nhu cầu oxy 8,5 - 12,5 lít

Nợ oxy từ 52 - 75% trị số tuyệt đối đạt 19 - 20 lần

d Sự thay đổi độ axit lactic máu

Trang 31

Trong lúc đạp xe do thiếu oxy nên nợ oxy tăng lên do vậy lượng axit lactic trong nước tiểu cũng đạt đến 250 mg% và hàm lượng axit lactic máu tăng lên để giữ ổn định kiềm - toan, cơ thể phải tiêu hao khả năng dự trữ kiềm vì vậy

mà khả năng này giảm xuống 40 - 60%

e Sự trao đổi năng lượng

Do tốc độ tương đối nhanh, cường độ tương đối lớn, sự trao đổi năng lượng vừa thiếu oxy, vừa oxy tham gia, song chủ yếu là do hệ thống cung cấp năng lượng không oxy tham gia, cho nên để phát triển thể thao chạy cần tăng cường độ khả năng trao đổi đường ở pha yếm khí là chính, khả năng này là cơ sở sinh lý phát triển sức bền tốc độ Tổng năng lượng tiêu hao khoảng 120 kcal

Ngày đăng: 01/08/2021, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w