Vì những lý do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài Tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật ở trường trung học phổ thông với mong muốn góp phần nhỏ bé của
Trang 1CHỬ THỊ THÚY
TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2018
Trang 2CHỬ THỊ THÚY
TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Ngữ văn
Mã số: 814.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2018
Trang 3Dũng– người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Sư phạm Ngữ văn trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành khóa học và hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình
Xin được cảm ơn tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm
và khích lệ tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù tôi đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều, song chắc chắn luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để sản phẩm nghiên cứu của tôi được hoàn thiện như mong muốn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tân Kỳ, tháng 07 năm 2018
Tác giả
Chử Thị Thúy
Trang 4Các chú thích tài liệu trích dẫn: Số thứ tự tài liệu đứng trước, số
trang đứng sau Ví dụ: [27, 17] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo là 27, nhận định trích dẫn nằm ở trang 17 của tài liệu này
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4.1 Mục đích nghiên cứu 9
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Khái niệm văn bản nghệ thuật 11
1.1.2 Văn bản nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 13
1.1.3 Khái niệm hình tượng tác giả 15
1.1.4 Quan tâm tìm hiểu hình tượng tác giả - một biểu hiện quan trọng của năng lực đọc hiểu và năng lực thẩm mỹ 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật ở trường trung học phổ thông 29
Trang 6Chương 2 37
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT 37
2.1 Biện pháp chung 37
2.1.1 Khai thác những thông tin về tác giả nằm ngoài văn bản được học 37
2.1.2 Tập hợp những dấu hiệu làm lộ diện hình tượng tác giả 43
2.1.3 Nhận xét về hình tượng tác giả với tư cách là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị của tác phẩm 52
2.2 Biện pháp tìm hiểu hình tượng tác giả trong những sáng tác thuộc các thể loại khác nhau 57
2.2.1 Biện pháp tìm hiểu hình tượng tác giả trong các văn bản thơ 57
2.2.2 Biện pháp tìm hiểu hình tượng tác giả trong các văn bản văn xuôi 67
2.2.3 Biện pháp tìm hiểu hình tượng tác giả trong các văn bản kịch 78 2.3 Biện pháp hình thành những tri thức lý luận văn học qua việc tìm hiểu hình tượng tác giả 91
2.3.1 Các tri thức lý luận văn học cần được hình thành và củng cố qua tìm hiểu hình tượng tác giả 91
2.3.2 Biện pháp đúc kết tri thức lý luận văn học qua từng bài học (trên vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả) 98
2.3.3 Biện pháp hướng dẫn cách vận dụng tri thức lý luận văn học đã thu nhận được 100
Chương 3 103
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 103
3.1 Mục đích thực nghiệm 103
Trang 73 4 Kết quả thực nghiệm 104
3.4.1 Các giáo án thực nghiệm 104
3.4.2 Mô tả giáo án thực nghiệm 134
3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 135
3.4.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên 137
3.4.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía học sinh 137
2 3.5 Kết luận thực nghiệm 138
KẾT LUẬN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 149
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Mỗi nhà văn khi đặt bút sáng tác, dù muốn hay không, dù vô tình hay hữu ý, dù bằng cách này hay cách khác đều để lại dấu ấn của riêng mình trong tác phẩm nghệ thuật Văn học sinh thành, tồn tại và phát triển trước hết
là để đáp ứng nhu cầu bày tỏ, chia sẻ những cảm xúc, tư tưởng, ước mơ, khát vọng… của con người Chính cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ về thế giới, về tồn tại, với những dấu ấn riêng của tác giả đã làm nên sự phong phú, đa dạng
và sức hấp dẫn đặc biệt của văn học Tiếp nhận văn học, vì thế, không chỉ gắn liền việc khám phá thế giới thứ hai được xây dựng trong tác phẩm, mà còn phải hướng đến việc khảo sát, đánh giá hình tượng tác giả được bộc lộ qua đó nữa
1.2 Hình tượng tác giả có những điểm khác cơ bản so với hình tượng nhân vật – đối tượng mà ta thường chú ý tìm hiểu, khai thác khi chiếm lĩnh văn bản nghệ thuật (VBNT) Mặc dù hình tượng tác giả cũng là sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật như hình tượng nhân vật, song nguyên tắc sáng tạo nó có những điểm khác biệt Nếu việc xây dựng hình tượng nhân vật được tiến hành theo nguyên tắc hư cấu, thì hình tượng tác giả lại được xây dựng theo nguyên tắc tự biểu hiện – tự biểu hiện qua cách cảm nhận thế giới
và bày tỏ thái độ thẩm mỹ đối với những gì được anh ta miêu tả Theo đó, hình tượng tác giả được hiểu là hình thức có mặt gián tiếp của tác giả ngay bên trong tác phẩm của mình, là một trong những thành tố cấu thành tác phẩm Chính nhận thức này giúp chúng ta có được cái nhìn mới và toàn diện hơn về các phương diện giá trị của tác phẩm, đồng thời chỉ đạo hướng tiếp cận hữu hiệu đối với tính chỉnh thể của sáng tác văn học Việc tìm hiểu hình tượng tác giả có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong dạy học đọc hiểu VBNT Càng ngày người ta càng nhận ra tính cấp thiết của việc hướng dẫn
Trang 9cho học sinh biết cách khám phá chân dung, nhân cách, phẩm chất nhà văn thông qua cách nhìn, cách cảm, cách lý giải hay những suy tư, trăn trở của tác giả về con người và cuộc sống, từ đó nắm bắt được nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn
1.3 Gần đây, vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu VBNT đã bắt đầu thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy học Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, vấn đề hình tượng tác giả chưa được chú ý một cách thích đáng Việc tìm hiểu hình tượng tác giả trong quá trình đọc hiểu VBNT có chăng mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu thân thế, gia đình, tính cách, nhân phẩm, thái
độ, quan niệm của tác giả qua những yếu tố ngoài văn bản Còn lại, phần lớn thời gian của giờ học thường được dành để khai thác đặc trưng thể loại của tác phẩm hoặc đặc điểm của các hình tượng về con người, thế giới, ngoại trừ cái được gọi là hình tượng tác giả
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài Tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật ở trường trung học phổ thông với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc thực thi những
biện pháp có hiệu quả, giúp học sinh phát triển năng lực đọc hiểu VBNT, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đang được đặt ra cấp bách hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong VBNT đã có một lịch sử lâu dài trong hoạt động nghiên cứu văn học Quan niệm, cách khám phá về hình tượng tác giả trong lý luận và phê bình văn học ở mỗi thời kỳ, giai đoạn có những biểu hiện và đặc điểm riêng Giáo dục phổ thông nước ta hiện đang thực hiện bước chuyển từ chương trình tiếp cận nội dung sang chương trình tiếp cận năng lực Trong số những năng lực thiết yếu cần hình thành, phát
Trang 10triển cho học sinh, có năng lực đọc hiểu và năng lực thấm mỹ Đối với nhiệm
vụ phát triển và hoàn thiện các năng lực này thì việc tìm hiểu hình tượng tác giả trong văn bản góp phần rất quan trọng Trong những năm qua, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) môn Ngữ văn, chủ trương, định hướng khám phá hình tượng tác giả bên cạnh những vấn đề, những yếu tố khác trong VBNT đã được giới nghiên cứu chuyên môn cũng như các giáo viên quan tâm tìm hiểu và đã đạt được nhiều thành tựu
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này phải kể đến như:
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên; 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn; Giáo trình Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử; Thi pháp thơ Tố Hữu của
Trần Đình Sử… Các tài liệu nói trên đã nêu lên những cách hiểu về hình tượng tác giả và các biểu hiện của nó trong tác phẩm để định hướng cho
người tiếp cận biết cách khai thác, đánh giá Theo 150 thuật ngữ văn học,
“tác giả với tư cách là một phạm trù ngữ văn - là người sáng tác ra tác phẩm văn học, để lại dấu ấn nhân cách mình ở thế giới nghệ thuật do mình tạo ra” Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì hình tượng tác giả là “phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được độc giả chờ đợi” Cả hai cách nêu khái
niệm đều tập trung khẳng định hình tượng tác giả là một phạm trù văn học, trong đó nhà văn khi sáng tác ý thức được vai trò xã hội và vai trò văn học
của mình
Trong Giáo trìnhDẫn luận thi pháp học (1999), GS Trần Đình Sử tiếp tục nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống Ông đã chỉ rõ “hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện đại” [52, 106] Ông lưu ý phân biệt tác giả tiểu sử (khái niệm ngoài thi pháp) với hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm (phạm trù của thi pháp học) Ông cũng phân biệt hình tượng tác giả với hình tượng nhân vật trong tác phẩm: Hình
Trang 11tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật, nhưng theo một nguyên tắc khác hẳn Nếu hình tượng nhân vật đựợc xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm
mĩ đối với thế giới nhân vật [52, 107] Cũng theo ông, hình tượng tác giả
biểu hiện chủ yếu ở cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thị hiếu; giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật; và ở sự hình dung của tác giả đối với chính mình [52, 109]
Có thể nói, GS Trần Đình Sử đã đề cập đến vấn đề hình tượng tác giả trong khi vấn đề này chưa được các học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu thích đáng Trong một loạt các bài viết nhân kỉ niệm ngày sinh của một số tác giả văn học, đăng trên các báo, tạp chí nghiên cứu chuyên ngành xuất
hiện cách đây hơn 30 năm như: Tư duy nghệ thuật trong thơ Hồ Chí Minh (1983), Con người trong sáng tác Nguyễn Khuyến (1985), Thể tài và ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu (1985), Chân dung Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”
(Văn nghệ, 1994) ông đã bước đầu quan tâm đến những biểu hiện của hình tượng tác giả qua tác phẩm Một số bài tiêu biểu được tập hợp, viết lại và in
trong các công trình có giá trị như: Thi pháp thơ Tố Hữu (1995) Những thế giới nghệ thuật thơ (1995)
Trong Thi pháp Truyện Kiều (2003), tác giả Trần Đình Sử đã dành hẳn một mục của chương IV để bàn về Hình tượng tác giả “Truyện Kiều” Ông
chỉ ra những biểu hiện của hình tượng tác giả Nguyễn Du qua tác phẩm
Truyện Kiều: Nguyễn Du không hề tự miêu tả mình trong “Truyện Kiều”, nhưng ai đã đọc “Truyện Kiều” thì không thể không cảm thấy gương mặt của Nguyễn Du biểu hiện qua từng chữ, từng dòng Ta không trông thấy ông, nhưng nhận ra ông qua tiếng nói, hơi thở, tấm lòng, tính khí, trí tuệ toát ra
từ lời kể, lời nói của nhân vật, các chi tiết, giọng điệu, cái nhìn [54, 174]
Trang 12Tác giả cuốn sách cũng cho rằng các nhà bình luận, chú giải Truyện Kiều
trước đó đã ít nhiều nhận ra chân dung của Nguyễn Du Với dung lượng có hạn (5 trang sách), Trần Đình Sử chủ yếu tập trung tìm hiểu chân dung
Nguyễn Du qua ngôn ngữ của ông, “một chân dung được dệt bằng chính những từ mà ông thường dùng và thích dùng, những từ kết tinh quan niệm, tình cảm, kinh nghiệm của ông, vẽ nên diện mạo tâm hồn của ông” [54, 174]
Vấn đề hình tượng tác giả cũng được một số nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX quan tâm đến như Phan Ngọc, Đỗ Lai Thúy, Bằng cách tiếp cận phong cách tác giả trên các phương diện nội dung, hình thức như: tư tưởng, phương pháp tự sự, cách bố cục đặc biệt là ngôn ngữ
tác giả, nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn
Du trong Truyện Kiều (1985) đã phần nào tiếp cận vấn đề hình tượng tác giả Khi bàn về ngôn ngữ tác giả, ông đặc biệt chú ý đến giọng điệu: Ông đay nghiến, chửi bới, quát tháo Ông tự phân tích tâm trạng mình ( ) Trong cuộc đời thực tế, Nguyễn Du sống lặng lẽ, ít nói năng, thậm chí nhút nhát ( ) Nhưng trong phong cách nghệ thuật thì ông lại táo bạo hơn ai hết [49,
154] Ở đây, ta thấy tác giả Phan Ngọc cũng đã có sự phân biệt rõ ràng giữa
tác giả tiểu sử với hình tượng tác giả trong tác phẩm
Đỗ Lai Thúy trong Con mắt thơ (1992) cũng đã tiếp cận đến vấn đề hình
tượng tác giả qua việc nghiên cứu phong cách các nhà thơ mới Việt Nam từ
1930 – 1945 Qua phân tích ngôn ngữ, giọng điệu và một số yếu tố có biểu hiện lặp đi lặp lại trong nhiều sáng tác, Đỗ Lai Thúy đã phát hiện ra nỗi ám ảnh thời gian trong Xuân Diệu, sự khắc khoải không gian trong Huy Cận giúp độc giả hình dung được hình tượng tác giả
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, trong các công trình nghiên cứu phương pháp dạy học văn các tác giả cũng đã đưa ra những gợi ý giúp người dạy hướng dẫn người học cách tìm hiểu hình tượng tác giả trong
đọc hiểu văn bản văn học Tác giả Phan Trọng Luận trong Phương pháp dạy
Trang 13học văn (1991) đã nêu lên tầm quan trọng của phương pháp đọc diễn cảm
trong dạy học đọc hiểu văn bản và cho rằng bằng hoạt động đọc diễn cảm, học sinh phần nào cảm nhận được giọng điệu, cảm xúc của tác giả trong tác phẩm
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong Hiểu văn dạy văn (2000) cũng đã
lưu ý đến vấn đề này trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học Ông nhấn mạnh vai trò của hình tượng và tầm quan trọng của việc tìm hiểu hình tượng
văn học: Thực chất của hành động giao tiếp văn học là sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa người đọc và hình tượng văn học [36, 58] Tác giả cũng lí giải rõ về hình tượng nghệ thuật: Hình tượng nghệ thuật là một đối tượng đặc biệt có thể phác họa ra “những đặc điểm tương đồng” với chủ thể thực tế của nó Hình tượng nghệ thuật xuất hiện không chỉ với tư cách là “phương tiện giao tiếp” mà còn là “chủ thể giao tiếp” [36, 58-59] Khi tiếp nhận văn học,
người đọc không chỉ khám phá những vấn đề về nội dung, nghệ thuật của văn bản văn học mà đồng thời còn đối thoại với người sáng tạo qua những gì hình dung, tưởng tượng
Các tác giả biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn (Chương trình hiện hành) cũng đã có sự chú trọng trong việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu hình tượng tác giả trong đọc hiểu văn bản văn học Điều này được thể hiện trong
phần Kết quả cần đạt, hoặc phần Hướng dẫn học bài của mỗi bài học cụ thể Phần Kết quả cần đạt ở bài Cảnh ngày hè (Ngữ văn 10, tập 1) yêu cầu học sinh: “Cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi” [6, 117] Và
để đạt kết quả đó, các tác giả viết sách đã gợi ý HS tìm hiểu văn bản bằng
cách trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài như sau: “Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan nào? Qua sự cảm nhận ấy, anh (chị) thấy Nguyễn Trãi là người có tấm lòng như thế nào đối với thiên
Trang 14nhiên?” [6, 118] Đây chỉ là một ví dụ cho thấy các tác giả sách giáo khoa đã
có những định hướng đúng cho người dạy và người học trong tổ chức đọc hiểu văn bản văn học khi chú ý đúng mức tới vấn đề hình tượng tác giả Các bài học khác cũng có những yêu cầu và câu hỏi tương tự Ta thấy xuất hiện
trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1 các câu hỏi như: “Qua nhân vật Huấn Cao, anh (chị) có nhận xét gì về quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp?” [6, 114]; “Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua truyện ngắn này?” [8, 155];
Nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, trong những năm gần đây cũng đã quan tâm đến vấn đề hình tượng tác giả hay thể tài chân dung văn học Trên cơ sở những vấn đề lí luận đã được các nhà lí luận và nghiên cứu, phê bình văn học đặt nền tảng, các tác giả luận văn đi vào tìm hiểu cụ thể hình tượng một số tác giả văn học, thể tài chân dung văn
học như: Hình tượng tác giả trong truyện ngắn Thạch Lam (Trần Thị Vân Anh, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Vinh, 2007); Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (Thái Bá Thanh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2012); Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết thời kì đổi mới của Nguyễn Khải (Nguyễn Thị Duyến, Luận văn thạc sĩ, ĐHQGHN, ĐHKHXH&NV, 2013; Thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam
từ 1986( Hà Thị Kim Phượng, Luận án tiến sĩ văn học, Đại học Vinh,
2018);…
Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu trên, hình tượng tác giả trong các tác phẩm văn học được nghiên cứu, đánh giá một cách cụ thể và đầy đủ trên các phương diện biểu hiện Các nhà nghiên cứu đều cho rằng nhà văn trong quá trình sáng tác để thể hiện quan điểm, tư tưởng, thái độ, cảm xúc của mình về thế giới khách quan thì dù muốn hay không, bằng cách này hay cách khác thì họ đều bộc lộ chính họ; đều để lại dấu ấn riêng trong lĩnh vực
Trang 15sáng tạo này Có những công trình chú tâm vào việc khái quát tri thức lí luận văn học với những thuật ngữ, khái niệm liên quan đến phạm trù hình tượng tác giả; có những công trình dựa trên nền tảng tri thức lí luận văn học đó để
đi sâu nghiên cứu, nhận diện và đánh giá về những hình tượng tác giả cụ thể như Nguyễn Du, Tố Hữu và nhiều tác gia, tác giả văn học khác trong những VBNT cụ thể trong chương trình SGK bậc THPT Những công trình nghiên cứu đó thật sự đem đến cho chúng tôi nhiều gợi mở, dẫn dắt về cái tôi tác giả, về đặc trưng thể loại văn học… Tuy nhiên, vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả gắn liền với hoạt động đọc hiểu VBNT thì còn nhiều chỗ đáng bàn Vấn đề cốt lõi là chúng ta nêu lên được tác giả đó biểu hiện mình như thế nào trong sáng tác nghệ thuật; tác giả đó đã lựa chọn những phương diện biểu biện nào để khẳng định và ghi lại dấu ấn riêng của mình… nhưng việc xác định cách thức, biện pháp để dẫn dắt, định hướng việc tìm ra những dấu hiệu, hình tượng đó thì vẫn chưa được nói đến Trên cơ sở kế thừa thành tựu tri thức lí luận văn học và nghiên cứu, đánh giá về hình tượng tác giả của những người đi trước, chúng tôi cố gắng để xác định các biện pháp để trong quá trình dạy học có thể giúp HS biết cách nhận diện và khám phá về phạm trù này Đề tài nghiên cứu của chúng tôi mong đóng góp thêm một điểm mới cho phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học trong môn Ngữ văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn
đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu VBNT ở trường trung học phổ thông (THPT)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong các giờ dạy học đọc hiểu VBNT thuộc những thể loại khác nhau theo quy định của chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn THPT
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu, tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu VBNT ở trường THPT, từ đó góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, nhất là dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp quan niệm của các nhà nghiên cứu về hình tượng tác giả trong VBNT; tìm hiểu thực trạng vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu VBNT ở trường THPT
- Xây dựng hệ thống biện pháp mang tính khả thi giúp cho việc tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu VBNT ở trường THPT được thực hiện thành công, góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản, năng lực thẩm mỹ cho học sinh
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài nhằm điều chỉnh và rút ra kết luận cần thiết
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
thuộc hai nhóm nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn:
- Dùng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hoá lý thuyết để đánh giá, thẩm định những công trình nghiên cứu đã
có liên quan đến đề tài
Trang 17- Dùng các phương pháp quan sát và điều tra để nắm bắt những dữ liệu
cần thiết về hoạt động phát triển năng lực đọc hiểu và năng lực thẩm mỹ cho học sinh THPT qua dạy cách tìm hiểu hình tượng tác giả trong VBNT
- Dùng phương pháp thực nghiệm để thẩm định, đánh giá tính khoa học,
tính khả thi của hệ thống phương pháp, biện pháp được đề xuất trong luận văn về vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong VBNT theo chương trình và SGK THPT
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu VBNT; đề xuất những biện pháp có tính khả thi nhằm hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu, năng lực thẩm mỹ cho học sinh THPT qua dạy học cách khai thác và tập hợp những thông tin, dấu hiệu làm lộ diện hình tượng tác giả trong VBNT - yếu tố quan trọng thuộc phạm trù giá trị của tác phẩm nghệ thuật
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, dự kiến nội dung
của luận văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Biện pháp giúp học sinh tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy
học đọc hiểu văn bản nghệ thuật
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm văn bản nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, văn bản là bản ghi bằng chữ viết hoặc
chữ in một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng) Phương diện tri giác cảm xúc của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận bằng các ký hiệu ngôn ngữ Đó
là đơn vị nhỏ nhất (có tính thống nhất tương đối và độc lập tương đối) của
giao tiếp bằng ngôn từ Còn về khái niệm văn bản nghệ thuật, Từ điển thuật ngữ văn học đã cho rằng: văn bản văn học là một dạng của văn bản nghệ
thuật nói chung Nó là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận) Nghĩa của văn bản được xác định bởi quan hệ của nó với thực tại ngoài văn bản, với các văn bản khác, với từng cá nhân, với ký ức và các phẩm chất khác nữa của người phát và người nhận thông báo Văn bản thực hiện ba chức năng chính: đó là truyền thông tin, chế biến thông tin mới và bảo quản thông tin (ghi nhớ) Ở mức độ cao nhất, văn bản nghệ thuật thực hiện chức năng sáng tạo, là máy phát thông tin mới Chức năng “máy phát” của văn bản nghệ thuật bị quy định bởi tính phức tạp của quan hệ của nó với các yếu tố khác của quá trình giao tiếp và bởi các đặc điểm của từng loại hình nghệ thuật Quan hệ ngôn ngữ - văn bản trong hệ thống nghệ thuật vốn mang tính biện chứng Bởi vậy, sự tiếp nhận thông tin trong hệ thống văn bản nghệ thuật không bao giờ đơn nghĩa Người nhận bao giờ cũng ở trong quan hệ đồng sáng tạo với thông báo nhận được, anh ta phải giãi mã nó, tức là chọn một mã ý nghĩa thích hợp hoặc thậm chí tạo ra
Trang 19một mã mới Như vậy hành vi sáng tạo diễn ra và hoàn tất cả hai khâu thông tin (Tính tích cực của người phát và tích cực của người nhận) Với tất cả tính độc đáo của nó, văn bản nghệ thuật vẫn buộc phải thực hiện chức năng “phi nghệ thuật” là truyền thông tin Do vậy có thể “kể lại” cốt truyện một tác phẩm nào đó, có thể dịch văn bản nghệ thuật từ một loại hình nghệ thuật này sang một loại hình nghệ thuật khác (chuyển thể tiểu thuyết sang điện ảnh, sân khấu, minh họa sách; chuyển thể trường ca sang múa balet…) chức năng này mạnh trong văn bản trữ tình, và có vai trò đặc biệt trong chính luận văn học, viễn tưởng khoa học, v.v Chức năng ghi nhớ được thực hiện như là quan hệ của văn bản nghệ thuật với các truyền thống văn hóa trước đó (“ký
ức thể loại”, theo xác định của Bakhtin) Về mặt này, văn bản nghệ thuật là chất liệu cho việc tái lập (gắn văn hóa với các giai đoạn trước, khôi phục sự đứt đoạn với truyền thống) Do đi vào ký ức của văn hóa, văn bản nghệ thuật không chỉ trở thành định hướng lịch sử mà còn trở thành định hướng đạo đức cho sự phát triển tinh thần của nhân loại, chừng nào nó còn giữ được giá trị cao của thông báo Các tiêu chuẩn giá trị của văn bản nghệ thuật mang tính lịch sử và tính đặc thù với từng nền văn hóa, nhưng các tiêu chuẩn ấy không thể cô lập với nhau
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học đã phân biệt rõ khái niệm văn bản và văn bản nghệ thuật Văn bản là “bản ghi bằng chữ viết hoặc chữ
in một phát ngôn hay một thông báo về ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng miệng); là phương diện tri giác cảm xúc của tác phẩm ngôn từ (trong đó có tác phẩm văn học) được biểu đạt và ghi lại bằng các ký hiệu ngôn ngữ Văn bản là đơn vị nhỏ nhất (có tính thống nhất tương đối và tính độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ” [5, 474] Văn bản nghệ thuật là “là một khái niệm trỏ một chỉnh thể hàm nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các yếu tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận) Văn bản
Trang 20thực hiện ba chức năng chính: truyền thông tin, chế biên thông tin mới,bảo quản thông tin (ghi nhớ) Ở mức cao nhất, văn bản nghệ thuật thực hiện chức năng sáng tạo, nó là “máy phát” thông tin mới” [5, 475]
Dựa vào khái niệm nêu trên, văn bản nghệ thuật được hiểu là những sáng tạo ngôn từ của nhà văn mà trong văn bản đó, nhà văn đã chọn lọc sử dụng ngôn từ một cách tinh luyện, trau chuốt, tạo tính hình tượng và biểu cảm, có tính thẩm mĩ cao; nhà văn đã dùng ngôn từ để phản ánh hiện thực khách quan và con người với tất cả những am hiểu về thế giới bên trong (cảm xúc, nội tâm…) Về phương diện hình thức và nội dung, văn bản nghệ thuật khác biệt với văn bản phi nghệ thuật (văn bản viết theo phong cách khác) bởi nó được nhà văn tổ chức theo một phương thức đặc biệt, ngoài nhận thức, giáo dục thì văn bản nghệ thuật đảm nhiệm vai trò, chức năng làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người
1.1.2 Văn bản nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành cũng giống như chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS) ở chỗ VBNT chiếm một số lượng lớn (63 văn bản trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10, 11,12) Bên cạnh phân môn Tiếng Việt và Làm văn thì những VBNT trong phân môn đọc văn đóng góp một phần quan trọng trong đáp ứng mục tiêu môn học Đó là mục tiêu cho học sinh cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, biết đồng cảm, chia sẻ, có cá tính và đời sống nội tâm phong phú,
có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với Tiếng Việt và văn học, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa Ngữ văn là một môn học vừa
có tính công cụ vừa có tính thẩm mỹ - nhân văn nên môn học này có vai trò
to lớn trong việc giúp học sinh phát triển những phẩm chất cao đẹp; có
Trang 21những cảm xúc lành mạnh, biết tôn trọng cái đẹp; có đời sống tinh thần phong phú, có tâm hồn nhân hậu và lối sống lành mạnh, nhân ái, yêu thương,
vị tha…
VBNT trong chương trình Ngữ văn THPT không những chiếm số lượng,
tỉ lệ lớn mà còn đa dạng phong phú về thể loại, có mặt đầy đủ các thể thuộc loại trữ tình, tự sự và kịch Điều này giúp học sinh có cơ hội nắm bắt được
sự phong phú của các hình thức thể loại trong đời sống văn học Bên cạnh
đó, nó cũng cho giúp cho người học nhận thức được thành tựu văn học của nước nhà qua các thời kỳ lịch sử, giúp họ hình thành và phát triển các năng lực chung cũng như năng lực đặc thù của bộ môn mà chương trình dạy học đòi hỏi Đó là năng lực phát triển ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ, năng lực hợp tác để sống và làm việc hiệu quả, để thực hiện thành công phương châm học tập suốt đời
Tính phong phú đa dạng của VBNT trong chương trình Ngữ văn còn thể hiện qua sự có mặt của những văn bản thuộc văn học nước ngoài như Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Pháp, Mỹ… Đó là những giá trị tinh hoa của văn hóa nhân loại được biểu hiện qua những văn bản đủ mọi hình thức và dung lượng, quy mô từ nhỏ đến đồ sộ Điều này giúp cho bộ môn Ngữ văn có cơ hội tạo mối quan hệ với nhiều môn học, và hoạt động giáo dục khác như Địa
Lý, Lịch sử, Ngoại ngữ, giáo dục công dân, tự nhiên và xã hội cũng như những hoạt động trải nghiệm phong phú khác
Theo chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể, trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, môn Ngữ văn là môn học bắt buộc với những yêu cầu cao về tính thiết thực, tính ứng dụng, tính thực hành Chính vì tinh thần đổi mới đó, việc bố trí các văn bản nghệ thuật trong môn Ngữ văn cũng có những điểm mới Cụ thể là trước hết có sự phân loại văn bản bắt buộc và văn bản tự chọn 6 văn bản bắt buộc đưa vào được xem là mang tính đặc trưng
Trang 22cho các thể loại thuộc văn bản nghệ thuật mà giáo viên cần làm rõ những đặc trưng căn bản để học sinh nắm bắt được cách thức tiếp cận, giải mã các văn bản tự chọn tương tự Số lượng văn bản bắt buộc rút gọn đồng nghĩa với việc chương trình yêu cầu làm rõ tính đặc trưng của từng thể loại trong cách tiếp cận, khai thác Điều đó đặt ra những yêu cầu cấp thiết về việc thay đổi điều chỉnh cách dạy, cách tiếp cận các văn bản nghệ thuật
1.1.3 Khái niệm hình tượng tác giả
“Tác giả” là một trong hai khái niệm cơ bản và được chú ý sử dụng trong nghiên cứu và phê bình văn học (bên cạnh khái niệm “tác giả” là khái niệm
“tác phẩm”) Trong Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử viết:
“Tác giả là người làm ra tác phẩm(…) Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang thế giới quan đặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tác nghệ thuật”[52, 105-106] Từ điển tu từ- phong cách thi pháp học cũng đã nêu rõ:
“tác giả là người làm ra một sản phẩm sáng tạo trí tuệ (khoa học- kĩ thuật, văn hóa- nghệ thuật) và được chấp nhận về quyền lợi tinh thần hoặc vật chất
và được ghi tên mình vào tác phẩm”[32, 203] Cần phân biệt khái niệm “tác
giả” với “tác gia” “Tác gia” là một thuật ngữ chuyên dùng trong lĩnh vực
nghiên cứu văn học, “chỉ riêng cho những tác giả lớn có nhiều công trình nổi tiếng trong sáng tác văn học”[32, 203] Còn “tác giả nhiều khi đồng nghĩa với “cá tính sáng tạo”, với “phong cách” có tính biểu trưng cho một giai đoạn, một trào lưu văn học hoặc một sự kiện…” [32, 203] Trong Thi pháp thơ Tố Hữu Trần Đình Sử đã bàn kĩ về vấn đề tác giả, kiểu tác giả mới
trước sự chi phối, ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử, thời đại, sứ mệnh nhiệm
vụ cách mạng… tác động đến đời sống văn học của dân tộc Sự tác động này
đã làm xuất hiện một kiểu nhà thơ với nhiệm vụ và lí tưởng cách mạng và cảm hứng trữ tình; tạo nên phong cách thơ trữ tình - chính trị, đó chính là Tố
Trang 23Hữu “Sự đổi mới văn học cách mạng do đó đòi hỏi một cá tính văn học có khả năng kết hợp tư tưởng, tình cảm cách mạng với hình thức văn học mới Trên lĩnh vực thơ ca, người ấy chính là Tố Hữu” [51, 38-39] Kiểu nhà thơ như Tố Hữu trong lịch sử thơ ca Việt Nam được gọi là người “chỉ biết có một cuộc sống duy nhất- cuộc sống chính trị Có thể nói “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim” mới thực sự là ngày khai sinh
và điểm khởi đầu của cuộc đời ông” [51, 51] Điều này cho thấy kiểu tác giả
trong văn học chịu sự ảnh hưởng, chi phối bởi lịch sử, thời đại Nói cách khác là vì “Hình thức của thơ bao giờ cũng là một mối quan hệ với đời sống Quan hệ ấy biểu hiện tập trung qua một kiểu tác giả trữ tình, là người mang
tư thế cảm thụ, một kiểu giao tiếp, một loại giọng điệu trữ tình Tố Hữu đã tạo ra một kiểu tác giả mới, khác hẳn kiểu tác giả cổ điển, tác giả lãng mạn,
và góp phần hình thành một kiểu nhà thơ trữ tình mới trong thơ ca dân tộc”[51, 52-53] Qua các lý giải nêu trên, chúng ta hiểu tác giả là một phạm trù cơ bản của văn học và nghiên cứu văn học; là người sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật bằng trí tuệ và tài năng; người được quyền lợi ghi tên mình vào tác phẩm; người để lại dấu ấn cá tính và phong cách của mình qua nghệ thuật lựa chọn và sử dụng ngôn từ Và điều căn bản chúng ta cần lưu ý đó là khi tiếp cận nghiên cứu một tác phẩm văn chương, yếu tố mà chúng ta quan tâm không chỉ là hình tượng văn học - sản phẩm sáng tạo của tác giả mà còn quan tâm nhiều đến chính hình tượng tác giả thể hiện trong sản phẩm của mình Chính vì thế, từ trước cho đến nay vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu về hình tượng tác giả là một trong những vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm
Từ điển thuật ngữ văn học đã nêu rõ khái niệm, cơ sở nghệ thuật và tính chất đặc điểm của hình tượng tác giả: “Hình tượng tác giả là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi (…) Hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học gắn với ý thức của tác giả về vai
Trang 24trò xã hội, tư thế văn học rất đa dạng của mình (…) Cơ sở tâm lý của hình tượng tác giả là hình tượng cái “tôi” trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả trong văn học chính
là chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể truyện Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tượng phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định Hình tượng tác giả có chất loại hình sâu sắc, nhưng cũng mang đậm tính tác giả, khi vai trò của cá tính sáng tạo của cái “tôi” cá nhân được ý thức đầy đủ Hình tượng tác giả chẳng những cho phép nhận ra phong cách cá nhân mà còn giúp tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan hệ của nó với ý thức về vai trò xã hội và văn học của bản thân văn học”[23, 124-125]
Trong 150 thuật ngữ văn học, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lại Nguyên Ân cho rằng: “tác giả với tư cách là một phạm trù ngữ văn - là người sáng tạo ra tác phẩm văn học để lại dấu ấn cá nhân của mình ở thế giới nghệ thuật do mình tạo ra…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có
từ văn học cổ đại và càng rõ rệt ở thời cận đại, từ thời phục hưng nhất là chủ nghĩa lãng mạn) Các phương diện nội dung của nhân cách tác giả như tính cách, thế giới quan, đặc biệt là lập trường tư tưởng thẩm mỹ ngày càng nhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm” [5, 180]
Nhà thơ Đức I.W Goethe đã nhận xét: mỗi nhà văn bất kể muốn hay không muốn đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm về mặt phong cách học Nói cách khác vấn đề hình tượng tác giả gắn bó hữu cơ với cá tính sáng tạo và phong cách nghệ
thuật của nhà văn Còn Lev Tolstoy nói: “Nếu trước mắt anh ta (người đọc)
Trang 25là một tác giả mới thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đối với người đọc Nếu nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì
có thể nói anh ta không phải là một tác giả đáng để chú ý” Điều này cho
thấy yếu tố đầu tiên làm nên sức sống của một tác phẩm văn học là phải thể hiện được nét riêng, nét mới; thể hiện được phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn Nói như thế đồng nghĩa hình tượng tác giả trong tác phẩm nghệ thuật là một vấn đề cần quan tâm đầu tiên và đặt lên hàng đầu
Thi pháp học hiện đại có công làm sáng tỏ khái niệm hình tượng tác giả
Trần Đình Sử trong Dẫn luận Thi pháp học nêu rõ: “Nguyên tắc “văn như con người” (văn như kỳ nhân) đã có từ lâu song tác giả văn học trở thành hình tượng như một phạm trù thi pháp thì người ta biết rất muộn Với khái niệm hình tượng tác giả cần phân biệt với tác giả tiểu sử như một khái niệm ngoài thi pháp Hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm mới là phạm trù của thi pháp học Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật, nhưng theo một nguyên tắc khác hẳn Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miểu
tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được xây dựng theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới nhân vật Cũng giống như trong giao tiếp hàng ngày, trong văn học nhà văn thường biểu hiện con người mình như người phát hiện, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sỹ v.v…” [52, 107]
Vấn đề liên quan được chú ý quan tâm tiếp theo sau khái niệm là: Hình tượng tác giả được biểu hiện qua những phương diện nào trong tác phẩm?
Đây là một vấn đề đang được các nhà nghiên cứu quan tâm Có người tập trung nghiên cứu vào mấy điểm: cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc cốt truyện, nhân vật và giọng điệu Theo Trần
Trang 26Đình Sử thì hợp lý nhất là “hình tượng tác giả thể hiện qua cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thị hiếu; giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật; và ở sự miêu tả, hình dung của tác giả đối với chính mình”.[52, 109]
Như thế, vấn đề hình tượng tác giả được tiếp cận ở nhiều góc độ trong lý luận văn học Đó chính là sự biểu hiện cái “tôi” thứ hai của tác giả trong tác
phẩm của mình Trong mỗi VBNT, “Sự tự biểu hiện của hình tượng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu Có người xem hình tượng tác giả biểu hiện ở phương diện ngôn ngữ, có người xem hình tượng tác giả biểu hiện ở trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu thì không chỉ có giọng điệu người trần thuật mà cả trong giọng điệu nhân vật” [52, 109] Qua việc tổng hợp
nhiều ý kiến, quan niệm liên quan đến vấn đề hình tượng tác giả, chúng tôi đi đến nhận thức: hình tượng tác giả là một phạm trù quan trọng của nghiên cứu văn học Nó chỉ cá tính, phẩm chất, đạo đức, quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới của nhà văn Nó thể hiện tài năng, cá tính, phong cách của nhà văn trong hành trình sáng tạo nghệ thuật và cũng làm nên sức sống của nhà văn của văn bản nghệ thuật qua thời gian Nó được thể hiện rõ nét nhất qua ba phương diện cơ bản: giọng điệu; cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của chính nhà văn trong tác phẩm Như vậy, chúng ta có thể tìm hiểu hình tượng tác giả biểu hiện chủ yếu ở một số biểu hiện như: cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức thẩm mỹ; giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật và ở sự miêu tả; sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng
Đầu tiên, cái nhìn nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng của
sự biểu hiện hình tượng tác giả trong văn học “Cái nhìn là năng lực tinh
Trang 27thần đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mĩ của sự vật,
do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn” [52, 109]
Khi nói về cái nhìn nghệ thuật M.B Khrapchenko nhận xét: “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sỹ thực thụ” Đối
với nghệ thuật dân gian, tính cá nhân có thay đổi nhất định thì cái nhìn cũng
là một điều kiện quyết định Nhà văn Pháp M Proust đã nói: “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật
mà là vấn đề cái nhìn” Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả Cái
nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó nó có thể hát hiện cái xấu, cái đẹp, cái hài, cái bi… Cái nhìn có khi lại xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu tình cảm yêu, ghét Có khi cái nhìn gắn với liên tưởng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, đối sánh Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặt cạnh nhau, hoặc đem tách rời khỏi sự vật một cách trừu tượng Cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật, bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn thấy thì
ta đã tiếp thu cái nhìn của họ, tức là đã bước vào phạm vi ý thức của họ, chú
ý cái mà học chú ý Khi ta nhận thấy nhà văn này chú ý cái này, nhà văn kia chú ý cái kia, tức là ta đã nhận ra con người nghệ sĩ của tác giả Chẳng hạn như đều viết về đề tài quê hương, làng mạc nhưng trong cái nhìn của Tô Hoài khác với cái nhìn của nhà văn Kim Lân Viết về miếng ăn nhưng trong sáng tác của Nam Cao thì đó là cái nhìn mang ý nghĩa miếng ăn là nguồn sống của kẻ đói còn cái nhìn của Nguyễn Tuân trong tác phẩm của mình lại mang ý nghĩa khám phá nét đẹp văn hóa trong ẩm thực của dân tộc
Trang 28Tiếp đến là giọng điệu của nhà văn Giọng điệu là một trong những yếu
tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm Nếu như trong đời sống
ta thường chỉ nghe giọng nói là nhận ra con người, thì trong văn học cũng
vậy, giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì giọng điệu là “Thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện thực được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm (…) Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật”[23, 111-
112] Giọng điệu không chỉ là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống Giọng điệu trong văn học không chỉ biểu hiện bằng cách xưng hô, trường từ vựng, mà còn bằng cả hệ thống tư
thế, cử chỉ biểu cảm trong tác phẩm Khrapchenko trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học đã khẳng định: “Giọng điệu không phải là trang sức, không phải là yếu tố thứ yếu mà là đặc tính hữu cơ của cấu tạo tác phẩm, của những khái quát hình tượng trong tác phẩm”
Giọng điệu của nhà văn có cấu trúc của nó Xét lời văn trong quan hệ với các chủ đề thì ta có giọng điệu cơ bản Xét lời văn trong quan hệ với người đọc ngoài văn bản thì ta có ngữ điệu Sự thống nhất của hai yếu tố này tạo ra giọng điệu Nền tảng của giọng điệu trần thuật là cảm hứng chủ đạo của nhà
văn V.Bielinski đã từng nói: “Cảm hứng là một sức mạnh hùng hậu Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý thí, lý tính, không phải bằng tình cảm hay một năng lực nào đó của tâm hồn, mà là
Trang 29bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tâm hồn mình, và do đó tư tưởng xuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ trừu tượng , không phải là hình thức chết cứng, mà là một sáng tạo sống động”
Cảm hứng có mối liên quan mật thiết với giọng điệu Nếu cảm hứng là cao cả thì giọng điệu là cao cả, nhà văn sẽ sử dụng các từ cao cả, những từ ngữ cổ kính có âm hưởng biểu hiện thống thiết… Nếu nhà văn có cảm hứng chính luận, phê phán, thì tác phẩm sẽ có giọng điệu lên án, tố cáo và nhà văn
sẽ sử dụng các biện pháp châm biếm, mỉa mai Yếu tố tình thái, biểu hiện sự đánh giá của tác giả đối với những phát ngôn của mình cũng là yếu tố quan trọng của hình tượng tác giả Như vậy giọng điệu tác phẩm phụ thuộc vào cảm hứng chủ đạo như: anh hùng, bi kịch, cảm thương, lãng mạn Chẳng
hạn, trong tập truyện Vang bóng một thời nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện
một giọng điệu riêng, độc đáo và hấp dẫn Giọng điệu chủ đạo là giọng điệu trang trọng, cổ kính, thiêng liêng để tạo nên niềm trắc ẩn lắng sâu đầy hoài niệm một thời của con người có sự bất mãn với hiện thực, luyến tiếc quá khứ vàng son của dân tộc Giọng điệu của nhà văn Nam Cao trong cơ bản những sáng tác của mình ở cả hai đề tài trước Cách mạng Tháng tám đó là giọng điệu cảm thương và phê phán để thể hiện tình cảm của mình với đời sống cơ cực của người nghèo và thể hiện thái độ phê phán chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo, bất công lúc ấy giờ Như vậy, giọng điệu là một phương diện rất quan trọng của tác phẩm nghệ thuật Cùng với các yếu tố nghệ thuật khác, giọng điệu là chìa khóa để mở cánh của văn học đích thực Nhiều nhà văn thường xây dựng cho mình một hệ thống giọng điệu độc đáo, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của mình để tạo nên nét riêng biệt, tạo nên cá tính của mình trong quá trình sáng tạo Chính vì thế giọng điệu là một trong những thước đo chuẩn mực đánh giá tài năng nghệ thuật của nhà văn Nếu chưa tạo cho mình được một giọng điệu riêng thì nhà văn chưa được coi là nghệ sĩ chân chính, có tài năng đích thực Tạo ra trong tác phẩm của mình
Trang 30một hệ thống giọng điệu vừa độc đáo vừa phong phú, chính là cách để nhà văn khẳng định bản thân mình trên văn đàn
Bên cạnh các yếu tố như cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu trần thuật của nhà văn thì sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng đã mang đến cho người tiếp nhận nhiều điều hứng thú trong tiếp nhận, cảm thụ văn học Trong tác phẩm, có nhiều trường hợp tác giả tự hình dung ra hình tượng của mình Các tác giả từ thơ ca cho đến tùy bút, bút ký, truyện ngắn hay tiểu thuyết dù
ít hay nhiều, dù rõ ràng hay ẩn ý đều có ý thức miêu tả mình trong tác phẩm
Chẳng hạn khi nhà thơ Tố Hữu viết: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ / Mặt trời chân lý chói qua tim Hay: Tôi buộc lòng tôi với mọi người…/ Tôi đã là con của vạn nhà…Hoặc Xuân Diệu viết: Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi Hay khi buồn, cô đơn ông viết: Ta là con nai bị chiều đánh lưới,/ Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối… thì độc giả sẽ nhận ra hình tượng tác giả hiện ra trong tác phẩm
Tuy nhiên, chúng ta không thể đồng nhất hình tượng tác giả với bản thân tác giả ngoài đời Nói cách khác khi nghiên cứu hình tượng tác giả trong tác phẩm, cần chú ý không nên đồng nhất với hình tượng tác giả với cuộc đời và
cá tính của nhà văn Nhiều khi cuộc đời và cá tính bên ngoài như thế này nhưng người trần thuật trong tác phẩm lại thế khác Chẳng hạn, Nhà văn Nam Cao trong cuộc đời vốn nhút nhát, lạnh lùng song khi viết lách thể hiện được sự mạnh dạn, thẳng thắn Vũ Trọng Phụng ở đời thực là con người mực thước và bình dị nhưng ta nhận thấy vẻ cay độc, phẫn uất và nổi loạn của ông trong văn chương…
Tóm lại, hình tượng tác giả trong tác phẩm là một phạm trù của thi pháp
do nhà văn sáng tạo ra Hình tượng tác giả được tạo thành bởi những yếu tố
cơ bản sau: Cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu và sự tự thể hiện của tác giả
Trang 31thành hình tượng Những thể loại văn học khác nhau thì biểu hiện của hình tượng tác giả sẽ khác nhau
1.1.4 Quan tâm tìm hiểu hình tượng tác giả - một biểu hiện quan trọng của năng lực đọc hiểu và năng lực thẩm mỹ
Dạy học trong thời gian gần đây chú tâm định hướng phát triển năng lực người học Ngoài những năng lực chung cho tất cả các bộ môn thì môn Ngữ văn có những đòi hỏi phát triển một số năng lực đặc thù trong đó quan trọng nổi bật là năng lực đọc hiểu và năng lực thẩm mỹ Năng lực đọc hiểu là năng lực nhận thức phức tạp đối với người học, yêu cầu khả năng nắm bắt và tích hợp thôngtin trong văn bản với tri thức người đọc Đó là một quá trình tương tác giữa một người đọc với một VBNT và nó là một quá trình tư duy
có chủ tâm, trong quá trình này, ý nghĩa được kiến tạo thông qua sự tương tác giữa văn bản và người đọc Quá trình đọc hiểu gắn liền với việc tìm tòi, khám phá để tạo nên sự hiểu biết, sử dụng, phản hồi và chiếm lĩnh các văn bản viết nhằm đạt được những mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân Như thế, năng lực đọc hiểu là năng lực thể hiện qua hai công đoạn thuộc hai phạm trù khác nhau: “đọc” thuộc phạm trù thể lý và “hiểu” thuộc phạm trù tâm lý Đọc hiểu là một hoạt động nhận thức Đối tượng của nó là giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Tiến trình nhận thức này chỉ xảy ra khi có sự tương tác giữa văn bản với người đọc Đọc hiểu sẽ phát triển vốn tri thức mà người đọc đã có trước Đây chính là điều kiện để cho người học có khả năng giao tiếp hiệu quả đối với mạng lưới xã hội Tuy nhiên, không phải chỉ ở bộ môn Ngữ văn mới hình thành năng lực đọc hiểu nhưng năng lực đọc hiểu của môn Ngữ văn khác với các ngành khác Bởi vì nó gắn liền với những điểm sáng thẩm mỹ nghệ thuật của văn bản, của sự sáng tạo thẩm mỹ đầy cá tính của nhà văn Hơn nữa, sự phát hiện và cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật của văn bản văn học ngoài tâm lý
Trang 32nghệ thuật, còn phải được xây dựng trên nền duy lý khoa học Sở dĩ có điều này là do bản chất của bộ môn Ngữ văn vừa là nghệ thuật cũng vừa là khoa học
Ngữ văn là bộ môn vừa là nghệ thuật vừa là khoa học song đặc trưng cơ bản của nó vẫn là môn học về cái đẹp Vì thế, bên cạnh năng lực đọc hiểu thì năng lực thẩm mỹ cũng là năng lực quan trong và hết sức cần thiết Phải làm như thế nào đó để có cách phát hiện, chiếm lĩnh và cảm thụ cái đẹp trong văn chương thì mới có thể tạo lập ra cái đẹp trong quá trình tạo tập văn bản: nói
và viết Đó chính là sợi dây liên kết gắn bó giữa môn học nghệ thuật và môn học thực hành trong môn Ngữ văn với hai hoạt động chủ yếu: đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản Xét đến cùng, con người ở bất cứ thời đại nào cũng
có nhu cầu hướng về cái đẹp, tìm đến cái đẹp trong cuộc sống Mác từng nói:
“Con người sản xuất theo quy luật của cái đẹp” Cho nên, có thể nói năng lực thẩm mĩ mang đậm tính người và đây là một năng lực hình thành sớm nhưng khó nhận biết điểm kết thúc trong cuộc đời mỗi con người Đến bậc học THPT, môn Ngữ văn chính là cơ hội tốt nhất để phát triển năng lực này cho thế hệ trẻ, khi các em được tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm văn chương và tiếng Việt Đến cấp học này, năng lực thẩm mĩ của người học thể hiện qua hai năng lực nối tiếp nhau trong quá trình tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm văn chương và tiếng Việt: năng lực khám phá cái đẹp và năng lực thưởng thức cái đẹp Năng lực khám phá cái đẹp lại gồm năng lực phát hiện cái đẹp
và những rung động thẩm mĩ cái đẹp nghệ thuật thường không bộc lộ ngay, nên phải có con mắt tinh tường trên cơ sở những rung động thẩm mĩ mạnh
mẽ thì mới phát hiện được Còn năng lực thưởng thức cái đẹp chính là năng lực cảm thụ cái đẹp và đánh giá cái đẹp ấy Khi đó, người đọc sẽ sống cùng tác phẩm văn chương và chuyển hóa cái đẹp của tác phẩm thành cái đẹp trong lòng mình, thành tài sản tinh thần của mình Đó là quá trình người đọc tham gia quá trình “ đồng sáng tạo” cùng tác giả để tạo ra những “ dị bản”
Trang 33trong lòng người đọc Và từ cái đẹp của nghệ thuật mà họ nhận ra cái đẹp trong cuộc sống của con người: đây chính là sự đánh giá cái đẹp đúng đắn nhất, và sự đánh giá này là điều không thể thiếu trong năng lực thẩm mĩ của người học để họ chiếm lĩnh được cái đẹp ấy Môn Ngữ văn với nhiệm vụ phát triển năng lực thẩm mĩ ở đây chính là bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về cả hai mặt cảm xúc và lí trí qua các khâu phát hiện cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, đánh giá cái đẹp,… Điều này giáo viên có thể làm được thông qua việc học trên lớp cũng như việc hướng dẫn học sinh tự đọc tác phẩm ở nhà; thông qua định hướng tiếp cận, khám phá và giải mã những hình tượng nghệ thuật cũng như định hướng khám phá chính hình tượng tác giả thể hiện trong VBNT đó Tác giả văn học - người sản xuất các sản phẩm của sáng tạo trí tuệ là người làm ra tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, mang đầy đủ những phẩm chất thẩm mỹ thể hiện qua các tác phẩm nghệ thuật của mình Tác giả văn học là người sáng tạo ra các giá trị mới; bằng cách đó và bằng bản sắc sáng tạo độc đáo của mình, tác giả văn học là một đơn vị, một “ điểm tính”, một bộ phận hợp thành quá trình văn học, một “gương mặt” không thể thay thế, tạo nên
“diện mạo” chung một thời kỳ hoặc thời đại văn học Ở phương diện này, khái niệm tác giả ứng với các khái niệm “cá tính sáng tạo”, “phong cách cá nhân” Để có được phong cách riêng và cá tính sáng tạo độc đáo đó nhà văn trước hết là người hội tụ đủ các tư chất cần thiết Tư chất của một người nghệ
sĩ đó là sự chăm chỉ, cần mẫn đặc biệt; có óc quan sát tinh tế; có trí tưởng tượng sáng tạo; có cảm hứng sáng tạo; có trí tuệ sắc sảo; có trí nhớ tốt và đặc biệt nhất là có cá tính độc đáo, riêng biệt Ngoài ra trong hành trình sáng tạo
để khẳng định được tài năng của mình, nhà văn luôn thể hiện lập trường tư tưởng chính trị và nhà văn phải xem sáng tác là một sức mạnh về thể chất và tinh thần của con người dưới ánh sáng của một lập trường tư tưởng nhất định Nghĩa là, thế giới quan thống nhất với sáng tác, quyết định sáng tác Như thế, tài năng gắn rất chặt với lập trường tư tưởng Tư tưởng làm nên nhà
Trang 34văn lớn đó là tư tưởng của những con người chân chính và nhân đạo Tiếp đến nhà văn cần thiết phải am hiểu về cuộc sống, nhà văn phải có một vốn sống đa dạng, phong phú sâu sắc và đúng đắn Sự hiểu biết rộng là cần thiết cho mọi người và cho cả những nhà chuyên môn Muốn có sáng tác tốt, thì
sự hiểu biết đó phải đúng đắn Nhưng sự hiểu biết đúng đắn chỉ có thể gắn với một thế giới quan đúng đắn Ở đây vốn chính trị và vốn sống gắn chặt với nhau Ngoài hiểu biết đúng đắn, người ta phải có một tri thức đa dạng, phong phú và sâu sắc về cuộc sống Ngoài ra, nhà văn là người có vốn văn hóa, tri thức phong phú và dồi dào Bởi vì, tác phẩm văn chương là cuốn sách giáo khoa về đời sống Vì vậy, nhà văn cần phải có vốn văn hóa toàn diện và sâu sắc, nhà văn thiên tài luôn luôn cố gắng chiếm lĩnh những đỉnh cao của văn hóa Ðó là con đường làm phong phú tài năng của một nhà văn chân chính
Như thế, một khi ai đó đã trở thành tác giả, thành nhà văn là khi con người ấy đã trở thành một hình ảnh chuẩn mực cho đạo đức, cho tài năng của con người Mọi sự buồn, vui, trăn trở hay những quan niệm, suy nghĩ về con người, cách nhìn nhận về con người của nhà văn đều trở thành những nét đẹp, trở thành tấm gương về đạo đức, về nghị lực, về tình yêu con người và cuộc sống… đáng để trân trọng và học tập Từ tâm hồn đến trí tuệ nhà văn thể hiện trong VBNT đều mang giá trị thẩm mỹ hướng người đọc đến việc khám phá, tìm tòi Trong quá trình dạy và học cũng thế, quan tâm chú trọng việc tìm hiểu hình tượng tác giả thể hiện trong tác phẩm không những giúp quá trình chiếm lĩnh, tiếp cận VBNT một cách dễ dàng và đúng hướng mà còn giúp người học phát triển năng lực đọc hiểu và năng lực thẩm mỹ - một trong những năng lực quan trọng cần phát triển cho người học trong môn Ngữ văn
Trang 35Nói tóm lại, xét về phương diện ý nghĩa lý luận thì việc quan tâm nghiên cứu hình tượng tác giả có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu văn học Nghiên cứu hình tượng tác giả giúp người đọc nhận ra phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn Chính nhờ phong cách hay cá tính này mà người đọc có thể nhận ra sự khác nhau giữa nhà văn này và nhà văn khác Quan tâm nghiên cứu hình tượng tác giả không những giúp người đọc nhận ra cá tính, phong cách nhà văn mà còn giúp người đọc tìm hiểu tính hệ thống của VBNT như cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu, sự tự thể hiên của nhà văn thành hình tượng tác giả… để từ đó tìm hiểu được tư tưởng nghệ thuật của các tác phẩm văn học Về phương diện ý nghĩa thực tiễn thì quan tâm nghiên cứu hình tượng tác giả sẽ giúp người đọc hiểu được quan điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng tác giả thể hiện trong tác phẩm Tuy hình tượng tác giả không hoàn toàn trùng với nhà văn ở ngoài đời thực nhưng đối chiếu giữa tư tưởng nhà văn trong nghệ thuật với con người trong đời sống vẫn có ý nghĩa rất lớn Thông qua hình tượng tác giả, người nghiên cứu sẽ có những căn cứ đáng tin cậy để kiểm nghiệm độ chính xác của những kết luận về thế giới nghệ thuật của nhà văn, hiểu được sâu sắc các cấp độ biểu hiện và sự phối hợp trong hình thức tác phẩm, tạo điều kiện cần thiết cho việc phân tích và cảm thụ văn chương đạt hiệu quả cao Chính vì thế, quan tâm tìm hiểu hình tượng tác giả trong VBNT còn có ý nghĩa quan trọng trong giảng dạy văn chương ở nhà trường Giáo viên khi hướng dẫn học sinh tiếp cận và cảm thụ tác phẩm văn học rất cần thiết phải hình thành nhữn hiểu biết nhất định về phạm trù hình tượng tác giả, bởi dấu ấn của chủ thể sáng tạo thể hiện rõ nét trong tác phẩm Nói cách khác, nó như chìa khóa để chúng ta giãi mã tác phẩm, tìm ra giá trị đích thực của nghệ thuật mà nhà văn thể hiện trong đó
Đó chính là năng lực tiếp cận, đọc hiểu VBNT và năng lực thẩm mĩ cho người đọc, người nghe
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 361.2.1 Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật ở trường trung học phổ thông
Môn học Ngữ văn nói chung (gồm ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn) và các VBNT nói riêng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng, hoàn thiện nhân cách cho học sinh Mỗi bài thơ, bài văn, mỗi tác phẩm văn học trong chương trình THPT có thể đưa tới một bài học đạo đức thấm thía Bài học đạo đức ấy được thể hiện không chỉ
từ việc tác giả xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật trong văn bản mà còn bộc lộ qua việc tác giả bộc lộ chính mình trong VBNT ấy Cho nên, việc
tổ chức dạy và học một VBNT trong chương trình giáo dục mà học sinh ở lứa tuổi sắp được công nhận quyền công dân là một hoạt động cần được đầu
tư, chú trọng và quan tâm Bởi vì, quá trình dạy học đó không chỉ định hướng, khơi gợi cho người học tìm hiểu những kiến thức về thời cuộc, về con người mà còn hướng người học đến những trị chân - thiện - mỹ, đặc biệt, nó góp phần hình thành và phát triển các kỹ năng, năng lực cần thiết cho một công dân, đủ sức đáp ứng các yêu cầu của thời đại Vì những lý do trên, việc dạy học đọc hiểu VBNT trong nhà trường THPT cần được khẳng định là một hoạt động có đóng góp lớn cho việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục, mục tiêu riêng của môn Ngữ văn, phải được quan tâm chú ý đặc biệt, nhất là trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền giáo dục nước nhà
Dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật ở trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng, thiết yếu như đã nêu ở trên, nên trong chương trình
và sách giáo khoa, các VBNT của Việt Nam và nước ngoài có số lượng không hề ít Cụ thể, có cả VBNT thuộc văn học dân gian và VBNT thuộc văn học viết, trong đó VBNT thuộc văn học viết chiếm số lượng nhiều hơn Với văn học dân gian, các VBNT được học thuộc thể loại sử thi, truyền
Trang 37thuyết, cổ tích, truyện thơ, ca dao và truyện cười Với văn học viết thì thể loại văn bản phong phú và đa dạng hơn Văn học viết có hầu hết các thể loại quan trọng, từ thơ, truyện, ký, kịch đến cáo, chiếu, điều trần, phú… Đặc biệt văn học Việt Nam từ cấp học THCS cho đến cấp THPT thì ở mỗi cấp các VBNT được sắp xếp, xây dựng theo trục lịch sử Ngoài văn học Việt Nam, mảng văn học nước ngoài chiếm một bộ phận không nhỏ trong chương trình
và đó là những tác phẩm tinh hoa của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở các quốc gia có nền văn hóa rực rỡ như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hi Lạp, Anh, Pháp, Mỹ, Nga… Tất cả tạo nên sự phong phú, đa dạng của các thể loại văn học, đáp ứng nhu cầu tiếp cận tinh hoa văn hóa nhân loại của người đọc Điều này cũng đồng nghĩa với việc: giáo viên Ngữ văn dạy học VBNT phải đáp ứng được những đòi hỏi cao về trình độ, năng lực, về phương pháp dạy học
Nói về thực trạng dạy học đọc hiểu VBNT ở nhà trường, cần phải nhìn thấynhững ảnh hưởng từ xu thế tiếp nhận hiện nay cũng như sức mạnh của văn chương nói chung Đánh giá về sứ mệnh văn chương trong giai đoạn xã hội có nhiều biến đổi hiện nay,tác giả Phan Huy Dũng, qua bài trả lời phỏng
vấn phóng viên Tạp chí Văn hóa Nghệ An năm 2014 có nói: “Vai trò của văn học bị giảm sút trong đời sống xã hội và trong hầu hết các thành viên xã hội”; “Văn học tự đánh mất sinh khí vì những sự minh họa khô cứng và bị chìm lút đi giữa những món giải trí dễ dãi, rẻ tiền Văn học thiếu tư tưởng lớn, thiếu khát vọng lớn Vì thiếu những cái đó mà dũng khí không còn” [19] Tác giả còn nói: “Văn chương đang xa dần với một bộ phận dân cư khá đông đảo Cùng với môn lịch sử, việc học văn đang bị sao nhãng trầm trọng ở thế
hệ trẻ Theo đó việc dạy văn cũng trở nên khó khăn và tẻ nhạt hơn”[19].Về thực trạng “trò chán học văn, thầy chán dạy văn”, tác giả nêu vấn đề: “Tại sao lại quy lỗi cho người học mà không quy lỗi cho người dạy, rộng hơn, cho cách dạy, cho cả một định hướng giáo dục, một triết lý giáo dục” Điều này
Trang 38cho thấy chúng ta cần nhìn nhận lại vấn đề từ gốc và phải đưa ra giải pháp
phù hợp Ông đã xác định: “Trước hết là ở việc xác định mục tiêu của môn học Tiếp đó là ở phương pháp dạy học Mục tiêu của dạy học văn không phải là nhồi nhét những kiến cố định, đông cứng về văn học cho học sinh mà phải là bồi dưỡng năng lực cảm nhận, sáng tạo cái đẹp nói chung thông qua tìm hiểu cái đẹp của văn học Muốn năng lực này phát triển, dĩ nhiên phải khuyến khích sự tự do bộc lộ ý kiến với tinh thần trách nhiệm cao Qua dạy học văn, lại phải cho học sinh nắm được cách đọc văn, cách làm văn đầy sáng tạo Để đáp ứng mục tiêu đó, phương pháp dạy không thể là câu chuyện của truyền thụ một chiều mà là câu chuyện của gợi thức, kích thích Mọi khuôn mẫu cần phải được “giải cấu trúc”, cần phải được thẩm định lại thường xuyên trên cơ sở thâu nạp những dữ kiện mới do cuộc sống và do chính sự vận động của hoạt động dạy học văn đưa lại”[19] Ngoài ra, cần phải “ đào tạo lại giáo viên” vì “giáo viên là người được đào tạo, là sản phẩm của một định hướng đào tạo lâu dài của nền giáo dục” Vì thế, tất cả
chúng ta cần nuôi dưỡng một tình yêu và một niềm tin vào lương tri nhà văn,
vào sức mạnh và chỗ đứng của văn chương trong đời sống xã hội “Cần xây dựng một lòng tin thật sự vào lương tri nhà văn, vào sự lựa chọn sáng suốt của cộng đồng trước công việc sáng tạo và thụ hưởng thành quả sáng tạo trong lĩnh vực văn chương Thực tế cho thấy việc chọn hộ món ăn tinh thần cho tất cả mọi người luôn thu được kết quả hạn chế Hãy để văn chương được là mình nếu vẫn còn mong nó có tác động tốt đến đời sống xã hội và tạo ra các giá trị mới cho nền văn hóa dân tộc”[19]
Chúng tôi đồng tình với quan điểm nêu trên vì nó phù hợp với thực tế dạy học mà bản thân chúng tôi trải nghiệm.Chúng tôi cũng đã nhận thấy những đổi mới tích cực trong hoạt động dạy học Ngữ văn: giáo viên nhiệt tình tham gia vào các đợt tập huấn, bồi dưỡng thêm về trình độ năng lực; tiếp cận và vận dụng các phương pháp mới, phương pháp dạy học tích cực vào
Trang 39dạy học Đặc biệt trong những năm gần đây, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng như Ban chuyên môn nhà trường đã tích cực đẩy mạnh việc thực hiện đổi mới dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực; tích cực vận động người dạy ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học Tất cả những việc làm trên giúp cho giáo viên trong quá trình dạy học luôn có ý thức và thực nỗ lực đầu tư, tìm tòi và đổi mới đáp ứng yêu cầu của việc dạy học cũng như hướng hoàn thiện cho học sinh những yêu cầu
cơ bản cho nhân cách và cho công tác hướng nghiệp, gia nhập cộng đồng Để hình thành và phát triển bốn kỹ năng nghe - nói- đọc- viết thì phân môn văn học vẫn đóng vai trò quan trọng nhất Từ chiều ngược lại, học sinh hứng thú, yêu thích môn học, say mê văn chương… cũng là nhờ sức hút từ các VBNT trong phân môn văn học Có nghĩa là trong thực tế,nhìn vào tâm lý học tập,
ta dễ dàng nhận thấy học sinh chú ý, quan tâm, hứng thú nhiều nhất khi học các VBNT
Mặc dù được xác định làbộ phận hoạt động quan trọng nhất của môn Ngữ văn nhưng việc tổ chức dạy học VBNT ở trường THPT còn có những mặt cần bàn và cần được cải cách đổi mới Chính vì sự tác động nhiều mặt của nền kinh tế thị trường, việc dạy học văn mất dần sinh khí Đó là một thực trạng đáng buồn và đáng báo động.Nhìn vấn đề từ phía giáo viên, có thể thấy: giáo viên chưa chủ động tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học (hoặc có “đổi mới” song chỉ là hình thức, chủ yếu để đối phó với hoạt động thanh tra, kiểm tra) Có nghĩa là giáo viên chỉ đầu tư thực sự cho các giờ thao giảng, và cũng chính điều này đã biến giờ học thành giờ trình diễn,không mấy quan tâm đến đối tượng học sinh Một lý do khác khiến giáo viên chưa thực sự đầu tư cho đổi mới là vì họ ngại thay đổi thói quen cố hữu Giáo viên đã chú tâm tạo hứng thú, đam mê văn chương cho học sinh qua việc dạy các VBNT, song phương pháp được sử dụng thường là phương pháp cũ, nặng về thuyết giảng Trước một VBNT, để có phương pháp tiếp
Trang 40cận phù hợp, khả dĩ đưa lại kết quả như mong muốn, người dạy cần bỏ ra công sức không ít Có nhiều giờ dạy được giáo viên tiến hành như một giờ diễn thuyết thậm chí đọc chậm, nhắc lại ý cơ bản trong giáo án chuẩn bị sẵn, học sinh chỉ có nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép, phát biểu xây dựng lấy lệ.Những phát hiện, tìm tòi mới mẻ của học sinh với tư cách là người tham gia quá trình đồng sáng tạo với nhà văn mà chưa phù hợp với giáo án của giáo viên thì sẽ khó được giáo viên công nhận Vì vậy, dù đã ra sức đổi mới song một giờ dạy học đọc hiểu VBNT vẫn chưa thu hút được sự chú ý và cộng tác của người học, gây nên tình trạng một bộ phận không nhỏ học sinh
tỏ ra bàng quan, thờ ơ với môn học, đánh mấtdần tính chủ động, sáng tạo, thói quen tư duy, suy nghĩ độc lập Đặc biệt nhất, trong thời bùng nổ về công nghệ, học sinh cho rằng học văn và đầu tư cho văn sau này khó chọn trường, khó chọn nghề và khó xin việc để lập nghiệp nên các em đầu tư tập trung cho các môn tự nhiên như Toán, Lý, Hóa…
1.2.2 Thực trạng vấn đề tìm hiểu hình tượng tác giả trong dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật
Một giờ học đọc hiểu VBNT ở trường THPT được triển khai theo các bước sau:
Hoạt động 1: Khởi động
Gồm các hoạt động cụ thể như:
- Ổn định tổ chức
- Hỏi bài cũ
- Giới thiệu bài mới
Hoạt động 2: Đọc hiểu thông tin về ngữ cảnh (Phần Tiểu dẫn)
Gồm các hoạt động:
- Đọc những thông tin về nhà văn: Thời gian sống; quê hương; gia đình; tên thật, bút danh; con đường học vấn hoặc những hoạt động chính trong