2.4 Nhu cầu, sở thích tập luyện ngoại khóa đối với các môn thể thao của sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ 2.6 Kết quả kiểm tra đánh giá trình độ thể lực cho nữ sinh viên năm thứ nhấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN PHI HÙNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
THỂ LỰC CHO NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN PHI HÙNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
THỂ LỰC CHO NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG
Trang 3Để hoàn thành đề tài này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy TS Võ Văn Đăng người đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục thể chất trường Đại Học Vinh, các thầy cô giáo trong BGH của các trường được chọn thí điểm, các em học sinh, cùng bạn bè, anh em học viên khóa 24 tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này Với kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế của bản thân, bên cạnh đó do thời gian nghiên cứu chưa dài nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để tôi
có kinh nghiệm hơn trong các đề tài nghiên cứu sau này
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Phi Hùng
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu: 5
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
4 Giả thuyết khoa học 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 6
6.2 Phương pháp quan sát sư phạm 7
6.3 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm 7
6.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 7
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 11
6.6 Phương pháp toán học thống kê 12
7 Đóng góp của đề tài 14
8 Cấu trúc của đề tài 14
CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15
1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT nói chung và GDTC trong trường học các cấp nói riêng 15
1.2 Thực trạng công tác GDTC trong các trường ĐH, CĐ và Trung học chuyên nghiệp hiện nay 20
1.3 Các khái niệm liên quan đến phát triển thể chất 25
1.3.1 Thể chất và phát triển thể chất 25
1.3.2 Bài tập TDTT và chuẩn bị thể lực 27
1.4 Các nguyên tắc về phương pháp GDTC 33
1.5 Các phương pháp tập luyện thể lực 35
1.6 Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi sinh viên (18 đến 22) 39
Trang 5MÔN GDTC VÀ THỂ LỰC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ
PHẠM NGHỆ AN 44
2.1 Thực trạng công tác GDTC của Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An 44
2.1 Thực trạng chương trình môn học GDTC nội khóa tại trường CĐSP Nghệ An 45
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên giáo dục thể chất 49
2.3 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập Giáo dục thể chất 50
2.4 Thực trạng về nhu cầu tập luyện ngoại khóa của sinh viên Trường CĐSP Nghệ An 51
2.5 Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viênTrường CĐSP Nghệ An 52
2.6 Đánh giá thực trạng thể lực của nữsinh viên Trường CĐSP Nghệ An 53
2.7 Những nguyên nhân, yếu tổ ảnh hưởng đến thực trạng công tác GDTC Trường CĐSP Nghệ An 54
CHƯƠNG 3: LỰA CHỌN VÀ ỨNG DUNG HIỆU QUẢ BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHO NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN 58
3.1 Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực cho nữ sinh viên năm thứ hai trường CĐSP Nghệ An 58
3.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả củabài tập phát triển thể lực cho nữ sinh viên năm thứ hai trường CĐSP Nghệ An 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
I Kết luận 86
II Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Lượng vận động Phương pháp Trung bình Thể dục thể thao Thực nghiệm Thứ tự
Thể thao trường học
Xã hội chủ nghĩa Xuất phát cao
Trang 7Kilôgam Mét Giây
Số lần
Số phút
Trang 82.4 Nhu cầu, sở thích tập luyện ngoại khóa đối với các môn
thể thao của sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ
2.6 Kết quả kiểm tra đánh giá trình độ thể lực cho nữ sinh
viên năm thứ nhất Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
theo QĐ 53 (n=200)
53
2.7 Kết quả phỏng vấn các sinh viên về thực trạng công tác
GDTC của Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An (n =
200)
54
3.1 Kết quả phỏng vấn các yêu cầu lựa chọn bài tập nhằm
phát triển thể lực cho nữ sinh viên Trường Cao đẳng sư
phạm Nghệ An (n=20)
59
3.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các nhóm bài tập nâng cao
thể lực cho nữ sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ
An (n = 20)
60
3.3 Kết quả phỏng vấn việc lựa chọn bài tập phát triển thể
chất cho sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ
62
Trang 93.4 Kết quả kiểm tra thể lực của nhóm đối chứng và nhóm
thực nghiệm trước thực nghiệm
73
3.5 Kết quả kiểm tra thể lực của nhóm đối chứng và nhóm
thực nghiệm sau thực nghiệm
73
3.6 Kết quả kiểm tra thể lực của nhóm thực nghiệm trước và
sau thực nghiệm bằng phương pháp tự đối chiếu
Trang 10Số hiệu
3.1 Sự tăng trưởng Lực bóp tay thuận của nữ nhóm đối chứng
trước và sau thực nghiệm
76
3.2 Sự tăng trưởng Nằm ngửa gập bụng của nữ nhóm đối
chứng trước và sau thực nghiệm
76
3.3 Sự tăng trưởng Bật xa tại chỗ của nữ nhóm đối chứng trước
và sau thực nghiệm
77
3.4 Sự tăng trưởng Chạy 30m XPC của nữ nhóm đối chứng
trước và sau thực nghiệm
77
3.5 Sự tăng trưởng Chạy con thoi 4 x 10m của nữ nhóm đối
chứng trước và sau thực nghiệm
78
3.6 Sự tăng trưởng Chạy tuỳ sức của nữ nhóm đối chứng trước
và sau thực nghiệm
78
3.7 Sự tăng trưởng Lực bóp tay thuận của nữ nhóm thực
nghiệm trước và sau thực nghiệm
80
3.8 Sự tăng trưởng Nằm ngửa gập bụng của nữ nhóm thực
nghiệm trước và sau thực nghiệm
81
3.9 Sự tăng trưởng Bật xa tại chỗ (cm) Chạy 30m XPC của nữ
nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm
81
3.10 Sự tăng trưởng chạy 30m XPC (s) của nữ nhóm thực
nghiệm trước và sau thực nghiệm
82
3.11 Sự tăng trưởng Chạy con thoi 4 x 10m (s) của nữ
nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm
82
3.12 Sự tăng trưởng Chạy tùy sức 5 phút của nữ nhóm thực
nghiệm trước và sau thực nghiệm
83
3.13 So sánh mức tăng trưởng (%) sau thực nghiệm của nhóm
đối chứng và thực nghiệm
85
Trang 11Số hiệu
2.1 Hình ảnh minh hoạ Lực bóp tay thuận 8 2.2 Hình ảnh minh họa Nằm ngữa gập bụng 9 2.3 Hình ảnh minh họa Chạy 30m xuất phát cao 9 2.4 Hình ảnh minh họa Chạy con thoi 4x10m 10
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của công tác Thể dục, thể thao (TDTT) Vì đó là động lực quan trọng cần phải có chính sách chăm sóc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hòa về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức Sức khỏe là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa, là mặt quan trọng của chất lượng đời sống, là nguồn tài sản quý báu của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của ngành TDTT nói chung và ngành khoa học TDTT nói riêng
Công tác Giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động TDTT trong trường học các cấp là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội của đất nước Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992
có quy định “Chế độ GDTC bắt buộc trong trường học” [32]
Bác Hồ nói : “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” đó chính là cơ
sở cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, tiếp theo đường lối của Người; ngày nay Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm và đầu tư vào TDTT và thành quả phong trào đã lan sâu rộng vào nhiều tầng lớp của nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ cũng đã lĩnh hội được việc rèn luyện TDTT chính là con đường đúng đắn nhất mang lại sức khỏe và hạnh phúc cho mỗi người
Những năm qua, sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) đã được Đảng
và Nhà nước ta ngày càng coi trọng Nghị quyết trung ương IV khoá VII về đổi mới công tác GD&ĐT đã khẳng định mục tiêu giáo dục, hình thành nhân cách, tăng cường thể lực cho những người chủ tương lai của đất nước, những người tri thức và lao động trẻ: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”[3].Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
Trang 134/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [6]; Luật giáo dục năm 2005 đã nêu lên mục tiêu của giáo dục là
“đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp ” [33] Trong hoạt động GD&ĐT thì công tác GDTC cũng được đặc biệt quan tâm Chỉ thị 36 CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã nêu:
“Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh,sinh viên” GDTC trong trường học là thực hiện mục tiêu phát triển thể chất cho học sinh, sinh viên (HSSV) góp phần và đào tạo con người phát triển toàn diện,những người chủ tương lai thế hệ trẻ của đất nước,giữ sử mệnh lịch sử tương lai của dân [4]
Ngày nay sinh viên Việt Nam đang sống và học tập dưới một chế độ ưu Việt - chế độ Xã hội chủ nghĩa Được thừa hưởng những thành quả vĩ đại của ông cha ta để lại trong sự nghiệp chiến đấu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm chăm sóc “Trong di chúc của Hồ Chủ Tịch Người đã căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết” Thấm nhuần lời dạy của Người, thế hệ trẻ Việt Nam trong đó có lực lượng sinh viên đang ra sức thi đua học tập,rèn luyện góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hiện nay, các Trường đại học và cao đẳng đều phát triển về quy mô và đa dạng hóa loại hình đào tạo Sự phát triển mạnh mẽ về số lượng sinh viên như hiện nay, vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục trong đó có GDTC đang đứng trước những thử thách to lớn
Mặc dù công tác GDTC đã được các cấp lãnh đạo nhà trường hết sức quan tâm thể hiện qua việc thường xuyên đổi mới, nâng cao trang thiết bị cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ và cả đội ngũ giảng viên Một số trường đã được đầu
tư cải tạo, xây dựng nhiều công trình TDTT mới nên đã và đang phục vụ tốt cho công tác giảng dạy nội khóa, hoạt động ngoại khóa mở rộng, phong trào hoạt động thể thao quần chúng và các giải thi đấu thể thao của sinh viên… Nhưng
Trang 14thực tế công tác GDTC và thể thao học đường ở nhiều trường đại học, cao đẳng còn bộc lộ nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu giáo dục - đào tạo
đã đề ra
Về thực trạng của công tác GDTC hiện nay, Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Nhiều trường đại học, cao đẳng hiện nay chưa nghiêm túc thực chương trình môn học GDTC nội khóa theo quy định, hiện tượng cắt giảm thời lượng chương trình còn phổ biến, đặc biệt là các trường ngoài công lập; Chất lượng GDTC còn thấp, giờ dạy GDTC nội khóa còn đơn điệu, thiếu sinh động, thiếu sáng tạo; phương pháp dạy học còn nghèo nàn, chưa được tích cực đổi mới Việc đầu tư nguồn lực, vật lực cho công tác GDTC và các hoạt động thể thao sinh viên còn hạn chế, cơ sở vật chất sân bãi dụng cụ còn chưa tương xứng với sự phát triển về quy mô đào tạo của các trường; đội ngũ giảng viên TDTT của các trường còn thiếu, chất lượng chưa cao, chưa được thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn Công tác quản lý, kiểm tra đánh giá chất lượng học tập và thể lực sinh viên còn thiếu chặt chẽ, thiếu cơ sở khoa học,
có một số trường còn đưa ra tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá môn học quá cao, dẫn đến việc sinh viên nợ với tỷ lệ cao, tạo nên gánh nặng đối với người học, trái với quan điểm chỉ đạo GDTC trong nhà trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên đây là xuất phát từ nhận thức về vị trí, vai trò của GDTC còn nhiều hạn chế trong các cấp giáo dục và cơ sở trường, chưa coi đây là mặt giáo dục quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao có tri thức, sức khỏe và trách nhiệm với nghề nghiệp tương lai của thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên trong các Trường đại học, cao đẳng
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu đối với Trường CĐSP Nghệ An Nhà trường đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ: Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy Những năm gần đây, công tác giảng dạy môn GDTC của Bộ môn GDTC cho sinh viên CĐSP Nghệ An đã không ngừng cải tiến và nâng cao Trong đó phát triển thể lực cho sinh viên là nhiệm vụ rất quan trong trong công tác giảng dạy giáo dục
Trang 15Thể chất Trường CĐSP Nghệ An là một trường công lập, đa cấp, đa ngành, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp phát triển GD của tỉnh Nghệ An nói riêng và của đất nước nói chung Từ quy mô đào tạo mấy nghìn SV đến nay mỗi năm Nhà trường đào tạo khoảng hơn 2.000 học sinh, sinh viên Công tác GDTC Nhà trường cũng được đổi mới và phát triển cùng với sự phát triển chung của Nhà trường Nâng cao thể chất, phát triển thể lực là nhiệm vụ thường xuyên của bộ môn GDTC Hoạt động này được tổ chức dưới hình thức lớp học nội khóa và chính khóa Hiện nay kết quả học tập môn GDTC của SV còn ở mức bình thường Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên còn hạn chế, một trong những lý do ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên nhà trường
là do trình độ thể lực còn hạn chế so với đòi hỏi, so với mục tiêu GDTC
Thể lực trong các hoạt động TDTT rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên, kết quả trận đấu của VĐV Một trong những mục tiêu của công tác giáo dục thể chất (GDTC) trong các trường đại học và cao đẳng là làm cho sinh viên (SV) có sức khỏe tốt, đáp ứng yêu cầu công tác sau này Vì vậy nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân để khắc phục nhằm nâng cao thể lực cho sinh Nhà trường là việc làm rất cần thiết góp phần nâng cao kết quả GDTC, giáo dục con người toàn diện
Nội dung môn học GDTC của trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An bao gồm có 3 học phần GDTC1, GDTC2, GDTC3 gồm 90 tiết ( 15 tiết lý thuyết, 75 tiết thực hành) Tuy nhiên do điều kiện thực tế nên các phương tiện chuyên môn đảm bảo cho việc thực hiện nội dung chương trình còn nhiều bất cập, các bài tập thể lực cũng như chuyên môn chưa phù hợp với đặc thù sinh viên Nên đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế sự phát triển thể lực của sinh viên, cũng như chất lượng và hiệu quả của môn học GDTC ở trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An Việc nghiên cứu về thể chất đối với sinh viên các trường Đại học đã có một số tác giả nghiên cứu như: Nguyễn Trọng Hải (1993), Trần Thị Thùy Linh (2002), Nguyễn Văn Lực (1998), Nguyễn Nam Hà (2000), Nguyễn Hồng Minh (2002), Nguyễn Tiến Lâm (2002), Nguyễn Duy Linh (2005), Lê Trần Quang (2008), Nguyễn Thị Xuân Huyền ( 2009), Nguyễn Thị
Trang 16Hồng Thắm (2010), Phan Hải Sâm (2012), Hoàng Tiến Dũng (2012); Phạm Văn Định (2012), Vi Kiều Trinh(2012), Nguyễn Lê Minh Huy (2014) và nhiều tác giả khác… Cho đến nay việc nghiên cứu các phương tiện chuyên môn nâng cao thể lực cho sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ Anhiện chưa có tác giả nào nghiên cứu Xuất phát từ nhứng lí do nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực cho sinh viên nữ
Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An”
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về GDTC, nhằm đánh giá đánh giá thể lực
và phân tích tìm ra những tồn tại cần phải khắc phục, từ đó lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển thể lực cho nữ sinh viên, để có sức khỏe đáp ứng điều kiện học tập tốt hơn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDTC cho sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An, từ đó nâng cao hiệu quả GDTC của trường
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ thể: Các bài tập phát triển thể lực cho nữ sinh viên năm thứ hai
Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
Khách thể nghiên cứu: 100 nữ sinh viên năm thứ hai (K38)trường Cao
đẳng sư phạm Nghệ An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại trường Đại học Vinh và trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
+ Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 08 năm
2018, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Từ tháng 9/2017 đến tháng 11/2017
Lựa chọn đề tài, xây dựng và bảo vệ đề cương nghiên cứu khoa học
Giai đoạn 2: Từ tháng 12/2017 đến tháng 04/2018
Trang 17+ Giải quyết nhiệm vụ 1 (từ tháng 12 – 2017 đến tháng 01 – 2018)
+ Giải quyết nhiệm vụ 2 (từ tháng 02 – 2018 đến tháng 04 – 2018)
- Giai đoạn 3 (từ tháng 04 - 2018 đến tháng 8 - 2018)
Hoàn thiện đề tài và bảo vệ đề tài nghiên cứu khoa học trước Hội đồng Khoa học
4 Giả thuyết khoa học
Những bài tập được lựa chọn phát triển thể lực cho nữ sinh viên K38 GDMN được đề tài nghiên cứu sẽ nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập cho sinh viên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thực tiễn của Trường CĐSP Nghệ An
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết mục đích của đề tài, chúng tôi tiến hành giải quyết hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1:Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC và thể lực
của sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nhằm phát
triển thể lực cho sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
6 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu đề tài
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Đây là phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi trong tất cả các công trình nghiên cứu khoa học nhằm tổng hợp, tiếp thu một cách có chọn lọc các nguồn thông tin khoa học hiện có của nhân loại trong các tài liệu khoa học
đã được công bố Trong khi nghiên cứu đề tài chúng tôi đã tìm hiểu sưu tầm, tổng hợp và phân tích nghiên cứu các loại sách, tư liệu như các văn kiện của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong nhà trường các cấp, các quy định, văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và đào tạo về GDTC cho học sinh, sinh viên
Trang 18Các loại sách, tạp chí, tài liệu khoa học có liên quan và các đề tài nghiên cứu GDTC cho sinh viên của nhiều tác giả đã được công bố
6.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Việc sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm trực tiếp theo dõi nội dung tập thể lực trong giờ chính khóa của sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An bằng cách: Ghi số lượng các bài tập, số lượng sinh viên trong lớp, cách thức tổ chức, hướng dẫn giờ học, thời gian tiến hành cho mỗi nội dung tập luyện thể lực, các hình thức bài tập được sử dụng, số lần lặp lại bài tập thể lực Kết quả của phương pháp này được xem là những cơ sở thực tiến đế lựa chọn các bài tập hợp lý
6.3 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp nhằm tìm hiểu, thu thập các số liệu nghiên cứu Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp với các đối tượng là các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở bộ môn GDTC Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc của đối tượng nghiên cứu Thông qua phiếu hỏi tọa đàm để lựa chọn ra các bài tập có hiệu quả nhằm phát triển thể lực của đối tượng nghiên cứu, nhằm áp dụng trong thực tiễn việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài đã phỏng vấn 20 giáo viên và chuyên gia Kết quả của quá trình phỏng vấn được chúng tôi xử lý bằng phương pháp toán học thống
kê (tính giá trị % về các ý kiến trả lời so với tổng số chuyên gia và giảng viên được hỏi)
6.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm để kiểm tra thành tích thể lựccủa sinh viên bằng test được lựa chọn qua phỏng vấn
Đề tài này chúng tôi đã sử dụng các test theo quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lựchọc sinh, sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Ban hành kèm theo Quyết định số: 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (QĐ 53)[12] cụ thể là:
6.4.1 Lực bóp tay thuận (kg)
Trang 19- Mục đích: Đánh giá sức mạnh tay
- Dụng cụ kiểm tra: Lực kế
- Phương pháp kiểm tra: Người được kiểm tra đứng hai chân rộng bằng vai, tay thuận cầm lực kế hướng vào lòng bàn tay Không được bóp giật cục và
có các động tác trợ giúp khác Thực hiện hai lần, nghỉ 15 giây giữa hai lần thực
- Cách tính thành tích: Lấy kết quả lần cao nhất Đơn vị tính kg
Hình 2.1 Hình ảnh minh họa Lực bóp tay thuận
- Cách tính thành tích: Một lần ngã người, gập bụng được tính một lần Tính số lần thực hiện đạt yêu cầu trong 30 giây
Trang 20Hình 2.2 Hình ảnh minh họa Nằm ngữa gập bụng
6.4.3 Chạy 30m xuất phát cao (s)
- Mục đích: Đánh giá sức nhanh
- Dụng cụ, sân bãi kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, đường chạy bằng phẳng
có chiều dài ít nhất 40m, chiều rộng ít nhất 2m Kẻ vạch xuất phát và vạch đích, đặt cột tiêu bằng nhựa hoặc cờ ở 2 đầu đường chạy Sau đích có khoảng 10m để giảm tốc độ sau khi về đích
- Phương pháp kiểm tra: Người được kiểm tra đứng ở vạch xuất phát, thực hiện ở tư thế xuất phát cao Khi nghe hiệu lệnh “chạy”, thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát và chạy nhanh vượt qua vạch đích Thực hiện một lần
- Kết quả: Thực hiện một lần và xác định thành tích
Hình 2.3 Hình ảnh minh họa Chạy 30m xuất phát cao
6.4.4 Chạy con thoi 4 X 10 m (s)
- Mục đích: Đánh giá khả năng phối hợp vận động
- Dụng cụ, sân bãi kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, còi, thước đo dài, phân vẽ vạch (vật chuẩn làm mốc) Đường chạy bằng phẳng, không trơn, có kích thước
10 x 1.2m, bốn góc có vật chuẩn để quay đầu
Trang 21- Phương pháp kiểm tra: Khi có lệnh “chạy” đối tượng điều tra chạy đến vạch 10m, chỉ cần một chân chạm vào vạch, lập tức vòng lại về vạch xuất phát đến khi một chân chạm vạch thì quay đầu lại như lần đầu Thực hiện lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số 4 lần x l0m với lần quay Quay theo chiều trái hay phải là do thói quen của từng người
- Kết quả: Thực hiện một lần và xác định thành tích
Hình 2.4 Hình ảnh minh họa Chạy con thoi 4x10m
6.4.5 Bật xa tại chỗ (cm)
- Mục đích: Đánh giá sức mạnh chân
- Dụng cụ, sân bãi kiểm tra: hố cát, thước dây
- Phương pháp kiểm tra: Người được kiểm tra đứng ở tư thế chuẩn bị hai chân rộng bàng vai, ngón chân cái đặt sát mép ván giẫm nhảy Hai tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm, gập ở khớp khuỷu, gập thân, hơi lao người về phía trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống dưới, ra sau (giống tư thế xuất phát trong bơi), phối hợp duỗi thân, chân bật mạnh về phía trước đồng thời 2 tay cũng vung mạnh ra trước Khi bật nhảy và khi tiếp đất hai chân tiến hành đồng thời cùng lúc Mỗi người thực hiện hai lần, lấy thành tích cao nhất
- Cách tính thành tích: Thành tích được tính từ mép trước ván giậm nhảy đến điểm chạm gần nhất của gót chân trên mặt thảm Đơn vị tính cm
Trang 22Hình 2.5 Hình ảnh minh họa Bật xa tại chỗ
6.4.6 Chạy 5 phút từy sức (m)
- Mục đích: Đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí)
- Dụng cụ, sân bãi kiểm tra: Đường chạy dài ít nhất 52m, rộng ít nhất 2m, hai đầu kẻ hai đường giới hạn, phía ngoài hai đầu giới hạn có khoảng trống ít nhất 1m để chạy quay vòng Giữa hai đầu đường chạy (tim đường) đặt vật chuẩn
để quay vòng Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 5m để xác định phần lẻ quãng đường (± 5m) sau khi hết thời gian chạy Thiết bị đo gồm có đồng hồ bấm dây,
số đeo và tích - kê ghi số ứng với mỗi số đeo
- Phương pháp kiểm tra: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao (tay cầm một tích - kê tương ứng với số đeo ở ngực) Khi chạy hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời gian 5 phút Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích - kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất Thực hiện một lần
- Cách tính thành tích: đơn vị đo quãng đường chạy được là mét
Hình 2.6 Hình ảnh minh họa Chạy tùy sức
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Với mục đích kiểm nghiệm hiệu quả lựa chọn các bài tập nhằm phát triển
Trang 23thể lực của sinh viên nữ năm thứ hai Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An Đề tài đã sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm tự nhiên Đối tượng thực nghiệm được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm mỗi nhóm 50 sinh viên, trong đó đối tượng tham gia tổng số là 100 sinh viên (chỉ bao gồm nữ sinh viên năm thứ hai) Mục đích của phương pháp này là thông qua việc đưa ra các bài tập mới vào tập luyện, qua đó kiểm nghiệm và đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó đến việc phát triển thể lực trên đối tượng nghiên cứu
Trước thực nghiệm đề tài tiến hành kiểm tra thể lực thông qua 6 Test đó là: Lực bóp tay thuận (kg), Chạy 30m XPC (s), bật xa tại chỗ (cm), nằm ngửa gập bụng (lần/30 giây), chạy tiếp sức 5 phút (m) và chạy con thoi 4x10 mét (s) trên tất cả 2 nhóm thực nghiệm đối chứng Dựa trên kết quả kiểm tra được sử lý bằng phương pháp toán học thống kê, đề tài phân bổ các nữ sinh viên một cách ngẫu nhiên thành 2 nhóm đảm bảo sự cân đối, đồng đều về số lượng và thể lực
Chương trình thực nghiệm được tiến hành trong 15 tuần, mỗi tuần 3 tiết vào thời gian chính khóa, thời gian dành cho mỗi buổi tập 20 phút (lấy thời gian
“ học kỳ 3 và học kỳ 4” làm khoảng thời gian nghiên cứu)
+ Ở nhóm trước thực nghiệm (đối chứng): Nội dung áp dụng chính là những nội dung bài tập và phương pháp phổ biến đã được áp dụng thường xuyên trong các giờ học chính khóa của sinh viên nữ năm thứ hai Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
+ Ở nhóm sau thực nghiệm (thực nghiệm): Được lên lớp ngoài nội dung theo chương trình chung (phần này như nhóm trước thực nghiệm), còn bổ sung thêm bài tập phát triển thể lực mà đề tài đã lựa chọn
6.6 Phương pháp toán học thống kê
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và phần mềm SPSSđể tính toán các tham số thống kê:
6.6.1 Trung bình cộng ( )
Trung bình cộng là tỷ số tương đối giữa tổng lượng trị số các cá thể với tổng số các cá thể của đám đông, được tính theo công thức:
Trang 24Chỉ số (t) Student tự đối chiếu:
So sánh hai giá trị trung bình của nhóm trước và sau thực nghiệm
6.6.4 Công thức tính t đối chiếu
(với n >30)
6.6.5 Độ lệch chuẩn của các hiệu số
Trong đó là trung bình các hiệu số
6.6.6 Nhịp tăng trưởng (W%)
Phương pháp tính nhịp tăng trưởng (W%) của các chỉ số phát triển theo công thức của S.Brondy (1927)
%100)
(5,0
)(
2 1
V V W
Trong đó: W: Nhịp độ tăng trưởng
V1: Thành tích kiểm tra lần 1
Trang 258 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC và thể lực
của sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
Chương 3 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nhằm phát triển
thể lực cho sinh viên nữ Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
Trang 26CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT nói chung
và GDTC trong trường học các cấp nói riêng
Tư tưởng của Hồ Chí Minh trong việc đặt nền tảng xây dựng sự nghiệp TDTT của nước ta là: TDTT là một công tác cách mạng vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân
và vì dân Mục tiêu của TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam làm cho dân cường, nước thịnh Tiêu biểu cho tư tưởng đó vào ngày 27/03/1946 Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể
dục Người viết: “ Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một
phần, mỗi người dân mạnh khỏe tức là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh Vậy nên tập luyện thể dục thể thao , bồi bổ sức khỏe là bổn phận cho mỗi người dân yêu nước”.[26]
Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT vì sức khỏe nhân dân, công việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công, Bác kêu gọi toàn dân thường xuyên rèn luyện thân thể giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực cho mọi người Bác Hồ tin yêu thế hệ trẻ, người quan tâm và chăm sóc đến sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ Ngày về thăm Trường Trung cấp TDTT
Trung ương (nay là Trường Đại học TDTT I), Bác đã căn dặn: " Các cháu
học TDTT không phải để đạt ông kiện tướng này, bà kiện tướng nọ Cái chính
là, là người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhân dân, đem hiểu biết của mình ra hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nâng cao sức khỏe đẩy lùi bệnh tật "
Trong thời gian qua căn cứ vào từng giai đoạn cách mạng, theo yêu cầu và tình hình cụ thể, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo kịp thời, đề ra những chủ trương nhằm đẩy mạnh phong trào TDTT của nước ta, hàng loạt các chỉ thị về công tác TDTT của Đảng đã ban hành đều nhấn mạnh đến vai trò của TDTT như một công tác cách mạng Trong đó, với mục
tiêu đó là phát triển thế hệ trẻ một cách toàn diện: “ Phát triển cao về trí tuệ,
Trang 27cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức ”
Để thực hiện mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là phát triển con người một cách toàn diện đặc biệt là thế hệ trẻ thì GDTC trong nhà trường luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được ban hành ngày 15/04/1992 tại điều 41 quy định: “Nhà
nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức tập luyện TDTT tự nguyện của nhân dân…”.[32]
Để đẩy mạnh nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh, thông tư liên bộ Giáo dục – Đào Tạo và Tổng cục TDTT số 04/93/GD–ĐT Thể dục thể thao
ngày 17/04/1993 đã nêu: “Trong quá trình phát triển đào tạo, GDTC là nội
dung, biện pháp quan trọng góp phần đào tạo Thanh thiếu niên Việt Nam phát triển hài hòa về trí tuệ, thể chất, tinh thần và đạo đức Đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ cở phong trào TDTT quần chúng của học sinh, sinh viên”.[10]
Chỉ thị 36/CT/TW của Ban bí thư TW ngày 24/03/1994 về công tác
TDTT trong giai đoạn mới ghi rõ:“…Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu
chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên dạy thể dục cho trường học các cấp tạo những điều kiện cần thiết nhất về cơ sở vật chất, để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả trường học…”.[4]
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (1991): “Phát triển phong trào TDTT
trong cả nước, trước hết là trong thanh, thiếu niên, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả GDTC trong trường học”.[19]
Pháp lệnh của ủy ban thường vụ quốc hội số 28/2000/PL–UBTVQH10
ngày 25 tháng 9 năm 2000 về TDTT đã xác định “Thể dục, thể thao trường học
bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động thể dục, thể thao ngoại khoá cho người học.Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học.Nhà nước khuyến
Trang 28khích hoạt động thể dục, thể thao ngoại khoá trong nhà trường.”[41]
Hiện nay trên thế giới thể trạng và tầm vóc của con người ngày càng được phát triển vượt bậc, nhiều Quốc gia trên thế giới đã chú trọng vào vấn đề phát triển thể chất con người Và Việt Nam cũng đang từng bước đưa ra những giải pháp tối ưu để phát triển thể trạng và tầm vóc người Việt Cụ thể trong 2 năm
2001 – 2002 Viện khoa học TDTT - Ủy ban TDTT đã tiến hành điều tra thể chất con người Việt Nam ở lứa tuổi 6 – 20 và đưa ra dự án phát triển thể trạng và tầm vóc con người Việt Nam trong vòng 20 năm (2005 – 2025)
Bộ GD & ĐT - Ủy ban TDTT thống nhất ban hành thông tư liên tịch số 34/2005/TTLT – Bộ GD & ĐT, quản lý và chỉ đạo công tác TDTT trường học
2006 – 2010, xác định: “ Thể thao trường học là một bộ phận quan trọng trong
việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho HS – SV, góp phần đáp ứng CNH – HĐH đất nước…, phát triển TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho người học ”.[9]
Luật Giáo dục 2005 xác định rõ GDTC là môn học chính khóa thuộc
chương trình giáo dục nhằm cung cấp các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là một hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao”.[33]
Năm 2011 – 2015 Đảng, Nhà nước ta tiếp tục chỉ đạo công tác TDTT trong thời gian tới, với mục tiêu và nhiệm vụ của công tác TDTT trường học là: Đẩy mạnh công tác GDTC và thể thao trường học, bảo đảm phát triển toàn diện, góp phần nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam, làm nền tảng cho thể thao thành tích cao và xây dựng lối sống lành mạnh trong tầng lớp thanh, thiếu niên, chú trọng công tác GDTC trong trường học các cấp; Đổi mới nội dung,
Trang 29chương trình GDTC phù hợp với thể chất học sinh, sinh viên…
Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao
đến năm 2020 đã khẳng định rằng: “Thể dục thể thao trường học là bộ phận
quan trọng của phong trào thể dục, thể thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được quan tâm đầu tư đúng mức.Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học” Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao”.[7]Thông tư số: 08/2012/TT-BVHTTDL
ngày 10 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc đánh giá phát triển thể dục thể thao trong học sinh, sinh viên toàn quốc
trong nhà trường Và mới nhất Chính phủ đã ban hànhNghị định
11/2015/NĐ-CP về việc Quy định giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường:“
Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao”.[15]
Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng
mà sự nghiệp giáo dục - đào tạo, cũng như xác định đúng vị trí của GDTC trong
Trang 30nhà trường các cấp phải được triển khai thực hiện đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ đến đại học Bộ trưởng Bộ GD& ĐT đã có quyết định văn bản ban hành quy chế về công tác GDTC trong nhà trường các
cấp Trong đó đã khẳng định: “GDTC và y tế trong trường học là hoạt động
giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên”.[8]
Trong các trường đại học, GDTC có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết cho nghiệp vụ và hoàn thiện thể chất của sinh viên Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khỏe và phát triển thể lực, tiếp thu những kiến thức kĩ năng vận động cơ bản, còn có tác dụng tốt về mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai Đồng thời giúp họ hiểu biết phương pháp khoa học, để tiếp tục rền luyện thân thể củng cố sức khỏe góp phần xây dựng tổ chức phong trào thể thao trong nhà trường Do vậy, Bộ
GD& ĐT đã ban hành chương trình GDTC trong các trường đại học: “Chương
trình GDTC trong các trường đại học, cao đẳng nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục: trang bị kiến thức, kỹ năng về rèn luyện thể lực của sinh viên, giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, góp phần duy trì và cung cấp sức khỏe cho sinh viên”.[11]
Để đáp ứng được các nhu cầu trong cuộc sống hiện nay thì việc nâng cao sức khỏe cho học sinh, sinh viên phát triển cường tráng về thể chất, để những mầm non tương lai đang khỏe mạnh đủ sức khỏe xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới Do vậy công tác GDTC trong nhà trường có vị trí, tác dụng to lớn đối với chính sách phát triển kinh tế xã hội của nước ta Là một trong những chiến lược hàng đầu của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Tóm lại:Việc chăm lo sức khoẻ và phát triển thể chất nhân dân, trong đó
đặc biệt coi trọng tới tuổi trẻ học đường, đã được Đảng, Nhà nước và các ngành,
Trang 31các cấp luôn coi trọng trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Ngày nay, vấn đề sức khoẻ và thể chất càng trở nên quan trọng và cần thiết trước yêu cầu đào tạo con người trong nền kinh tế tri thức, con người vừa là mục tiêu vừa
là động lực phát triển Đây cũng là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất trong quan điểm giáo dục con người phát triển toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, nhằm tiếp tục đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu chiến lược đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN để đến năm 2025 đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp như Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đề ra '' Vì vậy, chăm lo sức khoẻ, phát triển thể chất của toàn dân, đặc biệt là tuổi trẻ học đường, là chiến lược phát triển nhân tố con người, tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, không chỉ là trách nhiệm của đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội''
1.2 Thực trạng công tác GDTC trong các trường ĐH, CĐ và Trung học chuyên nghiệp hiện nay
1.2.1 Khái niệm GDTC
Giáo dục thể chất là một bộ phận của TDTT GDTC còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ TDTT trong xã hội, một quá trình truyền thụ để tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục - giáo dưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường) Điều đó đồng nghĩa với GDTC cũng là một loại giáo dục là một quá trình sư phạm, tổ chức của nhà hoạt động nhà giáo dục và học sinh phù hợp với các nguyên tắc sư phạm Đặc điểm nổi bật của GDTC là chỗ hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển tố chất vận động Tổng hợp những quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người GDTC chia theo hai mặt riêng biệt, dạy học động tác và giáo dục tố chất vận động [31][38][43]
Dạy học động tác: Là quá trình tiếp thu của hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn
Giáo dục tố chất vận động: Là bản chất của GDTC là tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất vận động đảm bảo phát triển năng lực vận động [31][38][43]
Trang 321.2.2 Giáo dục thể chất đối với sinh viên
GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành củng cố những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản trong đời sống, trong lao động GDTC là một bộ phận của TDTT,
là một trong những hình thái hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội Hay nói cách khác GDTC là loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển các tố chất thể lực của con người
GDTC và TTTH duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, rèn luyện thân thể để đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy định Trang
bị cho sinh viên kiến thức lý luận cơ bản về những nội dung, phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật động tác cơ bản một số môn thể thao Rèn luyện cho sinh viên có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể Đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và rèn luyện phong trào thể thao
mạnh mẽ và sâu rộng: “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho
việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết sinh viên…”
GDTC trong các trường cao đẳng, đại học là góp phần quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…” xây dựng những lớp người chủ nhân tương lai cho đất nước
Trên cơ sở lý tưởng đó, GDTC đối với các sinh viên là một việc không thể thiếu được trong công tác giáo dục và đào tạo Sức khỏe được coi như là một vốn quý nhất của con người, là tài sản vô giá của quốc gia Nhà nước ta đặt công tác TDTT là ngang hàng với những công tác cách mạng khác [31][38][43]
1.2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ và nôi dung của GDTC trong trường Đại học, cao đẳng
Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh, sinh viên là một trong những mục tiêu chên lược của Đảng, Nhà nước của ngành GD& ĐT nước
ta trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả
Trang 33các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thì nhất thiết phải coi trọng công tác GDTC trong trường học Đặc biệt là các khối Đại học, cao đẳng chuyên nghiệp vì sinh viên là những nhân tố, lực lượng
nòng cốt để phát triển đất nước
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nhất quán: Về mục tiêu công tác GDTC
và thể thao trường học là nhằm góp phần mục tiêu thực hiện đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học kĩ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa [31][38][43]
Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, GDTC và thể thao trường học phải giải quyết ba nhiệm vụ:
Góp phần giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ nước nhà
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện
để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội
Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, phát triển cơ thể hài hòa, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêu chẩn thể lực quy định [38]
Có thể thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của GDTC là không ngừng nâng cao sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh
viên Nôvikốp A D; Mátvêép L P (1996); khẳng định: “ …thể lực là một trong
những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC ”.[31]
Trang 341.2.4.Công tác GDTC trong các trường ĐH, CĐ và Trung học chuyên nghiệp hiện nay
Quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết, chủ thị của Đảng, Hiến pháp nước cộng hòa XHCN Việt Nam, các văn bản pháp luật của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳng định, cần phải khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của sinh viên hiện nay
Để từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC theo tinh thần các chỉ thị 36 CT/TW, Nghị quyết Trung ương khóa VIII, Chỉ thị 133 TTg của Thủ tướng chính phủ, Bộ GD & ĐT tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm, đánh giá đúng mức những đánh giá và thành tích đã đạt được đồng thời chỉ rõ những tồn tại, thiếu sót trong công tác GDTC và thể thao học đường trong những năm qua:
“Có sự chỉ đạo thống nhất từ Bộ xuống các trường và có được sự chăm lo bước đầu về các điều kiện đảm bảo như cán bộ, cơ sở vật chất và kinh phí, thống nhất hội thể thao Đại học, chuyên nghiệp Việt Nam từ cơ sở lên toàn ngành và hoạt động có nhiều cố gắng và kết quả, có mối quan hệ quốc tế rộng rãi và có vị trí xứng đáng.”[4]
Bộ GD & ĐT đã tập chung chỉ đạo các trường ĐH, CĐ tổ chức giảng dạy nội khóa theo chương trình, kế hoạch có nề nếp và đảm bảo quy phạm đánh giá quá trình học tập của học sinh sinh viên, đã quy định khối lượng kiến thức GDTC nội khóa cho toàn khóa học ĐH và CĐ là 5 đơn vị học trình (150 tiết)
được chia làm 5 học phần “Đối với học sinh, sinh viên khi hoàn thành chương
trình GDTC phải được cấp chứng chỉ môn học GDTC là điều kiện để xét tốt nghiệp”.[15]
Bộ GD & ĐT đã đánh giá việc thực hiện chương trình giảng dạy chương
trình nội khóa: “Việc dạy và học thể dục ở nhiều trường mới chỉ dừng ở hình
thức, chủ yếu cho có điểm số đánh giá mà chưa chú trọng thực chất” cũng như
“Thực hiện giảng dạy nội khóa ở các trường Đại học, cao đẳng trường có dạy thể dục là 95% và trường có chất lượng GDTC là 85% số trường”
Trang 35Hoạt động ngoại khóa là nội dung quan trọng của công tác GDTC trong nhà trường Hằng năm, bằng văn bản hướng dẫn công tác GDTC sức khỏe, y tế
trường học của mình, Bộ GD & ĐT đã xác định nhiệm vụ cụ thể là: “Tích cực
đẩy mạnh các hoạt động ngoại khóa ngoài trời, khuyến khích sinh viên tập luyện vào thời gian rỗi, các trường cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất, giáo viên hướng dẫn để sinh viên được tập luyện thường xuyên, nề nếp”.“Hướng dẫn, khuyến khích sinh viên tập luyện vào thời gian rỗi, duy trì nề nếp tập luyện thể dục buổi sáng, tập luyện và kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể hàng năm”
Tuy vậy, trong thực tế, việc rèn luyện thể chất và tập luyện TDTT của học sinh, sinh viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, kể cả trong nhận thức về vị trí, công tác chỉ đạo và đầu tư các điều kiện đảm bảo, các hình thức và nội dung hoạt động ngoại khóa của sinh viên còn quá ít ỏi, số sinh viên trực tiếp tham gia tập luyện còn hạn chế, điều kiện đảm bảo về cán bộ và cơ sở vật chất còn khó khăn
“Do đó, cả quy mô và chất lượng người tập nâng cao thành tích thể thao trong học sinh, sinh viên còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thể thao học đường”
Trong những năm qua, Bộ GD & ĐT đã đầu tư xây dựng một số công trình thể thao phục vụ cho công tác giảng dạy và thi đấu thể thao của sinh viên
Bộ GD & ĐT đánh giá: “60% số trường không có đủ điều kiện về sân bãi và
thiết bị tối thiểu phục vụ giảng dạy và học tập TDTT Nhu cầu nhà tập luyện TDTT đôi với mỗi trường ĐH là rất lớn và cần thiết, nhưng số lượng hiện có chỉ đếm trên đầu ngón tay” “Các trường ĐH và CĐ cũng nằm trong tình trạng không có đất dùng cho xây dựng các công trình TDTT”
Công tác cán bộ: Là một bộ phận trong giáo dục - đào tạo quốc dân, GDTC luôn tồn tại hai lực lượng chính là thầy và trò Thầy giáo trong GDTC bao gồm giáo viên TDTT, huấn luyện viên, hướng dẫn viên Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước yêu cầu phát triển công tác giáo dục của ngành Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ giáo viên TDTT đã tận tụy phấn đấu cho
mục tiêu cao quý của GDTC học đường là: “Nhằm giúp con người phát triển
cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”
Trang 36Nguyên nhân của hiện trạng đó là: Quan điểm về xây dựng quy mô và chất lượng đội ngũ giáo viên TDTT trong trường học còn chưa được nhất quán
từ trung ương đến địa phương và cấp trường Hệ thống mạng lưới đào tạo giáo viên còn thiếu lại chưa được tăng cường về cơ sở vật chất Đầu tư kinh phí cho đào tạo giáo dục thể thao còn ít ỏi, hệ thống chính sách chế độ đãi ngộ giáo viên
TDTT còn thiếu và chưa được giải quyết kịp thời: “Hệ thống các cơ sở giáo
viên TDTT tuy có được mở rộng nhưng chưa có một quy hoạch thống nhất, cơ
sở vật chất và cán bộ tại các cơ sở giáo dục đào tạo còn yếu và thiếu Chế độ chính sách không động viên được đội ngũ giáo viên TDTT”
Bộ đã ra được những văn bản hướng dẫn công tác kế hoạch tổ chức hoạt
động của bộ môn GDTC Trong đó đã xác định: “Bộ môn TDTT có nhiệm vụ
giúp hiệu trưởng nghiên cứu lập kế hoạch và tổ chức tiến hành tổ chức các hình thức GDTC (giảng dạy nội khóa và hoạt động ngoại khóa) đối với học sinh trong trường”
Công tác kế hoạch có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị, tiến hành và kiểm tra chất lượng GDTC trong nhà trường Nhưng trong thực tế hiện nay, ở một số trường Đại học và cao đẳng , các bộ môn GDTC còn chưa làm tốt công tác này
1.3 Các khái niệm liên quan đến phát triển thể chất
1.3.1 Thể chất và phát triển thể chất
Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển
do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)
TDTT gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển thể chất Đó là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người (tương đối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực thể chất Chúng được hình thành “trên” và “trong” cái nền thân thể ấy
Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng Thể hình nói về hình thái, cấu trúc của cơ thể, bao gồm trình độ phát triển, những chỉ số tuyệt đối về hình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng tư thế Còn năng
Trang 37lực thể chất lại chủ yếu liên quan với những khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể, thể hiện chính qua hoạt động cơ bắp… Nó bao gồm các tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền , độ dẻo, sự khéo léo…) và những năng lực vận động cơ bản của con người (đi, chạy , nhảy, ném, leo trèo,
bò, mang vác…) Khả năng thích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu
về chức năng của cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với các bệnh tật Còn trạng thái thể chất chủ yếu nói về tình trạng cơ thể qua một dấu hiệu về thể trạng, được xác định bằng các cách đo tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, dung tích sống, lực tay, chân, lưng…trong một thời điểm nào đấy
Đặc trưng của sự phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào các nguyên nhân tạo thành (điều kiện bên trong và bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một số quy luật về tính di truyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sự thống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi trường, giữa hình thức - cấu tạo và chức năng của cơ thể
Từng người và xã hội không thể tùy ý thay bỏ hoặc làm ngược lại những quy luật khách quan này Chỉ có thể đạt hiệu quả phát triển thể chất tốt nếu nhận hiểu ra được rồi biết tuân theo, vận dụng, tác động theo những phương hướng,mục đích nhất định, nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của từng cá nhân và xã hội Xét từ ý nghĩa ấy, TDTT là một nhân tố xã hội chuyên môn nhằm tác động có chủ đích và hợp lý đến quá trình phát triển thể chất của con người, chủ yếu là về các tố chất vận động và những kỹ năng vận động quan trọng trong đời sống
Liên quan với các khái niệm trên, sự hoàn thiện thể chất lại là mức tối ưu (tương đối với một giai đoạn lịch sử nhất định) của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác trong đời sống; phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của từng người; phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực, bền lâu và có hiệu quả.[38]
Trang 381.3.2 Bài tập TDTT và chuẩn bị thể lực
1.3.2.1 Bài tập TDTT
Bài tập TDTT là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích phù hợp với các quy luật GDTC Người ta dùng chúng để giải quyết những nhiệm vụ GDTC, đáp ứng những yêu cầu phát triển thể chất và tinh thần của con người.[38]
1.3.2.2 Chuẩn bị thể lực
Khi dùng thuật ngữ “chuẩn bị thể lực” người ta chủ yếu muốn nhấn mạnh tới phương hướng, mục đích chuẩn bị thể lực thực dụng cho lao động hoặc hoạt động cụ thể nào đó trong thực tế, đòi hỏi một trình độ chuyên môn chuẩn bị thể lực đáp ứng cụ thể hơn.[38]
Chuẩn bị thể lực: Là một quá trình GDTC không chuyên môn hóa hoặc
chuyên môn hóa tương đối ít, nhằm tạo những tiền đề chung rộng rãi về thể lực
là chính để có thể đạt kết quả tốt trong một hoạt động (hoặc một số hoạt động) nào đó
Thể lực là năng lực của chức năng và năng lực vận động của cơ thể
Thể lực gồm các tố chất thể lực: nhanh, mạnh, bền, khéo lẻo, mềm dẻo
Nó là nền tảng rộng rãi cho các hoạt động của cơ thể
Chuẩn bị thể lực chuyên môn: Lại chỉ nhằm phục vụ cho yêu cầu chuyên
biệt hẹp theo từng nghề, môn thể thao, thậm chí động tác (kỹ thuật) trong từng tình huống cụ thể; thường được đặt trên nền và sau chuẩn bị thể lực
Thể lực chuyên môn chỉ phục vụ cho yêu cầu chuyên biệt của môn chuyên sâu
Thể lực chuyên môn chỉ có thể được phát triển tốt trên nền tảng của thể lực đồng thời được phát triển sau khi đã phát triển thể lực.[38]
1.3.3 Giảng dạy thể lực
Giảng dạy thể lực (còn gọi là quá trình giáo dục các tố chất thể lực và chuyên môn) là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và theo kế hoạch sắp xếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm phát triển các mặt chất lượng và
Trang 39khả năng vận động Quá trình ấy tác động sâu sắc đối với hệ thần kinh, cơ bắp
cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người
Thông thường tố chất thể lực được chia thành 5 loại cơ bản: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động (khả năng
linh hoạt)
Điểm đặc biệt của quá trình chuẩn bị thể lực là phải củng cố được những
điểm còn yếu trong cơ thể, những cơ quan chậm phát triển
Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều chuyên gia đầu ngành lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn luyện thể thao trong nước: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn Chúng ta thấy các nhà khoa
học đều cho rằng "Quá trình huấn luyện thể lực cho người tập là hướng đến việc
củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơ quan trước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác động đến quá trình phát triển của các tố chất vận động".[38] Đây có thể coi là điểm có xu hướng sư
phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động
Quan điểm khác theo xu hướng y sinh học mà chúng tôi ghi nhận của các
nhà khoa học Việt Nam: Lưu Quang Hiệp, Lê Tấn Đạt, "Nói đến giảng dạy
thể lực trong thể thao là nói tới cơ thể người tập dưới tác động của tập luyện
được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp".[24] [28]
Đồng thời chúng tôi thấy một số chuyên gia Việt Nam đề cập vấn đề này
dưới góc độ tâm lý, Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem cho rằng: "Quá trình
chuẩn bị thể lực là quá trình giải quyết khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật và sự phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập
thể và thi đấu".[40][43]
Qua các ý kiến nêu trên, chúng tôi nhận thấy chuẩn bị thể lực sự tác động
có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) đến người tập nhằm hình thành và phát triển lên một mức độ mới của khả năng vận động biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất, đồng thời còn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với các năng lực vận động của người tập, nâng cao các yếu tố tâm lý trước hoạt động đặc trưng của mỗi môn
thể thao
Trang 40Hoạt động thể lực rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào công suất hoạt động cơ cấu động tác và thời gian gắng sức Mỗi một dạng hoạt động đồng thời đòi hỏi cơ thể phải thể hiện khả năng hoạt động thể lực của mình về một mặt nào
đó Như vậy khả năng hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là các tố chất thể lực (tố chất vận động) Dựa trên quan điểm tố chất thể lực chúng tôi đi sâu vào đặc điểm của từng tố chất Và dựa trên cơ sở
sinh lý, lý luận và phương pháp TDTT
Để phát triển sức mạnh tối đa trong huấn luyện cần phải hình thành những phản xạ có điều kiện phối hợp hoạt động của các trung tâm thần kinh để các cơ chủ vận có thể có trong khi hoạt động của các cơ khối kháng bị ức chế
Có thể sử dụng cả hoạt động và tĩnh lực để phat triển sức mạnh Cho các
cơ tập luyện theo chế độ đẳng trường với lực căng cơ tối đa sẽ làm cho sức mạnh của cơ tăng cao.[38]
Tố chất sức nhanh:
Đó là khả năng của con người hoàn thành một hoạt động vận động với khoảng thời gian ngắn nhất trong điều kiện được quy định
Trong hoạt động TDTT tố chất sức nhanh quy định chủ yếu đặc tính tốc
độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Người ta phân biệt ba hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:
Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động
Tốc độ vận tốc đơn (với lượng đối kháng bên ngoài nhỏ)
Tần số động tác