Đánh giá tác dụng của các bài tập Schrooth và Yoga lên các chỉ số thể chất, thể lực, sinh lý của những học sinh THCS bị gù vẹo cột sống 59 Phụ lục... 2.3 Tỉ lệ các dạng cong vẹo cột sốn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN LƯU
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP THỂ DỤC CHỮA
GÙ VẸO CỘT SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ QUANG TRUNG -THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN LƯU
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP THỂ DỤC CHỮA
GÙ VẸO CỘT SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ QUANG TRUNG -THÀNH PHỐ VINH
Chuyên ngành : Giáo dục thể chất
Mã số : 60140103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Ái Khuê
VINH - 2018
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
cô PGS.TS Hoàng Thị Ái Khuê người đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, trong khoa Giáo dục thể chất trường Đại Học Vinh, các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo, các em học sinh của trường được chọn thí điểm, cùng tất cả học viên khóa 24 GDTC Trường Đại Học Vinh đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Với kinh nghiệm nghiên cứu còn ít, bên cạnh đó thời gian nghiên cứu chưa dài nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để tôi có kinh nghiệm hơn trong các đề tài nghiên cứu sau này
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Lê Văn Lưu
Trang 41.5 Nghiên cứu trong nước và thế giới về CVCS, các bài tập chữa CVCS 26
2.1 Thực trạng cong vẹo cột sống, gù vẹo cột sống ở học sinh trường
2.2 Một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, thể lực của học sinh bị CVCS 41
3.1 Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể dục điều chỉnh CVCS dạng gù 54 3.2 Đánh giá tác dụng của các bài tập Schrothvà Yoga lên góc Cobb đánh
3.3 Đánh giá tác dụng của các bài tập Schrooth và Yoga lên các chỉ số
thể chất, thể lực, sinh lý của những học sinh THCS bị gù vẹo cột sống 59
Phụ lục
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT ĐƠN VỊ TÍNH
Kilôgam Mét Giây
Số lần
Số phút
Trang 72.3 Tỉ lệ các dạng cong vẹo cột sống của 134 em hs tại Trường THCS
Quang Trung (Theo Phương pháp Adam -Adam's Forward Bend Test) 38 2.4 Số lượng và tỉ lệ % học sinh bị cong vẹo cột sống phân theo mức độ 38 2.5 TT độ cong vẹo cs đo theo phương pháp phương pháp Cobb (độ) 39
2.7 Một số chỉ số hình thái ở học sinh nam không bị CVCS tại trường
2.8 Tần số tim, huyết áp, tần số thở và sung tích sống ở hS nam bị CVCS
và không bị CVCS ở các khối lớp tại trường THCS Quang Trung 46
2.9 Tần số tim, huyết áp, tần số thở và sung tích sống ở hs nữ bị CVCS và
không bị CVCS ở các khối lớp tại trường THCS Quang Trung 47 3.1 Để chỉnh sửa cs dạng gù, cần phải sử dụng các nhóm bài tập (n=14) 54
3.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập chỉnh sửa CVCS dạng gù cho học
3.3 Phân bố nội dung bài tập đã lựa chọn và thời gian trong buổi tập 57 3.4 Hiệu quả 3 tháng thực hành bt Schort và yoga lên độ gù cs ở học sinh 58
3.5 Tác dụng của phương pháp Schroth và Yoga lên một số chỉ số hình thái
Trang 82.2 Khác biệt chiều cao đứng của nam học sinh bị CVCS và không bị
2.3 Khác biệt cân nặng của nam học sinh bị CVCS và không bị CVCS ở
2.4 Khác biệt vòng ngực trung bình của nam học sinh bị CVCS và không
2.5 Khác biệt chiều cao đứng của nữ học sinh bị CVCS và không bị
2.6 Khác biệt cân nặng của nữ học sinh bị CVCS và không bị CVCS 44 2.7 Khác biệt vòng ngực trung bình của nữ học sinh bị CVCS và không bị
2.8 So sánh thành tích chạy 30m xuất phát cao của nam học sinh 50 2.9 So sánh thành tích chạy tùy sức 5 phút của nam học sinh 51 2.10 So sánh thành tích gập bụng của nam học sinh bị CVCS và không bị
3.1 Thay đổi độ cong cột sống (góc Cobb) sau 3 tháng thực hành theo
3.2 Thay đổi nhịp tim/phút ở nam và nữ học sinh bị CVCS trước và sau 3
3.3 Thay đổi lên tần số thở ở nam và nữ học sinh bị gù cột sống sau 3
3.4 Thay đổi lên dung tích sống ở nam và nữ học sinh bị gù cột sống sau
3.5 Thay đổi lên hệ số phổi (Demeny) ở nam và nữ học sinh bị gù cột
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gù vẹo cột sống là một trong các dạng cong vẹo cột sống Đây là dạng cong vẹo cột sống khá phổ biển ở học sinh Nguyên nhân của gù cột sống chủ yếu do ngồi sai tư thế, do sớm lao động nặng, do mang vác hoặc
do thói quen cúi khom Ngoài ra gù vẹo cột sống còn do còi xương, tật cấu trúc và bẩm sinh [20], [22], [23]
Tình trạng gù cột sống ở mức độ khác nhau đều có ảnh hưởng rõ tới quá trình hô hấp, gây đau, có thể gây biến dạng khung chậu, nếu là nữ thì trở ngại tới việc sinh con Ở các trường hợp nặng, bắp thịt bị kéo căng và có hiện tượng đau, xương ngực có thể bị biến dạng, tim phổi xê dịch vị trí, chiều dài của lưng
bị ngắn lại Xương chậu cũng có thể bị quay lệch, các cơ quan trong ổ bụng cũng có thể dịch vị trí do đó gây ảnh hưởng đến nhiều cơ quan nội tạng Gù cột sống gây biến dạng lồng ngực, tim và phổi bị chèn ép dẫn đến cản trở tuần hoàn, hô hấp gây thiếu oxy, chậm lớn, suy dinh dưỡng, sa sút trí tuệ Trẻ bị
gù thường hay đau lưng, mau mệt, học chậm thuộc bài; thể lực yếu, không đủ sức lao động và học tập Ngoài ra, gù cột sống nói riêng và CVCS nói chung ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chiều cao của cơ thể [9], [13], [19], [21], [25], [28]
Ngoài ra những em bị cong vẹo cột sống thường có tâm lý thiếu tự tin, ngại tiếp xúc với người khác nên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý của trẻ [3], [7]
Theo điều tra của một số tác giả trong nước, tỷ lệ học sinh bị cong vẹo cột sống nói chung còn cao, từ 17 đến 30% tùy vùng sinh thái [6], [9], [15] Theo nghiên cứu của Vũ Đức Thu và Cộng sự công bố năm 2001 [12], tỷ lệ cong vẹo cột sống tại một số trường phổ thông ở Hà Nội là 28,6 – 33,3% và có xu thế tăng theo cấp học Tại Nghệ An, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bông Bê
và Cộng sự [2] tại một số trường cấp 1 và cấp 2 ở thành phố Vinh, huyện Nam
Trang 11Đàn, huyện Nghi Lộc, tỷ lệ cong vẹo cột sống dao động trong khoảng 25 – 35%
Gù cột sống có thể chữa bằng nhều phương pháp khác nhau, nhưng việc can thiệp bằng việc thực hiện các động tác thể dục là phương pháp đơn giản, thuận tiện và hiệu quả Thể dục chữa gù vẹo cột sống là dùng các động tác thể dục điều chỉnh các sai lệch về cột sống [17], [25], [27], [28]
Năm 1971, ba ngành Y tế, Giáo dục và Thể dục thể thao đã ra thông tư liên bộ về chữa cong vẹo cột sống ở trẻ em nhưng hiệu quả chưa cao Theo chương trình giáo dục thể chất ở các cập học nói chung và cấp THPT nói riêng chủ yếu mới chý ý đến phát triển về thể lực chung mà chưa có chương rình
―chuyên biệt‖ cho học sinh mắc bệnh tật nói chung và học sinh cong vẹo cột sống nói riêng Thực tế những học sinh cong vẹo cột sống đang tập luyện chung một chương trình với học sinh bình thường [1]
Phương pháp Schroth là một lựa chọn không phẫu thuật để điều trị chứng vẹo cột sống của Katharina Schroth từ năm 1921 [20] Phương pháp Schroth là phương pháp chữa cong vẹo cột sống bằng cách sử dụng bài tập vẹo cột sống cụ thể dựa trên mô hình đường cong Các bài tập vẹo cột sống không giống với các bài tập truyền thống và phương pháp Schroth bao gồm một kỹ thuật thở chỉnh sửa gọi là hơi thở luân phiên còn được gọi là hơi thở góc quay Thống kê cho thấy hiện nay có hơn 100 nước trên Thế giới đã và đang nghiên cứu phương pháp này để chữa trị CVCS Điển hình các nghiên cứu như Katharina Schroth (2001) [20], Park JH, Jeon HS, Park HW (2018) [34], Fusco
C, Zaina F, Atanasio S, Romano M, Negrini A, Negrini S (2011) [17], Romano M, Minozzi S, Bettany-Saltikov J and et al (2012) [42], Ngoài phương pháp Schort thì phương pháp yoga (sử dụng các tư thế) cũng được sử dụng để chỉnh sửa CVCS như nghiên cứu của Monroe M (2010) [31], Miller
E (2007) [32], Loren M Fishman, Md, Erik J Groessl, Phd, Karen J Sherman (2014) [28]
Trang 12Để góp phần điều chỉnh cột sống, tăng cường sức khỏe, thể lực, thể chất
cho học sinh Chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu lựa chọn bài tập chữa
gù vẹo cột sống cho học sinh THCS Quang Trung, Thành phố Vinh”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu thực trạng học sinh bị cong vẹo cột sống, gù vẹo cột sống ở trường THCS Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
+ Thống kê số lượng học sinh các khối lớp từ khối 7-9
+ Khám cột sống để xác định số lượng và tỉ lệ CVCS và phân loại CVCS + Đo độ CVCS theo phương pháp Cobb để xác định mức độ CVCS
+ Đo các chỉ số hình thái, sinh lý và tố chất thể lực ở học sinh bị CVC và không bị CVCS có cỡ mẫu tương đương
3.2 Lựa chọn và tìm hiểu tác dụng của một số bài tập thể dục can thiệp lên những học sinh bị gù vẹo cột sống thông qua một số chỉ tiêu thể lực, thể chất, sinh lý
+ Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể dục chỉnh cột sống bị gù theo phương pháp Schort;
+ Thiết kế phiếu điều tra và điều tra lựa chọn tư thế yoga sử dụng để chỉnh sửa gù cột sống
+ Thống kê phiếu điều tra, chọn những tư thế yoga phù hợp với chỉnh sửa cột sống bị gù
Trang 13+ Lập kế hoạch thực nghiệm (hệ thống bài tập, kế hoạch tập)
+ Xử lý số liệu, lập bảng biểu đánh giá
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Chủ thể nghiên cứu: Bài tập chữa gù vẹo cột sống cho học sinh THCS tại
Thành phố Vinh
Khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng đánh giá thực trạng cong vẹo cột sống: toàn bộ học sinh trường
THCS Quang Trung- TP Vinh
- Đối tượng thực nghiệm: 30 học sinh bị gù vẹo cột sống ngực
- Đối tượng điều tra lựa chọn bài tập thể dục: Nhà khoa học, bác sĩ chỉnh hình tại Bệnh viện chỉnh hình Nghệ An
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng thực nghiệm
- Bị gù cột sống ngực tư thế ở mức độ I, II
- Có khả năng bố trí thời gian tập luyện
- Không bị các dị tật khác ảnh hưởng đến CVCS và vận động như chiều dài chân không bằng nhau hoặc bại liệt
- Không bị các bệnh lý về hô hấp, tim mạch không đủ điều kiện sức khỏe để tập
Tiêu chuẩn loại trừ
- Gù vẹo cột sống cổ và thắt lưng
- Gù đoạn cột sống ngực kèm thheo CVCS dạng C, chữ S hoặc ưỡn
- Tham gia thực hành bài tập dưới 90% số buổi tập
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Nghiên cứu chỉ tiến hành lựa chọn bài tập thể dục chữa gù vẹo cột sống ngực tư thế ở mức độ I, II
5 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu trước sau
5.2 Phương pháp tính cỡ mẫu thực nghiệm
Tính cỡ mẫu để tiến hành nghiên cứu can thiệp được tính theo công thức:
) (
) 1 ( 2
ES
r xCx
) 3333 0 (
) 8 0 1 ( 85 7
= 28 Trong đó:
C: Hằng số liên quan đến sai sót loại I (α = 0,05 ) và loại II ( β = 0,95 ) ES: là hệ số ảnh hưởng
r: là hệ số tương quan
Đề phòng bỏ cuộc, đề tài lựa chọn 30 học sinh bị gù vẹo cột sống ngực mức độ I, II
5.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
- Mục đích sử dụng phương để thu thập các tài liệu khoa học, các đề tài khoa học có liên quan để phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của đề tài
5.4 Phương pháp điều tra
- Phát phiếu điều tra cho phụ huynh để biết thông tin về thời gian bị CVCS (bẩm sinh hay tự phát)
- Điều tra lựa chọn các tư thế yoga chữa gù vẹo cột sống ngực mức độ I,
II từ các nhà khoa học Y học chỉnh hình
5.5 Phương pháp xác định cong vẹo cột sống
Trang 155.5.1 Xác định loại cong vẹo cột sống theo Phương pháp Adam (Adam's Forward Bend Test)
Cách thực hiện
- Cho học sính đứng thẳng trên
mặt phẳng, dùng bút mực kẻ một
đường thẳng nối giữa hỏm chẩm và
điểm giữa xương cùng
- Học sinh cúi lưng xuống đến
khi cột sống nằm ngang, hai tay thả
lỏng Lúc này mỏm gai của cột sống
hiện rõ, lấy mực khác màu kẻ
đường nối các mỏm gai Từ
quan sát xác định loại cong vẹo
cột sống
Hình A Phương pháp Adam Test xác định gù vẹo cột sống
5.5.2 Xác định độ gù cột sống theo phương pháp Cobb
- Xác định vị trí của xương sống nghiêng nhất ở đầu đường cong và vẽ một đường song song tới tận cùng của cột sống
- Xác định vị trí của xương sống nghiêng nhất ở cuối đường cong và vẽ một đường song song với phần cuối cùng của cột sống thấp hơn
- Xoá các đường giao nhau vuông góc với hai đường song song
- Góc tạo thành giữa hai đường song song là góc Cobb
Trang 16- Đặt thước đo trên mặt phẳng
cứng, có điểm tựa Cần đảm bảo là
thước đứng vững, vuông góc với mặt
đất nằm ngang
- Tháo bỏ giầy dép, cặp tóc
hay thứ gì trên đầu làm ảnh hưởng
đến việc đo chiều cao
Trang 17- Đối tượng đứng: dựa lưng vào thước, bàn chân ở giữa thước - gót chân, bắp chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước (6, 7,
- Học sinh cởi bỏ dày dép, mặc quần áo nhẹ đứng ngay ngắn trên bàn cân
- Khi cân, đợi kim chỉ trọng lượng cố định, không chuyển động nữa thì đọc kết quả chính xác tới 0,1kg
Trang 18Đánh giá tố chất thể lực theo tiêu chuẩn kiểm tra thể lực của học sinh do Bộ Giáo dục ban hành Đề tài chúng tôi chỉ đánh giá tố chất nhanh mạnh, độ linh hoạt của cột sống và sức mạnh nhóm cơ bụng; sức bền bằng test chạy 5 phút tùy sức
* Cách đánh giá thành tích test nằm ngửa gập bụng
+ Mục đích: Đánh giá sức mạnh bền nhóm cơ bụng và độ linh hoạt cột sống
+ Dụng cụ: Thảm tập luyện, đồng hồ bấm giây
+ Kỹ thuật động tác: Người thực hiện ở tư thế nằm ngửa trên thảm, hai bàn chân đặt trên sàn với góc khớp gối 900, hai bàn tay bắt chéo đặt trên vai Một học sinh khác hỗ trợ bằng cách dùng 2 tay cố định cẳng chân Khi nghe hiệu lệnh ―bắt đầu‖ vận động viên gập cơ bụng nâng vai và phần thân trên lên khỏi mặt thảm đến sát đùi, hai bàn chân vẫ giữ chặt trên sàn Không được tạo
đà bằng tay Vận động viên làm trong 1 phút càng nhanh càng tốt
+ Cách tính thành tích: Mỗi lần ngả người, co bụng được tính bằng 1 lần
+ Thiết bị đo: Gồm có đồng hồ bấm dây, số đeo và tích - kê ghi số ứng với mỗi số đeo
+ Kỹ thuật động tác:Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao (tay cầm một tích–kê tươngứng với số đeo ở ngực).K hi chạy hết đoạn đường 50m, vòng bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời gian 5phút Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích-kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất Thực hiện một lần
Trang 19+ Cách tính thành tích: Đơn vị đo quãng đường chạy được là mét
* Cách đánh giá thành tích chạy 30m xuất phát cao
+ Mục đích: Đánh giá sức nhanh cơ thể
+ Thiết bị: Đồng hồ bấm giây, đường chạy thẳng có chiều dài ít nhất 40m, chiều rộng ít nhất 2m Kẻ vạch xuất phát và vạch đích, đặt cọc tiêu bằng ngửa hoặc cờ hiệu ở hai đầu đường chạy Sau đích có khoảng trong ít nhất 10m để giảm tốc độ sau khi về đích
+ Kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng ở vạch xuất phát, khi nghe hiệu lệnh xuất phát thì xuất phát cao và chạy về đích Thực hiện 1 lần
+ Cách tính thành tích: Thành tích chạy được xác định là giây và số lẻ 1/100 giây
5.9 Phương pháp thực nghiệm
Đối tượng nghiên cứu được tập các bài thể dục chỉnh gù cột sống theo
phương pháp Schort [20] và bài Yoga đã lựa chọn theo kế hoạch đã xây dựng của Trung tâm Yoga Ban Mai - Tp Vinh, tỉnh Nghệ An
Mỗi tuần tập 3 buổi, mỗi buổi tập 60 phút Thời gian tập 3 tháng
3.3.10 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được sử dụng trên phần mềm EpiInfo 7.0
Xác định độ tin cậy của lựa chọn bài tập bằng phương pháp phi tham số (Wilcoxon) thông qua phần mềm R3.0.1
6 Giả thuyết khoa học
Đề tài sẽ lựa chọn ra được một số bài tập cải thiện được mức độ gù vẹo cột sống, cải thiện hình thái, thể lực, thể chất cho học sinh Từ đó góp phần cải thiện vóc dáng, sức khỏe và trí tuệ cho học sinh
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CONG VẸO CỘT SỐNG
1.1.1 Khái niệm cong vẹo cột sống
Thuật ngữ ―vẹo cột sống‖ xuất phát từ từ Hy Lạp cổ đại ―skolios‖ (cong, cong) và được Galen (130–201 AD) thành lập lần đầu tiên [18], [23]
Cong vẹo cột sống (Biến dạng cột sống) là tình trạng cột sống bị nghiêng, lệch về một phía hoặc bị cong về phía trước hay phía sau, do đó cột sống không còn giữ được các đoạn cong sinh lý như bình thường của nó vốn có [18], [23]
Bình thường cột sống không hoàn toàn nằm ở tư thế thẳng đứng, mà có một số đoạn cong sinh lý trên mặt phẳng đối xứng dọc Trong tư thế đứng thẳng, nếu nhìn từ phía sau về trước, cột sống là một đường thẳng, nếu nhìn từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái, cột sống có 2 đoạn cong uốn về phía trước
là cổ và thắt lưng, 2 đoạn uốn về phía sau là ngực và cùng - cụt [18], [23], [31] Cong vẹo cột sống có 2 dạng: dạng cong và dạng vẹo
1.1.2 Khái niệm vẹo cột sống [18], [20], [23]
Vẹo cột sống là hình dạng cột sống khi nhìn từ phía sau ra trước cột sống
bị lệch sang bên trái hoặc bên phải
* Phân loại vẹo cột sống: tùy theo hình dáng cong vẹo khi nhìn từ sau ra trước, vẹo cột sống được chia làm 3 loại:
- Vẹo cột sống hình chữ C: Khi nhìn từ phía sau, đường cong có đỉnh lệch về phía bên trái gọi là vẹo cột sống dạng chữ C thuận, ngược lại đường cong cột sống có đỉnh lệch về phía bên phải gọi là dạng C nghịch Đây là dạng vẹo cột sống tự phát và thường gặp ở lứa tuổi 9-15
- Vẹo cột sống hình chữ S: Nếu cột sống có 2 đoạn cong sinh lý cong đối xứng nhau thì gọi dạng cong S thuận hoặc S nghịch Loại CVCS này chiếm tỉ lệ không cao và chủ yếu do bẩm sinh
* Một số hình ảnh vẹo cột sống ở các dạng
Trang 21
Hình 1.1 Vẹo cột sống hình chữ C thuận và C nghịch
.Hình 1.2 Vẹo cột sống hình chữ S nghịch
Trang 221.2.3 Khái niệm gù cột sống
Gù cột sống thường xuất hiện cột sống bị cong ở đoạn cột sống ngực Nếu nhìn từ trước sau thì cột sống vẫn nằm trên một đường thẳng, nhưng khi nhìn từ traí sang phải hoặc ngược lại thì cột sống bị cong lõm ra trước và lồi ra sau Khi
bị gù cột sống thì phẩn đầu, vai cổ có xu hướng đổ về trước và hướng xuống dưới
Gù cột sống (từ tiếng Hy Lạp κυφός kyphos , một bướu) là một lồi quá mức
bất thường phía sau và tạo lõm cột sống hướng phía trước ở đoạn đốt sống ngực và cổ Gù cột sống thường gặp tỉ lệ ở nam cao hơn nữ
Hình 1.3 Hình ảnh mô tả cột sống bị gù
* Phân loại gù cột sống
- Chứng gù tư thế là loại phổ biến nhất, và hiếm khi gây nên các vấn đề bệnh
lý Gù do tư thế gặp ở học sinh trong độ tuổi đi học, phổ biến ở nữ hơn nam giới, và xảy ra khi xương và cơ phát triển một cách bất thường trong quá trình trẻ lớn lên, có thể là vì sai tư thế khi học tập, sinh hoạt Thông thường, gù do tư thế thường phát hiện rõ khi trẻ bước vào độ tuổi vị thành niên
Trang 23- Gù kiểu Scheuermann's (được đặt tên theo một bác sĩ người Đan Mạch) cũng thường xuất hiện khi trẻ đến tuổi thiếu niên Loại gù này làm cho đốt sống trông giống như hình nêm thay vì hình chữ nhật trên hình ảnh X quang
Gù kiểu Scheuermann phổ biến hơn ở các bé trai hơn là các bé gái và có thể di truyền trong gia đình
- Gù bẩm sinh xảy ra khi xương sống phát triển bất thường trong khi đứa trẻ vẫn còn trong bụng mẹ Một số đốt sống có thể hợp nhất với nhau, hoặc xương
có thể hình thành không chính xác
Ngoài vẹo cột sống và gù cột sống còn có loại CVCS dạng ưỡn (đoạn thắt lưng cong quá gọi là ưỡn Nếu đoạn thắt lưng cong ngược lại ra trước gọi là còng Nếu không còn độ cong sinh lý gọi là bẹt
1.2.4 Phân loại cong vẹo cột sống theo Hiệp hội nghiên cứu cột sống [18], [23]
- Vẹo cột sống tự phát: Vẹo cột sống ở trẻ nhỏ dưới 4 tuổi, 90% - 95% tự khỏi, không cần điều trị, vẹo cột sống ở trẻ nhỏ thường tiên lượng rất kém và thường dẫn đến những biến dạng lớn nếu không được can thiệp phục hổi chức năng sớm trong giai đoạn đang tiến triển Các đường cong vẹo cột sống ở trẻ nhỏ hay gặp ở ngực, chiều lồi ở bên trái và trẻ trai thường gặp hơn trẻ gái Vẹo cột sống ở trẻ thiếu nhi từ 4 tuổi đến 9 tuổi chiếm từ 10% - 20% các loại vẹo cột sống ở trẻ em Vẹo cột sống ở tuổi vị thành niên là lứa tuổi 10 đến khi xương trưởng thành, đây là loại vẹo cột sống phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 80- 85% số bệnh nhi vẹo cột sống cần điều trị, thường gặp ở trẻ gái đường cong ở ngực phải
- Vẹo cột sống do biến dạng bẩm sinh: có thể do sự phát triển bất thường của xương, biến dạng bất thường của thân đốt sống, có thể do sự phát triển bất thường của tủy sống như rối loạn sản tủy cũng có thể do các nguyên nhân phối hợp sự bất thường của xương phối hợp với liệt
Trang 24- Vẹo cột sống do nguyên nhân thần kinh cơ: do các bệnh lý về thần kinh như bại liệt, bại não, bệnh rỗng tủy sống và cũng có thể do bệnh lý về cơ như teo cơ tiến triển
- Vẹo cột sống do rối loạn mô giữa: Vẹo cột sống do rối loạn mô giữa có thể
do bệnh Marfan hoặc co rút đa khớp bẩm sinh
- Vẹo cột sống do chấn thương: do gẫy cột sống, phẫu thuật cột sống hoặc nguyên nhân ngoài cột sống như bỏng, tạo hình ngực
- Vẹo cột sống do kích thích: thường do các bệnh lý về u tủy sống hoặc kích thích rễ thần kinh
- Vẹo cột sống do nguyên nhân khác: thường do rối loạn chuyển hóa, rối loạn nội tiết, rối loạn dinh dưỡng
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CONG VẸO CỘT SỐNG LÊN CƠ THỂ
1.2.1 Ảnh hưởng của CVCS lên hình thái cơ thể
Đường cong vẹo cột sống ảnh hưởng lên tư thế và vận động cơ thể vì có thể gây ra những thay đổi về cân bằng và căn chỉnh cơ thể Tùy thuộc vào nơi vẹo cột sống được tập trung, và mức độ cong, một đứa trẻ có thể áp dụng các
vị trí bồi thường trong một nỗ lực để bù đắp, hoặc chống lại, sự mất cân bằng cảm thấy CVCS có thể làm biến dạng lồng ngực, bướu ngực, gây nhô vai, xương chậu bị nghiêng, Điều này có thể bao gồm: nghiêng đầu, nhô vai, luôn
ôm một cánh tay vào cơ thể, nghiêng sang một bên, đứng với một chân phẳng
và với một chân trên ngón chân, xoay vòng eo sang một bên, và biến chân trong nhiều hướng khác nhau để tạo tư thế đúng hoặc giảm bớt sự khó chịu Tư thế mới cũng có thể được áp dụng để tạo điều kiện thoải mái cho việc ngồi, đi
bộ và chạy bộ [15], [19], [21]
Cột sống bị cong vẹo sẽ ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, từ đó ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất cũng như sự sinh trưởng và phát triển cơ thể Các nghiên cứu của Laguia M, Maruenda JI, Perez-Encinas C, Barrios C (2005) [26], Stirlings, A.J., Howel & Millner, P.A (1996) [40] đều cho thấy, chỉ số cao đứng, cân nặng của trẻ đều thấp hơn so với những trẻ không bị CVCS
Trang 25Grivas TB, Arvaniti A, Maziotou C, Manesioti MM, Fergadi A (2002) [theo 29], khi nghiên cứu 3.631 trẻ em về chỉ số cân nặng và BMI đã cho thấy,nhóm trẻ em không bị CVCS có tỉ lệ thừa cân béo phì cao, trong khi đó nhóm trẻ em
bị CVCS lại có 27,2% Ở nhóm bị CVCS sau khi trị liệu điều chỉnh cột sống , sau 3 tháng, chiều cao trung bình tăng 1,15 cm ở bé trai và 1,3 cm ở bé gái
1.2.2 Ảnh hưởng của CVCS lên chức năng hô hấp, tuần hoàn
Vẹo cột sống ngực mức độ nhẹ có ảnh hưởng đến thể tích lồng ngực và
chức năng tim, nếu CVCS nặng thì gây nên những biến chứng nặng nề ddooiss với chức năng tim và tuần hoàn mạch máu Sự mất cân bằng trong tư thế, giảm lượng không khí và sự phân phối oxy thích hợp đến phổi thông qua các tĩnh mạch máu gây thêm căng thẳng cho tim Ngoài ra, hình dạng bất thường của phổi, và sự dịch chuyển của các cơ quan nội tạng khác có thể làm tăng nhịp đập và áp lực máu trong tim Đối với trẻ em đã phẫu thuật tim nếu bị CVCS càng nguy hiểm để tim hồi phục ở trạng thái bình thường Vẹo cột sống không ảnh hưởng đến cơ tim và van tim [16], [21], [22], [24], [38], [44]
Mức độ CVCS tỉ lệ thuận với chức năng phổi, nghĩa là độ CVCS càng cao thì rối ảnh hưởng đến hình thái, chức năng phổi càng lớn CVCS ảnh hưởng làm giảm thể tích lồng ngực, có thể gây biến dạng lồng ngực, bướu ngực Độ cong vẹo càng lớn thfi lồng ngực càng bị nén, cơ quan trong lồng ngực càng bị chèn áp, gây bóp méo phổi và tăng áp lực tác động lên tim Dẫn đến giảm thể tích lồng ngực, gây suy yếu cở hô hấp bám ở thanh ngực, dẫn đến giảm thể tích phổi, dung tích phổi và các chỉ số chức năng như dung lượng phối, dung tích sống, thông khí phổi [22], [24], [38], [44]
Các cơ hô hấp ở thành ngực bị suy yếu, khớp nối giữa xương sườn với cột sống và xương ức bị khiếm khuyết, sẽ ảnh hưởng đến cơ học của hô hấp Để đáp ứng được lượng khí cho cơ thể hoạt động và sinh hoạt thì cơ chế hoạt động
bù đắp thiếu hụt xuất hiện, tần số thở tăng, tần số tim tăng, một số nhóm cơ hô hấp làm việc quá tải, dẫn đến căng thẳng trung tâm điều khiển và điều hòa hô
Trang 26hấp Tình trạng quá tải và suy nhược kéo dài có thể dẫn đến teo phổi không thể đảo ngược và giảm khối lượng phổi [21], [22], [24], [38], [44]
Khi bị CVCS, các cơ hô hấp chính như cơ ngực, cơ răng, cơ liên liên ở một vùng nào đó của lồng ngực (nếu CVCS độ nhẹ và dạng chữ C hoặc gù), hoặc phần lớn lồng ngực bị co cứng hoặc ở dạng không hoạt động Những người CVCS thường hô hấp nông và nhanh nên ảnh hưởng đến hoạt động của
cơ hoành, thậm chỉ còn tạo nên hiện tượng thở nghịch của cơ hoành Do vậy khi hít vào sẽ giảm các đường kinh trên dưới, trước sau và bên của lồng ngực
1.3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CONG VẸO CỘT SỐNG
Điều trị cong vẹo cột sống bao gồm nẹp cột sống, vật lý trị liệu và phẫu thuật Hiện nay, có khá nhiều cách trị cong vẹo cột sống được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế, phòng khám cơ xương khớp Thế nhưng, việc chọn biện pháp nào để áp dụng và cho hiệu quả cao nhất còn tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và tình trạng bệnh lý cụ thể ở mỗi người Bởi phương pháp nào cũng
có ưu và nhược điểm riêng [20]
- Trị cong vẹo cột sống bằng cách dùng thuốc: Một số loại thuốc Tây y,
Đông y có thể sử dụng để giúp giảm đau khi bị vẹo cột sống Tuy nhiên, hiệu quả chỉ duy trì trong thời gian ngắn, tình trạng đau nhức cột sống vẫn tái phát trở lại, chưa kể việc uống thuốc còn phát sinh nhiều tác dụng phụ gây hại cho gan, thận, dạ dày,…
- Cách trị cong vẹo cột sống bằng phẫu thuật: Đây là biện pháp chỉ được
tiến hành tại các bệnh viện lớn được Bộ Y tế cấp phép thực hiện phẫu thuật, sau phẫu thuật tình trạng vẹo cột sống có thể được cải thiện
Tuy nhiên, phẫu thuật chỉ áp dụng cho các trường hợp vẹo cột sống quá nặng, các biện pháp điều trị khác áp dụng không hiệu quả Chưa kể phẫu thuật rất tốn kém, nguy cơ tái phát khá cao, nếu thất bại sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cột sống của người bệnh, trở thành gánh nặng cho gia đình và
xã hội
Trang 27- Chữa cong vẹo cột sống bằng vật lý trị liệu: Đây là biện pháp điều trị tự
nhiên, bác sĩ sẽ tạo ra các kích thích sinh lý hoặc cơ học tác động lên phần cột sống bị cong vẹo, từ đó điều chỉnh lại sai lệch Phương pháp này được áp dụng phổ biến tại nhiều nước phát triển trên thế giới, mang lại hiệu quả cao và hạn chế tái phát rất tốt [20], [25], [30]
Thông thường, khi thực hiện vật lý trị liệu, bác sĩ có thể kết hợp thêm một
số biện pháp trị liệu khác như châm cứu, xoa nắn bằng tay nhằm mang lại kết quả tốt nhất Phương pháp này không gây hại cho sức khỏe và xương khớp của người bệnh, ít tốn kém và không cần phẫu thuật hay dùng thuốc [35]
- Chỉnh cong vẹo cột sống bằng bài tập thể dục: Sử dụng các động tác thể dục phù hợp với đặc điểm cong vẹo cột sống như phương pháp Schort và phương pháp Yoga Cách chỉnh sửa CVCS bằng bài tập thể dục được đánh giá
an toàn, hiệu quả và không gây tác dụng phụ gì cho người bệnh Tuy nhiên sử dụng bài tập thể dục chỉ có hiệu quả cao đối với CVCS độ nhẹ Có thể loại bỏ hoàn toàn CVCS độ I và giảm độ cong vẹo ở mức CVCS độ II
- Chỉnh cột sống bằng cách nẹp, giằng hoặc áo cố định cột sống: Phương pháp này chỉ có tác dụng tạm thời, không tác động vào cơ chế tự điều chỉnh của hệ thống cơ, dây chằng, đốt sống để điều chỉnh cong vẹo Giúp ngăn ngừa
sự tiến triển lên nặng độ cong vẹo cho người mặc Tuy nhiên việc chằng hay mặc áo cố định cột sống cũng gây ra cảm giác khó chịu
1.4 PHƯƠNG PHÁP SCHROTH VÀ YOGA TRONG TRONG CHỮA CONG VẸO CỘT SỐNG
1.4.1 Phương pháp Schroth [20], [33], [48]
Phương pháp Schroth là một lựa chọn không phẫu thuật để điều trị chứng
vẹo cột sống của Katharina Schroth từ năm 1921 Katharina Schroth là một người đã bị vẹo cột sống và không thành công với phương pháp giằng cột sống Phương pháp Schort sử dụng các bài tập tùy chỉnh cho từng bệnh nhân
để quay trở lại cột sống cong đến một vị trí tự nhiên hơn Mục tiêu của các bài
Trang 28tập của Schroth là để xoay, kéo dài và ổn định cột sống trong một mặt phẳng
ba chiều Điều này đạt được thông qua vật lý trị liệu tập trung vào:
+ Khôi phục đối xứng cơ bắp và căn chỉnh tư thế
+ Hít vào mặt lõm của cơ thể
+ Dạy cho người tập nhận thức được tư thế
Phương pháp Schroth là phương pháp điều trị vật lý trị liệu vẹo cột sống Nó dựa trên các bài tập phù hợp với độ cong cột sống của từng bệnh nhân
Phương pháp Schroth gồm hệ thống bài tập chữa chứng cong vẹo cột sống nhằm điều chỉnh đường cong bất thường Phương pháp Schort bao gồm sự kết hợp của các kỹ thuật kéo dài, tăng cường và thở Giúp dừng tiến triển đường cong, loại bỏ cơn đau và cải thiện tư thế
Bài tập Schroth có thể có lợi cho bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, bất kể mức
độ nghiêm trọng của vẹo cột sống Bài tập Schrot được thiết kế phù hợp với độ cong độc đáo của cột sống Các bài tập có thể được thực hiện trong khi đứng, ngồi hoặc nằm xuống Dụng cụ như bóng trị liệu, cột và thanh Schrot cũng được sử dụng để hỗ trợ trong việc điều chỉnh chứng vẹo cột sống
Bài tập Schroth, mặc dù khác nhau giữa các bệnh nhân bị CVCS, nhưng gồm 3 thành phần quan trọng:
+ Cơ bắp đối xứng: Những thay đổi trong độ cong của cột sống ảnh hưởng đến các cơ ở lưng Ở một bên lưng, các cơ bị suy yếu hoặc không hoạt động, còn bên kia các cơ làm việc quá sức và mạnh Bài tập Schroth được thiết
kế để giải quyết cả hai vấn đề, nhằm đạt được sự đối xứng cơ bắp
+ Thở góc quay: Thở là một phần quan trọng của Phương pháp Schroth Phương pháp này sử dụng một kỹ thuật thở đặc biệt được gọi là hơi thở góc quay Ý tưởng là xoay cột sống bằng hơi thở để giúp định hình lại lồng xương sườn và mô mềm xung quanh
+ Luôn chú ý đến tư thế: Những người bị CVCS luôn nhìn gương để điều chỉnh tư thế Gương giúp người bị CVCS phát triển nhận thức về tư thế Nhận thức được vị trí cột sống, biết được sự bất thường của hình dáng là bước đầu tiên để điều chỉnh nó Nhận thức về tư thế là đặc biệt quan trọng trong các
Trang 29hoạt động sinh hoạt hàng ngày Ở người bị CVCS sẽ luôn luôn cần phải lưu tâm đến các vị trí có thể làm cột sống bị cong vẹo hơn
Những kết quả mà phương pháp Schort mang lại
Bên cạnh việc điều chỉnh đường cong, kết quả của chương trình Schroth có thể bao gồm:
+ Tư thế được cải thiện
+ Cải thiện độ ổn định và sức mạnh cốt lõi
+ Cải thiện chức năng tim phổi
+ Tăng cường kiểm soát thần kinh cơ
+ Tăng sức mạnh cơ bắp và sức chịu đựng
+ Giảm đau lưng
+ Cải thiện mô hình chuyển động tổng thể và chức năng
+ Cải thiện khả năng tự quản lý và hiểu biết về cột sống
+ Căn chỉnh khung xương chậu tốt hơn
Bài tập Schroth cho chứng vẹo cột sống có thể đảo ngược độ cong nhanh chóng và an toàn - Không cần phẫu thuật
Liệu pháp Schroth tuân theo quy trình tập thể dục 3 bước:
1 Trước tiên là chỉnh sửa vị trí xương chậu thích hợp
2 Làm kéo dài cột sống và sau đó sử dụng các kỹ thuật thở góc quay
để di chuyển cột sống và xương sườn thành tư thế tốt nhất có thể
3 Ổn định hoạt động cơ bắp trung bình, tăng cường cơ bắp yếu và bảo
vệ tư thế sửa chữa
- Bài tập thanh treo tường giúp mở rộng các sườn bị sập dưới gờ
sườn, ngoài ra còn đảo ngược vị trí xương chậu bị lỗi
- Kỹ thuật hô hấp quay góc của Schroth giúp đẩy các xương sườn vốn
bị lõm do CVCS ra ngoài, từ đó kết hợp với các bài tập cân đối và phục hồi cơ lồng ngực hai bên, chỉnh sửa sự cong vẹo và tăng cường chức hô hấp
- Ổn định sau bài tập khắc phục: Bài tập ổn định kích thước lồng ngực
3 chiều giúp định hình lồng ngực về tự nhiên
Trang 30Hình 1.4 Một số bài tập điều chỉnh cong vẹo cột sống của Schorth
Trang 31Các bài tập cụ thể của Schort được sử dụng dựa vào đường cong cột sống và mức độ cong vẹo Các bài tập được thiết kế để giảm độ phẳng lưng, ụ sườn và phục hồi sự liên kết của xương chậu
Chương trình Schroth được trị liệu thường dài 45-55 phút và có thể dao động từ 5 phiên đến 20 buổi, thường phải đánh giá sau 2-3 tháng tập luyện mỗi lần Phương pháp Schroth là một nguyên tắc không phẫu thuật điều trị vẹo cột sống bằng cách sử dụng bài tập vẹo cột sống cụ thể dựa trên mô hình đường cong Các bài tập vẹo cột sống không giống với các bài tập truyền thống và phương pháp Schroth bao gồm một kỹ thuật thở chỉnh sửa gọi là hơi thở luân phiên còn được gọi là hơi thở góc quay
1.4.2 Phương pháp Yoga [30], [31], [32]
1.4.2.1 Khái niệm về yoga
Yoga là môn khoa học sức khỏe của Ấn Độ có từ 5000 năm trước Yoga là môn duy nhất vừa tập thể lực thông qua hàng ngàn tư thế và biến thể vừa kết hợp hít thở sâu với hơi thở hoàn chỉnh có sự kết hợp thở các phần của ngực, kết hợp hơi thở bụng ngực; vừa thiền trong khi tập
Từ 100 năm trước, yoga đã được các nhà khoa học Y học nghiên cứu ứng dụng để chữa bệnh Trong đó các tư thế yoga là phần quan trọng được các chuyên gia chỉnh hình sử dụng để điều chỉnh sự bất thường về hình dạng của
cơ thể Và họ đã nhận định "Tất cả các dạng và mức độ CVCS đều được hưởng lợi từ các bài tập yoga phù hợp"
1.4.2.2 Một số lưu ý khi sử dụng Yoga trong điều chỉnh cong vẹo cột sống
Để việc sử dụng các tư thế có hiệu quả để chỉnh sữa cột sống cần sử dụng 3 nhóm tư thế Đó là:
- Các tư thế đối kháng để tác động lực cơ học đẩy cột sống thẳng Tùy theo loại CVCS và đoạn cột sống bị cong vẹo mà sử dụng các tư thế khác nhau
- Các tư thế kết hợp với hơi thở làm tăng linh hoạt cột sống Giúp các thành phần quanh cột sống như cơ, dây chằng, gân được linh hoạt tạo điều kiện tuần hoàn máu lưu thông và giúp cải thiện tư thế dễ dàng
- Các tư thế giúp kéo giãn cột sống theo trục thẳng Kéo dài cột sống ngoài giúp chỉnh cột sống còn có tác dụng giảm đau lưng
Trang 32- Các tư thế tăng cường sức mạnh các cơ yếu, cơ bị liệt và đưa các cơ co mạnh quá mức về trạng thái co bình thường
- Bên cạnh các tư thế, yoga còn giúp người tập luôn nhận thức được hơi thở, tập trung và điều chỉnh hơi thở đến các phần phổi bị chèn ép ít khí
Ngoài ra, yoga giúp chúng ta luôn nhận thức được tư thế đúng và luôn giữa tư thế đúng khi đi, khi hoạt động và cả khi ngồi làm việc hoặc nằm
1.4.2.3 Đặc điểm thực hành yoga để mang lại hiệu quả trong chỉnh cong
vẹo cột sống
1 Một tư thế yoga được cố định trong điều chỉnh độ CVCS ít nhất phải giữ được 90 giây mới có tác động đến đường cong cột sống Ví dụ để tư thế tấm ván nghiêng trụ bằng bàn tay hoặc khủy tay được khuyến nghị sử dụng trong điều chỉnh cột sống dạng cong vẹo chữ C
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng độ cong cột sống được cải thiện khoảng 32% trên tất cả các bệnh nhân Trong số 19 bệnh nhân đã tập yoga ít nhất 3 ngày một tuần, độ cong cột sống được cải thiện 40,9% Trong số những bệnh nhân này, thanh thiếu niên thấy cải thiện 49,6% về độ cong, trong khi người lớn thấy cải thiện 38,4%
2 Luôn phải thực hành hơi thở hoàn chỉnh trong yoga để lập lại hơi thở thuận của lồng ngực và bụng
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của CVCS lên hô hấp cho thấy, một
số dạng và mức độ CVCS nặng ép phổi và các cơ quan trong lồng ngực nén xuống cơ hoành, điều này dẫn đến cơ hoành bị thở nghịch, đó là khi hít vào cơ hoành bị ép lên và thở ra cơ hoành hạ xuống Hơi thở 3 phần trong yoga với
sự tập trung vừa có tác dụng giúp phổi giãn nở đều, vừa có tác dụng lập lại cơ chế thở thuận của cơ hoành, giúp cơ hoành co và hít vào sâu
3 Luôn nhấn mạnh các tư thế làm kéo dài các cơ giữa các xương sườn, như uốn cong bên và trượt bên Tạo cảm giác căng khi uốn bên lồng ngực lõm sẽ giúp nở rộng lồng ngực
4 Thực hành từ từ, giữ từng tư thế cho ít nhất năm hơi thở: Thực hành 1 tư thế yoga gồm 3 bước vào, giữ và thoát khỏi tư thế Người tập cần tuân thủ các nguyên tắc tập luyện và giữ tư thế từ 5 hơi thở trở lên vừa đó tác dụng ổn định
Trang 33lực tác động vào cột sống, vừa giúp hít thở sâu nới rộng lồng ngực phù hợp với
tư thế chỉnh sữa
5 Khi thư giãn ở tư thế savasana, đối với người bị vẹo cột sống, áp lực của sàn dưới lưng có thể khiến họ nhận thức sâu sắc về sự bất đối xứng, và họ có thể thấy mình đang cố gắng khắc phục chúng - ví dụ, làm việc để nhấn một bên của lưng trở về phía sàn - trong suốt thời gian dành để thư giãn
Khi nằm nghiêng nên chọn phần lồi của cột sống hướng xuống dưới Nếu có hai đường cong thì nằm mỗi bên vài phút
1.4.2.4 Một số lưu ý khi sử dụng yoga chữa vẹo cột sống
- Không thực hành các tư thế đảo ngược khi mức độ CVCS cao và khi bị
đau Chống chỉ định hoàn toàn các tư thế như đứng bằng đầu, đứng bằng vai vì
sẽ làm nén cột sống và làm cột sống bị lệch trầm trọng
- Không được quá chú trọng các tư thế làm giãn cột sống, giảm độ cong cột
sống mà bỏ qua các tư thế tăng linh hoạt và sức mạnh của các cơ yếu
- Đừng trở nên quá căng thẳng và áp lực về điều chỉnh độ cong cột soonsgs
sớm nhất, hoàn chỉnh nhất
Yoga được đánh giá là phương pháp thay thế Y học để điều trị chứng
CVCS ở mức độ nhẹ Yoga giúp giảm căng thẳng cho các cơ bắp làm việc quá mức và giúp tăng cường các cơ bắp yếu do ít sử dụng Thông qua yoga cho vẹo cột sống, hệ thống cơ bắp của cơ thể có thể được đào tạo để hỗ trợ cột sống trong một cách lành mạnh hơn, phù hợp
Ngoài ra, yoga cho vẹo cột sống cũng trải dài cột sống, giảm áp lực lên đốt sống và xương và mô xung quanh Các tư thế khác nhau sẽ có những lợi ích đặc biệt cho các loại vẹo cột sống cụ thể Ví dụ, những người muốn giảm một đường cong bên sẽ cần phải nhấn mạnh kéo dài cột sống trước khi nhẹ
Trang 34+ Tăng cường sức mạnh chân để giảm bới gánh nặng trọng lượng cơ thể lên cột sống
+ Yoga làm thẳng / kéo dài cột sống
+ Yoga giúp căn chỉnh các chi dưới với thân để cải thiện chức năng + Yoga có nhiều tư thế xoay tròn lưng
+ Tăng cường các cơ bắp cốt lõi để ngăn chặn sự trở lại từ thắt chặt + Kết hợp nhận thức về thở để cải thiện sự liên kết cấu trúc
* Một số loại tư thế cần tránh sử dụng khi bị vẹo cột sống vì có thể gây hại
hoặc làm cho độ vẹo trầm trọng hơn: các tư thế đảo ngược cơ thể, vặn xoắn thân, uốn nghiêng, uốn lồng ngực
- Tránh uốn ngược với thân trên: Nhiều yoga thông thường đặt ra phía sau
lưng, bao gồm rắn hổ mang, nửa mặt trăng, châu chấu và lời chào mặt trời Đây
thực sự có thể làm tăng các đường cong cột sống ở bệnh nhân vẹo cột sống
Tuy nhiên các tư thế uốn ngược như rắn hổ mang và thế châu chấu lại rất có hiệu quả trong chỉnh gù cột sống
- Tránh xoắn thân: Tư thế xoắn sống không bao giờ nên được sử dụng khi thực hiện các bài tập yoga cho vẹo cột sống Khi vai và lồng sườn bị xoắn vào vành khung chậu, chuyển động có thể làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn có trong xương sống
- Tránh uốn lồng ngực và xương sườn: Uốn lồng sườn về phía trước, ngang
hoặc sau cũng có thể làm cho đường cong trở nên tồi tệ hơn ở bệnh nhân vẹo cột sống Các tư thế loại này trong yoga như uốn cong bên, tam giác, ngồi xoắn ngực
- Tránh các tư thế đảo ngươc như thế thế đứng bằng vai, đứng bằng đầu vì các tư thế này tăng áp lực ở cổ, vai và lồng ngực nên làm tăng đáng kể hình thành bướu xương sườn
1.5 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI VỀ CONG VẸO CỘT SỐNG VÀ CÁC BÀI TẬP CHỮA CVCS
1.5.1 Nghiên cứu về cong vẹo cột sống
Trang 351.5.1.1 Nghiên cứu trên Thế giới
Một khám sàng lọc khác của Stirlings và Cộng sự [40] trên 15.799 trẻ em
từ 6 đến 14 tuổi ở Anh năm 1996, thì cứ 934 học sinh (5,9%) cho Focward bending test (+) và được chụp X quang sàng lọc lần 2 có 431 học sinh (2,7%)
có góc Cobb trên phim X quang lớn hơn 5 độ
Tại Singapo, theo nghiên cứu của Wong HK, Hui JH, Rajan U, Chia HP (2005) [47], đã tiến hành cuộc khảo sát xác định tỉ lệ CVCS của 72.699 học sinh trong bốn nhóm tuổi để xác định tỷ lệ phổ biến của chứng vẹo cột sống vô căn và so sánh với một nghiên cứu 15 năm trước đó Tỷ lệ chung của bệnh vẹo cột sống vô căn trong dân số trường học năm 1997 là 0,93% ở trẻ em gái
và 0,25% ở trẻ em trai Tỷ lệ phổ biến ở mức thấp từ 6 -10 tuổi nhưng tăng nhanh lên 1,37% và 2,22% đối với trẻ em gái từ 11 đến 12 tuổi và 13 đến 14 tuổi có tỉ lệ tương ứng
Tại Nhật Bản, theo điều tra dịch tễ học của Ueno M, Takaso
M, Nakazawa T, et al (2011) [45] từ năm 2003-2007 với tổng số 255.875 trẻ
em từ 11-14 tuổi Đã xác định được tỉ lệ có góc Cobb từ 10 độ trở lên chiếm 0,87%, trẻ em gái tăng từ 0,78% ở tuổi 11-12 lên 2,51% ở tuổi 13-14, trẻ em trai có tỉ lệ 0,04% ở tuổi 11-12 và 0,25% ở tuổi 13-14 Tỉ lệ gái: trai bị CVCS
là 11:1; tỉ lệ này ở tuổi 11-12 là 17:1 và 10:1 ở tuổi 13-14
Laguia M, Maruenda JI, Perez-Encinas C, Barrios C (2005 [26] đã nghiên cứu về rối loạn chức năng cơ bắp và hạn chế tập thể dục trong chứng vẹo cột sống vô căn học vị thành niên đã tìm thấy chứng CVCS ở mức độ nhẹ
có ảnh hưởng đến chức năng tuần hoàn hô hấp như tăng nhịp tim, giảm dung tích sống và thông khí phổi Mức độ ảnh hưởng tăng dần cùng với độ CVCS, khi độ CVCS >60 độ thì dẫn đến tình trạng suy hô hấp Nguyên nhân do khi bị CVCS, cơ hô hấp bị suy yếu, thể tích lồng ngực giảm, sự phân phối máu và khí không cân bằng ở phế nang Độ CVCS cao không những ảnh hưởng đến sức khỏe cơ thể khi nghỉ ngơi mà còn khó khăn khi hoạt động thể lực
Nghiên cứu của Takahashi S, Suzuki N, Asazuma T, et al (2007) [43] đã
sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa chiều nhằm kiểm tra mối liên hệ
Trang 36giữa chức năng phổi và sự biến dạng lồng ngực trong vẹo cột sống Đối tượng nghiên cứu 109 trẻ vị thành niên có tuổi trung bình 14,2 bị vẹo cột sống ngực
vô căn ở độ cong vẹo 37,7 độ Tác giả đã phát hiện hệ số tương quan cao nhất giữa CVCS và dung tích sống (VC) ở đốt sống ngực 9 (T9) và T8, với giá trị 0,61 (r2=0,411, p<0.001) và 0,625 (r2 = 0,39, P <0,0001) tương ứng Tại T9, nhiều phân tích hồi quy cho thấy đường kính của lồng ngực và tổng diện tích phổi được xác định là các yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến% VC
DiRocco PJ, Vaccaro P (1988) [16] nghiên cứu sự biến đổi chức năng tim phổi khi chạy trên máy chạy bộ của 19 thanh thiếu niên (4nam và 15 nữ) tuổi từ 10-17 (trung bình 13,4 tuổi) bị chứng CVCS ngực vô căn có đường cong trung bình 21,5 độ Kết quả nghiên cứu cho thấy: đối tượng có độ CVCS càng cao thì biến đổi nhịp tim, nhịp thở càng xẩy ra sớm hơn và đạt ngưỡng tối
đa thấp hơn người có độ CVCS thấp; độ CVCS từ 25 độ trở lên có VO2max trung bình 32,6ml / kg / phút, trong khi đối tượng có đường cong dưới 25 độ
có VO2max trung bình là 42,6ml / kg / phút
Nghiên cứu về Suh SW, Modi HN, Yang JH, Hong JY (2011), [36 ] được tiến hành tại Hàn Quốc 1.134.890 trẻ em tham gia (584.554 bé trai và 550.336 trẻ em gái) Hai nhóm tuổi đã được điều tra: 10-12 năm và 13-14 năm
Tại Hàn Quốc, theo nghiên cứu của Suh SW, Modi HN, Yang
JH, Hong JY (2011) [36], đã khám sàng lọc xác định tỉ lệ CVCS trên 1.134.890 học sinh (584.554 nam và 550.336 nữ) Nghiên cứu bắt đầu từ năm
2000 đến năm 2008 Các trẻ em được chia thành hai nhóm tuổi, 10-12 tuổi (trường tiểu học) và 13-14 tuổi (trường trung học) Kết quả nghiên cứu cho thấy, 37.339 em có góc Cobb ≥10 ° Tỷ lệ hiện bị vẹo cột sống tổng thể là 3,26%; trẻ em gái có tỷ lệ cao hơn (4,65%) so với nam (1,97%) Tỷ lệ bị CVCS tăng dần từ 1,66 lên 6,17% từ năm 2000 đến năm 2008 Theo độ tuổi và giới tính, các bé gái 10-12 tuổi có tỉ lệ vẹo cột sống cao nhất (5,57%), tiếp theo
là 13-14 trẻ em gái (3.90%), nam 10-12 tuổi (2.37%), và 13-14 tuổi trai (1.42%) Tỉ lệ bị CVCS từ 10-19 độ chiếm 84,4%, tỉ lệ CVCS 20-29 độ là 3,91
Trang 37đến 11,28% Cong vẹo cột sống đoạn ngực chiếm 47,59%, tiếp theo là đoạn ngực/thắt lưng chiếm 40,10% và đường cong ngực kép chiếm tỉ lệ 3,22%
1.5.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng cong vẹo cột sống ở học sinh Theo nghiên cứu của Trần Đình Long, Lý Bích Hồng, Nguyễn Hoài
An (1995) [8] trên học sinh phổ thông tại Hà Nội năm 1962 cho thấy, tỷ lệ biến dạng cột sống chung ở học sinh là 12% Tỷ lệ này tăng theo cấp học, ở cấp 1 là 27,4%, cấp 2 là 31,2%, cấp 3 là 34%
Trong những năm 1968 – 1969 các tác giả ghi nhận tỷ lệ mắc CVCS chung của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên là khoảng 15% – 50%, học sinh
nữ có tỷ lệ mắc cao hơn học sinh nam Tỷ lệ CVCS ở học sinh huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 1970 ở tiểu học là 54,58%, Trung học cơ sở là 77,39% và Trung học phổ thông là 59,4% [1], [4] [9]
Theo nghiên cứu của Trần Văn Dần (2005) [4], tỷ lệ CVCS ở học sinh thập kỷ 90 của thế kỷ XX từ 16% - 27% Nhìn chung tỷ lệ CVCS vẫn không giảm Theo Phạm Văn Hán (1998) [5] nghiên cứu 504 học sinh gồm 4 lớp tiểu học, 4 lớp trung học cơ sở tại thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, cho thấy tỷ lệ CVCS từ 18,9% - 27,91%
Những năm đầu của thế kỷ XXI (2000 – 2005), một số kết quả về cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông đều có nhận xét là CVCS có xu hướng tăng theo cấp học Năm 2000 – 2001, Vũ Đức Thu, Lê Thị Kim Dung và Cộng sự [12] nghiên cứu ở học sinh phổ thông Hà Nội thấy rằng tỷ lệ mắc CVCS ở các cấp là 30,8%, trong đó Tiểu học là 28,7%, Trung học cơ sở là 30,1%, Trung học phổ thông là 33,15% Triệu Đình Thanh, năm 2003 nghiên cứu ở học sinh miền núi huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thấy rằng tỷ lệ học sinh Trung học
cơ sở mắc CVCS cao gấp 1,8 lần so với học sinh Tiểu học Hình dạng cong vẹo cột sống chủ yếu là hình chữ C thuận (chiếm tới 46,1%), cong vẹo chữ C nghịch chiếm 35,7%, cong vẹo chữ S thuận chiếm 9,1%, cong vẹo chữ S nghịch chiếm 6,5%
Trang 38Theo Lê Thị Song Hương (2005) [6], ở vùng ngoại thành Hải Phòng tỷ lệ học sinh Tiểu học mắc CVCS là 12,7%, vùng nội thành Hải Phòng tỷ lệ này là 29,3% Theo Nông Thanh Sơn (2004), tỷ lệ mắc CVCS ở học sinh Tiểu học Thái nguyên là 12% - 17,3% [34]
Điều tra của các tác giả Nguyễn Thị Bích Liên, Trần Văn Dần, Nguyễn Thị Thu, Đào Thị Mùi, Lê Quang Giao (2005) [7], khi điều tra trên 2700 học sinh thuộc khối lớp 1, 5, 9 và 12 tại 12 trường phổ thông của hai quận nội thành và hai huyện ngoại thành Hà Nội năm học 2004 – 2005 cho thấy Tỷ lệ học sinh CVCS chung là 18,9%, trong đó 19,6% là nam và 18,3% là nữ Tính theo cấp học Tiểu học có 17,2%, Trung học cơ sở có 22,2% và Trung học phổ thông là 18,8% Học sinh ngoại thành bị CVCS cao hơn học sinh nội thành (ngoại thành có tỷ lệ 21,4% và nội thành có 16,3%) Tỷ lệ CVCS tăng theo cấp học Hình dáng CVCS chủ yếu ở hai dạng chữ C thuận và chữ C ngược Có mối liên quan giữa tỷ lệ CVCS với tư thế ngồi học, kích thước bàn ghế, tuy nhiên mối liên hệ này chưa chặt chẽ [26]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chỉnh, Thái Lan Anh, Nguyễn Thị Thanh Bình (2006) [2] trên 9151 học sinh (4713 nam và 4438 nữ) ở địa bàn thành phố Hải Phòng theo tại 3 khu vực thành thị, nông thôn và hải đảo năm
2005 Tỷ lệ vẹo cột sống (VCS) chung là 4,48%, trong đó nam là 4,24% và nữ
là 5,57% Tỷ lệ VCS cao nhất ở nông thôn 6,295; hải đảo 4,73%; thấp nhất ở thành phố 3,83% Tỷ lệ VCS ở học sinh nữ nông thôn và hải đảo cao hơn so với học sinh nữ ở thành phố Tỷ lệ VCS cao nhất ở Trung học phổ thông là 6,29%, đến cấp Tiểu học là 5,08% và thấp nhất là cấp Trung học cơ sở 4,38% Trong số các em học sinh bị VCS có 84% học sinh có cột sống hình chữ C (C thuận 44,7 %; C ngược 39,3%) Học sinh nam hay gặp cột sống chữ C thuận, học sinh nữ hay gặp cột sống hình chữ C ngược Gần 6% số học sinh bị VCS ở mức độ nặng [9]
Theo nghiên cứu của Hoàng Ngọc Chương và Cộng sự (2008) [3] khảo sát ở 20 cơ sở giáo dục, khám cho 3191 học sinh tại các trường phổ thông
Trang 39trong tỉnh Thừa Thiên Huế, tỷ lệ CVCS chung của học sinh là 26,9% trong đó học sinh nam là 26,6%; nữ là 26,9%, ở miền núi là 32,7%, đồng bằng là 28,5%
và thành phố 22,1% (p<0,01); có mối liên quan giữa CVCS với các yếu tố: thói quen mang cặp, bàn ghế không thích hợp (p<0,05)
Lỗ Văn Tùng [13] nghiên cứu trên 784 học sinh 3 trường Tiểu học Bắc Giang năm 2007 cho thấy tỷ lệ học sinh bị CVCS là 8,16% (tỷ lệ vẹo cột sống
là 4,08% và tỷ lệ cong cột sống là 4,08%) [39]
Đào Thị Mùi (2009) [9] cho thấy tỷ lệ học sinh Hà Nội mắc CVCS khá cao là 18,9% và tăng theo cấp học, trong đó tỷ lệ mắc CVCS ở học sinh Tiểu học là 17,0% - 17,6%, học sinh lớp 9 có tỷ lệ mắc cao nhất là 22,2%
Theo điều tra của Chu Văn Thăng (2009) [11] ở 8 tỉnh trong cả nước cho kết quả tỷ lệ VCS tăng lên theo cấp học trong đó có Hà Nội Học sinh nam Tiểu học có tỷ lệ mắc VCS chung của 8 tỉnh là 8,65%, Trung học cơ sở là 9,63% và Trung học phổ thông là 12,57% Tỷ lệ mắc VCS chung ở học sinh nam là 10,08% Học sinh nữ ở khối tiểu học là 6,3%, ở khối trung học cơ sở là 9,09% và trung học phổ thông là 10,40%, tỷ lệ mắc chung của nữ là 8,62% [36]
Ở Nghệ An, theo nghiên cứu của Ngô Thị Bông Bê, Đinh Thị Thu Hương,
Lê Thị Việt Hà (2006) [1] tỉ lệ CVCS ở học sinh THCS chiếm 35,69%
1.5.2 NGHIÊN CỨU VỀ THỂ DỤC CHỮA CONG VẸO CỘT SỐNG 1.5.2.1 Nghiên cứu trên Thế giới
Phương pháp Schroth có một di sản lâu đời của ba thế hệ trong một gia đình dành riêng để cải thiện cuộc sống của vẹo cột sống Năm 1921, Katharina Schroth bắt đầu chương trình vẹo cột sống ở Meissen, Đức và đã điều trị cho bệnh nhân với độ cong rất lớn, thường vượt quá 80º [20]
Vào những năm 1940, Frau Christa là người thay thế và giúp Katharina nâng cao kỹ thuật của phương pháp Schroth và cuối cùng bổ sung các phân loại đường cong quan trọng để điều trị Frau Christa đã giúp đỡ những người bị vẹo cột sống và thúc đẩy các kỹ thuật có giá trị của Schroth truyền bá thông tin về những lợi ích của Phương pháp Schroth trên toàn cầu Sự nghiệp của Frau
Trang 40Christa như một nhà trị liệu vật lý kéo dài hơn năm mươi năm Cô viết một cuốn
sách cho các nhà vật lý trị liệu được dịch sang nhiều ngôn ngữ có tên, Điều trị ba chiều cho vẹo cột sống: Một phương pháp vật lý trị liệu cho dị dạng cột sống, một
hướng dẫn cho các học viên sử dụng để giúp bệnh nhân [20]
Cuối cùng là tiến sĩ Weiss đã kế thừa phương pháp Schroth và cống hiến cả cuộc đời nghiên cứu, chỉnh sửa bổ sung phương pháp Schorth thành các dạng bài tập chữa CVCS đặc trưng cho các dạng cong vẹo, vửa tổ chức đào tạo cho nhiều chuyên gia sử dụng phương pháp bài tập bắt đầu làm việc để truyền bá
kỹ thuật vượt ra ngoài biên giới Đức Đến nay trên Thế giới đã có hơn 2/3 các nước sử dụng phương pháp Schroth để điều chỉnh cột sống bị cong vẹo [20]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập Schroth của tác giả Schreiber S,
Parent EC, Hedden DM, Moreau M, Hill D, Lou E (2014) [39], trong nghiên cứu này ông đã chia các bệnh nhân thành 2 nhóm, một nhóm được điều trị bằng phẫu thuật và nhóm không được điều trị bằng phẫu thuật, thu được kết quả: Cả hai nhóm bệnh nhân vẹo cột sống đạt được điểm số thể thao thấp hơn
so với nhóm đối chứng (nhóm không bị CVCS) Không có sự khác biệt giữa hai nhóm vẹo cột sống Giảm chức năng cột sống tương quan với hoạt động thể thao giảm Ở những bệnh nhân được điều trị phẫu thuật, góc Cobb tương quan với hoạt động thể thao giảm Mức độ của bệnh cột sống ở bệnh nhân được điều trị phẫu thuật không ảnh hưởng đến hoạt động thể thao của họ.Theo nghiên cứu ảnh hưởng của CVCS đến chiều cao đứng của Ylicoski M (2003) [49] ở Phần Lan trên 1500 bệnh nhân được công bố năm 2003 cho thấy, chiều cao đứng của 1500 bệnh nhân nữ liên tiếp trong độ tuổi từ 9-24 (có độ tuổi trung bình là 13,9) với chứng vẹo cột sống tự phát chưa được điều trị ít nhất là
10 độ ở đường bên của họ so với chiều cao đứng của các cô gái trung bình Độ lớn trung bình của các đường cong chính là 29,4 độ (khoảng 10 độ -80 độ) và của các đường cong nhỏ 20,3 độ (khoảng 0 độ-66 độ) Một công thức cho sự mất chiều cao gây ra bởi các đường cong bên và gây ra bởi chứng gù ngực được đưa ra Chiều cao điều chỉnh của các cô gái bị vẹo cột sống vô căn cao