BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ĐẶNG THỊ HOA PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI QUA DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CẨM XU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ HOA
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC TỰ NHIÊN - XÃ HỘI QUA DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CẨM XUYÊN (HÀ TĨNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ HOA
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI QUA DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CẨM XUYÊN (HÀ TĨNH)
Chuyên ngành: LL & PPDH Bộ môn Ngữ văn
Mã số: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển năng lực của học sinh THPT nói chung 2
2.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của học sinh THPT trong dạy học phần văn học dân gian 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1 Mục đích nghiên cứu 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 8
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 8
1.1.2 Vai trò của văn học dân gian trong phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của học sinh THPT 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Đặc điểm phần văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THPT 28
Trang 51.2.2 Thực trạng dạy học phần văn học dân gian theo định hướng phát triển năng lực tự nhiên - xã hội của HS ở trường THPT huyện Cẩm
Xuyên ( Hà Tĩnh) 35
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2 ĐỊNH HƯỚNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC TỰ NHIÊN - XÃ HỘI CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN 42
2.1 Một số định hướng nhằm phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội cho học sinh THPT trong dạy học văn học dân gian 42
2.1.1 Phát triển năng lực nhận thức tự nhiên, xã hội theo tinh thần bồi đắp, kế thừa các kiến thức mà học sinh đã có 42
2.1.2 Phát triển năng lực nhận thức tự nhiên, xã hội cho học sinh trên cơ sở bám sát đặc trưng thể loại văn học dân gian 48
2.1.3 Phát triển năng lực nhận thức tự nhiên, xã hội cho học sinh trên cơ sở phát huy các phương pháp dạy học tích cực 52
2.2 Những nội dung kiến thức tự nhiên và xã hội trong các văn bản văn học dân gian cần thiết trang bị cho học sinh THPT 54
2.2.1 Tri thức về tự nhiên 54
2.2.2 Tri thức về xã hội (con người, ứng xử, quan hệ tình yêu, gia đình, quan hệ cộng đồng ) 59
2.3 Phương pháp rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội cho HS THPT trong dạy học văn học dân gian 69
2.3.1 Phương pháp tổ chức cho học sinh chuẩn bị, tìm hiểu bài học trước khi lên lớp 69
2.3.2 Phương pháp tổ chức các giờ đọc hiểu văn bản văn học dân gian 74
2.3.3 Tổ chức kiểm tra, đánh giá 77
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 83
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 83
Trang 63.1.1 Mục đích TN 83
3.1.2 Yêu cầu TN 83
3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian và quy trình thực nghiệm 83
3.2.1 Đối tượng, địa bàn TN 83
3.2.2 Thời gian, quy trình TN 84
3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 85
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 1 119
PHỤ LỤC 2 121
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng của nền kinh tế nước ta hiện nay, việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng đòi hỏi thị trường lao động là vấn đề cần thiết và cấp bách Từ yêu cầu của thực tiễn, chúng ta đang phải đổi mới cơ bản và toàn diện hệ thống giáo dục Một trong những thay đổi lớn trong lần cải cách này là chuyển từ phương pháp dạy học thiên về cung cấp tri thức sang chú trọng bồi dưỡng, phẩm chất năng lực người học Trong các năng lực cần thiết cần tăng cường cho người học, môn Ngữ văn
có một lợi thế riêng trong việc hình thành và rèn luyện năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội cho học sinh Đề tài luận văn vì thế sẽ góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường
1.2 Văn học dân gian là bộ “bách khoa vĩ đại”, là nơi kết tinh rực rỡ những tri thức, tài năng nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của nhân dân Tri thức văn học dân gian phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn Tri thức dân gian thường được lưu truyền bằng miệng từ thế
hệ này sang thế hệ khác, có sức sống lâu bền với thời gian Tri thức dân gian thể hiện quan điểm và nhận thức của người dân lao động, trong đó có nhận thức về nhiều phương diện tự nhiên, xã hội Việc dạy văn học dân gian trong chương trình môn văn các cấp là cần thiết Riêng đối với chương trình môn Văn lớp 10 trung học phổ thông, việc giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian lại càng quan trọng vì thời lượng tác phẩm văn học dân gian được giảng dạy là rất lớn Vì thế đề tài của chúng tôi sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu phần văn học dân gian trong nhà trường
1.3 Ngay từ chương trình trung học cơ sở, học sinh đã được giáo viên hình thành năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội thông qua việc học các tác phẩm văn học dân gian Vì vậy, vấn đề đặt ra trong dạy học phần văn học dân
Trang 8gian ở chương trình THPT là giáo viên cần biết phát triển năng lực ấy cho học sinh trong tính thần kế thừa, nâng cao Mặt khác, dạy học tích hợp cũng như
sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS là vấn
đề được đặt lên hàng đầu trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Phát triển năng lực nhận thức tự nhiên - xã hội qua dạy học phần văn học dân gian ở các trường trung học phổ thông huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh)” làm đề tài luận văn, với
mong muốn góp phần nhỏ thực hiện những yêu cầu đã và đang đặt ra trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay
mô tả chất lượng đầu ra, có thể đó là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Bàn về vấn đề này tiêu biểu có tác giả Bùi Mạnh Hùng (2014), “Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực”, Kỷ yếu Hội
thảo khoa học “Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông” đã nhấn mạnh rằng môn Ngữ văn giúp phát triển các
năng lực và phẩm chất tổng quát, đặc thù thông qua các hoạt động dạy học, xoay quanh các lĩnh vực giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết [25] ; Đỗ Ngọc
Thống có bài viết “Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực”: “là cần đổi mới chương trình từ theo định hướng nội dung sang định hướng phát triển phẩm chất, năng lực” [50,14]; Trong bài “Phát triển năng lực người học qua môn Ngữ văn”, Nguyễn Xuân Lạc đã tập trung
xác định xem môn Ngữ văn cần phát triển những năng lực gì cho HS [38];
Trong báo cáo khoa học mang tên: “Dạy học phát triển năng lực học sinh
Trang 9trong thế kỉ 21”, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho thấy tính cấp thiết của việc phát
triển năng lực người học đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng nhu
cầu và xu thế đổi mới toàn cầu [40] ; Bài “Từ định hướng giáo dục phát triển năng lực học sinh nghĩ về việc dạy học văn học dân gian trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã bày tỏ những suy nghĩ về tình
trạng quá tải ở phạm vi tiết học trong dạy học VHDG ở nhà trường phổ thông Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, ảnh hưởng đến mục tiêu giáo dục phát triển năng lực [20]; Bài viết
“Thiết kế chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực đầu ra”, Tôn Quang
Cường nhấn mạnh quan điểm lấy người học làm trung tâm luôn được đánh giá cao và đã được kiểm chứng trong thực tiễn dạy học [8]; Luận văn thạc sĩ
“Dạy và học văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 theo hướng chủ động tích cực”, Nguyễn Thị Ngọc Yên có nêu: “Đổi mới là phát huy tính
chủ động, tích cực của chủ thể, tạo ra một cơ chế dạy học mới Trong cơ chế này, HS mới là trung tâm Trong dạy văn, việc đề cao tính chủ động, tích cực trong hoạt động nhận thức của HS gắn liền với việc khẳng định vai trò của
người học ”[67,15] Tài liệu tập huấn của Bộ giáo dục và Đào tạo về “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT (2014)” có thể xem là tài liệu định hướng
một cách khá toàn diện về vấn đề này Từ thực trạng dạy học ở trường THPT, tài liệu trên đã định hướng đổi mới các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục phổ thông trong đó nhấn mạnh định hướng đổi mới phương pháp dạy học
và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh [4]
2.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của học sinh THPT trong dạy học phần văn học dân gian
Văn học dân gian là một bộ phận văn học phong phú cả về nội dung lẫn
thể loại Các công trình nghiên cứu về nó khá đồ sộ Một số công trình nghiên
Trang 10cứu liên quan đến vấn đề này phải kể đến như: Tác giả Đinh Gia Khánh - Chu
Xuân Diên - Võ Quang Nhơn “Văn học dân gian Việt Nam” xuất bản năm
1997 tái bản lần thứ 6 - 2002 [29]; Các tác giả Đỗ Bình Trị, Bùi Văn Nguyên
trong “Giảng dạy văn học Việt Nam, phần VHDG ở trường phổ thông cấp 3”
(1966) [53] có đề cập đến các vấn đề: chú ý đến vai trò cung cấp kiến thức, rèn luyện các kĩ năng và giáo dục tư tưởng nhằm bồi dưỡng tình cảm cho học sinh Các tác giả còn định hướng cách tiếp cận một số văn bản văn học dân gian như: Tục ngữ, ca dao, truyện dân gian
Tác phẩm “Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu VHDG”, tác
giả Hoàng Tiến Tựu nêu cơ sở lí luận cho cho việc nghiên cứu và giảng dạy VHDG Ông đề cập đến đối tượng nghiên cứu và vấn đề giảng dạy văn học dân gian, nhấn mạnh đến vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu và giảng dạy như các thuộc tính, vấn đề phân kì, phân loại và phân vùng VHDG [61]
Nguyễn Xuân Lạc trong bài “Đổi mới cách dạy và học VHDG ở trường
phổ thông”, đặt ra vấn đề tinh thần foklore trong giảng dạy VHDG, nghĩa là
vừa lưu ý về mặt ngôn từ trong văn bản và cả đời sống của tác phẩm trong nhân dân ta qua không gian và thời gian, các phương thức diễn xướng [37]
Tác giả Lê Trí Viễn trong bài viết “Dạy và học thơ ca dân gian” chú trọng
đến tính đa chức năng và sự biến dịch trong văn chương dân gian; bên cạnh
đó, tác giả cũng giới thiệu về bài phân tích các văn bản ca dao trong chương trình phổ thông [63]
Tăng Kim Ngân thì lại phân biệt nét khác nhau giữa VHDG và văn học
viết qua bài “Khái niệm cốt truyện và sự phân biệt giữa cốt truyện của tác
phẩm văn học thành văn với cốt truyện trong truyện kể dân gian” [35]
Tác giả Đỗ Bình Trị lại đi sâu vào bản chất và đặc trưng của VHDG nhằm đưa ra những vấn đề phân tích tác phẩm tác phẩm theo quan điểm khoa
học trong “Phân tích tác phẩm VHDG” Công trình nghiên cứu này cũng đề
Trang 11cập đến thể loại, đặc trưng thể loại, phân tích tác phẩm VHDG theo thể loại
Trong công trình “Những vấn đề thi pháp VHDG”, Nguyễn Xuân Đức
trình bày thi pháp thể loại tự sự, trữ tình dân gian và một số vấn đề đổi mới giảng dạy theo cách tiếp cận thích hợp Trong phần thi pháp thể loại tự sự và trữ tình dân gian, tác giả cũng đi vào phân tích đặc trưng thi pháp một số văn bản cụ thể [19]
Tác giả Mai Văn Năm trong bài “Đa dạng hóa nội dung và hình thức
dạy học Ngữ văn địa phương” đã nhấn mạnh đến ý nghĩa và của viếc sưu tầm
VHDG, tìm hiểu phong tục, lễ nghi để HS hiểu rõ hơn văn hóa dân gian ở địa phương mình, ông liệt kê các trường ở Nam Định, Bắc Ninh đã tiến hành các biện pháp đã nêu trong dạy học bộ môn Ngữ văn và kết quả đã tác động đến thái độ học tập tích cực chủ động của học sinh [34]
Trong bài viết “Đặc thù bộ môn và vấn đề nang cao hiệu quả của việc
dạy học VHDG” của tác giả Trần Hoàng có chỉ ra khó khăn trong quá trình
dạy học VHDG hiện nay: học sinh chỉ học tác phẩm VHDG trên văn bản được ghi lại trong sách giáo khoa chứ không tiếp nhận tác phẩm như một thực thể đang tồn tại trong các sinh hoạt văn hóa gia đình, xã hội vì vậy học sinh ít hứng thú Giải pháp đưa ra là cho các em trực tiếp tiếp xúc với các nghệ nhân, xem tuồng, chèo, nghe hát dân ca, từ đây sẽ đánh thức tình cảm của học sinh với thể loại VHDG [24]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên cũng đã có những đóng góp quan trọng trong đổi mới công tác giảng dạy Nhưng dường như vẫn chưa chú trọng nhiều đến vấn đề vai trò người học, người tiếp nhận và phương pháp cụ thể Các bài viết đang còn dừng lại ở chỗ khái quát, so sánh sự khác nhau giữa VHDG với văn học viết, chỉ ra đặc điểm folklore, hay bình giảng một số tác phẩm Hầu hết chưa đề cập đến phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của HS
Trang 123 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến mục tiêu góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới PPDH Ngữ văn nói chung, PPDH văn học dân gian nói riêng theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài, bao gồm việc làm sáng tỏ năng
lực nhận thức tự nhiên và xã hội; tình hình dạy đọc - hiểu các văn bản văn học
dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực, trong đó có năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội
- Xây dựng hệ thống phương pháp, biện pháp phát triển năng lực nhận
thức tự nhiên và xã hội cho học sinh THPT qua dạy đọc - hiểu các văn bản văn học dân gian trong chương trình ngữ văn 10
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội qua dạy học phần văn học dân gian ở trường trung học phổ thông huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thực trạng dạy học văn bản văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội, từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học
- Địa bàn khảo sát và thực nghiệm là các trường THPT huyện Cẩm
Xuyên (Hà Tĩnh)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết để phân tích - tổng hợp, thống kê -
phân loại những tài liệu có tính chất lý luận về vấn đề trong đề tài
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư
phạm để khảo sát, đánh giá thực trạng việc phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội cho HS trong giờ dạy văn bản văn học dân gian nhằm xác định những ưu điểm, nhược điểm, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ tầm quan trọng của việc phát triển năng lực trong quá trình dạy học và phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội trong dạy VHDG
- Xây dựng hệ thống phương pháp nhằm khai thác tri thức tự nhiên và xã hội trong các tác phẩm VHDG
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm Ngữ văn, giáo viên THPT
7 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Định hướng, nội dung và phương pháp phát triển năng lực nhận thức tự nhiên - xã hội cho học sinh THPT trong dạy học phần văn học dân gian
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Năng lực và phát triển năng lực của học sinh
Việc giáo dục Việt Nam thay đổi từ việc cung cấp tri thức sang phát triển năng lực cho người học là bắt kịp xu thế phát triển của các nên giáo dục tiên tiến trên thế giới
Năng lực là gì? Có rất nhiều định nghĩa về năng lực, người ta thường nhấn mạnh nó như sự tổng hợp các thuộc tính của cá nhân phù hợp với yêu cầu các hoạt động sao cho hiệu quả Theo Từ điển của đại học Harvard được dịch bởi Minh Khai Hoàng (28/5/2014) có nhấn mạnh vấn đề năng lực như là những thứ mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong việc làm, vai trò, chức năng, công việc, hoặc nhiệm vụ Nhưng xem ra điều này có phần trừu
tượng, trực tiếp về tác nghiệp Trong Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển
Bách Khoa năm 2000 thì “năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ, năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm
chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân” (Từ điển bách khoa Việt Nam, tập III) Đỗ Ngọc Thống cũng khẳng định: “năng lực phải
được đánh giá dựa trên hành động, có nghĩa là hành động (làm), thực hiện (peromance)ở đây phải gắn với ý thức thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách “máy móc”, “mù quáng”[50;48]
Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông(2014) quan niệm: “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tố
Trang 15chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất
định” [4;49] Như vậy ta có thể hình dung năng lực chính là khả năng tự làm
chủ và vận dụng hợp lí các kiến thức, kinh nghiệm, thái độ một cách có hứng thú từ đó hành động có hiệu quả khi dối diện với các tình huống đa dạng trong cuộc sống
Năng lực có đặc điểm: thứ nhất là có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể để có một sản phẩm nhất định, dó đó có thể phân biệt người này với người khác; thứ hai, nó là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể nên năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết qủa hoạt động; thứ ba là
do đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể do một người cụ thể thực hiện nên không tồn tại năng lực chung chung
Chính vì vậy, việc dạy học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nghĩa
là thông qua bộ môn để học sinh có thể kết hợp một cách linh hoạt kiến thức,
kĩ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân để đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định
Người ta phân loại năng lực ra thành: Năng lực chung (mang tính cơ bản thiết yếu để làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống
và lao động nghề nghiệp); Năng lực chuyên biệt (được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các hoạt động, công việc hoặc tình huống)
Dạy học phát triển năng lực học sinh chính là để đáp ứng sự thay đổi của tốc độ phát triển xã hội và những biến đổi toàn cầu, giáo dục ngày càng được quan tâm hơn và có những thay đổi để bắt kịp với thực tiễn Ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận này trong đó có Việt Nam chúng ta Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản lí chất lượng đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh Chương trình này nhấn mạnh vai
Trang 16trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Quá trình này như là một mô hình cụ thể hóa của chương trình định hướng kết quả đầu ra, người dạy luôn cần đặt câu hỏi: cần phát triển những năng lực gì ở người học
và hướng tiếp cận để phát triển năng lực như thế nào?
1.1.1.2 Các năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành cho học sinh 5 phẩm chất và 10 năng lực; Hệ thống năng lực bao gồm: những năng lực chung (được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục hình thành: năng lực tự chủ
và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo) Những năng lực chuyên môn (được hình thành và phát triển thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu
tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học,thẩm mỹ, thể chất) Ngoài ra chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của người học Năng lực khác kĩ năng ở chỗ kĩ năng thiên về cách thức, là những thao tác làm một công việc gì đó được đào luyện nhiều lần; năng lực là ý chí, khả năng giải quyết, xử lí những tình huống mới, hoàn cảnh mới, vấn đề mới
Các năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông mới bao gồm:
a) Năng lực chung
Định hướng xây dựng chương trình GDPT sau năm 2015 đã xác định một số năng lực chung cốt lõi mà HS Việt Nam đều cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển của xã hội Các năng lực này liên quan đến nhiều môn học, theo đó, mỗi môn học, với đặc trưng và thế mạnh riêng của mình, sẽ tập trung hướng đến một số năng lực, để cùng với những môn học khác sẽ có mục tiêu hình thành và phát triển một số năng lực chung cốt lõi cần thiết đối với mỗi học sinh
Các năng lực chung, cốt lõi được sắp xếp theo các nhóm sau:
Trang 17- Năng lực làm chủ yếu và phát triển bản thân, bao gồm: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý bản thân
- Năng lực xã hội, bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
- Năng lực công cụ, bao gồm: năng lực tính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin (ICT)
b) Các năng lực mà bộ môn Ngữ văn hướng đến
Với môn Ngữ văn, cần tập trung vào những năng lực cụ thể - mà đó cũng
là những mục tiêu quan trọng nhất để đạt được những mục tiêu khác Hình thành những năng lực này sẽ là tiền đề kéo theo sự hình thành những năng lực khác cũng như những phẩm chất quan trọng theo định hướng đầu ra Trong định hướng phát triển chương trình sau năm 2015, môn Ngữ văn được xem là môn học công cụ Ngoài những năng lực chung cốt lõi đã nêu trên, các năng lực mà bộ môn Ngữ văn hướng đến, bao gồm: năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực hợp tác; năng lực tự quản bản thân; năng lực giao tiếp Tiếng việt; năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
- Năng lực giải quyết vấn đề
Theo Bend Meier Và Nguyễn Văn Cường trong Lí luận văn học hiện đại -
Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học: “Vấn đề là những
câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật cũng như những tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ giải quyết Đây được xem là khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống trong học tập và cuộc sống mà không hề có định hướng trước về kết quả, giải pháp Vấn đề có thể là giá trị của một tác phẩm còn được phong kín, kĩ năng viết một văn bản trong một hoàn cảnh cụ thể, đặc điểm, tác dụng của một hiện tượng ngôn ngữ Nó được nảy sinh khi tiếp nhận một thể loại văn học, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản nói lên quan điểm cá nhân khi đáng giá các hiện tượng văn học Năng lực này bao gồm việc nhận biết mâu thuẫn giữa tình huống thực tế với hiểu biết cá
Trang 18nhân và chuyển hóa được mâu thuẫn thành vấn đề (cần được giải quyết); là sự vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, tính sẵn sàng” [33,109]
Năng lực giải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước và kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu Với môn học Ngữ văn, năng lực củng cần được hướng đến khi triển khai một số nội dung dạy học của bộ môn, như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản,
lý giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học,… Quá trình giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học
- Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của HS trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả
để thực hiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, HS bộc lộ óc
tò mò, niềm say mê tìm hiểu, khám phá
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà môn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của học sinh trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao tìm hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức
Trang 19- Năng lực hợp tác
Năng lực hợp tác được biểu hiện là khả năng tương tác của cá nhân với
cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian mở của quá trình hội nhập
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học sinh cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động trong nhóm, cặp, HS thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt
ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh bản thân mình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới
- Năng lực tự quản bản thân
Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập kế hoạch và làm theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vi của cá nhân trong các bối cảnh khác nhau Khả năng tự quản bản thân giúp mỗi người luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỷ luật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình
Cùng những môn học khác, môn Ngữ văn củng cần hướng đến việc rèn luyện và phát triển ở HS năng lực tự quản bản thân Trong các bài học,
HS cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực,
Trang 20từ đó xác định được những hành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp tiếng Việt là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm đạt được mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện quan trọng nhất sử dụng trong giao tiếp là ngôn ngữ Năng lực giap tiếp được hiểu là khả năng sử dụng những quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyền tải, trao đổi thông tin
về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người trong xã hội
Trong môn Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt,
HS được hiểu về quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể
- Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gần với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc với tác phẩm văm chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cửa tâm hồn của mình Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 21Ngoài những năng lực cơ bản mà môn Ngữ văn hướng đến như đã nói trên, trong những trường hợp nhất định của quá trình dạy học, môn Ngữ văn còn hướng đến một số năng lực khác Chẳng hạn như năng lực sử dụng ICT trong việc khai thác các nguồn thông tin mạng về những vấn đề của cuộc sống
và trong tác phẩm văn học, những hình ảnh trực quan về các chi tiết nghệ thuật được miêu tả bằng ngôn ngữ văn học… Năng lực tự học thể hiện ở việc xác định được các nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động, biết đặt ra mục tiêu học tập cho bản thân, hình thành phương pháp tự học và chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của bạn bè, người thân và các nguồn lực khác Trong quá trình hướng dẫn HS tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn giúp học sinh từng bước hình thành và nâng cao năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản
1.1.1.3 Năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc này chính là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Vấn đề này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết phải xác định mục tiêu đào tạo Phẩm chất và năng lực của con người phải được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng bền vững Sự bùng nổ và tốc
độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong những năm qua buộc giáo dục Việt Nam phải có những thay đổi và điều chỉnh trong chương trình, SGK cũng như PPDH Chương trình, nội dung trong nhà trường phải phát triển được năng lực nhận thức của học sinh đặc biệt là nhận thức tự nhiên và
xã hội, cung cấp cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc tự học sau này Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo
Trang 22dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt là:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” [1,13]
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo
Quyết định 711/QĐ/ - TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” Nghị quyết Hội nghị Trung ướng 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo định hướng coi trong phát triển phẩm chất, năng lực người học” [1,13-14]
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa môn Ngữ văn (lớp 11) của Bộ Giáo dục và đào tạo đã định hướng tiếp tục
thực thi tư tưởng đổi mới PPDH Ngữ văn Tài liệu khẳng định: “Lí thuyết đổi mới hiện đại hóa dạy học Ngữ văn hiện nay trên thế giới cũng khá phong phú Nhưng nổi bật lên vẫn là tư tưởng đề cao sự năng động sáng tạo ở người học Ở Việt Nam những thập kĩ gần đây đã đề xướng tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm, sau đó đã có sự điều chỉnh cho thích hợp trong môn Ngữ văn là coi HS là bạn đọc sáng tạo Khi dạy một bài học Ngữ văn, chúng ta không thể chỉ chú trọng đến văn bản, đến dạy cái gì và cách dạy như thế nào
mà còn chú ý người học sẽ học như thế nào”[4,100]
Trang 23Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông năm 2014 nêu rõ: “Chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy
học sang chương trình định hướng năng lực” [4,14] Chương trình định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học “Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú trọng tích cực hóa học sinh
về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý tới hoạt động thực hành, thực tiễn” [4,28] Trong định hướng chương trình sau năm 2015, môn Ngữ văn được coi
là “một môn học công cụ” “Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh cần chú ý đến
sự khác biệt về năng lực và sở thích của học sinh cần chú ý đén sự khác biệt
về năng lực và sở thích của mỗi học sinhtrong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạy học phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đó hướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ những suy nghĩ, trải nghiệm của
cá nhân trong cuộc sống Tăng cường tính giao tiếp hợp tác của học sinh trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận ”[4,59]
Những quan điểm chỉ đạo, định hướng nêu trên về đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh nói chung trong đó có môn Ngữ là cơ sở mang tính chất pháp lí để chúng tôi
nghiên cứu vấn đề “Phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội qua dạy học phần VHDG ở các trường THPT huyện Cẩm Xuyên”
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người Hoạt động nhận thức bao gồm các quá trình: nhận thức cảm tính và nhận thức
lí tính Quá trình nhận thức có mối liên quan chặt chẽ với tư duy Thậm chí các nhà tâm lí học còn xem nhận thức của con người chính là trí tuệ Năng lực nhận thức được biểu hiện ở nhiều mặt: mặt nhận thức (nhanh biết, nhanh hiểu,
Trang 24nhanh nhớ, biết suy xét và tìm ra các quy luật trong các hiện tượng một cách nhanh chóng); khả năng tưởng tượng (óc tưởng tượng phong phú, hình dung được các hình ảnh và nội dung theo điều người khác mô tả); hành động (là sự nhanh trí, tháo vát, năng động, linh hoạt và sáng tạo); phẩm chất (có óc tò mò, lòng say mê, hứng thú làm việc có trí thông minh)
Như vậy, năng lực nhận thức tự nhiên là khả năng hiểu biết kiến thức khoa học; tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Còn năng lực nhận thức xã hội là nắm được những tri thức cơ bản
về đối tượng của các khoa học xã hội; hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người; vận dụng được những tri thức về xã hội
và văn hóa vào cuộc sống
1.1.2 Vai trò của văn học dân gian trong phát triển năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của học sinh THPT
1.1.2.1 Văn học dân gian là gì?
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo nên nhiều giá trị vật chất và tinh thần to lớn, đáng tự hào Trong những sáng tạo tinh thần đó, có nền văn học của dân tộc kết tinh hoa của cha ông ta Khi nói
về văn học dân gian ở Việt Nam thì ba khái niệm “Văn học dân gian, Sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, Folklore ngôn từ (folklore văn học)” được xem là tương đương Vào những năm năm mươi có xuất hiện một số cách gọi như: văn học bình dân, văn học truyền khẩu, văn học đại chúng nhưng sau này lại không dùng đến nữa Trong sách giáo khoa môn Ngữ văn
10, tập 1, do Phan Trọng Luận tổng chủ biên có nêu: “Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng”[44,16] Hiểu một cách nôm na văn học dân gian là
Trang 25những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được tập thể sáng tạo (sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng) ra đời trong quá trình lao động sản xuất nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt khác nhau trong đời sống của nhân dân Với người Việt Nam, văn học dân gian là nguồn sữa trong lành nuôi dưỡng bao thế hệ trẻ lớn lên, là tiếng nói tư tưởng, tình cảm của nhân dân thông qua các thể loại phong phú Văn học dân gian vừa thể hiện khát vọng khám phá thế giới tự nhiên của thế hệ trước, vừa cung cấp những bài học kinh nghiệm về lối sống, phong tục, ứng xử cho thế
hệ sau Có thể nói văn học dân gian đã bao quát được tâm hồn Việt Tìm về văn học dân gian chính là tìm về nguồn cội, đắm mình vào cuộc sống giản dị
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu; chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa; có khi là những biểu tượng thân thuộc của làng quê Việt Nam: gốc đa - sân đình, dòng sông - bến nước cũng có khi là sự than thở cho số phận Thân em như giếng giữa đàng; Người thanh rửa mặt, kẻ phàm rửa chân, Gánh cực mà chạy lên non; Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo Chính cuộc sống lao động của
cha ông ta là chất liệu để khai sinh nền văn học này, và chính nó dù trong mọi hoàn cảnh luôn đem đến sức sống mãnh liệt, tình yêu quê hương đất nước sâu đậm cho con người
Qua văn học dân gian, ta cảm nhận rõ hơn sự kỳ diệu của ngôn ngữ tình yêu, thấy cuộc sống quanh ta trở nên thật gần gũi, thân thương Ngôn từ văn học dân gian là tiếng tơ đàn muôn điệu cũng chính là tiếng nói của quê hương Giá trị của văn học dân gian được coi như kho tri thức, ẩn chứa trong
đó là giá trị nhân đạo, là chuẩn mực con người cần noi theo Nói chung, văn học dân gian là nơi tâm hồn, tình cảm, cốt cách, phẩm giá của con người được
đề cao; là món ăn tinh thần đồng thời cũng là nguồn cảm hứng sâu sắc, là cơ
sở hình thành văn học viết Văn nghệ dân gian là cơ sở, miếng đất tốt tươi trên đó sinh ra và lớn lên nền văn học cổ điển và hiện đại Việt Nam Ta có thể
dễ dàng thấy rằng chính văn học dân gian tạo ra cơ sở ban đầu của phương
Trang 26diện nội dung, tư tưởng và nghệ thuật Ngay trong những sáng tác của các tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Nam Cao, Tố Hữu Đây là sự tác động mang tính tích cực và có tính chất sâu rộng đến diện mạo văn học viết của ta
Trên phương diện nội dung, đó là những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam như lòng yêu nước, nhân hậu, tinh thần lạc quan, sự thủy chung, Sau này chủ nghĩa yêu nước hay tinh thần nhân đạo chính là sự phát triển của tình yêu nơi chôn nhau cắt rốn, yêu làng quê, yêu lũy tre làng nghĩa là từ những cái dân giã, bình dị của cuộc sống đời thường Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự ảnh hưởng này về các phương diện: đề tài, nguồn cảm hứng, tư tưởng nhân ái, tình cảm lạc quan yêu đời, tình yêu thiên nhiên đất nước, tình yêu con người trong sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bỉnh Khiêm Người ta gọi đây là mối quan hệ mang tính máu thịt Ngay cả với dòng thơ lãng mạn 1932 -1945, thơ ca (kể cả văn xuôi) cách mạng chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy những mạch ngầm VHDG, ví dụ: chất “chân quê” trong thơ Nguyễn Bính, tư tưởng nhân ái trong
thơ Lâm Thị Mỹ Dạ qua bài Tôi yêu chuyện cổ nước tôi hay tinh thần lạc quan yêu đời trong Vợ nhặt của Kim Lân
Văn học là sự tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần do con người tích lũy, sáng tạo thông qua hoạt động thực tiễn (là quá trình tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội) Văn học dân gian là nền văn học xuất hiện đầu tiên trong lịch sử văn hóa tinh thần của loài người Nó là nền tảng cho văn học viết tiếp thu Vì vậy, trách nhiệm của những thế hệ sau chính là bảo tồn và phát triển “tài sản tinh thần” vô giá này
1.1.2.2 Các thể loại, đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
1.1.2.2.1 Hệ thống thể loại văn học dân gian
Cũng như văn học dân gian các dân tộc khác trên thế giới, văn học dân gian Việt Nam cũng có những thể loại chung và riêng hợp thành một hệ
Trang 27thống Trong đó mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo những nội dung và cách thức riêng biệt Theo sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình trung học phổ thông hiện hành do ông Phan Trọng Luận tổng chủ biên - bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” thì văn học dân gian Việt Nam gồm có 12 thể loại:
1) Thần thoại: tác phẩm tự sự dân gian thường kể về các vị thần, nhằm
giải thích tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của con người thời cổ đại
2) Sử thi: tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn,sử dụng ngôn ngữ có
vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tránh, hào hùng để
kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại
3) Truyền thuyết: tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch
sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện
sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng
4) Truyện cổ tích: tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng
được hư cấu có chủ định kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động
5) Truyện ngụ ngôn: tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ,
thông qua các ẩn dụ (phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống hoặc triết lí nhân sinh
6) Truyện cười: tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết
thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười nhằm mục đích giải trí, phê phán
7) Tục ngữ: câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần nhịp,
đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của hân dân
Trang 288) Câu đố: bài văn vần hoặc câu nói thường có vần, mô tả vật đố bằng
những hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy, cung cấp những tri thức về đời sống
9) Ca dao: lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi
diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
10) Vè: tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần, có lối kể mộc mạc, phần
lớn nói về các sự kiện, sự kiện thời sự của làng, của nước
11) Truyện thơ: tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình,
phản ánh số phận và khát vọng của con người của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt
12) Chèo: tác phẩm sân khấu dân gian, kết hợp các yếu tố trữ tình và
trào lộng để vừa ca ngợi những tấm gương đạo đức, vừa phê phán, đã kích cái xấu trong xã hội (Ngoài chèo, sân khấu dân gian, còn có những hình thức khác như tuồng dân gian, múa rối, các trò diễn mang tích truyện)
1.1.2.2.2 Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
Ra đời từ buổi sơ khai của nhân loại, văn học dân gian có những đặc trưng giúp phân biệt văn học dân gian và văn học viết thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến là: tính truyền miệng, tính tập thể, và sự gắn bó với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng Các đặc trưng này có liên quan chặt chẽ, tạo ra sự khác biệt giữa văn học dân gian và văn học viết
Trang 29các buổi sinh hoạt mang tính nghi lễ của một dân tộc, tác giả dân gian có thể sáng tạo một tác phầm VHDG để bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, quan điểm của mình hay để trao gửi tình cảm đến một đối tượng khác Sau đó nó được mọi người lưu truyền lại bằng cách ghi nhớ có tính thô sơ Quá trình truyền miệng
có thể diễn ra theo không gian và thời gian, tức truyền từ vùng này sang vùng khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác Tính truyền miệng góp phần lưu trữ kho tàng văn học đồ sộ của dân tộc cho đến khi được chép lại bằng chữ viết như
hôm nay
Tính truyền miệng chi phối nội dung và hình thức của một tác phẩm VHDG Do được sáng tạo qua con đường này nên ngôn từ trong VHDG thường giản dị và mang tính hình tượng cao, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người lao động Bởi vậy ta thường thấy trong các sáng tác trữ tình dân gian,
các biểu tượng như: cây đa - bến nước - sân đình, trầu - cau, thuyền - bến, chiếc khăn - cái áo, hoa sen, ngọn đèn xuất hiện dày đặc, trở nên quen
thuộc Hay trong các thể loại tự sự dân gian như truyền thuyết, sử thi, thần thoại, truyện cổ tích từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, không gian thường gói gọn trong quy mô làng, xã Thời gian luôn mang tính chất tuyến tính vì thế tác phẩm VHDG thường dễ nhớ, dễ thuộc và gần gũi với mọi người
Tính truyền miệng vừa thuộc phạm trù hình thức, nói lên hình thức tồn tại của VHDG vừa thuộc phạm trù thẩm mĩ, có vai trò to lớn đối với vẻ đẹp thuần khiết của VHDG, phân biệt sự khác nhau rõ rệt giữa VHDG và văn học viết Qua trình dạy học bám sát vào tính truyền miệng trong dạy học VHDG
sẽ làm nổi bật nét riêng của bộ phận văn học này, để học sinh nhận thấy rằng
dù văn học viết ra đời và phát triển như vũ bão nhưng VHDG vẫn có sức sống lâu bền vượt thời gian Ngay trong cuộc sống hiện đại hôm nay VHDG vẫn được sử dụng một cách linh hoạt để quá trình giao tiếp hiệu quả hơn Những
câu như Có công mài sắt có ngày nên kim; Đi một ngày đàng học một sàng khôn; Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra;
Trang 30Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương, Nhớ ai giải nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao vẫn thường được
mọi người truyền miệng, rỉ tai nhau để răn dạy về kinh nghiệm sống, về tình cảm gắn bó với quê hương, gia đình Có những bài ca dao, những câu chuyện
cổ tích đã cùng bao thế hệ người Việt lớn lên, trưởng thành như bài ca dao Tát nước đầu đình, truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa
Đặc trưng này làm cho VHDG sau khi ra đời không còn là “tài sản” của một cá nhân mà trở thành sản phẩm tinh thần tập thể Nhờ đặc trưng này mà VHDG ngày càng phong phú, phát triển
Thứ hai, tính tập thể:
Nói đến tính tập thể là nói đến tính vô danh của những tác phẩm VHDG, những tác phẩm này không mang dấu ấn cá nhân Mặc dù lúc đầu tác phẩm VHDG hình thành là kết quả của một cá nhân khởi xướng, nhưng sau đó nó được tập thể tiếp nhận (có thể thuộc các địa phương khác nhau hoặc các thế
hệ khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần, thường là tác phẩm phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật
Một tác phẩm VHDG có giá trị sẽ nhanh chóng được tập thể đón nhận như một sản phẩm tinh thần chung Họ có quyền thêm, bớt, sửa chữa cho phù hợp với sở thích, phong tục, thói quen từng địa phương Vì vậy trong quá trình lưu truyền tác phẩm VHDG không cố định và luôn được hoàn thiện Điều này trái ngược với dấu ấn cá nhân trong văn học viết Trong dạy học cần cho HS so sánh, đối chiếu dị bản để thấy được quá trình hoàn thiện của một tác phẩm VHDG
Tính truyền miệng và tính tập thể trong VHDG có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Quá trình lưu truyền bằng trí nhớ và sự thêm bớt của tập thể dẫn đến sự ra đời dị bản Dị bản có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc sâu dấu ấn riêng biệt về địa hình, phong tục, lối sống, quan niệm ứng xử của từng địa phương Ví dụ về câu ca dao quen thuộc:
Trang 31- Dạy con từ thủa còn thơ Dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về
( Dạy con từ còn thơ Dạy vợ từ thủa ban sơ mới về)
Hay:
- Bao phen quạ nói với diều
Cù lao ông Hổ có nhiều cá tôm
(Bao phen quạ nói với diều
Đi về trại đáy có nhiều cá tôm)
Rõ ràng các dị bản phản ánh sự khác nhau về mội trường tự nhiên trong cảm nhận cuộc sống của nhân vật trữ tình Vì là tiếng nói chung nên VHDG
có những cốt truyện, nhân vật, tình tiết, hình ảnh, ngôn từ… được lặp đi lặp lại ở nhiều tác phẩm khác nhau Ví dụ trong nhiều truyện dân gian Việt Nam
có chi tiết nhân vật chính được sinh ra do bà mẹ thụ thai một cách khác thường Cũng có khi phần kết thúc mỗi địa phương, thời đại mỗi khác (như
truyện Tấm Cám); hay nhiều câu hát ca dao thường mở đầu bằng Thân em, Chiều chiều… tạo nên những truyền thống nghệ thuật đặc sắc trong VHDG Thứ ba, tính thực hành
VHDG ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sáng tác, thưởng thức nghệ thuật trực tiếp của người lao động Sinh hoạt cộng đồng là môi trường sinh thành, lưu truyền, biến đổi của VHDG Tính ứng dụng thực hành được coi như mục đích chủ yếu của các thể loại VHDG (đặc biệt như thể loại tục ngữ, ca dao )
Trang 32Căn cứ đến hai đặc trưng cơ bản tính truyền miệng và tính tập thể của VHDG trong dạy học, người giáo viên nên chú ý làm sống lại các sinh hoạt văn hóa trong bối cảnh sinh hoạt tập thể của người xưa, nhằm hướng đến cuộc sống lạc quan, lành mạnh… từ đó học sinh có thể nhận thấy, hiểu được những quan điểm của cha ông ta xưa khi nhìn nhận về các vấn đề trong cuộc sống
1.1.2.3 Vai trò của văn học dân gian với việc phát huy năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của học sinh THPT
Chương trình giáo dục nước ta đang có sự chuyển mình mạnh mẽ từ dạy
học tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ:
“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển giáo năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học” Như vậy, bản chất của quá trình
đổi mới này chính là nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh nhằm giúp hình thành, phát triển năng lực tự học
Dạy học phát huy năng lực trong đó có năng lực nhận thức tự nhiên và
xã hội được quan tâm hàng đầu trong giai đoạn hiện nay Như đã nói, năng lực nhận thức tự nhiên là khả năng hiểu biết kiến thức khoa học, tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Còn năng lực nhận thức xã hội là nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội, hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội, nắm được những tri
Trang 33thức cơ bản về xã hội loài người, vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống Những vấn đề về tự nhiên và xã hội luôn có sức ảnh hưởng, tác động lớn đến đời sống con người Việc phát huy năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội cho học sinh là cần thiết
Văn học dân gian được xem như một “cuốn sách bách khoa về cuộc sống” Tri thức văn học dân gian thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống: tự nhiên, xã hội, con người Tri thức dân gian phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn Tri thức dân gian thường được trình bày bằng ngôn ngữ nghệ thuật nên sẽ người đọc, người nghe luôn cảm thấy hấp dẫn; bên cạnh đó nó xẽ có sức sống lâu bền với thời gian vì dễ phổ biến, dễ tiếp thu
Tri thức dân gian này thể hiện một cách rõ nét trình độ và quan điểm nhận thức của nhân dân vì vậy sẽ có sự khác biệt so với nhận thức của giai cấp thống trị cùng thời, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến lịch sử, xã hội Ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với đời sống con người chính
là “nguồn cội”, là “bầu sữa mẹ” nuôi dưỡng tâm hồn Việt Chúng ta nhận ra rằng nó có mối quan hệ chặt chẽ với văn nghệ, văn hóa dân gian và đời sống thực tiễn Các yếu tố của văn hóa như âm nhạc, nhảy múa, diễn xướng, tâm linh qua văn học dân gian trở nên gần gũi hơn với con người từ đó làm phong phú, đạm đà bản sắc Việt Những bài học về cuộc sống trở nên gần gũi, sinh động Cuộc sống lao động, những tri thức, kinh nghiệm về mọi lĩnh vực trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, đời sống tâm hồn phong phú, sâu sắc của nhân dân, cả truyền thống dân chủ, tinh thần nhân văn của dân tộc cũng được phản ánh một cách chân thực Văn học dân gian đề cao những bài học đạo đức, truyền thống đẹp đẽ của dân tộc, tinh thần nhân đạo, lòng lạc quan từ đó bồi dưỡng cho con người cách nghĩ, lối sống tích cực lành mạnh, những tình cảm tốt đẹp Tiếp cận và học văn học dân gian, học sinh sẽ biết trân trọng những gì mình đang có, biết ứng xử đúng mực khi
Trang 34đối diện với những tình huống thực tiễn qua đó những truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta được lưu giữ và phát triển đến muôn đời sau Dạy và học văn học dân gian cung cấp cho học sinh vốn kiến thức phong phú về tự nhiên
và xã hội: Những câu tục ngữ cho ta hiểu biết những kinh nghệm về thời tiết, nông vụ ; học ca dao, dân ca ta biết thêm về cuộc sống, sinh hoạt, các mối quan hệ ứng xử ; cuộc đấu võ giữa Đăm Săn và Mtao-Mxây không chỉ là
cuộc xung đột cá nhân mà còn là cuộc đấu tranh bảo vệ danh dự Tấm cám là
sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác mà ở đó con người phải kiên trì để loại
bỏ cái ác, bảo vệ chính nghĩa và cái thiện
Vì vậy, văn học dân gian có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy năng lực nhận thức tự nhiên và xã hội của học sinh
và nội dung phần văn học dân gian ở lớp 10 trung học phổ thông
Trong học kì I, chương trình Ngữ văn 10 kéo dài 18 tuần, các thể loại văn học dân gian được phân bố ở tuần thứ 2 đến tuần thứ 11 với số tiết và nội dung bài học cụ thể ở sách cơ bản và nâng cao như sau:
Trang 351.1 Bảng thống kê đơn vị bài học trong sách Ngữ văn 10
1 Khái quát VHDG Việt Nam
2 Chiến thắng Mtao - Mxây
- Nhưng nó phải bằng hai mày
- Tam đại con gà
8 Ôn tập VHDG Việt Nam
1 Khái quát VHDG Việt Nam
2 Chiến thắng Mtao - Mxây (Sử thi”Đăm Săn”)
3 Đọc thêm: Đẻ đất đẻ nước
4 Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
5 Truyện Tấm Cám
6 Đọc thêm: “Chữ Đồng Tử”
6 Ca dao than thân
7 Ca dao yêu thương, tình nghĩa
7 Ca dao hài hước, châm biếm
8 Đọc thêm: Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn
9 Truyện cười
- Nhưng nó phải bằng hai mày
- Tam đại con gà
10 Tục ngữ đạo đức, lối sống
11 Truyện thơ: “Lời tiễn dặn”
12 Chèo “Xúy Vân giả dại”
(Trích chèo “Kim Nham”
Trang 36So sánh chương trình VHDG ở hai sách cơ bản và nâng cao chúng ta có thể thấy ở sách nâng cao thể loại có phần phong phú hơn, trình bày sâu hơn
Cả hai ban đều có thêm 4 tiết phần VHDG nước ngoài với hai văn bản: lít-xơ trở về (Trích sử thi Ô-đi-xê) và Ra-ma buộc tội (Trích sử thi Ra-ma-ya-na) Ta cũng dễ dàng nhận thấy hệ thống văn bản ở cả hai ban có sự tương đồng, riêng chỉ có văn bản ca dao ở sách nâng cao nhiều bài hơn trong đó ca dao than thân thành một đơn vị bài học độc lập, mảng ca dao yêu thương tình nghĩa cũng thành một đơn vị độc lập; bên cạnh đó nội dung văn bản được học cũng khác
Uy-Khi so sánh chương trình VHDG trong SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000
và SGK Ngữ văn hiện hành nội dung về cơ bản là khác nhiều Thứ nhất, các văn bản VHDG nước ngoài trong sách chỉnh lí năm 2000 được tách riêng trong phần văn học Thứ hai, về thể loại sách Ngữ văn hiện hành bổ sung thêm các thể loại: truyền thuyết, truyện cười, tục ngữ và chèo trong khi sách chỉnh lí hợp nhất chỉ trình bày các thể loại gồm: sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ và ca dao - dân ca Về thể loại sử thi và ca dao - dân ca, sách Ngữ văn hiện hành xếp chung kiến thức về thể loại ở phần tiểu dẫn và tri thức đọc hiểu trong khi sách chỉnh lí năm 2000 có thêm đơn vị bài học khái quát về thể loại Trong quá trình sắp xếp các văn bản văn học nước ngoài sách Ngữ văn hiện hành sắp xếp chúng theo sự đối sánh với các thể loại văn học dân gian Việt Nam chứ không tác riêng trong phần văn học nước ngoài ở học kì II như sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000 Điều này có tác dụng phát huy tinh thần dạy học theo đặc trưng thi pháp
Trang 37Sử thi - Đi bắt nữ thần mặt trời
(Trích”Sử thi Đăm Săn”)
- Chiến thắng Mtao-Mxây (Trích “Sử thi Đăm Săn”)
Truyện thơ - Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa
(Trích “Tiễn dặn người yêu”)
- Lời tiễn dặn (Trích “Tiễn dặn ngườiyêu”)
Từ bảng so sánh ta có thể nhận ra rằng sách Ngữ văn 10 hiện hành đã chú trọng hơn đến sự đa dạng về mặt thể loại được học Khi lựa chọn văn bản học đảm bảo sát với yêu cầu nhận thức, xây dựng và bồi đắp tình cảm thẩm
mĩ nhằm giáo dục học sinh trong bối cảnh của xã hội hiện đại
Tóm lại, về cách bố trí văn bản và nội dung chương trình văn học dân gian lớp 10 trung học phổ thông có tính khoa học hơn ở cấp trung học cơ sở, đảm bảo khẳng định những giá trị vững bền cũng như yêu cầu giáo dục của nguồn văn học dân gian đối với các thế hệ học sinh
1.2.1.2 Một số loại văn bản văn học dân gian được học trong chương trình
Chúng ta thấy rằng văn học dân gian dù của bất kỳ quốc gia nào thì cũng mang những đặc trưng cơ bản phân biệt với văn học viết đó là tính truyền miệng, tính tâp thể và tính thực hành Có thể khẳng định rằng văn học dân gian tồn tại và phát triển là nhờ vào những đặc trưng này
Trong chương trình Ngữ văn 10, học sinh được học một bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam, từ bài học này học sinh sẽ có cái nhìn toàn cảnh,
nắm được hệ thống thể loại, những giá trị cơ bản và hệ thống đặc trưng Từ bài khái quát học sinh sẽ dễ tiếp nhận các bài học ở những thể loại cụ thể Mặc dù trong phân phối chương trình học sinh học những văn bản trong nước
Trang 38và ngoài nước nhưng như đã đề cập trước đó tất cả các văn bản văn học dân gian đều mang chung đặc trưng thể loại Vì vậy, để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, dễ báo dung lượng chúng ta sẽ phân nhóm các bài theo từng thể loại nhất định Có các thể loại sau:
- Sử thi: Đoạn trích Chiến thắng Mtao - Mxây (Sử thi Đăm Săn) (văn học nước ngoài có đoạn trích Uy-lít-xơ trở về (Sử thi Ô-đi-xê), đoạn trích Rama buộc tội (Sử thi Ra-ma-ya-na)
- Truyền thuyết: Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
- Truyện cổ tích: Tấm Cám, chương trình nâng cao có thêm tác phẩm Chữ Đồng Tử
- Truyện cười: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
- Ca dao: Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, Ca dao hài hước, chương trình nâng cao tách ra thành ba chủ đề độc lập: ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa, ca dao hài hước, châm biếm
- Tục ngữ về đạo đức, lối sống
- Chương trình nâng cao còn thêm thể loại sân khấu với văn bản Xúy Vân giả dại (Trích chèo Kim Nham)
Khái lược nội dung văn bản các thể loại trên như sau:
Thể loại sử thi, văn bản Chiến thắng Mtao - Mxây (Trích Sử thi Đăm Săn) là sử thi anh hùng kể về chàng Đăm Săn - một người tù trưởng anh hùng
của bộ tộc Qua đó, thể hiện khát vọng của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên, mở rộng bộ tộc Nhân vật chính của sử thi anh hùng là những con người của sự hoàn thiện, hoàn mĩ về cả ngoại hình, sức mạnh, tài năng hay đạo đức phương thức diễn xướng của thể loại sử thi là hát, kể và biểu diễn Thế giới hiện thực trong các tác phẩm sử thi luôn mang tính sơ khai, nhưng lại thể hiện được khát vọng của nhân dân về cuộc sống ấm no, hòa bình, hưng thịnh Sau chiến tranh là cảnh ăn mừng chiến thắng tưng bừng, người anh hùng của họ với sức mạnh vô song, tầm vóc sánh ngang vũ trụ,
Trang 39được cả cộng đồng ngưỡng vọng qua bút pháp miêu tả phóng đại, so sánh, lí tưởng hóa
Ở thể loại truyền thuyết, học sinh được học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy là câu chuyện về bi kịch mất nước của cha
ông An Dương Vương và bi kịch tình yêu Từ câu chuyện ấy, nhân dân ta muốn rút ra bài học lịch sử về sự đề cao cảnh giác trước âm mưu xâm lược của kẻ thù Kết thúc câu chuyện vua An Dương Vương được rùa vàng rẽ nước xuống biển, nàng Mị Châu chết nhưng khi đem ngọc trai mò được ở biển Đông đem rửa ở giếng Trọng Thủy gieo mình thì trong sáng lạ thường Điều này thể hiện thái độ vị tha của nhân dân cũng xem như cách minh oan tội vô tình mà phản quốc của nàng Mị Châu
Thể loại truyện cổ tích, Tấm Cám là văn bản được lựa chọn để học
Người ta chia cổ tích thành ba tiểu loại: cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt và cổ
tích loài vật Tấm Cám, Chữ Đồng Tử là tiêu biểu cho loại cổ tích thần kì Tác phẩm Tấm Cám tập trung thể hiện sự chuyển biến của hình tượng nhân vật
Tấm từ một người yếu đuối, thụ động sang có ý thức đấu tranh để giành hạnh phúc và sự sống cho bản thân Xuyên suốt văn bản là cuộc đấu tranh giữa một bên là cái thiện, chính nghĩa và một bên là cái ác, cái phi nghĩa; Bên cạnh đó thể hiện ước mơ công lí cùng tinh thần lạc quan với triết lí “ở hiền gặp lành, ở
ác gặp ác” của nhân dân ta Truyện Chữ Đồng Tử đến phản ánh mối duyên lì
lạ giữa chàng mồ côi với nàng công chúa, qua đó nói lên khát vọng tự do hôn nhân và ước mơ đổi đời của người dân lao động Tác phẩm này có nhiều tình tiết đã được truyền thuyết hóa có liên quan đến phong tục thờ cúng ở nhiều
địa phương nên cần liên hệ thực tế khi phân tích Truyện Chữ Đồng Tử chịu
ảnh hưởng khá nhiều của Đạo giáo vì vậy những ước mơ hạnh phúc được
phản ánh trong truyện có khác với truyện “Tấm Cám” Cuộc hôn nhân cùng
nàng công chúa Tiên Dung mang ý nghĩa như một vật tặng chàng mồ côi - người “ở hiền”, minh chứng cho triết lí “ở hiền gặp lành” của dân gian
Trang 40Thể loại truyện cười, truyện cười dân gianViệt Nam có hai dạng hài hước và châm biếm Dùng tiếng cười để mua vui, giải trí mặt khác cũng để đã kích vào những hiện tượng tiêu cực của xã hội qua nói lên ý nghĩa nhân sinh
và xã hội sâu sắc Truyện cười thường ngắn gọn, kết thúc hóm hỉnh bất ngờ
Chương trình Ngữ văn 10 giới thiệu hai văn bản truyện cười: Tam đại con gà (phê phán đối tượng học trò dốt hay nói chữ) và Nhưng nó phải bằng hai mày
(phê phán những tên lí trưởng hống hách, nhận hối lộ )
Chương trình Ngữ văn 10 được học một số chủ đề ca dao: ca dao than thân; ca dao yêu thương tình nghĩa; ca dao hài hước, châm biếm Ca dao là những lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng nhằm diễn tả thế giới nội tâm của người dân lao động Nội dung của ca dao vô cùng phong phú chủ yếu nói lên tư tưởng, tình cảm của con người trong các mối quan hệ bạn bè, làng xã, quê hương đất nước, gia đình bằng lối nói ví von giàu hình ảnh Như đã nói, trong chương trình ban cơ bản người ta gộp chung
một đơn vị bài học với tên gọi Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, nhưng chương trình nâng cao tách riêng thành hai đơn vị bài học riêng (Ca dao than thân; ca dao yêu thương, tình nghĩa) Trọng tâm là nói lên thân phận
người phụ nữ trong xã hội cũ, nhưng bên cạnh đó cũng đề cao tinh thần lạc
quan yêu đời, lối sống giàu giá trị nhân văn của nhân dân ta Chủ đề hài hước châm biếm vừa để mua vui giải trí vừa để phê phán những “thói hư tật xấu”
trong xã hội Và đây cũng là cách nhân dân ta đề cao những giá trị tốt đẹp: truyền thống nhân đạo, nhân văn; lạc quan yêu đời vốn tồn tại từ bao đời nay của người Việt
Sang thể loại tục ngữ, đây là những câu nói ngắn gọn, hàm súc, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn; tục ngữ vẫn được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày
Thể loại này còn được xem như là hình thức thể hiện “những tư tưởng triết học của nhân dân” Qua tục ngữ có thể giúp các em nhận thức thêm nhiều tri
thức về tự nhiên và xã hội