QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ MỞ RỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH BIÊN HÒA TỪ NĂM 1862 ĐẾN NĂM 1945
Các yếu tố ảnh hưởng đến giao thông vận tải tỉnh Biên Hòa
Biên Hòa - Đồng Nai có vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa cao nguyên Trung bộ và đồng bằng Nam bộ, giáp với nhiều tỉnh và thành phố lớn như Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu Khu vực này có hệ thống giao thông phát triển với quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt dài 85 km, sân bay Biên Hòa và bến cảng Thị Vải, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương Địa hình Biên Hòa chủ yếu là trung du, với độ dốc thấp và độ cao trung bình dưới 100m so với mực nước biển, được phân thành bốn dạng địa hình chính: đồng bằng, bậc thềm, đồi và núi thấp Đặc biệt, địa hình đồi là đặc trưng của tỉnh Cấu tạo đất ở Biên Hòa cũng rất đa dạng với 10 loại đất chính, chia thành ba nhóm: đất hình thành trên đá bazan có độ phì nhiêu cao, đất trên phù sa cổ và đá phiến sét có chất lượng kém, và đất thủy thành cần cải tạo để sử dụng.
Khí hậu Biên Hòa nằm trong khu vực Châu Á nhiệt đới, với sự ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, cùng với không khí chí tuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10 Khu vực này có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa khô kéo dài từ 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau), trong khi mùa mưa kéo dài từ 6 đến 7 tháng (từ tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 11) Nhiệt độ trung bình hàng tháng dao động từ 23,9 đến 29 độ C, thấp hơn so với mức trung bình của vùng nhiệt đới là 26-30 độ C.
Tổng số ngày mưa trong năm 120-170 ngày (tiêu chuẩn vùng nhiệt đới
Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.500mm đến 2.750mm, với số ngày mưa từ 140 đến 160 ngày Mưa phân bố giảm dần từ Bắc vào Nam, trong đó khu vực có lượng mưa lớn nhất đạt trên 2.500mm/năm Sự khác biệt về lượng mưa giữa các vùng không đáng kể, chỉ khoảng 13 - 15% Độ ẩm trung bình hàng năm đạt 80 - 82%, thấp hơn 10 - 12% trong mùa khô so với mùa mưa Mặc dù có sự khác biệt giữa các khu vực, chênh lệch không lớn; ví dụ, vào tháng 1, độ ẩm không khí thấp nhất ở Biên Hòa là 28%.
Biên Hòa, một tỉnh với nguồn nước ngầm và nước mặt phong phú, rất thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, đặc biệt quan trọng cho thủy điện Sông Đồng Nai, con sông lớn và quan trọng nhất của tỉnh, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) và phía nam dãy Trường Sơn, với độ cao các đỉnh núi đầu nguồn đạt trên 2.000m.
Sông Đồng Nai, dài khoảng 610km từ nguồn đến cửa biển Soài Rạp, là con sông lớn thứ hai miền Nam Việt Nam, với 220km chảy qua tỉnh Đồng Nai Phía thượng lưu, sông có tên là Đa Dung, sau khi hợp lưu với sông Đa Nhim, được gọi là Đồng Nai Thượng Từ điểm này đến nơi hợp lưu với sông Sài Gòn, sông mang tên Đồng Nai Sông có nhiều uốn khúc và chảy theo hai hướng chính: tây bắc – đông nam ở thượng lưu và đông bắc – tây nam ở trung lưu và hạ lưu.
Diện tích lưu vực sông Đồng Nai lên tới 40 nghìn km², với lưu lượng bình quân đạt 982 m³/s Hệ thống sông này có nhiều phụ lưu, trong đó có 253 sông suối có chiều dài lớn hơn 10 km Tổng lượng dòng chảy của sông Đồng Nai đạt khoảng 31 tỷ m³, chảy qua lãnh thổ tỉnh ở phần trung lưu và hạ lưu.
Phần trung lưu của sông từ ranh giới Tân Phú (tiếp giáp tỉnh Lâm Đồng) đến Trị An có chiều dài 110 km và diện tích lưu vực lên tới 11.550 km² Khu vực này có bãi trải rộng hai bên bờ sông và độ dốc lòng sông nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng hồ chứa nước.
Sông La Ngà, phụ lưu lớn nhất bên tả ngạn sông Đồng Nai, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh (Bảo Lộc - Lâm Đồng) với độ cao trung bình hơn 1.000m, nơi hợp lưu của ba con suối nhỏ Rơ Nha, Đac Toren và Đac No Sông có chiều dài khoảng 210km, chảy từ thượng nguồn đến nơi hợp lưu với sông Đồng Nai, cách Trị An khoảng 38km Lưu vực sông rộng 4.100km² và có địa hình phức tạp Trong khoảng 100km đầu, lưu vực có dạng lá cây, với dòng chính chảy từ bắc xuống nam, sau đó sông Tà Pao dài 30km chảy theo hướng tây nam, tiếp theo 25km theo hướng tây bắc, và đến suối Gia Huynh, sông lại chảy từ bắc xuống nam Cuối cùng, từ đây đến chỗ nhập lưu với sông Đồng Nai còn khoảng 20km, sông chảy theo hướng tây bắc, có đoạn gần như từ nam đến bắc.
Sông La Ngà, nằm trên đất Đồng Nai, có gần 20 chi lưu lớn nhỏ, không tính các suối cạn vào mùa khô Từ thượng lưu, phía bờ phải có 8 suối bắt nguồn từ cao nguyên Bình Lộc, An Lộc với độ cao trung bình 200m, trong đó suối Tam Bung dài 23km là đáng chú ý nhất Các chi lưu của sông La Ngà ngắn, độ dốc lớn, và có thời gian tập trung nước nhanh vào mùa lũ, thường gây ra lũ quét, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống của người dân địa phương.
Sông La Ngà, một phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai, nổi bật với nguồn nước dồi dào và cảnh đẹp phong phú Lưu vực sông này là khu vực kinh tế nông lâm nghiệp phát triển, nơi trồng nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía và thuốc lá, cùng với các loại cây lương thực như bắp và đậu.
Tỉnh Biên Hòa có nhiều sông suối như Sông Bé, Sông Sài Gòn, Sông Lá Buông, Sông Thao, Sông Ray, Suối Cả và Suối Tam Bung, chảy từ đông bắc qua nhiều vùng trong tỉnh và đổ ra biển Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy, đặc biệt là đoạn từ bến Vịnh ra biển, nơi không có thác gềnh và lòng sông rộng, sâu, cho phép thuyền bè lớn dễ dàng di chuyển.
1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội
Vào tháng 12 năm 1861, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã tiến công thành Biên Hòa, và vào ngày 18/12/1861, thành phố này đã bị quân Pháp chiếm đóng Quân Pháp tiếp tục sử dụng các địa giới hành chính của tỉnh Biên Hòa được triều Nguyễn thiết lập từ năm 1832.
Năm 1862, theo Hòa ước Nhâm Tuất ký giữa triều đình Huế và Pháp, tỉnh Biên Hòa cùng với tỉnh Gia Định và Định Tường trở thành thuộc địa của Pháp Quân Pháp duy trì cơ cấu hành chính của Biên Hòa cho đến năm sau.
1863 Tỉnh Biên Hòa vẫn còn 2 phủ Phước Long, Phước Tuy và 4 huyện là Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An
Năm 1864, thực dân Pháp chia ba tỉnh miền Đông Nam Bộ thành 7 tiểu khu chỉ huy, trong đó tỉnh Biên Hòa được phân thành hai tiểu khu là Biên Hòa và Bà Rịa.
Năm 1865, Pháp chia ba tỉnh miền Đông Nam Bộ thành 13 sở Tham Biện, trong đó tỉnh Biên Hòa được chia thành 5 sở: Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Long Thành và Bảo Chánh Đến năm 1866, Pháp tiếp tục chia ba tỉnh này thành 13 địa hạt, với tỉnh Biên Hòa được phân thành 6 địa hạt: Biên Hòa, Bà Rịa, Long Thành, Thủ Đức và Bảo Chánh.
Quá trình xây dựng và mở rộng hệ thống giao thông vận tải tỉnh Biên Hòa từ năm 1862 đến năm 1945
Ngày xưa, cư dân bản địa di chuyển trên những con đường mòn và vận chuyển nông, lâm sản hoàn toàn bằng sức người Khi người Việt và người Hoa di cư vào Biên Hòa, một số lái buôn đã sử dụng ngựa để chuyên chở hàng hóa theo những con đường mòn đến các ấp của người bản địa, nhằm trao đổi lấy nông sản và lâm sản để bán lại.
Năm 1748 chúa Nguyễn cho mở Thiên lý cù (là đường quốc lộ đầu tiên ở phía Nam) nối liền kinh đô Huế với phủ Gia Định
Năm 1808 Thiên lý cù được sửa sang từ Quảng Nam tới Biên Hòa do
Lê Văn Chất được giao nhiệm vụ dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huỳnh Đức, quản lý việc cải tạo hệ thống giao thông từ Sài Gòn qua Biên Hòa, Long Thành, Bà Rịa, Xuyên Mộc, đến Hàm Tân Các phủ, huyện có trách nhiệm huy động dân lực để sửa chữa đường sá Sau khi hoàn thành, nhiều trạm được thiết lập, mỗi trạm có từ 20 đến 30 phu trạm để chuyển tiếp công văn và sắc chỉ của triều đình Lệnh hỏa tốc được chuyển từ kinh đô Huế đến Sài Gòn chỉ trong 4 ngày nhờ vào hệ thống ngựa trạm hiệu quả.
Năm 1808, vua Gia Long nhà Nguyễn đã cải cách hành chính bằng cách đổi dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa và nâng cấp huyện Phước Long thành phủ Phước Long Đồng thời, 4 tổng trực thuộc được thăng lên thành 4 huyện: Bình An, Phước Chánh, Long Thành và Phước An Từ đây, các con đường được mở rộng từ trấn lỵ đến phủ lỵ và huyện lỵ, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế.
3 - 4 mét, những nơi qua suối có bắc cầu gỗ lát ván cho xe bò, xe ngựa chở khách và hàng hóa qua lại
Tuyến thứ nhất: từ Búng (huyện lỵ Bình An) về trấn lỵ Biên Hòa qua bến đò Hóa An
Tuyến thứ hai: từ Bình Ninh (phủ lỵ Phước Long) qua Bến Cá (huyện lỵ Phước Chánh) về trấn lỵ Biên Hòa
Tuyến thứ ba: từ An Điền (huyện lỵ Phước An) qua huyện lỵ Long Thành về trấn lỵ Biên Hòa
Từ năm 1827, nhà nước đã bắt đầu phát triển các tuyến đường kết nối từ các huyện lỵ đến trung tâm các tổng Trong thời gian này, triều đại nhà Nguyễn cũng tiến hành sửa chữa và mở rộng đường Thiên Lý, nối liền kinh đô Huế với Gia Định Đường được xây dựng chủ yếu bằng đất, một số đoạn có rải sạn, và tại những nơi qua suối, cầu gỗ được xây dựng Tuy nhiên, xe ngựa và xe bò chỉ có thể di chuyển qua một số đoạn từ Bến Nghé đến Thủ Đức, Bình Trước, Phước Lộc.
An Điền, còn từ An Điền qua Xuyên Mộc, qua Bình Thuận trở ra đi lại khó khăn nên chỉ dành cho ngựa trạm và người đi bộ
Năm 1863, đường Thiên lý từ Gia Định đi Biên Hòa, Bà Rịa chỉ là đường đất, chỉ cho phép xe ngựa và xe bò di chuyển, thường xuyên bị nghĩa quân chống Pháp đe dọa và tấn công Do đó, chính quyền buộc phải sử dụng pháo hạm để vận chuyển hàng hóa và thư từ qua đường thủy từ Bến Nghé đến bến Bình Trước hoặc Bà Rịa.
Sau khi chiếm tỉnh Biên Hòa, phương tiện di chuyển an toàn chủ yếu là pháo hạm hoạt động trên các tuyến sông Vào ngày 10/10/1864, Công báo Nam Kỳ đã công bố thông cáo liên quan đến giá cả.
Sài Gòn đi Biên Hòa hay ngược lại: 2 đồng/người/lượt
Sài Gòn đi Bà Rịa hay ngược lại: 4 đồng/người/lượt
Vào thời điểm đó, giá 100 kg gạo chỉ khoảng 2 đồng, cho thấy sự chênh lệch lớn về chi phí đi lại Phương tiện tàu hỏa chủ yếu phục vụ cho các quan chức nhà nước, trong khi người dân thường không có cơ hội sử dụng và cũng không đủ khả năng chi trả cho việc đi tàu pháo hạm.
Từ năm 1865, Pháp hoàn thành công cuộc bình định Biên Hòa và Bà Rịa Vào tháng 7 năm 1872, Công ty LARRIEU & ROQUE bắt đầu vận tải hành khách và hàng hóa đường thủy từ Sài Gòn đến Biên Hòa, Bà Rịa Năm 1878, họ hoàn tất việc sửa đoạn đường từ Sài Gòn đến bến đò Hóa An, với lòng đường rộng 7,5 mét cho xe ngựa và xe bò Để củng cố quyền lực, nhà cầm quyền gấp rút cải tạo tuyến đường Biên Hòa - Bà Rịa và xây dựng các tỉnh lộ như Biên Hòa - Thủ Dầu Một và Biên Hòa - Bù Đốp Việc đầu tư cho sửa chữa và tu bổ đường sá được tăng cường hơn nữa trong thời gian này.
Năm 1889, Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh thành lập Ngân sách tiểu khu ở Nam Kỳ, gọi là "Budjet de l’arrondissement" Khi cấp tiểu khu được nâng lên thành tỉnh, ngân sách được đổi tên thành “ngân sách hàng tỉnh” Các khoản thu trong ngân sách bao gồm thuế ruộng đất mà người chịu thuế nộp thêm cho cấp tiểu khu, với mức phụ thu do Thống đốc ấn định hàng năm, thường là 8% số thuế ruộng đất đã nộp cho “ngân sách hàng xứ” Nam Kỳ Ngoài ra, ngân sách còn thu từ tiền chuộc những ngày lao động không công, tiền phạt cho cảnh sát, tiền sổ lao động của người làm thuê, và thuế đò vận chuyển trên các sông rạch thuộc tiểu khu Ngân sách này được sử dụng để tu bổ đường sá, trả lương cho nhân viên phụ trách, xây dựng và bảo quản các trường hàng tổng, cũng như trả lương cho các nhân viên thuộc ngạch học chính địa phương.
Vào năm 1896, chính quyền đã tiến hành khảo sát Quốc lộ 1 và tuyến đường sắt Bắc - Nam Đến năm 1898, đoạn đường bộ từ bến đò Bình Trước đến Bà Rịa đã hoàn thành, phục vụ việc vận chuyển hàng hóa và hành khách Trên tuyến đường này, các loại xe ngựa và xe bò đã bắt đầu hoạt động, cùng với sự xuất hiện của những chiếc xe kéo tay (poussee - pousse) đầu tiên tại các huyện lỵ.
Năm 1897, toàn quyền Pháp tại Đông Dương, Pôn Đume, đã gửi báo cáo đến Bộ thuộc địa Pháp, đề xuất xây dựng một hệ thống giao thông bao gồm đường bộ, đường sắt, kênh đào và bến cảng nhằm phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa.
Kế hoạch này được chính thức phê duyệt, người ta bắt tay vào xây dựng
Năm 1897, một phái đoàn nghiên cứu do viên quan Thouard dẫn đầu đã khảo sát mở con đường từ Nha Trang đi Đà Lạt, với sự hỗ trợ của nhân viên Cunhac Họ đề xuất xây dựng con đường Sài Gòn – Biên Hòa – Đà Lạt dọc theo thung lũng sông Đạ Đường, nhằm tránh những đèo cao và dốc đứng trên tuyến Đà Lạt – Phan Rang, đồng thời rút ngắn khoảng cách từ Sài Gòn đến Đà Lạt hơn 100km Vài năm sau, quốc lộ 20 được hoàn thành từ ngã ba Dầu Giây lên Đà Lạt.
Theo Địa chí Biên Hòa năm 1901, mạng lưới đường bộ của tỉnh Biên Hòa có tổng chiều dài 399,2 km, bao gồm quốc lộ 52,1 km, tỉnh lộ 100,3 km và hương lộ 246,8 km Tổng chiều dài các cầu đạt 1.832 m, trong đó cầu sắt dài 213 m và cầu gỗ 1.619 m Đường cán đá dài 156,7 km, trong khi đường đất là 242,5 km Một trong những tuyến đường giao thông quan trọng thời kỳ này là đường Rạch Đông đến Võ Dõng qua Trị An, dài 41 km.
Tuyến đường từ tỉnh lỵ đến núi Chứa Chan dài 75km Đường Phước Thiền đi Cát Lái dài 21km Đường Tân Uyên đến Phước Hòa dài 26km
Tỉnh lộ 01 từ Biên Hòa đi Bù Đốp dài 135 km, Tỉnh lộ 12 Biên Hòa đi Võ Đắc dài 81 km, Tỉnh lộ 17 Dầu Giây đi Cát Lái dài 57,1 km và Tỉnh lộ 19 từ Phước Lý đi Phước Thiền dài 32,3 km là những tuyến đường quan trọng Đầu năm 1902, đường bộ Sài Gòn – Bà Rịa đã hoàn thành, và vào tháng 2 cùng năm, cầu sắt Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn đã được xây dựng, nối liền Sài Gòn với Biên Hòa, với 6 nhịp, trong đó có một nhịp xoay, phục vụ cho giao thông đường sắt.
40 thước để tạo điều kiện cho tàu bè qua lại dễ dàng Cầu do công ty Levallois – Perret đấu thầu
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp triển khai kế hoạch xây dựng đường bộ để cải thiện vận chuyển và giảm tắc nghẽn đường sắt Kế hoạch này tập trung vào việc sửa chữa và mở rộng các con đường cái quan cũ từ biên giới Việt-Trung đến biên giới Campuchia, với việc rải đá và cán nhựa Đến khoảng năm 1915, đường thuộc địa số 1 vẫn được gọi là con đường cái quan, với một số đoạn cho phép xe kéo và ôtô nhẹ lưu thông.
Gần như toàn tuyến đường là kiểu đường mòn, chỉ có người đi bộ và đi ngựa qua lại được [59, tr.112]