Trải hơn 600 năm hình thành và phát triển, dòng họ Hà xã Tùng Lộc đã thực sự tỏa sáng với nhiều nhân vật lịch sử kiệt xuất, tiêu biểu cho tài năng, đức độ, phẩm chất đạo đức, cốt cách củ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS MAI PHƯƠNG NGỌC
Nghệ An - 2018
Trang 21
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
và sâu sắc nhất tới các thầy, cô giáo trong Khoa lịch sử - Trường Đại học Vinh
đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và biên soạn luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Hội đồng gia tộc họ
Hà, các đồng chí lãnh đạo xã Tùng Lộc, Phòng văn hóa thông tin huyện Can
Lộc, Thư viện và Bảo tàng Hà Tĩnh đã có nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình cho tôi
trong quá trình khảo cứu, sưu tầm, điền dã và biên soạn luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS Mai Phương
Ngọc, người đã giúp đỡ hết sức tận tình và trực tiếp hướng dẫn luận văn Cảm
ơn Đại tá, luật gia Hà Văn Sỹ, tác giả của nhiều cuốn sách, ấn phẩm viết về dòng
họ và một số danh nhân họ Hà tiêu biểu, đồng thời là Phó chủ tịch thường trực
kiêm Tổng thư ký hội đồng họ Hà Việt Nam, Trưởng ban liên lạc họ Hà Nghệ
Tĩnh đã cung cấp cho tôi rất nhiều nguồn tư liệu quý trong suốt quá trình thực
hiện
Mặc dầu bản thân tôi đã hết sức cố gắng nhưng luận văn sẻ không thể
tránh khỏi những khiếm khuyết cần phải khắc phục, sữa chữa Vì vậy, nhân đây
tôi rất mong nhận được nhiều sự chỉ giáo quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp
và bằng hữu xa gần để góp phần hoàn thiện bản luận văn này./
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Lê Doãn Thắng
Trang 32
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 NGND: Nhà giáo nhân dân
9 BVHTT: Bộ Văn hóa Thông tin
10 UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 44.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
5.2 Phương pháp
6 Đóng góp của luận văn
7 Bố cục của luận văn
NỘI DUNG Chương 1: Lịch sử của dòng họ Hà xã Tùng Lộc (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh)
1.1 Xã Tùng Lộc - nơi khởi nguồn của dòng họ Hà
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên
1.1.2 Truyền thống lịch sử văn hóa
1.1.3 Quá trình hình thành cư dân
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ Hà xã Tùng Lộc 1.2.1 Lịch sử hình thành
1.2.2 Quá trình phát triển
Tiểu kết chương 1 Chương 2: Những di sản văn hóa phi vật thể của dòng họ Hà
2.1 Truyền thống yêu nước và cách mạng
Trang 53.1 Đền thờ Hà Tông Mục
3.2 Khu lưu niệm Hà Huy Tập
3.3 Khu lăng mộ Tiến sỹ Hà Công Trình
3.4 Khu lăng mộ Thượng tướng quân Hà Mại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6đã góp phần làm rạng danh quê hương đất nước, tô thắm thêm trang sử vẻ vang
của dân tộc Việt Nam Trong một vùng nổi tiếng "Địa linh, nhân kiệt" vào hàng
bậc nhất của cả nước, dòng họ Hà Nghệ Tĩnh nói chung và họ Hà Tùng Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nói riêng cùng với nhiều dòng họ tiêu biểu khác đã cùng nhau xây đắp nên những truyền thống đáng tự hào
Phát tích trên mảnh đất xã Tỉnh Thạch huyện Thiên Lộc xưa (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), khởi thủy từ Thượng tướng quân, Thượng vị Hầu, Trấn thủ Nghệ An Hà Mại (1334 – 1410) rồi lan tỏa trên khắp mọi miền của tổ quốc Trải hơn 600 năm hình thành và phát triển, dòng họ Hà
xã Tùng Lộc đã thực sự tỏa sáng với nhiều nhân vật lịch sử kiệt xuất, tiêu biểu cho tài năng, đức độ, phẩm chất đạo đức, cốt cách của những người con dân đất Việt trên nhiều lĩnh vực như: Giáo dục khoa cử, nội trị, quân sự, bang giao và học thuật…
Từ trước tới nay, đã có một số công trình nghiên cứu về dòng họ Hà và một số danh nhân tiêu biểu của dòng họ này Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng quan và có hệ thống về lịch sử văn hóa dòng họ
Hà xã Tùng Lộc để từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá một cách chân xác những đóng góp của dòng họ này cùng với những danh nhân họ Hà tiêu biểu trong dòng chảy lịch sử dân tộc và lịch sử quê hương Hà Tĩnh
Nghiên cứu về lịch sử văn hóa dòng họ Hà ở xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc là một hướng nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa của quê hương, dòng tộc Qua đó khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tính cố kết cộng đồng trong
thời đại mới, trước những nguy cơ bị mai một trong xu hướng "thế giới phẳng",
Trang 76
đa phương hóa, toàn cầu hóa hiện nay Việc nghiên cứu lịch sử văn hóa dòng họ
Hà cũng sẽ làm sáng tỏ hơn về các giá trị lịch sử, văn hóa, những đóng góp của các danh nhân tiêu biểu trong tiến trình lịch sử của dân tộc Đồng thời, qua đó góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của một vùng đất, một cộng đồng cư dân với nhiều thế hệ tiếp nối, đã cùng nhau xây đắp trên mảnh đất Hồng Lam ngàn năm văn hiến
Thông qua việc nghiên cứu lịch sử văn hóa dòng họ Hà, chúng tôi mong muốn bổ sung thêm các nguồn tư liệu nghiên cứu về lịch sử danh nhân, dòng tộc
và lịch sử địa phương trên địa bàn Hà Tĩnh, nhằm nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vô giá mà các thế hệ cha ông đi trước đã để lại
Vì những lý do chính yếu đó, chúng tôi chọn đề tài “Lịch sử, văn hóa dòng họ Hà xã Tùng Lộc (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh)” làm Luận văn
Thạc sỹ khoa học Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Về lịch sử văn hóa dòng họ Hà nói chung và các nhân vật tiêu biểu của dòng họ Hà nói riêng như Hà Mại, Hà Tông Chính, Hà Công Trình và Hà Tông Mục đã có rất nhiều học giả, nhiều sách báo, tư liệu nghiên cứu đề cập Có thể
kể đến:
Trong các bộ chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục…đến các sách chuyên khảo như: Quốc triều hương khoa lục, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Văn bia Quốc tử giám Thăng long – Hà Nội…tên tuổi các vị danh nhân
tiêu biểu của dòng họ Hà xã Tùng Lộc hoặc xuất phát điểm từ đây đã được nhắc đến, điểm xuyết với nhiều đóng góp trên các lĩnh vực: Đó là các văn thần, võ tướng, các nhà sử gia, trước tác, nội trị, bang giao…Trong suốt dòng chảy của lịch sử dân tộc từ cuối thế kỷ thứ XIV đến nay, mà khởi nguyên từ cụ thủy tổ Hà Mại Văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám, nơi lưu danh những tinh hoa trí tuệ
Trang 8Đặc biệt trong một số cuốn như: Nhân vật lịch sử họ Hà Việt Nam; Tiến
sỹ Hà Tông Mục danh nhân văn hóa Việt Nam; Bốn vị danh nhân, danh thần họ Hà; Một số nhân vật họ Hà Nghệ Tĩnh thời kỳ trung đại và cận đại của Đại tá,
Luật gia Hà Văn Sỹ Tác giả đã dày công đi sâu vào việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách tương đối sâu sắc và toàn diện về dòng họ và một số danh nhân tiêu biểu đã có những đóng góp tích cực trong lịch sử dân tộc, lịch sử quê hương đã được soi chiếu, ghi nhận trong chính sử và các phát hiện về sau qua các bi ký, trước tác…của các học giả, nhà khoa học khác
Ngày 20 tháng 9 năm 2014 tại Hà Tĩnh, Viện sử học cùng với Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch; Ban liên lạc họ Hà Việt Nam đã tiến hành tổ chức Hội
thảo khoa học: "Một số nhân vật tiêu biểu họ Hà Nghệ Tĩnh thời kỳ trung đại và cận đại Việt Nam" Hội thảo đã nhận được 31 bản tham luận của các học giả đến
từ các Viện nghiên cứu, các trường Đại học và của các cộng tác viên Các bản tham luận này đã tập trung đi sâu vào việc phân tích, đánh giá những công lao, đóng góp trên nhiều lĩnh vực khác nhau của các danh nhân họ Hà nói riêng và dòng tộc nói chung củng như tính kế thừa về truyền thống yêu nước và học hành
khoa bảng trong một vùng địa văn hóa đậm đặc "Không gian thiêng xứ Nghệ"
(chữ của Đào Tam Tỉnh)
Trang 98
Ngoài ra, còn một số công trình khác như: Văn bia Hà Tĩnh, Sắc phong
Hà Tĩnh, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh, Hà Tĩnh di tích quốc gia và quốc gia đặc biệt, cùng rất nhiều bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành đã đề
cập đến dòng họ và các danh nhân họ Hà tiêu biểu xã Tùng Lộc
Những công trình trên đây, dù là sách chính sử hay chuyên đề, chuyên khảo, các tài liệu, hiện vật củng đã ít nhiều đề cập đến nội dung của đề tài Tuy nhiên, hiện chưa có một công trình nào trong số đó đề cập một cách có hệ thống
và toàn diện về lịch sử văn hóa dòng họ Hà xã Tùng Lộc từ thế kỷ XIV tới nay Trên cơ sở tiếp cận có chọn lọc những công trình đi trước song song với quá trình tập hợp nguồn tư liệu thông qua quá trình sưu tầm, điền dã, khảo cứu, bản thân tôi hy vọng sẽ phần nào tạo dựng nên một bức tranh toàn cảnh hơn, đầy đủ hơn về dòng họ Hà xã Tùng Lộc trong suốt quá trình hình thành, phát triển và song hành cùng lịch sử quê hương, dân tộc, nhất là ở một vùng đất thấm đẫm truyền thống yêu nước và học hành khoa bảng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử, văn hóa dòng họ Hà xã Tùng Lộc (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nội dung nghiên cứu chính yếu của đề tài thuộc không
gian xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Ngoài ra để làm sáng tỏ hơn sự lan tỏa của dòng họ, luận văn còn mở rộng việc nghiên cứu về lịch sử văn hóa của dòng họ Hà phát tích từ xã Tùng Lộc, bao gồm họ Hà ở các vùng Khiêm Ích, Khố Nội (gồm một số xã hiện nay thuộc vùng thượng của huyện Can Lộc như: Đồng Lộc, Trung Lộc, Sơn Lộc, Tiến Lộc), vùng Kim Nặc (Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên), vùng Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), vùng Thịnh Xá (Sơn Thịnh, Sơn Hòa huyện Hương Sơn), vùng Kim Vực (xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) và vùng Thanh Oai (Thành phố Hà Nội)…
Trang 109
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ khi Hà Nho, con của Hà
Tông Chính, cháu đích tôn của Hà Mại Sau cái chết oanh liệt của người cha, nhằm trốn tranh sự truy lùng của quân Minh đã về định cư bên tả ngạn dòng sông Nghèn xã Đông Tỉnh, huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), trong khoảng thời gian những thập niên đầu của thế kỷ XV tới nay
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành và phát
triển, truyền thống yêu nước và học hành khoa bảng của dòng họ Hà Các danh nhân tiêu biểu và những đóng góp của dòng họ này trong tiến trình lịch sử của quê hương, dân tộc Việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đó để giữ gìn nguồn mạch, hồn thiêng tiên tổ và giáo dục những truyền thống tốt đẹp của ông cha cho các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau
Để làm sáng tỏ các nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra, chúng tôi có dành một phần nội dung trình bày khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội…của xã Tùng Lộc nói riêng và huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nói chung
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
của dân tộc Việt Nam Cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân tiêu biểu "Đức trọng, tài cao", đã có những đóng góp xuất sắc trên các lĩnh vực nội trị, quân sự,
chính trị, bang giao, văn chương học thuật…đối với quê hương, đất nước
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 1110
- Khảo sát, trình bày một cách có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Hà, những đặc điểm nổi bật như tinh thần yêu nước, truyền thống học hành khoa bảng, những đóng góp trên nhiều mặt của đời sống xã hội
- Trình bày cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật tiêu biểu và những đóng góp của họ đối với nền văn hiến nước nhà
- Đi sâu vào việc tìm hiểu thực trạng bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mà các thế hệ tiên liệt dòng họ Hà đã sáng tạo ra trong lịch
sử còn để lại Việc phát huy, lan tỏa các giá trị đó trên cả tầm cao và chiều rộng không chỉ trong phạm vi một cộng đồng dòng tộc, một địa phương mà rộng rãi trong đời sống xã hội
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Nguồn tư liệu:
- Tư liệu gốc: Bao gồm các bản sắc phong, gia phả, bài vị, hoành phi,
câu đối, đại tự, văn khấn, bia Sùng Chỉ và bia chùa Hồng Phúc (còn gọi là chùa Hòe Nhai), các bản khắc gỗ, di chúc…các tài liệu, hiện vật còn lưu giữ được tại đền thờ họ Hà (từ đường của dòng họ nhưng đồng thời củng là đền vì Hà Tông Mục được nhân dân lập đền thờ tôn lên làm Thần, về sau được vua Tự Đức phong làm Tuấn Lương chi Thần, vua Khải Định tấn phong lên Quang Ý Trung đẳng Thần) và tại các di tích, điểm thờ tự các danh nhân họ Hà tiêu biểu khác
mà chúng tôi có thể sưu tầm, khảo cứu, tiếp cận được
- Tư liệu nghiên cứu: Bao gồm các bộ chính sử, các sách, báo, tạp chí đã
được xuất bản hoặc các ấn phẩm khác viết về dòng họ và các danh nhân họ Hà Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới các bộ chính sử có chép về con đường hoạn lộ, hành trạng, trước tác, công lao của các danh nhân họ Hà tiêu biểu
Các cuốn sách như: Địa chí huyện Can Lộc, Can Lộc - Một vùng địa linh nhân kiệt, Di tích và danh thắng Hà Tĩnh, Danh nhân Hà Tĩnh, Hà Tĩnh di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt, Lịch sử Đảng bộ xã Tùng Lộc…Bên cạnh
Trang 1211
đó là hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia và cấp tỉnh nhà thờ Hà Tông Mục, khu lưu niệm cố Tổng bí thư Hà Huy Tập, khu lăng mộ Hà Mại, Hà Tông Chính, Hà Công Trình, nhà thờ và mộ Hà Huy Quang là những nguồn tư liệu quý để phân tích, so sánh, đối chiếu một cách khách quan, trung thực nhằm minh định chân xác các dữ kiện lịch sử gắn liền hoặc có liên quan tới đề tài nghiên cứu
- Tư liệu điền dã và truyền miệng: Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến
hành các đợt khảo sát, điền dã để khảo tả, nghiên cứu các tài liệu hiện vật và quan sát, ghi chép thông qua các bài cúng tế, lễ hội Các lời kể truyền miệng của các bậc cao niên có uy tín trong dòng họ và nhân dân địa phương xã Tùng Lộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở phương pháp luận: Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi sử dụng hai phương cơ bản là
phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi còn
sử dụng các phương pháp khác như sưu tầm, điền dã dân tộc học, trao đổi với nhân dân địa phương và con cháu trong dòng tộc để đảm bảo tính khách quan, khoa học trong quá trình thực hiện đề tài Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phương pháp chuyên gia, nhằm tranh thủ ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu về lịch sử - văn hóa địa phương có uy tín tại Hà Tĩnh trong việc tiếp cận, xử
lý tư liệu, xây dựng đề cương, phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề…
6 Đóng góp của luận văn:
- Là đề tài nghiên cứu một cách tổng quan về lịch sử, văn hóa dòng họ Hà
xã Tùng Lộc, những công lao đóng góp của dòng họ và các nhân vật lịch sử tiêu biểu trong tiến trình lịch sử dân tộc từ thế kỷ XIV tới nay
Trang 1312
- Tập hợp một số nguồn tư liệu có nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài,
để tiện cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu, trong đó có nhiều tư liệu gốc như: Gia phả, các bản sắc phong, văn bia, đại tự, hoành phi, câu đối, bi ký…
- Khảo tả, phân tích để làm nổi bật các giá trị về lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật của một số di tích tiêu biểu như đền thờ họ Hà, bia Sùng Chỉ, bia chùa Hồng Phúc và các di tích khác gắn liền hoặc có liên quan tới các nhân vật
Hà Mại, Hà Tông Chính, Hà Công Trình, Hà Tông Mục Cuộc đời, sự nghiệp, hành trạng, trước tác, công lao và cống hiến của các danh nhân tiêu biểu Đặc biệt đối với nhân vật Hà Tông Mục, từ đó rút ra các nhận xét, đánh giá về lịch
sử, văn hóa dòng họ và các nhân vật đã được đề cập Đề xuất các giải pháp về việc bảo tồn và phát huy các giá trị vốn quý đó một cách rộng rãi trong đời sống
xã hội
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng để làm tài liệu để nghiên cứu, biên soạn về lịch sử, văn hóa, đời sống tinh thần, tâm linh và tín ngưỡng của một số dòng họ và địa phương khác trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Chương 2: Những di sản văn hóa phi vật thể của dòng họ Hà
Chương 3: Những di sản văn hóa vật thể và việc bảo tồn, phát huy các giá
trị lịch sử văn hóa của dòng họ Hà
Trang 1413
NỘI DUNG
Chương 1 LỊCH SỬ CỦA DÒNG HỌ HÀ XÃ TÙNG LỘC (HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH) 1.1 Xã Tùng Lộc – nơi khởi nguồn của dòng họ Hà
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên
Là một huyện đồng bằng nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, Can
và đầu thời Lê), Việt Thường được đổi thành huyện Phỉ Lộc rồi Phúc Lộc Từ năm Quang Thuận thứ mười (1469), Phúc Lộc được đổi tên thành Thiên Lộc thuộc phủ Đức Quang, Trấn/Thừa Tuyên/Tỉnh Nghệ An Từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đến năm 1976 và từ năm 1991 đến nay huyện Can Lộc thuộc tỉnh
Hà Tĩnh (trong giai đoạn 1976 – 1991, Can Lộc thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh củ)
Đến năm Tự Đức thứ mười lăm (1862), đổi tên thành huyện Can Lộc và danh xưng Can Lộc có từ đó đến nay
Là một xã đồng bằng ven biển nằm ở vùng hạ của huyện Can Lộc, xã Tùng Lộc hiện nay có diện tích 8,5km2
(trong đó diện tích đất canh tác là
Trang 1514
448ha), dân số với 9140 nhân khẩu Phía Đông Bắc giáp núi Hồng Lĩnh và xã Hồng Lộc, Đông Nam giáp sông Yến Giang và xã Ích Hậu, Tây Nam giáp xã Thuần Thiện và phía Nam Tây Nam giáp với sông Nghèn
Trước cách mạng tháng 8/1945, Tùng Lộc gồm một xã và hai thôn: Xã Tỉnh Thạch (có 4 xóm: Vinh Xương, Phú Nhiêu, Phú Đa và Trung Chánh), thôn Hòa Lộc (có 3 xóm: Chính Làng, Tài Năng và Chính Thống) và thôn Hạ Yến Thuộc tổng Nội Ngoại huyện Thiên Lộc/Can Lộc
Sau cách mạng tháng 8/1945, chính quyền lâm thời đã lập ra 2 xã một thôn là xã Tỉnh Thạch, xã Hòa Lộc và thôn Hạ Yến Đến tháng 11/1946, cả 3 đơn vị hành chính này được hợp nhất gọi là xã Sơn Thủy Từ năm 1949 đến đầu năm 1951 xã Sơn Thủy được sáp nhập với xã Ngột Sơn thành xã Ích Hòa Cuối năm 1951, xã Ích Hòa lại được chia thành 2 xã: Tùng Lộc và Ích Hậu Xã Tùng Lộc hiện nay bao gồm các xóm: Tây Vinh, Đông Vinh, Phú Thọ, Trung Bắc, Trung Nam, Đông Thịnh, Tây Hồ, Minh Tiến, Tài Năng, Liên Sơn, Tân Hương
và Tùng Sơn [1; 7,8]
Nằm cạnh trục đường tỉnh lộ 7, lại có sông Yến Giang, sông Nghèn chảy quanh bao bọc, thuận tiện cho việc giao thương và phát triển kinh tế, văn hóa Tùng Lộc từ lâu đã là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên và là nơi có điều kiện để hội tụ, giao lưu hội nhập và lan tỏa với các vùng phụ cận Đây là một trong những ưu thế mà cả trong suốt tiến trình lịch sử lẫn hiện tại không phải địa phương nào củng có được, tạo nên những bản sắc rất riêng, đặc thù của một
vùng quê được mệnh danh là "Hồng Lĩnh, Yến Giang thiên cổ địa"
Địa hình Tùng Lộc dốc thoai thoải, nghiêng dần từ Tây sang Đông Mặc dầu là xã đồng bằng ven biển nhưng Tùng Lộc có địa hình tương đối phức tạp, bao gồm vùng đồi núi, sông ngòi, vùng ven đồi, ven sông và các cánh đồng chiêm trũng Núi đồi có núi Long Ty và núi Ong, là một nhánh của hệ thống dãy
Hồng Lĩnh: "Từ Động Cóc, Khe Cà xuống Động Hố, Động Hà (rú Dẻ), qua Truông Gió kết thúc ở mũi Rồng (Long Ty), Hạ Yến xã Tùng Lộc" [13; 49] và:
Trang 1615
"Núi Long Ty (Mũi Rồng) ở về phía Nam dãy Hồng Lĩnh, giữa vươn ra một nhánh núi và đó là nơi mộ tổ phát tích của công thần Đặng Tất quê ở thôn Hòa Lộc" [24; 47] và núi Ong (còn gọi là núi Ên hoặc Đoạn Đầu Sơn) "Ở địa phận thôn Thượng Yến, mạch núi củng từ dãy Hồng Lĩnh chạy ngầm tới đây rồi đột ngột khởi lên hình tròn như dáng cái chậu úp sấp" [24; 48] Các núi này đều
nằm về phía Bắc và bao quanh xã có tác dụng như một bức tường thành khổng
lồ che chắn giông bão, gió mùa Thuận tiện cho việc trồng các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ, vật liệu xây dựng và là nơi chăn thả các loại gia súc của nhân dân địa phương
Trên địa phận xã Tùng Lộc, có hai con sông chảy qua đó là sông Nghèn
và sông Yến Giang Hai con sông này bao bọc lấy ba mặt của làng "Tam diện –
Cự hà" Là nơi quan trọng để cung cấp nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt, tưới
tiêu và là nơi khai thác nguồn lợi thủy sản cho nhân dân địa phương, song cũng chính vì những dòng sông này đã gây nên nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân
như nhiễm mặn, lũ lụt làm vỡ đê gây mất mùa Theo sách Phong thổ ký các huyện tỉnh Hà Tĩnh (nhiều tác giả) thì: "Sông Nghèn ở Trảo Nha chảy qua phía Bắc núi Nghèn Đó là một con sông nhỏ chảy từ Tây Bắc xuống đến Đông Nam Sông này nguyên chỉ một vùng đến vùng nào thì mang tên vùng đất ấy Từ sông Nghèn chảy về hướng Đông Nam thì gọi là sông Bến Chăn, có sông Cổ Kinh từ Thạch Hà chảy vào rồi chuyển hướng chảy về phía Đông đổ vào Cửa Sót Từ sông Nghèn chảy về hướng Tây Bắc thì gọi là sông Hà Vàng, sông Cài, sông Bán Thúy, đó là nơi phân thủy Lại chảy về hướng Bắc thì gọi là sông Minh Giang…" [24; 49] Còn sông Yến Giang (còn gọi là sông Ên), sách này chép:
"Sông Yến Giang từ thôn Thanh Lương, chảy về phía Tây đến thôn Hòa Lộc thì chuyển dòng chảy về hướng Đông Nam đổ vào dòng sông Nghèn" [24; 50]
Các vùng đất bãi bồi ven sông, ven núi được người dân Tùng Lộc bao đời nay quần cư, cùng nhau xây dựng nên những xóm làng đông vui, trù mật, làm ruộng đồng, vườn tược Vùng chiêm trũng trồng lúa nước Kinh tế Tùng Lộc
Trang 1716
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó còn trồng nhiều loại ngũ cốc như ngô, khoai, sắn, chăn nuôi trâu bò, gà, lợn, khai thác vật liệu xây dựng, làm mộc, sản xuất tiểu thủ công nghiệp…
Củng giống như các địa phương khác trên địa bàn Nghệ Tĩnh, xã Tùng Lộc nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Từ xưa tới
nay, Nghệ Tĩnh nổi tiếng là vùng có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt là "chảo lửa, túi mưa", đất đai cằn cỗi Khi đánh giá về vùng đất này các nhà sử học xưa
đã từng nhận định:“Tháng giêng gió Đông, mưa nhiều, còn rét, tháng hai khí xuân ôn hòa, từ tháng ba trở đi gió Nam thổi mạnh… tháng tư trong tiết tiểu mãn, thường có mưa lụt; tháng 5, tháng 6 khí trời nóng nực ít mưa, tháng 8 tháng 9 thường có gió to, vùng biển gọi là bão… Mùa thu, mùa đông thường nhiều mưa lụt, có khi một tháng mấy lần… Đến tháng 11 tháng 12 thì gió Tây Bắc, mưa nhiều nắng ít, khí trời rét” [17; 145] Mỗi năm thời tiết được chia làm
hai mùa rõ rệt Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 với lưu lượng mưa trung bình từ 2.200mm đến 2.300mm Là thời điểm chịu rất nhiều cơn bão
và áp thấp nhiệt đới, mưa dầm gió bấc Mùa khô thì từ tháng 1 đến tháng 7 trong năm Tuy nhiên, từ tháng 1 đến tháng 3 lại thường có gió mùa Đông Bắc gây ra những đợt rét đậm, rét hại kéo dài Nhiệt độ thấp nhất có lúc xuống dưới 10o
C
Từ tháng 4 đến tháng 7, 8 lại phải chịu từng đợt gió phơn Tây Nam (thường gọi
là gió Lào, hoặc Nam Lào), cùng với cái nóng gay gắt đã đưa nhiệt độ lên cao có lức vượt ngưỡng 39, 40oC mà kéo theo đó là cái nóng hầm hập cả ngày lẫn đêm gây ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và đời sống của nhân dân
Nhưng cũng chính vì sống trong điều kiện môi trường thiên nhiên khắc nghiệt như vậy, nên đã tôi luyện cho con người Nghệ Tĩnh nói chung và xã Tùng Lộc nói riêng những đức tính, cốt cách, tâm hồn và tình cảm mang tính
đặc sắc, khu biệt so với các vùng, miền khác: "Gió Lào thổi rạc bờ tre Chỉ nghe giọng nói Đã nghe nhọc nhằn" (thơ Nguyễn Bùi Vợi) Đó chính là truyền thống
can trường, gan dạ vượt lên trên mọi hoàn cảnh để chống chọi với thiên nhiên,
Trang 1817
với giặc ngoại xâm Cần cù, chịu khó, chịu đựng gian khổ trong lao động sản xuất Thủy chung son sắt, cần kiệm, cương trực, trọng lẽ phải, tôn sư hiếu nghĩa trong đời sống Lịch sử đã chứng minh rằng đã có rất nhiều người con xứ Nghệ dám vượt lên trên tất cả để đi đến tận cùng niềm đam mê, sở nguyện của mình
mà trong số đó Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, Đình nguyên Tiến sỹ Phan Đình Phùng là một trong những ví dụ tiêu biểu, điển hình
1.1.2 Truyền thống lịch sử văn hóa
"Hồng Lĩnh, Yến giang thiên cổ địa", là một trong những cái nôi của trung
tâm văn hóa xứ Nghệ Trải qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển Thiên Lộc xưa, Can Lộc nay là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, yêu nước
và cách mạng Nơi đây mỗi địa danh, mỗi ngọn núi, dòng sông dường như đều mang trong mình những dấu ấn, hào quang của lịch sử Hiện nay chưa có một nguồn cứ liệu khoa học nào có thể khẳng định sự tồn tại của cư dân Can Lộc có
tự bao giờ, nhưng qua các bản thần tích, dã sử và huyền sử như chuyện ông Đùng, chuyện cố đô Việt Thường của Kinh An Dương Vương trên núi Hồng Lĩnh Chuyện vua Sở Trang Vương và nàng Diệu Thiện với ngôi chùa Hương Tích cổ kính thì chúng ta có thể khẳng định rằng đã từ rất lâu đời, Can Lộc đã là vùng đất lành, nơi quần cư của trăm họ cùng nhau về đây khai sơn phá thạch,
mở mang thực nghiệp, chống chọi với thiên nhiên để lập nên nhiều ruộng đồng, làng mạc Với những truyền thống tốt đẹp như sống nhân nghĩa, thủy chung, sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa và khát vọng luôn vươn tới trong suốt trường kỳ của lịch sử, người dân Thiên Lộc/Can Lộc đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự hưng thịnh, phát triển chung của quê hương, đất nước
Đặc biệt, Can Lộc còn nổi tiếng khắp cả nước là mảnh đất hiếu học và có nhiều người học giỏi trên cả hai lĩnh vực là văn thần và võ tướng Với cơ tầng văn hóa lúa nước, chịu sự ảnh hưởng của quan điểm nho gia, đồng thời thường xuyên giao lưu, tiếp biến với các thành tựu tinh hoa văn hóa của dân tộc Người dân Can Lộc đã sớm khẳng định được mình, trở thành một vùng văn hiến không
Trang 19"Bút Cấm Chỉ, sỹ Thiên Lộc" Nếu như ở đất kinh kỳ có "Thăng Long tứ hổ" thì
Can Lộc củng có Sỹ Bồi, Sỹ Bạt (cháu nội của Nguyễn Văn Giai) và Tất Đạt,
Quang Hiểu ở vùng Bạt Trạc, Phù Lưu củng có phần không kém cạnh, rồi "Sạc Sơn tứ diện giai công hầu", "Kiệt Thạch tam khoa tam Tiến sỹ"…Hơn sáu thế kỷ khoa cử (1075 – 1919), theo Đăng khoa lục và Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh
[8;25] thì toàn tỉnh Hà Tĩnh có 148 vị đậu đại khoa (Phó bảng trở lên) trong đó riêng huyện Can Lộc có 35 vị (chiếm gần 1/4) đã được bảng vàng, bia đá đề danh Tên tuổi, trí tuệ, phẩm chất, cốt cách cùng với những sự nghiệp hiển hách của những người người con ưu tú đó đã làm rạng danh truyền thống quê hương
Đó chính là cha con Đặng Tất, Đặng Dung sáng ngời nghĩa khí trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược thời Hậu Trần (1407 – 1413) Ngự sử Đô đài Bùi Cầm Hổ ở Đậu Liêu đã có công rất lớn trong việc dẫn thủy nhập điền tưới
tiêu cho hàng trăm mẫu ruộng và vụ án "canh lươn" nổi tiếng, sau khi mất được phong làm Thượng đẳng phúc Thần Danh sỹ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, người mà: "một lời nói nâng nổi cả cơ đồ" (Nguyễn Huệ), đã có công giúp rập
vua Quang Trung đại phá 20 vạn quân Thanh xâm lược Rồi Anh nghị Đại vương Phan Kính, thiên tư sáng láng một đời trung quân ái quốc, Vũ Diễn bậc danh nho trí tuệ phi thường…Bên cạnh các văn thần, ở Can Lộc điều đặc biệt là còn nổi lên hai dòng thế tướng là họ Ngô và họ Võ (họ Võ nay thuộc huyện
Thạch Hà) được sách Lịch triều hiến chương loại chí ca ngợi là "Thạch Hà tướng phiệt" Ngô Phúc Vạn và dòng họ Ngô Trảo Nha 18 đời Quận công là
những con người nổi tiếng phong tiết và tận trung với dân với nước được vua Tự
Đức ca ngợi "Trảo Nha chi xã tắc" (Trảo Nha là nanh vuốt của xã tắc vậy)
Trang 2019
Song hành cùng truyền thống học hành khoa bảng là truyền thống văn học
và thi ca Các tác phẩm Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự, Mai đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ cùng với kiệt tác Truyện kiều của Nguyễn Du ở Nghi Xuân
và với nhiều tác phẩm xuất sắc khác đã làm nên một "Hồng Sơn văn phái" nổi
tiếng, được xếp vào hàng những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học nước nhà Các làn điệu của hát ví phường vải với âm hưởng và ca từ ngọt ngào từ lâu đã là cội nguồn của dân ca xứ Nghệ Cùng với Trường Lưu bát cảnh, nét suy tư trầm mặc của Đền cả Ích Hậu, phong cảnh hữu tình của chùa Chân Tiên, chùa Hương Tích trên đỉnh núi Hồng…từ lâu phủ bóng thời gian là những di sản văn hóa vô giá đã được các thế hệ nhân dân Can Lộc dày công vun đắp trong suốt trường kỳ của lịch sử
Xã Tùng Lộc nằm dưới chân ngọn núi Long Ty và núi Ong thuộc dãy núi Hồng Lĩnh, bên bờ tả ngạn dòng sông Nghèn, sông Yến hiền hòa chảy vắt qua những xóm làng, cánh đồng, bến bãi Là quê hương của rất nhiều danh nhân lịch
sử trong một vùng địa văn hóa núi Hồng – sông La Nơi đây, thời Hậu Trần có cha con Đặng Tất, Đặng Dung, Đông các Học sỹ Trần Đức Mậu Thời Lê có Thái tể Tiến sỹ Quận công Nguyễn Văn Giai, Đô đốc tướng quân Hồ Thế Bài, Tiến sỹ, Tham chính Sơn Nam Hà Tông Mục…Cùng với nhiều công trình kiến trúc cổ đẹp có giá trị như Đền Cả, chùa Minh Thịnh, chùa Cơn Áo, miếu Tam Tòa, nền Giang Sơn có nguồn gốc từ thời Lý, Trần Các đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung, đền thờ Nguyễn Văn Giai, đền thờ Hà Tông Mục, bia Sùng Chỉ…và hàng chục ngôi nhà thờ cổ kính của các dòng họ được xây dựng để phụng thờ tổ tiên, tưởng nhớ đến những người khai sơn, lập địa trên mảnh đất này Tùng Lộc còn
là nơi đang bảo lưu những nét văn hóa dân gian phong phú như hát phường vải, hát dặm, chơi trò kiều, đu tiên, hội vật, thả diều sáo…
Ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời tại Tùng Lộc đã có ba chi bộ được thành lập (chi bộ Hạc Giang, Yến Giang và Hồng Sơn) với 38 đảng viên
Là một trong những địa phương của huyện nhanh chóng thành lập các tổ chức,
Trang 2120
đoàn thể quần chúng như: Đoàn thanh niên, Nông hội đỏ, Chi hội phụ nữ, Cán
bộ tự vệ và ám sát, cùng với rất nhiều các đồng chí là cán bộ tiền khởi nghĩa
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam Đảng bộ và nhân dân xã Tùng Lộc đã đóng góp rất nhiều sức người, sức của vào sự nghiệp chung của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Theo thống kê, hiện nay trong toàn xã có 111 người là liệt sỹ, 68 thương binh, 65 bệnh binh, 01 mẹ Việt Nam anh hùng, 12 hộ gia đình được Chính phủ tặng bằng có công với nước và hàng trăm lượt cán bộ, đảng viên, nhân dân được tặng thưởng huân, huy chương các loại [1; 74]
là nơi có con người tụ cư sinh sống, nhưng sau đó hậu duệ của những cư dân này là ai, ở đâu thì hiện chưa có một nguồn sử liệu nào khẳng định được Cùng với cư dân bản địa, dưới thời Bắc thuộc kéo dài trên 1000 năm (từ 179 TCN thuộc nhà Triệu, đến năm 938 thuộc nhà Hậu Tấn) Đi cùng chính sách đô hộ của các vương triều phương Bắc là quá trình đồng hóa bằng việc khuyến khích quan lại, binh lính ở lại sinh cơ lập nghiệp Đưa tù phạm, dân nghèo sang sống xen kẽ với cư dân Việt Bên cạnh đó còn có một lực lượng không nhỏ là các quý tộc quan lại thất thế hoặc bất mãn với triều đình chạy sang các quận Giao Chỉ,
Cửu Chân mang theo rất nhiều gia nhân, binh lính Theo sách Tiền Hán thư ,
thời bấy giờ quận Cửu Chân gồm có 7 huyện với 35.743 hộ; 166.013 nhân khẩu Nếu chia đều thì huyện Hàm Hoan (Nghệ Tĩnh) bây giờ có khoảng 5000 hộ với
Trang 2221
27.000 nhân khẩu Hai năm sau, vào thời Đông Hán theo sách Hậu hán thư thì
quận Cửu Chân có 46.513 hộ với 209.894 nhân khẩu Đến giữa thế kỷ thứ VII,
theo sách Tùy thư ở Nhật Nam (tương đương với vùng Nghệ Tĩnh bây giờ) có 9.915 hộ Theo Cựu và Tân (Đường thư) thì vào năm 700 dân số Châu Hoan
(Nghệ Tĩnh) có 6.579 hộ với 16.689 nhân khẩu; năm 726 có 6.649 hộ; năm 740
có 6.629 hộ với 53.818 nhân khẩu Tuy nhiên con số này còn thấp so với thực tế rất nhiều bởi chính quyền đô hộ không thể quản lý xuống tận cơ sở
Dựa vào các nguồn tài liệu về dân số của vùng đất tương ứng với vùng Nghệ Tĩnh bây giờ, chúng ta có thể khẳng định vào các thời Hán, Tùy, Đường
đã có con người cư trú trên vùng đất Hà Tĩnh ngày nay, tuy nhiên còn rất thưa thớt Nhưng đã có nhiều làng cổ, những "Kẻ" tới vài chục nóc nhà (hiện nay ở Can Lộc, số làng có tên Nôm là "Kẻ", chiếm tỷ lệ hơn 2/3 và số làng có tên "Xá" chiếm trên dưới 10% số làng trong toàn huyện), nhất là ở ven các dòng sông lớn [14; 111]
Bước sang các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê do thời gian cầm quyền ngắn ngủi lại phải lo đối phó với thù trong giặc ngoài nên việc khẩn hoang lập
ấp mở mang thực nghiệp chưa được các triều đại này chú trọng Đến thời Lý (1009 – 1225), đặc biệt kể từ khi Lý Nhật Quang vào làm Tri châu Nghệ An (1041), cùng với nhiều công lao khác, ông là người đặc biệt đã có công rất lớn trong việc khai khẩn đất đai, mở rộng thêm nhiều vùng cư dân, phát triển nghề
nông Sách Việt điện u linh chép: Nghệ An lúc này gồm 6 huyện, 4 trường, 60
giáp, với 46.450 hộ và 53.346 nhân khẩu Như vậy trung bình mỗi huyện có 10 –
11 trường, giáp với 7.741 hộ và 9.060 nhân khẩu
Đến thời Trần (1225 – 1400), việc khai phá đất đai, mở rộng vùng cư trú ngày càng gia tăng Ngoài dân bản địa đã phát triển hơn trước, còn có người ở các Lộ vùng ven sông Hồng, sông Mã tìm đường di cư vào vùng đất mới làm ăn Nhiều văn thần, võ tướng binh lính đến đây trị nhậm rồi ở lại lập nghiệp
Trang 23nữ, đồng ấu không tính vào đây" [24; 53,54]
Từ các nguồn tư liệu khảo cổ học, các thư tịch cổ cùng với các truyền thuyết, huyền sử chúng ta không thể biết được chắc chắn rằng, nhân dân Can Lộc nói chung và xã Tùng Lộc nói riêng chính xác có từ bao giờ Nhưng có thể khẳng định rằng, muộn nhất thì vào cuối thời Trần vùng Phỉ Lộc/Phúc Lộc đã là nơi quần cư đông đúc của trăm họ Gia phả dòng họ Đặng – Tả Hạ thuộc dòng Quốc công Đặng Tất xã Tùng Lộc - một trong những bản gia phả lâu đời nhất ở huyện này được biên soạn từ năm Khánh Đức thứ 4 (1652), chép từ vị thủy tổ
mộ được táng tại núi Long Ty đến Thám hoa Thượng thư Đặng Bá Tĩnh là thế
hệ thứ hai, Đặng Tất là thế hệ thứ tư Tuy gia phả không ghi rõ năm sinh, năm mất của từng người Nhưng về nhân vật Đặng Tất, soi chiếu qua chính sử thì ông không rõ năm sinh nhưng mất vào năm 1409 Như vậy, theo cách tính giản đơn, từ thế hệ Đặng Tất trở về trước, dòng họ này đã định cư ở đây vào thời Trần, đời vua Trần Nhân Tôn (1279 – 1293), cách đây hơn 720 năm Gần kề họ Đặng Tả Hạ là dòng họ Hà Tỉnh Thạch Theo cuốn gia phả dòng họ thì tiên tổ dòng họ nguyên ở Hà Hoa, thủy tổ là Hà Tôn Mại ra ở vùng Cẩn Tiết (Thạch Hà), đến Thái học sinh thời Trần là Hà Tôn Hiểu mới dời ra Thiên Lộc Theo
các cuốn: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (trang 169); Từ điển Hà Tĩnh (trang 716); Nhân vật họ Hà Nghệ Tĩnh, tập 1 (trang 17)… khi nói về nguồn gốc
tên làng Tỉnh Thạch đều kể về giấc mộng của Hà Công Trình Chuyện rằng:
"Xưa kia, làng có tên là Đồng Tỉnh Tương truyền vào giữa thế kỷ thứ XV, Hà Công Trình vốn nhà nghèo một hôm đi chơi về khuya say rượu nằm lăn ở trên hòn đá đầu làng ngủ thiếp đi Trong giấc mơ thấy một người đến khuyên nhủ bỏ
Trang 2423
rượu và chuyên cần việc học ắt sẽ thành tài Tỉnh dậy, theo lời của người trong mộng ông chăm chỉ học tập và quả nhiên đậu Hoàng Giáp khoa thi năm 1466, làm quan đến chức Thượng thư Từ đó ông cho đổi tên làng Đồng Tỉnh thành Tỉnh Thạch (nhờ hòn đá mà tỉnh ngộ)" [55; 716]
Như vậy, cho đến hôm nay đã có ít nhất trên 700 năm xã Tùng Lộc đã là nơi tụ cư đông đảo của 7 dòng họ như họ lớn với nhiều chi phái khác nhau như
họ Đặng – Tả Hạ, họ Hà, họ Nguyễn (bao gồm Nguyễn Đức, Nguyễn Chỉ, Nguyễn Xuân, Nguyễn Viết), họ Phan (Phan Đình, Phan Văn), họ Võ, họ Hồ và
họ Mạc
Tiếp nối nguồn mạch truyền thống của quê hương, các dòng họ và các thế
hệ cư dân nơi đây đã sớm tạo lập và xây dựng được một truyền thống văn hóa, văn hiến phong phú đặc sắc, đạt được nhiều thành tựu xuất sắc trên nhiều lĩnh vực cùng nhiều nhân vật ưu tú, kiệt xuất (đặng biệt đối với dòng họ Hà và họ Đặng – Tả Hạ) Góp phần quan trọng vào sự phát triển của văn hóa quê hương
Hà Tĩnh, văn hóa xứ Nghệ và nền văn hóa, văn hiến dân tộc
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ Hà xã Tùng Lộc 1.2.1 Lịch sử hình thành
Căn cứ theo các cuốn Hà thị gia phả (gia phả họ Hà) xã Tùng Lộc cùng
gia phả các chi phái họ Hà khác ở Tiên Điền (Nghi Xuân), Cẩm Hưng (Cẩm Xuyên), Đức Vĩnh (Đức Thọ), Sơn Hòa, Sơn Thịnh (Hương Sơn)… và rất nhiều
sách, ấn phẩm khác đã được xuất bản như: Nhân vật lịch sử họ Hà Việt Nam; Nhân vật lịch sử họ Hà Nghệ Tĩnh; Họ Hà các nhà khoa bảng, các nhân vật lịch
sử, văn bia; Bốn vị danh nhân danh thần họ Hà; Kỷ yếu Hội thảo khoa học…và
một hệ thống các di tích lịch sử gắn liền với dòng họ Hà trên địa bàn Hà Tĩnh có thể xác định: Thượng tướng quân, Thượng vị Hầu, Trấn thủ Nghệ An, tự Tông Hiểu Hà Mại (1334 – 1410), là thủy tổ dòng họ Hà ở Nghệ Tĩnh
Theo tư liệu của dòng họ, Hà Mại là con út xuất thân trong một gia đình hào trưởng ở xứ Bắc (hiện nay vẫn chưa xác định được quê gốc của Hà Mại) Hà
Trang 2524
Mại sinh ngày mồng 8/4 năm Giáp Tuất (1334), tại kinh thành Thăng Long và mất ngày 20/8 năm Canh Dần (1410) ở phía Nam núi Hồng Lĩnh (nay là xóm Cứu Quốc xã Thuần Thiện, Can Lộc, Hà Tĩnh), hưởng thọ 77 tuổi
Nổi tiếng là người thông minh nhanh nhẹn và có sức khỏe hơn người, thửa nhỏ Hà Mại được bố mẹ cho học cả văn lẫn võ, nhất là rèn cặp binh khí, luyện tập võ nghệ Đến năm Thiệu Phong thứ 11 (1351) nhân khi triều đình mở khoa thi võ ông đã ra ứng thí và trúng tuyển hạng ưu, được bổ chức chỉ huy một đội quân Cấm vệ trong Hoàng thành Thăng Long Khi đó ông mới 18 tuổi
Lúc này, nhà Trần bước vào giai đoạn suy vong "giặc cướp đua nhau nổi dậy" [19; 163] Quân Chiêm Thành thường xuyên quấy nhiễu vùng biên giới
phía Nam và đã có nhiều lần đánh thẳng vào tận kinh đô Đại Việt Vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369), đã nhiều lần xuống chiếu cho xét định quân ngũ, tuyển thêm binh lính, sửa soạn binh khí, chiến thuyền để điều động (cả với Cấm quân
là quân bảo vệ nơi kinh thành), đi đánh dẹp quân Chiêm Năm Bính Thân (1356), Hà Mại lúc này là chỉ huy Cấm vệ quân ở kinh thành được giao chỉ huy một đội quân đi theo phò tá Thượng hoàng Trần Minh Tông (1314 -1329) và vua Trần Dụ Tông đi kinh lý vùng biên ải phía Nam Về sự kiện này, chính sử
chép: "Tháng 3…nhà vua rước Thượng hoàng đi tuần nơi biên giới, đến Nghệ
An (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) Tháng 5, mùa hạ, trở về cung" [57; 630] Nhận thấy rõ đây là vùng đất "phên dậu", và là địa bàn chiến lược ở
phía Nam đất nước, nhà vua đã giao cho Tướng quân Hà Mại ở lại, cùng trấn giữ vùng đất Nghệ An Kể từ đây, cuộc đời và sự nghiệp của Hà Mại gắn liền với việc bảo vệ vững chắc vùng biên ải phía Nam của tổ quốc Góp phần to lớn trong các cuộc chiến tranh chống giặc Chiêm Thành quấy nhiễu trong những năm từ 1376 - 1389 Tại đây, ông đã kết hôn cùng bà Lê Thị Quý Yên, hòa mục cùng nhân dân sở tại, mở nghiệp, truyền tông cho các đời con cháu về sau và trở thành thủy tổ dòng họ Hà ở Nghệ Tĩnh
Trang 2625
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XIV, nhà Trần suy yếu Thế lực của
Hồ Quý Ly ngày càng lớn mạnh và lũng đoạn triều chính Một số triều thần trung thành với nhà Trần tìm cách chống lại và bị giết hại Số còn lại không muốn phụng sự nhà Hồ đành thoái quan lui về ở ẩn Năm 1389, Hà Mại đã rũ áo
từ quan về sống cùng với vợ là bà Lê Thị Quý Yên và con cháu ở dưới chân núi Hồng Lĩnh, huyện Phỉ Lộc, trấn Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh)
Sau khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần "Tháng 2, mùa xuân Quý Ly truất nhà vua làm Bảo Ninh Đại vương, Quý Ly tự xưng Hoàng đế" [57; 707]
Đến tháng 9 năm 1406, nhà Minh sang xâm lược nước ta Nhà Hồ thất bại, cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán thương và đồ đảng bị bắt đưa về Kim Lăng Trần Ngỗi, con thứ của Trần Nghệ Tông lên ngôi vua xưng là Giản Định đế cùng với các tướng là Trần Triệu Cơ, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân đã cùng nhau mưu tính việc khôi phục lại cơ nghiệp nhà Trần
Theo gia phả dòng họ, nhận được tin đó Hà Mại cùng với người con trai là
Hoàng bảng Đại tướng quân Hà Tông Chính (1366 – 1413) đã đứng lên kêu gọi
nhân dân, hào kiệt nghĩa sỹ trong vùng, trữ lương, mộ lính xây dựng lực lượng, căn cứ địa ở phía Nam núi Hồng Lĩnh rồi kéo quân ra quy tụ dưới ngọn cờ nghĩa của Trần Ngỗi Trực tiếp tham gia trận đánh ở bến Bồ Cô (huyện Phong Doanh tỉnh Nam Định) thu được nhiều thắng lợi Sau chiến thắng này, vì nghe theo lời dèm pha của bọn Nguyễn Quý và Nguyễn Mộng Trang, Trần Ngỗi đã sai người giết chết Đặng Tất và tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) và Đặng Dung (con Đặng Tất), bèn rước Trần Quý Khoáng (cháu vua Trần Nghệ Tông) đến Nghệ An rồi lập lên làm vua, xưng là Trùng Quang đế Cha con Hà Mại lại tìm về dưới trướng vua Trùng Quang, góp phần quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của vua tôi nhà hậu Trần trong những năm đầu thế kỷ XV
Khởi thủy từ Hà Mại, về sau con cháu dần đông đúc Dòng họ Hà trở thành một cự tộc trên mảnh đất Hồng Lam Đặc biệt trong đó có rất nhiều người
Trang 27Hà là Hà Tôn Hiểu từng phò tá nhà Trần nên được ban tước Hầu kiêm phụng đi
sứ phương Bắc Gia cảnh cụ củng giàu có nhưng gặp phải cảnh binh hỏa nên ẩn
cư đến chùa An Lạc, núi Hồng Lĩnh huyện Thiên Lộc Cụ sinh ra trưởng nam là
Hà Nho, tìm đến sinh sống ở thôn Đồng Lương (Lượng?) Sinh thứ nam là Hà Công Trình Từ nhỏ tính hiếu học, đọc rộng thi thư, là người có đức hạnh nổi tiếng khắp thiên hạ, cự phách đất An – Tĩnh" [10; 1]
Hà Nho, con Hà Tông Chính là cháu dòng đích của Hà Mại sau cái chết oanh liệt của cha đã tìm về ẩn thân nơi thôn dã nhằm tránh sự truy lùng gắt gao của quân Minh đô hộ bên tả ngạn dòng sông Nghèn xã Đông Tỉnh, huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh) và trở thành dòng họ Hà gốc trên đất Hà Tĩnh Bắt đầu từ đây mở ra một chương mới cho sự phát triển của một dòng họ với nhiều gương mặt lẫy lừng, đã làm rạng danh cho quê hương xứ sở
1.2.2 Quá trình phát triển
Tại quê hương Tỉnh Thạch, Hà Nho đã sinh ra Hà Công Trình (1434 –
1511) Một cậu bé thông minh sáng dạ, lại được sự kèm cặp dạy dỗ của người cha, nên chẳng bao lâu Hà Công Trình trở nên nức tiếng giỏi giang Khoa thi Hội năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466), Hà Công Trình là một trong 27 người thi đỗ kỳ này Đến cuộc thi Đình để xếp hạng cao thấp thì ông là một trong 8 người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ, Hà Công Trình xếp thứ 4, trên 19
người đỗ Đồng Tiến sỹ, lúc này ông mới 33 tuổi Sách Đại Việt sử ký toàn thư,
Trang 2827
tập 2; trang 270 chép: "Thi Hội các cử nhân trong nước, lấy đỗ 27 người Tháng
3 ngày 12 vua ngự ra cửa Kính Thiên, thân ra đầu bài văn sách hỏi về các đế vương trị thiên hạ…Ngày 26, xướng danh bọn Tiến sỹ Dương Như Châu, ban cho ân mệnh; bộ Lễ đem bảng vàng treo ở ngoài cửa Đông Hoa" [19; 270] Sau
khi hiển đạt, Hà Công Trình trải qua các chức quan từ ngoài trấn vào tới trong triều Đầu tiên là quan huyện lệnh Tứ Kỳ (Hải Dương), rồi thăng dần lên các chức Thái thường tự khanh, Thượng thư các bộ Binh, Hình, Công và cuối cùng
là chức Nhập thị kinh diên
Năm 1504, khi đã 70 tuổi Hà Công Trình được vua cho về trí sỹ tại quê nhà xã Tỉnh Thạch Sau khi ông tạ thế, để ghi nhớ tới công lao của một vị lão thần đức cao vọng trọng, các đời vua nhà Lê, nhà Nguyễn về sau đã có sắc
phong tôn ông lên hàng phúc Thần có vị hiệu là "Đoan túc dực bảo trung hưng thần" và "Tuấn lương thần"
Nếu như dòng họ Hà Tỉnh Thạch đã khởi đầu từ Hà Mại với những võ công oanh liệt thì đến Hoàng giáp Hà Công Trình đã khai sáng nghiệp văn hiến thi thư Kể từ đây về sau, nối tiếp tấm gương các vị tiền nhân, con cháu trong dòng tộc đã không ngừng dùi mài kinh sử, ra sức học tập và trong số đó có nhiều người đã làm nên sự nghiệp vinh hiển như: Tiến sỹ, Tả thị lang, Hoan lĩnh Tử,
Hà Tông Mục (1653 – 1707); Bảng nhãn Hà Tông Huân (1697 – 1766); Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân Hà Tông Quyền (1798 – 1839); Cố Tổng bí thư Hà Huy Tập (giai đoạn 1936 – 1938); Các Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh như Hà Quang Tập (1941), Hà Uyên (1949), Hà Huy Giáp (1907 – 1995)…
Trong lịch sử phát triển của dòng họ Hà có một sự kiện nổi bật được chép trong gia phả đó là: Mùa xuân năm Giáp Thân (1584), người con trai út của Hà Oanh làm Huyện thừa huyện Thạch Thành là Hà Khiên làm cỗ khao làng Buổi tối nấu cháo cho người thức đêm bồi dưỡng, nhưng không hiểu vì lý do gì, một gói hạt đại phong từ trên gác bếp rơi vào nồi cháo có người ăn bị chết (hạt này thường dùng làm thuốc đánh chim) Vậy là quan về bắt ông Hà Khiên và người
Trang 29- Dòng họ Hà ở Khiêm Ích, Khố Nội: (Hiện nay bao gồm các xã vùng
thượng Can Lộc như Đồng Lộc, Trung Lộc, Sơn Lộc, Tiến Lộc) Đây là vùng bán sơn địa, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên nhìn chung đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Kể từ khi Hà Công Cự về lập nghiệp tại đây đã trải hơn 20 đời, trong đó có một số người đỗ đạt, thành danh và có nhiều đóng góp cho quê hương xứ sở
- Dòng họ Hà Kim Nặc (Cẩm Hưng, Cẩm xuyên): Hà Tích là đời thứ 7
của họ Hà Tỉnh Thạch Sau khi xẩy ra sự kiện mùa xuân năm Giáp Thân (1584)
đã về lánh nạn rồi lập nghiệp tại đây Từ đây dòng họ Hà đã lan tỏa, thiên di đi khắp nhiều nơi trong huyện Cẩm Xuyên và trong tỉnh như vào Kỳ Anh, lên Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ Ra Nghệ An đến các vùng Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên Về sau, trong số đó còn có một số người định cư cả ở nước ngoài Đây là chi nhánh nổi bật của dòng họ đã sản sinh rất nhiều nhân tài cho quê hương đất nước trong suốt gần nửa thiên niên kỷ Đó là các hương cống
Hà Huy Sào, Huấn đạo Hà Huy Quang, Hà Từ, Thừa Chỉ Tri huyện Hà Học Hải, Tri phủ Hà Huy Nhiếp, Đốc học Hà Huy Phẩm, Giáo thụ Hà Học Văn, Quan cử
Hà Huy Đỉnh, Tham chính Điện thọ Bá Hà Đào, Sinh đồ Hà Văn Giảng, Hà Tiến Phúc, Hà Huy Thản, Hà Tôn Toại, Hà Tôn Nhạ, Hà Tuấn Thanh, Hà Danh Siêu, Tú tài Hà Văn Quan, Hà Văn Viên…trải dài suốt các các triều Hậu Lê, Mạc và Nguyễn
Trang 3029
Đến những thập niên đầu của thế kỷ XX, nhất là sau khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chi phái này đã sản sinh ra rất nhiều nhân vật tiêu biểu, xuất sắc đóng góp trên nhiều lĩnh vực như Bí thư Tỉnh ủy Hà Quang Tập, Hà Uyên, Bộ trưởng chính phủ kháng chiến Hà Huy Thái Các đồng chí là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng như Hà Huy Giáp, Hà Xuân Trường, Hà Học Trạc Nguyên phó Ban tư tưởng văn hóa Trung ương Hà Học Hợi Các nhà khoa học tên tuổi như Hà Huy Khoái, Hà Huy Khôi, Hà Huy Vui, Hà Học Ngô, Hà Huy Kế, Hà Huy Cương, Hà Thị Mỹ Hương, Hà Mai Hiên, Hà Anh Đào, Hà Huy Tâm, Hà Huy Tiến, Hà Huy Thông…và còn nhiều, rất nhiều các danh nhân tiêu biểu khác đã và đang đưa hết tâm sức, năng lực và trí tuệ của mình ngày đêm âm thầm cống hiến cho quê hương, đất nước
Đặc biệt trong số đó có cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập (1906 – 1941) Ông
là một trong những người chiến sỹ cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên của Đảng, kiên cường bất khuất, suốt đời chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp độc lập và giải phóng dân tộc
- Dòng họ Hà Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh): Hà Sán (còn gọi là Hà
Xán), sau khi chạy đi lánh nạn đã dừng lại định cư ở vùng Tiên Điền Sau đó, một số con cháu trong chi phái này đã thiên di, lan tỏa sang các vùng phụ cận như: Xuân Giang, Xuân Đan, Cương Gián, Xuân Hồng, Xuân Lĩnh sang Vĩnh Yên (thành phố Vinh hiện nay), Thanh Chương, Nghi Lộc (Nghệ An) Đến khoảng đầu hoặc giữa thế kỷ thứ XVII, có một số người lại đến định cư ở thôn Vàng, xã Kim Vực, huyện Yên Định, trấn Thanh Hóa (căn cứ vào văn bia tại di tích Hà Tông Huân tại đây thì ông vốn là người họ Hà ở vùng Tiên Điền, Hà Tĩnh) [45; 60] Bảng nhãn Hà Tông Huân (1697 – 1766), nổi tiếng là người thông minh, tài năng và đức độ Năm 1711, khi mới 15 tuổi ông đã đỗ Hương cống Đến năm Bảo Thái thứ năm, đời vua Lê Dụ Tông, thi Đình đỗ Tiến sỹ
Sách Đại Việt sử ký tục biên chép: "Tháng ba năm Giáp Thìn (1724): Thi Đình cho Hà Tông Huân đỗ Tiến sỹ Cập đệ, Đệ nhị danh (Bảng nhãn), Huân người
Trang 3130
Kim Vực huyện Yên Định do khoa Sỹ vọng mà đỗ" [59; 95] Trải qua các chức
Thượng thư bộ Binh, Tham tụng (Tể tướng), Tế tửu Quốc tử giám Học trò của ông về sau có nhiều người đỗ đạt thành danh tiêu biểu như: Phan Kính, Nguyễn Huy Oánh
Sách Nhân vật lịch sử họ Hà Nghệ Tĩnh còn cho biết thêm, người con thứ
hai của Hà Tông Huân là Hà Tông Sấm sau khi đỗ đạt ra làm quan tại huyện Thanh Oai (Hà Nội) đã định cư tại xã Cát Động Hà Tông Sấm sinh ra Hà Tông Đồng, đỗ Hương cống thời Lê Trung hưng làm Tri huyện Nghi Dương (phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, nay thuộc thành phố Hải Phòng) và Hà Tông Sấm
đã sinh ra Hà Tông Quyền (Hà Quyền) Về sau, chi phái dòng họ này còn có một số người đỗ đạt thành danh như Hà Tông Vạn, Hà Tông Cậy…
Hà Tông Quyền (1798 – 1839), đỗ Hội nguyên, Tiến sỹ khoa Nhâm Ngọ năm Minh Mệnh thứ ba (1822) Lần lượt được bổ qua các chức Tri phủ Tân Bình (Gia Định), Tham biện Quảng Trị, Thiêm sự bộ Công, Thái thường tự Thiếu khanh, Hữu thị lang bộ Lễ, Hàn lâm viện kiểm thảo…Ông là một trong
những tác gia tên tuổi đã để lại nhiều trước tác như: Cát Động Hà Tiến sỹ thi tập; Cát Động Hà Tốn trai tiên sinh thi tập; Chuẩn định hương hội pháp thí; Cát Động Hà đại nhân thi tập; Phương Trạch Hà Tốn phủ truyện thi tập; Tốn Phủ học vịnh và Phương Trạch Hà Tốn Phủ dương trình tập…Đặc biệt là tác phẩm Mộng dương tập được viết trong chuyến đi dương trình hiệu lực sang Inđônêxia Tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, nhiều áng thơ đẹp Từ điển bách khoa Việt Nam viết: "… một số bài trong đó tỏ ý chán nản, băn khoăn về lẽ hành tàng, xem cuộc đời như giấc mộng" Đồng thời ông củng là người tham gia biên
tập, kiểm duyệt, đề tựa và có tên trong rất nhiều tác phẩm mà hiện nay Viện nghiên cứu Hán nôm đang còn lưu giữ và khảo cứu
Hậu duệ của Hà Tông Huân còn có Hà Duy Phiên (1791 – 1852) Theo
Bản tộc phả ký trong Hà tộc phả ký (Quyển 2) của dòng họ Hà đại tông tại xã
Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa thì dòng họ này có nguồn gốc từ
Trang 3231
chi họ Hà của Hà Tông Huân ở xã Kim Vực, huyện Yên Định, trấn Thanh Hóa đến định cư từ nửa sau thế kỷ thứ XVIII tại xã Bột Hưng (về sau đổi là Hoằng Nghĩa, Hoằng Lộc) Kể từ đời Hà Tông Huân đến Hà Duy Phiên khoảng 5 – 6 đời Hà Duy Phiên đỗ Hương cống khoa Kỷ Mão, niên hiệu Gia Long thứ 18 (1819) Được bổ làm Tri phủ Hoằng An, sau dần thăng lên đến Tham hiệp Quảng Trị, Tả Hữu Thị lang các bộ Hộ, Lễ, Hình, Lại, Công và Tả Phó Đô ngự
sử Viện đô sát đồng thời là Toản tu biên soạn bộ Liệt thánh thực lục (tức Đại Nam thực lục tiền biên) Tuần phủ Gia Định rồi thăng lên Thượng thư các bộ
Công, bộ Hộ, Độc quyển thi Đình, Hiệp biện Đại học sỹ…Mặc dầu không phải
là người giành được cao khoa theo đường cử nghiệp nhưng có thể nói rằng cuộc
đời làm quan của ông không "hoạn hải ba đào" mà rất hanh thông để đến cuối
đời dưới thời vua Tự Đức ông được phong là Thái tử Thiếu bảo, lĩnh Thượng thư bộ Hộ (kiêm Chưởng bộ Hình), sung làm Chủ khảo kỳ thi Chế khoa Ông là người đã có rất nhiều đóng góp trên các mặt kinh tế, quân sự, giáo dục, sử học Tháng 2 năm Mậu Ngọ (năm Tự Đức thứ 11- 1858) ông là người được triều thần bàn xét chuẩn cho những bề tôi cũ được bày bài vị thờ ở đền Hiền Lương Trong
cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam khi đánh giá về ông các tác giả đã đưa
ra nhận định: "Hà Duy Phiên là một quan lại cao cấp, một học giả uyên thâm và
có thực tài" [51; 220]
Về học hành khoa bảng, dòng họ Hà Tiên Điền còn có rất nhiều người hiển đạt, thành danh như Phó bảng Hà Văn Đại; các Hương cống Hà Sỹ Tuấn,
Hà Thúc Đạt, Hà Tông Tuấn, Hà Tông Dao, Hà Nguyên Tiêu, Hà Đăng Châu;
Cử nhân Hà Văn Gia…Từ đầu thế kỷ XX đến nay, kế thừa truyền thống của dòng họ Chi nhánh dòng họ Hà Tiên Điền đã có rất nhiều người con ưu tú thành đạt trên nhiều lĩnh vực, đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc như nhà báo Hà Văn Hạp, GS NGND Hà Văn Tấn, GS.TS Thầy thuốc nhân dân Hà Văn Mạo, GS.TS Hà Văn Quyết, PGS.TS Hà
Trang 3332
Văn Ngạc, PGS.TS Hà Văn Hùng, anh hùng lao động thời kỳ đổi mới Hà Văn Lê…
Ngoài ra, từ các chi phái chính ở trên, dòng họ Hà xã Tùng Lộc đã lan tỏa
ra khắp cả trong và ngoài nước tiêu biểu đó là chi phái họ Hà Hương Sơn Tộc phả đại tôn họ Hà ở Sơn Thịnh (Hương Sơn, Hà Tĩnh) cho biết: Sau thảm họa xẩy ra vào mùa xuân năm 1584, người con thứ ba là Hà Tích lánh nạn về làng Kim Nặc, Cẩm Xuyên Tại đây, Hà Tích sinh ra Hà Toán, Hà Toán sinh ra Hà Huy Xuân và Hà Huy Lân, Hà Huy Xuân sinh ra Hà Huy Quân, Hà Huy Quân sinh ra hai người con là Hà Huy Vấn và Huấn đạo Hà Huy Quang
Hà Huy Quang sinh năm Canh Thân (1680), đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5, mất ngày 15 tháng giêng năm Giáp Tuất (1754) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 15, hưởng thọ 75 tuổi; Tên hiệu của ông là Hà Trọng Linh tự Huy Quang
Năm Nhâm Ngọ (1702), đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa thứ
21, ông thi đỗ Hương cống khi mới bước sang tuổi 23 và được bổ chức Huấn đạo huyện Vĩnh Lộc trấn Thanh Hóa (nay là huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) Trong suốt 43 năm làm quan tại đây, Hà Huy Quang nổi tiếng là vị quan thanh liêm, sống cuộc đời thanh bạch, gia tư không có gì đáng kể, con cháu trong nhà vẫn chăm lo công việc đồng áng Năm Ất Sửu (1745), khi đã 66 tuổi, ông được nhà vua cho về trí sỹ ở quê nhà Ở quê hương lúc này (làng Kim Nặc, Cẩm Xuyên), đã có người anh cả là Hà Huy Vấn quán xuyến mọi việc, chăm lo hương khói Ông cùng ba người con trai là: Hà Quang Tế, Hà Mậu Đức và Hà Huy Lộc đi ngao du sơn thủy mong tìm được thế đất tốt để tính kế định cư lâu dài Khi đến vùng đất Thịnh Xá, tổng Yên Ấp, nhận thấy đây là nơi có địa thế tốt, mặc dầu còn đang hoang vu, nhưng lại là nơi có phong cảnh sơn thủy hữu tình, một bên là dãy núi Thiên Nhẫn án ngự còn bên kia là dòng sông Ngàn Phố hiền hòa Ông và gia đình bèn dừng chân khai khẩn đất đai, be bờ đắp đập, biến một vùng bãi bồi rộng lớn bên dòng sông thành những cánh đồng phì nhiêu màu
Trang 3433
mỡ Dần về sau, cùng với thời gian, nhiều gia đình ở những vùng lân cận và các nơi khác đã tìm đến khai cơ lập nghiệp tạo thành một vùng dân cư đông đúc, trù phú gọi là xóm Bàu, rồi thêm các xóm Trong, xóm Bãi, xóm Cồn, xóm Vườn, xóm Hói, xóm Cống, xóm Thượng, xóm Tây…Để thuận tiện cho việc đi lại và giao thương thuận lợi ông đã đứng ra tổ chức, kêu gọi và vận động nhân dân trong vùng đắp một con đường lớn trong làng (đường đến nay vẫn còn dấu tích, nhân dân trong vùng vẫn thường gọi là đường quan để tưởng nhớ tới ông) Bên cạnh đó, Hà Huy Quang củng là người rất chú trọng trong việc động viên, khuyến khích con cháu và nhân dân trong vùng chăm lo làm ăn, huấn dụ phong tục, giữ gìn nề nếp gia phong và tích cực truyền dạy chữ nghĩa của thánh hiền Sau khi mất, ông được nhân dân trong vùng lập đền thờ (vào khoảng cuối thế kỷ
thứ XVIII), tôn làm Thần gọi là: "Khai sơn Cự thạch Hà Huy Quang Đại lang"
và là Thành hoàng của làng Bình Hòa Về sau, vua Khải Định ban sắc phong là:
"Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần" (Khải Định năm thứ 9 - 1924) Đồng
thời, đây củng là nơi thờ tự vong linh liệt tổ, liệt tông dòng họ Hà các xã: Sơn Thịnh, Sơn Hòa và Sơn Bình, huyện Hương Sơn Xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ,
xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương và xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Con trai trưởng của Hà Huy Quang là Hà Quang Tế (đệ nhị thế tổ) giữ chức xã trưởng có bốn người con trai về sau trở thành tổ của bốn chi họ Hà xã Sơn Thịnh Người con thứ là Hà Mậu Đức di cư sang làng Thái Hòa (sau đổi thành Bình Hòa), tạo lập nên đại tôn họ Hà Học ở xã Sơn Hòa (huyện Hương Sơn) Khởi thủy từ cụ Hà Huy Quang, tiếp nối truyền thống hiếu học của dòng
họ Hà ở Nghệ Tĩnh Con cháu trong dòng họ đã có rất nhiều người hiển đạt, nhiều bậc hiền tài đã có nhiều công lao cống hiến cho quê hương, đất nước (hiện nhà thờ còn lưu sáu bản khắc gỗ ghi tên tuổi các vị tiên chỉ và những người đỗ đạt trong học hành cử nghiệp của dòng họ) Tiêu biểu có Tú tài Hà Huyên, Hà Huy Quán, Huấn đạo Hà Từ, Thừa phái Hà Huy Liên, Hàn lâm viện thừa chỉ Tri
Trang 3534
huyện Duy Xuyên Hà Học Hải, Hàn lâm viện Trước tác Hà Học Văn…Đặc biệt
Hà Huy Giáp (1908 - 1995), nguyên Xứ ủy Nam Bộ, Thứ trưởng Bộ Văn Hóa, Trưởng ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương Đảng, Tổng biên tập tạp chí Cộng sản, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật; PGS.TS Hà Học Hợi, nguyên Phó Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương; GS.TS Hà Học Ngô; GS.VS Hà Huy Khoái, nguyên Viện trưởng Viện Toán học; GS.TSKH Hà Huy Vui; GS.TSKH Nhà giáo nhân dân
Hà Huy Khôi; GS.TSKH Hà Huy Cương…
Tiểu kết chương 1
Cùng chung đặc điểm địa hình và khí hậu khu vực Bắc Trung bộ, Nghệ Tĩnh nói chung và huyện Can Lộc nói riêng nằm trên một vùng đất hẹp nghiêng dần từ Tây sang Đông Phía Tây là dãy núi Trường Sơn hùng vĩ còn phía Đông giáp biển và một phần của dãy Hồng Lĩnh Là nơi lắm núi, nhiều sông, địa hình
dốc, điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt “chảo lửa túi mưa”, đất đai cằn
cỗi đã ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và đời sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng củng như tâm hồn tình cảm và nghị lực của người dân nơi đây Nhưng củng chính nhờ vào những điều kiện đó, đã tạo lập cho người dân nơi đây những đức tính cần cù chịu khó, chịu đựng gian khổ trong lao động sản xuất: Kiên cường, bất khuất, dũng cảm trong đấu tranh chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm, bền gan vững chí trong quá trình học tập, dám đi đến tận cùng những đam mê, sở nguyện của chính mình
Dựa theo một số nguồn thư tịch cổ cũng như những bằng chứng khảo cổ học về sau Chúng ta có thể khẳng định rằng nơi đây, từ thời đồ đá mới đã có dấu tích của người Việt cổ và quá trình đó bắt đầu hình thành (dẫu rất lâu dài), rồi phát triển thành những cộng đồng dân cư ban đầu là những chiềng, chạ đến
xá, kẻ rồi thôn ấp, làng mạc Đồng thời với quá trình mở rộng cương vực, lãnh thổ về phía Nam của các triều đại phong kiến Việt Nam là quá trình di dân tuy lúc khoan lúc nhặt từ nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng đã góp phần tạo nên
Trang 36an trí tuổi già, Hà Mại cùng người con trai là Hà Tông Chính về định cư dưới chân núi Hồng Lĩnh Sau khi Hà Tông Chính tử trận, người con trai cả là Hà Nho đã về định cư tại xã Đông Tỉnh huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc), vào khoảng đầu thế kỷ XV Chính thức đặt một dấu mốc trong việc định hình nên một dòng họ giàu truyền thống yêu nước và học hành khoa
bảng với nhiều nhân vật lẫy lừng đã có rất nhiều đóng góp cho quê hương xứ sở
Sau biến cố mùa xuân năm Giáp Thân (1584), một số con cháu dòng họ
Hà xã Tùng Lộc phải ly hương, lan tỏa đến các địa phương khác để lánh nạn và dần hình thành nên các chi phái họ Hà khác ở trong và ngoài tỉnh Dù ở đâu, dưới triều đại nào trong suốt dòng chảy của lịch sử dân tộc từ đầu thế kỷ XV tới nay, với truyền thống Trung – Dũng – Liêm – Chính quý báu của mình, dòng họ
Hà xã Tùng Lộc với những nhân vật ưu tú, kiệt hiệt đã có nhiều công lao đóng góp cho nền văn hóa, văn hiến của nước nhà và quê hương xứ sở Trở thành những tấm gương tiêu biểu điển hình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần cùng nhân dân cả nước xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh, phồn vinh Dòng họ Hà xứng đáng là một cự tộc trên mảnh đất Hồng Lam linh khí, ngàn năm văn hiến
Trang 3736
Chương 2 NHỮNG DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÒNG HỌ HÀ 2.1 Truyền thống yêu nước và cách mạng
Xuất phát từ cụ thủy tổ Hà Mại, truyền thống trung quân ái quốc, son sắt
vì nước vì dân của dòng họ Hà được tiếp nối, trao truyền và trở thành một trong
những truyền thống quý báu của dòng họ Sách Nhân vật lịch sử họ Hà Nghệ Tĩnh của Hà Văn Sỹ, chép: "Hà Mại là một võ quan tài năng và đức độ, trọn đời tận trung với nước với dân Hơn 40 năm là quan trấn ải đứng đầu Trấn Nghệ An – Nơi phên dậu của triều đình, chốn biên ải phía Nam và là nơi đầu sóng ngọn gió của nước Đại Việt Ông đã tổ chức đoàn kết động viên quân dân cả vùng làm tròn sứ mệnh vẻ vang triều đình giao, bảo vệ vững chắc một vùng đất rộng lớn suốt từ nam Thanh Hóa đến tận Đèo Ngang trước các cuộc tấn công điên cuồng của kẻ thù" [45; 34]
Nhờ có tài thao lược và biết cách tổ chức, chỉ huy quân đội chốt giữ phòng tuyến và đoàn kết với nhân dân địa phương chống trả quyết liệt, nhiều lần đập tan các cuộc tấn công thủy bộ của quân Chiêm Ông là người được nhà vua giao nhiệm vụ tham gia đốc suất nhân dân địa phương khơi đào sông kênh và hoàn thành con đường từ Cửu Chân đến tận Hà Hoa (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) để tiện cho việc hành quân và cung cấp hậu cần cho quân đội
Khi nhà Minh xâm lược nước ta, Hà Mại đã cùng với Hà Tông Chính kêu gọi nhân dân địa phương đứng lên kháng chiến và đã đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh thời hậu Trần của quân và dân ta Năm Canh Dần (1410), ông mất tại căn cứ địa Hồng Lĩnh
Hà Tông Chính và người cháu là Hà Sản vẫn tiếp tục sự nghiệp của ông cho đến khi các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược nhà Minh của nhân dân ta bị thất bại hoàn toàn vào năm 1413
Hà Tông Chính (1366 – 1413), là người con trai duy nhất của tướng quân
Hà Mại Sinh ra trong một gia đình có cha là võ tướng nơi biên ải nên từ nhỏ
Trang 3837
ông đã được nuôi dạy chu đáo về võ nghệ và binh pháp Lớn lên, sớm cùng cha chỉ huy quân sỹ và nhân dân chống giặc Chiêm Thành bảo vệ vững chắc phiên dậu phía Nam của tổ quốc Khi lão tướng Hà Mại về an trí tuổi già, Hà Tông Chính tiếp tục ở lại phò giúp nhà Trần chống giặc Minh Ông là người luôn trung thành tận tụy với triều đình, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu Năm Bính
Tý (1396), do lập được nhiều chiến công trong các cuộc chiến tranh chống quân
Chiêm trước đó nên được nhà vua phong chức Hoàng bảng Đại tướng quân
Ngày 14 tháng 2 năm Mậu Tý, ông đã cùng người con trai thứ hai là Hà Sản tham gia trận đánh Bồ Cô thắng lớn, tiêu diệt được rất nhiều quân địch Nhưng sau trận đánh này do nghe theo sự gièm pha mà Trần Ngỗi đã giết hại hai công thần hàng đầu là Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất Hà Tông Chính đã cùng người con và nghĩa quân kéo về vùng Bắc Nghệ An (phía bắc Sông Lam) Sau khi xây xong thành Nghĩa Liệt, Trương Phụ ra sức trấn áp các cuộc đấu tranh phản kháng của nhân dân ta Đại tướng Hà Tông Chính cùng nghĩa quân đã dũng cảm chiến đấu chống trả quyết liệt nhưng do sự chênh lệch lực lượng quá lớn cùng với nguồn nhân lực, vật lực ngày càng cạn kiệt, địa bàn chiến đấu ngày một thu hẹp dần Trong một trận chiến đấu không cân sức, Hà Tông Chính đã anh dũng hy sinh Ông là vị tướng cuối cùng của triều Trần hy sinh trên mặt trận chống quân Minh Tại nơi ông mất, nhân dân làng Hào Mai xã Cẩn Tiết (nay thuộc khối 6, phường Nguyễn Du, thành phố Hà Tĩnh) đã đứng ra mai táng, lập đền thờ quanh năm khói hương thờ phụng Về sau được các triều Lê, Nguyễn
ban sắc phong là: "Trừng trạm Dực bảo Trung hưng chi Thần" Ngôi đền hiện
không còn, chỉ còn lại một ngôi mộ lớn được nhân dân trong vùng thường gọi là
Trang 3938
trọng vì đức thanh liêm, mẫn cán, tài năng và đức độ Vì vậy, khi nghe tin có Chỉ dụ của nhà vua điều ông đi làm quan nơi khác hàng ngàn người dân nơi đây
đã làm đơn xin nhà vua cho ông được lưu lại ở địa phương Vua Tự Đức lấy làm
lạ cho triệu ông về kinh hỏi: Ngươi đã làm gì mà được dân xin nguyện lưu nhiều đến thế? Ông đáp: Hạ thần chỉ lấy đạo yêu người làm tôn chỉ! Hà Học Hải làm
quan đến chức Thừa chỉ, sau khi mất được ban hàm Thị độc [18; 11] Nhân dân huyện Duy Xuyên và quê nhà đã lập đền thờ ông nơi lỵ sở và ở tại quê nhà xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn Người làm quan mà thương dân đến độ như thế xưa nay quả thật không nhiều Ông xứng đáng với khuôn mẫu của người làm quan
đã được nêu trong Luận ngữ: "dân chi phụ mẫu" (quan là cha mẹ của dân vậy!)
Từ thế kỷ thứ XIV tới nay, tinh thần trung trinh ái quốc, son sắt vì nước vì dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong truyền thống của dòng họ Hà xã Tùng Lộc Truyền thống này đã được minh chứng qua năm tháng và qua các phong trào chống thù trong giặc ngoài trong tiến trình lịch sử dân tộc Triều đại nào, thời kỳ nào củng có những con người họ Hà ưu tú, tiêu biểu trên mặt trận chống ngoại xâm Đó là Hà Văn Mỹ trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX (1885 – 1896) Ông vốn gốc thuộc dòng họ Hà Tùng Lộc rồi di cư ra ở vùng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh Là người sớm có tinh thần yêu nước thương dân căm ghét chế độ thực dân phong kiến, khi phong trào Cần Vương nổ
ra Hà Văn Mỹ đã hang hái tham gia, trực tiếp chiến đấu đánh Pháp và có nhiều công lao, tỏ rõ là người có tài tổ chức chỉ huy và rất có uy tín Vì vậy, ông đã được Tán lý quân vụ Đại thần Phan Đình Phùng giao cho trọng trách giữ chức Xuân Thứ (chỉ huy lực lượng nghĩa quân vùng huyện Nghi Xuân) Qua nhiều trận đánh dưới sự lãnh đạo tài tình của ông, đã làm cho quân Pháp gặp nhiều tổn thất, có lúc rơi vào khó khăn, khốn đốn Cuối cùng chúng đành tập trung một lực lượng lớn bao vây, đánh phá nghĩa quân quyết liệt Trong một trận đánh chẳng may ông đã bị sa vào tay giặc Thực dân Pháp đã dùng mọi cực hình tra tấn nhưng vẫn không lay chuyển, khuất phục được ý chí của ông nên đành chuyển
Trang 4039
sang dụ dỗ mua chuộc nhưng ông đều từ chối Cuối cùng giặc Pháp đã giết hại ông một cách dã man nhằm uy hiếp tinh thần đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta
Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, dòng họ Hà lại xuất hiện nhiều chiến sỹ cách mạng tiên phong như Hà Quang Châu, Hà Quang Tập và Hà Huy Tập…
Hà Quang Châu (1894 – 1955), quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, nguyên gốc
là người họ Hà Tùng Lộc Ông xuất thân trong một gia đình tính cả nội lẫn ngoại thì có đến 7 người tham gia đảng Tân Việt và đều là đảng viên Đảng cộng sản lão thành cách mạng Năm 1925, ông tham gia vào hội Hưng Nam (là một tổ chức yêu nước của một số cựu chính trị phạm và học sinh, sinh viên tiến bộ được thành lập vào tháng 5/1925 tại núi Con Mèo – Bến thủy Ban đầu hội có tên là Phục Việt, về sau đổi tên là Hưng Nam rồi Tân Việt cách mạng đảng Đây
là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương sau này) Năm 1930, ông gia nhập Đảng cộng sản và từng bị mật thám bắt, bị đày đi nhà lao Phú Bài và
La Hy rồi đưa về quản thúc tại quê nhà Hồ sơ mật thám Pháp từng ghi ông "là một đảng viên cộng sản tích cực" Trong cách mạng tháng 8/1945, ông được chỉ
định làm chủ tịch UBND cách mạng lâm thời xã Tiên Điền, là Ủy viên Ban chấp hành Việt Minh – Liên Việt huyện Nghi Xuân và là Trưởng ban bình dân học vụ của huyện
Hà Quang Tập (1900 – 1941), bí danh là Sói, Bách Phương, Cu Tập Quê
ở làng Vĩnh Đại (Đức Vĩnh, Đức Thọ) thuộc một nhánh họ Hà di cư từ vùng Kim Nặc, Cẩm Xuyên lên Hương Sơn rồi về định cư tại đây vào khoảng giữa thế kỷ thứ XVIII Ông là con của Tú tài Hà Quang Thao Mặc dầu là người đậu
Tú tài cả Pháp và Hán nhưng không chịu ra làm quan mà ở nhà làm nghề bốc thuốc Năm 1930, Hà Quang Tập được kết nạp vào Đảng và làm Bí thư chi bộ
xã Đức Vĩnh Ông đã cùng nhiều đồng chí tổ chức các phong trào cách mạng trên đất Hà Tĩnh đặc biệt là trong phong trào Xô - Viết Nghệ Tĩnh, bị thực dân