MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC, BẤT PHƯƠNG TRÌNH .... Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua dạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG THỊ HẢI LIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS THÁI THỊ HỒNG LAM
NGHỆ AN - 2018
Trang 3Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Viện Khoa học tự nhiên, trong chuyên ngành LL và PPDH bộ môn Toán trường ĐH Vinh
đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu hoàn thành chương trình học
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS Thái Thị Hồng Lam đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn đến BGH, các thầy cô giáo trong tổ Toán trường THPT Đào Duy Từ, Tp Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình - nơi tôi công tác giảng dạy cũng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, chia sẽ kinh nghiệm và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tôi đi học và hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã cố gắng thực hiện để hoàn thành luận văn song không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp cho luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Dương Thị Hải Liên
Trang 4Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Đóng góp của luận văn 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TOÁN THEO HƯỚNG RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Tự học và vai trò của nó 8
1.2.2 Năng lực và năng lực tự học 11
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của học sinh 14
1.3.1 Nhóm nhân tố bên trong 14
1.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 15
1.4 Quy trình thiết kế và tổ chức dạy học tự học cho học sinh 16
1.4.1 Thiết kế bài học 16
1.4.2 Tổ chức hoạt động tự học trong dạy học 18
1.5 Thực trạng của vấn đề dạy - tự học hiện nay 20
1.5.1 Nhận thức của giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của hoạt động tự học 20
1.5.2 Thực trạng hoạt động tự học của học sinh 21
Trang 51.5.4 Nguyên nhân của thực trạng trên 26
1.6 Kết luận chương 1 28
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC, BẤT PHƯƠNG TRÌNH 29
2.1 Chương trình Bất đẳng thức, bất phương trình ở trường THPT 29
2.1.1 Mục tiêu chương 29
2.1.2 Nội dung và phân phối chương trình chương 30
2.1.3 Vị trí, vai trò của nội dung Bất đẳng thức, bất phương trình trong chương trình Toán lớp 10 32
2.2 Những định hướng của việc đề ra một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh 33
2.3 Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học nội dung Bất đẳng thức, bất phương trình 33
2.3.1 Biện pháp 1: Gợi động cơ, hứng thú trong học tập và kích thích nhu cầu tự học của cho học sinh 34
2.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi, phiếu học tập và bài tập nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh 39
2.3.3 Biện pháp 3: Rèn luyện một số hoạt động trí tuệ cơ bản cho học sinh 47
2.3.4 Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động tự học cho học sinh trong quá trình dạy học 56
2.3.5 Biện pháp 5: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá 62
2.4 Thiết kế một số giáo án tổ chức hoạt động theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học 66
2.5 Kết luận chương 2 89
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1 Mục đích thực nghiệm 90
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 90
3.3 Phương pháp thực nghiệm 90
Trang 63.5 Nội dung thực nghiệm 90
3.6 Bài kiểm tra đánh giá 91
3.6.1 Các bài kiểm tra 91
3.6.2 Kết quả các bài kiểm tra 97
3.6.3 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 97
3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 98
3.7.1 Phân tích kết quả về mặt định tính 98
3.7.2 Phân tích kết quả về mặt định lượng 99
3.8 Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đại hội Đảng đã xác định mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế Để đạt được mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Nghị quyết số 29 - NQ/TW của BCHTW Đảng lần thứ 8, khóa XI về đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học
tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hướng dẫn học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-
2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ - TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng
Chính phủ ghi rõ: “…tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” Định hướng trên đã được thể chế hóa tại Điều 5, Luật Giáo dục (2005): “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [15]
Chương trình giáo dục (GD) phổ thông cấp THPT quy định về phương pháp dạy học (PPDH) phải tăng cường rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK, tài liệu tham khảo và rèn luyện năng lực tự học (NLTH) Việc tự học (TH), tự nghiên cứu ngày càng có vai trò quan trọng đối với GD cũng như nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân Việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu và tổ chức có hiệu quả hoạt động TH để trang bị cho người học là nhiệm vụ quan trọng của người GV NLTH là nhu cầu bức thiết và mang ý nghĩa chiến lược đối với lợi ích trước mắt và lâu dài của ngành GD nói riêng và của quốc gia nói chung
1.2 Chương trình SGK hiện nay đã góp phần thực hiện GD toàn diện đức, trí, thể, mĩ, bảo đảm tính hệ thống, sự liên tục giữa các cấp học, liên thông giữa GD phổ
Trang 9thông với GD chuyên nghiệp… Nhưng hạn chế là: Chưa trực tiếp “giúp đỡ” GV và HS chuyển từ cách dạy học thụ động, áp đặt sang cách dạy học tích cực để phát triển năng lực sáng tạo và phương pháp TH của HS mà chủ yếu là đối phó với thi cử Thực tiễn cho thấy việc dạy và học môn Toán ở trường phổ thông, việc rèn luyện NLTH môn Toán cho HS còn nhiều hạn chế, PPDH chưa phát huy được tính tích cực của HS, sức ỳ trong học tập của HS rất lớn; việc hướng dẫn HS TH còn hạn chế về tần suất và hiệu quả GV chưa thực sự chú ý đến việc phát huy NLTH cho HS, chưa có quy trình khoa học để tổ chức cho HS TH một cách có hệ thống HS phần lớn chưa xác định được ý nghĩa và tầm quan trọng của TH nên chưa có được động cơ, hứng thú, chưa xây dựng được kế hoạch học tập cũng như chưa biết sử dụng phương pháp TH một cách có hiệu quả và khoa học
để lĩnh hội tri thức Tình trạng này làm hạn chế việc hoàn thành mục tiêu đổi mới PPDH nói chung và hiệu quả giảng dạy môn Toán ở trường THPT nói riêng
1.3 Môn Toán giữ một vị trí quan trọng trong nhà trường đặc biệt là kiến thức
về Bất đẳng thức, bất phương trình trong chương trình lớp 10 THPT Bất đẳng thức và bất phương trình là một trong những nội dung rất hay với lượng kiến thức nhiều, có khả năng rèn luyện trí tuệ cho HS, có nhiều ứng dụng trong giải toán và thực tiễn tuy nhiên số lượng tiết học trên lớp rất ít, HS chưa biết cách TH có hiệu quả Vì vậy, người GV phải đổi mới PPDH, hình thành và rèn luyện NLTH cho HS để rút ngắn thời gian học tập trên lớp mà vẫn đạt kết quả cao Qua đó, kích thích tư duy biện chứng, tính độc lập và sáng tạo cho các em
1.4 Hoạt động TH được nghiên cứu nghiêm túc và triển khai rộng rãi từ khi nền GD cách mạng ra đời Từ những năm 80, nhóm nghiên cứu của GS Nguyễn Cảnh Toàn cũng đã đưa ra PPDH phù hợp với thực tiễn nước ta được ghi trong cuốn sách
“Dạy - Tự học” Gần đây nghiên cứu về dạy học TH, nước ta có nhiều công trình tiêu biểu như: GS Phan Trọng Luận với bài viết: “Tự học - chìa khóa vàng của giáo dục”,
GS Nguyễn Cảnh Toàn cho ra đời hai cuốn sách “Học và cách dạy học” và “Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự học” Ngoài ra cũng có nhiều luận án, luận văn đã nghiên cứu và đưa ra những biện pháp tổ chức hoạt động TH cho HS như: Dạy tự học cho học sinh thông qua chương “Vectơ trong không gian - quan hệ vuông góc” hình học lớp
11 nâng cao THPT của tác giả Trần Thị Thanh Nga, “Nâng cao năng lực tự học và kĩ
Trang 10năng giải toán cho học sinh lớp 10 THPT thông qua dạy học giải phương trình” của tác giả Nguyễn Trung Hiếu, hay “Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học phương pháp tọa độ trong không gian” của tác giả Bùi Lương
Vẻ, Như vậy, vấn đề về dạy - TH đã được đề cập, nghiên cứu từ lâu trong lịch sử phát triển của nền GD và đem đến những hiệu quả nhất định trong dạy học
Xuất phát từ những lý do trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, chúng tôi
chọn đề tài: “Dạy học chủ đề Bất đẳng thức, bất phương trình theo hướng rèn luyện năng lực tự học cho học sinh lớp 10”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu NLTH, những biểu hiện cụ thể về NLTH của HS THPT Từ đó đề xuất một số biện pháp cơ bản trong dạy học chủ đề Bất đẳng thức, bất phương trình nhằm rèn luyện NLTH cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa và làm rõ hơn lý luận về PPDH TH Từ đó, xác định rõ các yếu
tố tác động đến quá trình TH, góp phần tạo cơ sở đề ra giải pháp nhằm rèn luyện NLTH
3.2 Tìm hiểu chương trình và nội dung chủ đề Bất đẳng thức, bất phương trình lớp 10
3.3 Khảo sát thực trạng dạy học toán theo hướng rèn luyện NLTH cho HS ở trường THPT
3.4 Xây dựng một số biện pháp phù hợp nhằm rèn luyện NLTH cho HS thông
qua dạy học nội dung chủ đề Bất đẳng thức, bất phương trình
3.5 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của việc rèn luyện NLTH đối với nội dung dạy học cụ thể
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động TH toán của HS Trung học phổ thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung trong môn Toán học: Luận văn vận dụng vào chương trình Toán học THPT và thực hiện qua chương “Bất đẳng thức và bất phương trình” ở lớp 10
Trang 11- Về lý luận dạy học: Luận văn tập trung vào nghiên cứu việc rèn luyện NLTH môn Toán của HS THPT trong hoạt động học tập ở trên lớp và ở nhà
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu một số tài liệu về GD học, tâm lý học cũng như lý luận dạy học môn Toán Các tạp chí GD, bài viết có liên quan đến đề tài nhằm hoàn thành cơ sở lí luận cho đề tài
- Nghiên cứu chương trình, SGK và sách bài tập môn Toán lớp 10
5.2 Phương pháp quan sát, điều tra
- Thông qua điều tra xã hội học trong GV và HS, dự giờ thăm lớp để có kết luận chính xác về thực trạng TH của HS và việc rèn luyện NLTH thông qua chương “Bất đẳng thức và bất phương trình”, làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp sư phạm phù hợp
5.3 Thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại một số lớp 10 thuộc trường THPT Đào Duy
Từ, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của một số biện pháp đã đề xuất
5.4 Phương pháp thống kê
- Xử lí kết quả thực nghiệm thu được bằng phương pháp thống kê toán học
6 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT nói chung, dạy học nội dung Bất đẳng thức và bất phương trình lớp 10 nói riêng, trên cơ sở nội dung chương trình SGK đại số lớp 10 hiện hành nếu xây dựng được một số biện pháp rèn luyện NLTH thì
sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán cho HS ở trường THPT
7 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận cơ bản về TH và quá trình TH, xây dựng quy trình thiết kế bài học và tổ chức dạy tự học cho HS
- Xây dựng một số biện pháp nhằm rèn luyện NLTH cho HS thông qua dạy học chủ đề Bất đẳng thức, bất phương trình lớp 10
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các GV và HS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Trang 128 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học toán theo hướng rèn luyện
năng lực tự học cho học sinh ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua
dạy học nội dung chương Bất đẳng thức, bất phương trình trong chương trình toán
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TOÁN
THEO HƯỚNG RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển GD, vấn đề dạy - TH đã được quan tâm từ rất sớm, được đề cập và nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, đã có rất nhiều quan điểm, tư tưởng và công trình nghiên cứu về vấn đề TH như: phát huy tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập, sáng tạo của người học qua tư tưởng của các nhà GD tiêu biểu Tuy nhiên, tùy từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định mà nó được đề cập đến theo nhiều góc độ và các hình thức khác nhau
Từ những năm trước công nguyên, nhà GD Xôcơrat (469 - 390 TCN) đã đưa ra quan niệm nổi tiếng của mình: GD phải giúp cho con người tự khẳng định chính mình Trong dạy học, dựa vào quan điểm đó ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, giúp cho người học tự thấy cái sai lầm của mình và tự khắc phục cái sai lầm đó [33]
Đến thế kỉ thứ XVII, J.A Comenxki (1592 - 1670) đã tìm ra PPDH cho phép
GV, giảng viên giảng ít hơn và HS học nhiều hơn Ông đã đề ra một số nguyên tắc dạy học mà cho đến nay các GV vẫn áp dụng trong việc giảng dạy của mình nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của HS đó là: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng [33]
Phong trào “Nhà trường mới” ở đầu thế kỉ XX đề cao hoạt động tích cực của
HS, khuyến khích HS tự sắp xếp thời gian học theo năng lực, TH lấy cho mình, tự mình thấy trách nhiệm trước việc học tập Cuối thế kỉ XX, tiếp tục kế thừa những thành tựu của các nhà GD đi trước, nhiều nhà GD đã nghiên cứu về vấn đề TH Phần lớn các nhà GD đều đưa ra quan điểm về vấn đề TH như thế nào, cách suy nghĩ tìm tòi sáng tạo, cách độc lập khám phá và nghiên cứu khoa học…
Trang 14Tiêu biểu cho các nghiên cứu có nhà GD Ấn Độ - Raja Roy Singh [33], trong
cuốn sách “Giáo dục thế kỉ XX; Những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” ông
đã nghiên cứu vai trò của NLTH trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời,
đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập, trong việc hình thành và phát huy NLTH của người học
Như vậy, vấn đề TH trong lịch sử GD thế giới đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đề cập và đánh giá là vấn đề rất quan trọng trong hoạt động học tập của người học
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Trong lịch sử GD ở Việt Nam, hoạt động TH cũng được chú ý và đề cập đến từ rất lâu Sau cách mạng tháng tám 1945, cùng với sự phát triển của GD thì vấn đề TH cũng được phát động rộng rãi và nghiêm túc Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những tấm gương sáng về tinh thần học và TH suốt đời Người thấy rõ vai trò của TH
đối với mọi người cách mạng: “Còn sống thì còn phải học” Theo phương châm của Người: “Lấy tự học làm cốt, có thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [29]
Từ những năm 60 của thế kỉ XX ở Việt Nam, vấn đề TH, tổ chức các hoạt động
TH và nghiên cứu TH đã được nhiều nhà GD học đề cập đến một cách trực tiếp hay gián tiếp Hầu hết các nhà GD đều tập trung nghiên cứu các hoạt động TH của người học, các biện pháp sư phạm của người dạy nhằm nâng cao chất lượng TH của người học, phương pháp viết tài liệu hướng dẫn người học TH [13] Tiêu biểu trong nghiên cứu về vấn đề này là các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Kì, Bùi Văn Nghị, Nguyễn Bá Kim…và nhiều nhà GD khác
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là tấm gương về TH, tự nghiên cứu ở nước ta Ông cho rằng: “Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh nhưng hiểu như vậy là hơi hẹp Ngay cả khi có người thầy ở bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy không thể học thay trò được Dạy dù sao cũng là ngoại lực tác động đến trò, sự cố gắng này mới đúng là tự học” [2]
Tác giả Nguyễn Kì [21] với: “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”,
ông cho rằng: TH là năng lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học Người học giỏi là người biết TH, có NLTH và có thói quen học tập suốt đời Người dạy giỏi là người biết cách làm cho HS TH tốt nhất
Trang 15Tác giả Trịnh Quốc Lập [26] trong bài báo cáo khoa học “Phát triển năng lực
tự học hoàn cảnh Việt Nam” cho rằng NLTH không chỉ là phẩm chất dành cho người
học thuộc thế giới phương Tây mà về bản chất thì người châu Á không phải là không
có NLTH, hệ thống GD ở các nước châu Á chưa đủ điều kiện để người học có thể rèn luyện và phát triển NLTH Ông cũng đã chứng minh trong hoàn cảnh ở Việt Nam, NLTH có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh
Trong giáo trình “Giáo dục học phổ thông” do tác giả Trần Thị Hương chủ biên
đã chỉ rõ 4 nguyên tắc và 10 phương pháp GD mà “Dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành
và phát triển những phẩm chất phù hợp với yêu cầu của xã hội” [17]
Như vậy, TH là hoạt động độc lập của bản thân mỗi người học, để tự mình chiếm lĩnh các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, tích cực và chủ động Vấn
đề TH được các tác giả tập trung nghiên cứu sâu dưới nhiều góc độ và đưa ra một số giải pháp khác nhau nhằm nâng cao khả năng TH của người học Do đó TH rất cần thiết không chỉ đối với mỗi cá nhân người học mà nó còn liên quan đến chiến lược phát triển GD chung của đất nước
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Tự học và vai trò của nó
1.2.1.1 Quan niệm về tự học
TH, hiểu theo nghĩa thông thường là học không có thầy nhưng nếu hiểu như vậy thì không đúng với nội hàm bên trong của khái niệm, TH diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Có rất nhiều tài liệu, giáo trình của một số tác giả đã giới thiệu các định nghĩa khác nhau về TH nhưng nhìn chung những quan điểm, khái niệm ấy đều thống nhất với nhau về nội hàm
Trong cuốn sách “Tự học như thế nào”, N.A Rubakin [31] khẳng định rằng:
TH là một quá trình so sánh đối chiếu và giải đáp, đó là sự so sánh giữa lý thuyết và thực hành, giữa sách vở và thực tế cuộc sống, từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sáng tạo
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [39] cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp,
Trang 16các phẩm chất khác của người học, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…và kinh nghiệm lịch sử, xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học nói riêng” [40]
Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm, hình thức khác nhau về TH của các nhà khoa học nhưng xét về bản chất thì TH chính là sự tự lực của người học trong việc tìm kiếm tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho bản thân; là quá trình mà trong đó người học tự biến đổi mình, tự tổ chức, điều chỉnh, tự kiểm tra và tự đánh giá quá trình học tập của bản thân Quá trình dạy học chỉ thu được kết quả khi người học tự mình nỗ lực học, tự nghiên cứu để nắm vững những tri thức mà nhân loại đã tích lũy được; TH có thể diễn ra trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp
1.2.1.2 Ý nghĩa của tự học
Từ những quan niệm về TH ở trên, có thể hiểu rằng quá trình TH là quá trình
mà người học xuất phát từ sự ham muốn của bản thân, khát khao nhận thức và ấp ủ trong mình những dự định dựa vào những phương tiện nhận thức nhằm tích lũy kinh nghiệm, tri thức và hành động để đạt được kết quả nhận thức [28] TH là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình GD thực chất là quá trình biến người học từ khách thể GD thành chủ thể GD
TH có vai trò hết sức to lớn không chỉ trong GD nhà trường mà cả trong cuộc sống, là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập Nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người, “mỗi người đều nhận được hai thứ GD: một thứ do
người khác truyền cho và một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm thấy” -
Gibbon Ở trong trường học, bản chất của sự học là TH còn cốt lõi của dạy học chính
là dạy việc học Hễ có học là có TH vì không ai có thể học thay người khác được, kết quả của người học tỉ lệ thuận với NLTH của người học
Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, TH giúp người học tiếp thu và hiểu sâu kiến thức một cách chủ động, rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp, có phương pháp
tư duy sáng tạo nhằm thích ứng với sự phát triển của khoa học và xã hội, trên cơ sở đó tạo điều kiện và cơ hội để học tập suốt đời
Trang 17Thực tế ngày nay càng khẳng định việc TH của bản thân là rất quan trọng Nếu bản thân mỗi người không tạo cho mình một kĩ năng TH thì sẽ phụ thuộc vào những điều mà người thầy đã dạy cho mình và quan trọng hơn là sẽ không nắm vững kiến thức
Do đó, nhiệm vụ của nhà trường không chỉ trang bị cho người học tri thức mà là cả phương pháp, kĩ năng TH - đó chính là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học
1.2.1.3 Một số hình thức tự học
Trong quá trình TH, người học có thể tiến hành các hoạt động TH dưới nhiều hình thức và trong những điều kiện khác nhau Xét về mức độ, cách thức biểu hiện sự giao tiếp giữa người học và GV, tài liệu học tập, trường học… mà có các hình thức TH
cơ bản sau:
- Hình thức 1: Là hình thức TH ở mức độ cao nhất đòi hỏi người học có những kiến thức nhất định - là cốt lõi của hoạt động học và là quá trình kết hợp cá nhân với học hợp tác Người học không cần phải đến trường, không có sự hướng dẫn của GV
mà hoạt động TH diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng Người học tự tìm kiếm tri thức, tự đọc tài liệu, tự suy nghĩ rút ra kinh nghiệm nhằm đáp ứng nhu cầu tìm tòi và mở rộng tri thức ngoài chương trình
- Hình thức 2: TH diễn ra không có sự điều khiển của GV bên cạnh Người học trực tiếp làm việc với tài liệu hướng dẫn và các phương tiện học tập khác để tự lập kế hoạch, để nắm các kiến thức qua đó sẽ phát triển về tư duy TH hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người hướng tới và phải đạt đến để góp phần xây dựng một xã hội học tập suốt đời Hình thức này nhấn mạnh và đề cao vai trò quyết định của nội lực - NLTH của người học
- Hình thức 3: TH được diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV, được diễn
ra ngay trong quá trình dạy học với các hình thức hướng dẫn HS bằng cách đặt câu hỏi, bằng cách giao việc hay hướng dẫn HS đọc để TH Trong quá trình học tập, người thầy là nhân tố hỗ trợ chất xúc tác, thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức, phát huy những phẩm chất và năng lực của mình nhằm đạt được mục tiêu đã xác định trước để tiếp thu và lĩnh hội tri thức
Thực tế của việc TH cho thấy các hình thức, đối tượng của việc TH khá đa dạng, phong phú và thường đan xen lẫn nhau Trong suốt cuộc đời của mỗi con người,
Trang 18sẽ có những cơ hội chọn lựa cho mình các cách học khác nhau và đó cũng là con đường vươn tới trí tuệ đặt ra thử thách cho mỗi cá nhân
1.2.2 Năng lực và năng lực tự học
1.2.2.1 Năng lực
Năng lực là một trong những vấn đề khá trừu tượng của tâm lý học, nó là một thuộc tính riêng của mỗi cá nhân, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố: tri thức, kĩ năng, thái
độ, kinh nghiệm… Năng lực được hình thành và phát triển trong hoạt động, hoạt động
là phương thức cơ bản để phát triển năng lực Nếu không tổ chức hoạt động và con người không lăn xả vào hoạt động thì năng lực không thể bộc lộ và phát triển [34] Có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau về khái niệm năng lực
Theo từ điển Tiếng Việt [35], năng lực có thể được hiểu theo hai nghĩa sau:
- Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó
- Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm sinh lí tạo cho con người khả năng thực hiện, hoàn thành hoạt động nào đó có chất lượng cao
Như vậy, qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống, ta
có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa là một khả năng bộc lộ vừa tồn tại ở dạng tiềm năng
X.Roegiers [41] cho rằng: “Năng lực là sự thích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn
đề do tình huống đặt ra”
Theo tác giả Phạm Minh Hạc [11]: “Năng lực là một tổ hợp những đặc điểm tâm lý của con người, đáp ứng được yêu cầu của một hoạt động nhất định và là điều kiện cần thiết để hoàn thành có kết quả một số hoạt động nào đó”
Như vậy, tuy quan niệm về năng lực giữa các tác giả còn có sự khác nhau nhất định nhưng đều thống nhất ở một điểm chung đó là: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu [7]
1.2.2.2 Năng lực tự học
NLTH là khả năng người học tự mình tìm tòi, định hướng nhận thức và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, chủ động vào tình huống mới hoặc tình huống
Trang 19tương tự với chất lượng cao Nói đến NLTH là nói đến tri thức của người học về phương pháp TH, các kĩ năng, kinh nghiệm TH và thái độ, ý chí, tinh thần TH NLTH được coi là một nguồn nội lực quý giá tiềm ẩn trong bản thân mỗi con người; là năng lực hết sức quan trọng mà mỗi con người cần phải có vì có NLTH mới có thể TH suốt đời được [34]
Theo tác giả Trịnh Quốc Lập [26]: NLTH được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập của mình, có khả năng tự quản lí việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập
và đánh giá kết quả học tập của mình để có thể độc lập làm việc hợp tác với người khác
Kết quả TH đạt được cao hay thấp là phụ thuộc vào NLTH của mỗi cá nhân, mỗi người học có một cách học khác nhau, cách học ở đây là cách mà người học tác động đến đối tượng học Có thể nói rằng: cách học, phương pháp học chính là học cách TH bằng NLTH của chính bản thân mình NLTH luôn có trong mỗi con người,
nó chính là nội lực thúc đẩy sự phát triển của bản thân mỗi người học Qua đó người học biết cách tự tổ chức, thu thập, xử lí thông tin, tự kiểm tra và tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau nghĩa là người học đã nắm vững kĩ năng, phương pháp học để học trên lớp và TH
Như vậy, NLTH là năng lực cụ thể của người học, là một dạng của năng lực thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập; NLTH không chỉ cần thiết cho HS khi ngồi trên ghế nhà trường mà còn trong cả cuộc đời của mỗi cá nhân Rèn luyện NLTH cho HS là con đường mà GV đưa HS của mình đến với chân lí khoa học bằng chính hoạt động của họ đồng thời làm cho con đường nhận thức khoa học ngắn lại, dễ hiểu hơn Hình thành NLTH cho HS đã trở thành một mục tiêu cơ bản của GD nhà trường, giúp HS mở rộng kiến thức, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp và phát triển toàn diện [34]
1.2.2.3 Một số biểu hiện năng lực tự học Toán của học sinh
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu [6]: “Năng lực toán học là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; khả năng vận dụng tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt; khả năng phân tích, suy luận, lập luận khái quát hóa, trao đổi
Trang 20thông tin một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau…”
Toán học là môn khoa học suy diễn nên có tính logic, tính hệ thống và tính kế thừa rất cao Môn Toán cần nhiều tới khả năng TH của HS, nó đòi hỏi tính kiên trì, tinh thần khắc phục khó khăn khi đứng trước một bài toán mà kiến thức là vô hạn, do
đó HS cần phải có động cơ học tập đúng để thúc đẩy sự phát triển năng lực toán
Trong quá trình dạy học, GV phải biết tạo dựng cho HS lòng ham học toán, làm cho các em thấy được sự cần thiết của Toán học đối với các môn học khác và trong thực tiễn cuộc sống Theo tác giả Đào Tam [37], NLTH Toán được biểu hiện như sau:
* Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề: Năng lực này đòi hỏi mỗi người học phải biết quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu, kiến thức Toán học; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân, phát hiện các khó khăn, thử thách, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần được giải quyết, cần bổ sung và phát hiện các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, làm sáng tỏ… Đây chính là bước khởi đầu của sự nhận thức có tính phê phán, đòi hỏi sự nỗ lực cao của trí tuệ
* Năng lực giải quyết vấn đề: Là khả năng xác định, cách thức trình bày và lập
kế hoạch giải quyết vấn đề Việc giải quyết vấn đề không phải là giải quyết từng bài toán riêng lẻ, cụ thể mà tiến hành giải quyết những tình huống học tập ứng với mục tiêu xác định, một hệ thống kĩ năng, thái độ và phương pháp rõ ràng
* Năng lực vận dụng kiến thức đã được học vào thực tiễn cuộc sống: Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở ngay trong thực tiễn cuộc sống đó là:
HS biết vận dụng kiến thức đã được học để nhận thức, cải tạo thực tiễn hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có HS tiến hành tự nghiên cứu, khám phá và bổ sung thêm kiến thức mới Năng lực này được thể hiện giải các bài toán, biết chứng minh, vận dụng tốt các khái niệm, định lí Toán học…biết áp dụng vào các môn học khác như
Lý, Hóa, Sinh…đặc biệt là biết xây dựng mô hình Toán học của các tình huống thực
tế, áp dụng công thức Toán học giải quyết các bài toán thực tế
* Năng lực đánh giá và tự đánh giá: Dạy học đề cao năng lực tự chủ của người học, nó đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) người
Trang 21học biết đánh giá và tự đánh giá chính bản thân mình [38] Khi bản thân mỗi người tự đánh giá được kết quả học tập thì sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của mình, biết cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục nó Không có khả năng đánh giá, tự đánh giá thì người học khó có thể tự tin trong việc phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã được học
Các năng lực trên vừa đan xen, vừa tiếp nối nhau tạo nên NLTH ở người học và cũng là năng lực của người nghiên cứu khoa học Như vậy, rèn luyện được các năng lực trên, chính là người học đã bước đầu đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của học sinh
Hoạt động TH của HS là quá trình chủ động, tích cực, tự giác của người học nhằm nắm bắt các tri thức và kĩ năng, kĩ xảo Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động đến hoạt động TH của người học Phải điều khiển, phối hợp những yếu tố ấy trong quá trình tổ chức TH mới đạt được chất lượng và hiệu quả mong muốn Qua tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến TH gồm nhóm nhân
tố bên trong và nhân tố bên ngoài
1.3.1 Nhóm nhân tố bên trong
Được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối nhiều bởi yếu tố tâm lí Chính vì điều đó người dạy nên tạo môi trường để người học được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng học tập
* Năng lực tự học: Một trong những yếu tố bên trong ảnh hưởng đến quá trình
TH của người học chính là NLTH; nó quan trọng nhất, vì người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình
* Ý thức học tập và động cơ nhận thức: Chất lượng học tập là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực chính bản thân người học nên ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trình rèn luyện NLTH của HS Nếu bản thân mỗi HS không tự giác, tích cực tổ chức các hoạt động học tập ở lớp cũng như ở nhà thì mọi cố gắng của GV cũng như các yếu tố khác đều không mang lại hiệu quả TH phải là công
Trang 22việc tự giác của mỗi người dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn và vai trò quyết định đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân [24]
* Phương pháp học tập của trò: Trong TH, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp TH Nếu người học rèn luyện được thói quen, phương pháp, kĩ năng TH thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người, từ đó góp phần hình thành phương pháp học tập, phương pháp TH làm cho kết quả học tập được nâng cao Như nhà sinh lí học người Pháp Penna từng nói:
“Phương pháp học tốt giúp ta phát huy được tài năng vốn có, phương pháp học dỡ sẽ cản trở tài năng phát triển”
1.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài
Chính là phương pháp học chứa đựng kĩ năng học tập cần phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương pháp dạy của người thầy sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của trò, tạo điều kiện
để hình thành, phát triển và duy trì NLTH
* Phương pháp giảng dạy của GV: Theo Nguyễn Bá Kim [23] “Là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được những mục đích dạy học” Như vậy, có thể thấy rằng cách dạy học của
GV là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hình thức và phương pháp TH của HS Vì vậy trong quá trình dạy học, người GV không chỉ là người nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn là gợi động cơ học tập cho HS đồng thời bản thân cũng phải thường xuyên học hỏi, tự nghiên cứu để nắm bắt những đổi mới, tìm ra cách dạy học phù hợp nhằm giúp các em tích cực học tập, chủ động và sáng tạo
* Yêu cầu của xã hội, nhà trường và gia đình: Xã hội hiện đại, công nghệ thông tin ngày càng phát triển đòi hỏi cần phải có phương tiện, phương pháp giao lưu mới Đồng thời tri thức của loài người đang tăng nhanh về khối lượng, đổi mới nhanh về chất lượng và nội dung đòi hỏi người học phải biết cách học để tiếp tục TH suốt đời
* Cơ sở vật chất: Trong TH, điều quan trọng là học phải có đủ sách, tài liệu tham khảo và đồ dùng học tập cần thiết Nếu tài liệu, SGK được biên soạn theo hướng
để HS có thể TH thì sẽ rèn luyện khả năng TH của các em, ngược lại sẽ kìm hãm hoặc gây khó khăn cho việc TH
Trang 23* Thời gian: Trong quá trình học tập, HS phải học nhiều môn, mỗi môn học lại
có vị trí, nội dung và khối lượng thông tin khác nhau Vì vậy, để đạt được kết quả tốt, đòi hỏi HS phải biết phân phối, sắp xếp cũng như lập một thời khóa biểu cho riêng mình hợp lí
Hai nhóm yếu tố trên có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau tạo điều kiện để TH đạt kết quả cao Như vậy, quá trình TH của HS là một quá trình tự thân vận động, tự phát triển và nó được quyết định bởi chính bản thân người học với tư cách là chủ thể của hoạt động học tập và TH
1.4 Quy trình thiết kế và tổ chức dạy học tự học cho học sinh
Chúng tôi tiến hành xây dựng hai giai đoạn của quy trình thiết kế và tổ chức bài học theo hướng rèn luyện NLTH cho HS
1.4.1 Thiết kế bài học
Thiết kế bài học (TKBH) là giai đoạn mà GV tiến hành chuẩn bị, thiết kế nội
dung, tiến trình tổ chức các hoạt động để thông qua đó HS chiếm lĩnh được nội dung kiến thức môn học, đồng thời rèn luyện NLTH Giai đoạn này gồm 4 bước như sau [14]:
- Bước 1 Phân tích cấu trúc nội dung, xác định mục tiêu bài, dự kiến tài liệu
+ Phân tích cấu trúc nội dung bài học: Xác định vị trí của bài, số tiết giảng dạy;
Xác định nội dung kiến thức trong bài, những kiến thức mới, những kiến thức cũ đã học làm nền tảng lĩnh hội kiến thức mới, mối liên hệ giữa kiến thức cũ và mới; Xác định kiến thức trọng tâm của bài, thấy được cấu trúc logic của bài học; Xác định đặc điểm của nội dung kiến thức: Nội dung kiến thức thuộc loại nào (kĩ năng, phương pháp, bài tập, ), kiến thức nào HS có thể TH không cần sự hỗ trợ của GV, kiến thức nào HS TH cần hỗ trợ của GV; Xác định các kĩ năng cơ bản, phù hợp cần tập trung rèn luyện cho HS
+ Xác định mục tiêu của bài: Để xác định mục tiêu của bài, GV cần căn cứ
vào việc phân tích cấu trúc nội dung của bài học, cần lưu ý đến mục tiêu rèn luyện NLTH cho HS Ngoài ra, để xác định mục tiêu của bài học, GV cần căn cứ vào trình
độ của HS
+ Dự kiến tài liệu học tập: GV cần giới thiệu tài liệu cụ thể và kịp thời để HS
định hướng cho hoạt động học tập Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin kiến thức về
Trang 24bài học của HS cũng như khuyến khích HS quan tâm đến những vấn đề liên quan, ngoài phạm vi nội dung học tập, GV có thể giới thiệu cho HS nguồn tài liệu học tập như sách tham khảo cần đọc thêm (phù hợp với từng đối tượng), có tài liệu cơ bản bổ sung cho SGK, có tài liệu nâng cao cho HS khá, có tài liệu chuyên sâu dành cho HS giỏi Tuy nhiên, số lượng không nên quá nhiều và cần có sự hướng dẫn để HS có khả năng đọc tài liệu tham khảo một cách hiệu quả
- Bước 2 Thiết kế câu hỏi, yêu cầu cho các hoạt động: NLTH chỉ có thể được
hình thành thông qua các hoạt động TH Câu hỏi, bài tập là “giá mang" hoạt động, vì vậy, ở bước này, GV cần xác định các hoạt động TH phù hợp với mỗi nội dung, sau đó thiết kế các nhiệm vụ với các câu hỏi và yêu cầu tương ứng Các câu hỏi, yêu cầu được xây dựng dựa trên việc phân tích cấu trúc nội dung và mục tiêu của bài học Các câu hỏi được xây dựng, ngoài việc tập trung vào nội dung môn học, cần chú ý đến rèn luyện NLTH cho HS như: đọc hiểu, nghe hiểu, tóm tắt ghi ý chính, tự lưu trữ thông tin Khi thiết kế câu hỏi, cần xác định các hoạt động phù hợp với mọi nội dung thành phần trong bài cũng như hoạt động cho toàn bài Các hoạt động thường gặp là: nhận biết chủ đề cần học, huy động kiến thức đã học có liên quan, tìm hiểu thông tin, hệ thống hóa kiến thức, vận dụng kiến thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh Sau khi đã có câu hỏi, yêu cầu tương ứng với từng hoạt động, GV cần dự kiến hình thức và PPDH phù hợp Với mục đích TKBH theo hướng rèn luyện NLTH, những hình thức và PPDH chủ đạo cần được sử dụng là phương pháp TH, thảo luận nhóm,
- Bước 3 Xây dựng phương án đánh giá kết quả học tập: Việc xây dựng
phương án đánh giá kết quả học tập của HS hay phương án đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng của HS cần bám sát vào mục tiêu đã đặt ra Trước hết, cần xác định, trong các mục tiêu đã đặt ra sẽ đánh giá kết quả ở mục tiêu nào (thường là mục tiêu trọng tâm), sau đó thiết kế các câu hỏi nhằm đánh giá mức độ đạt mục tiêu đó
- Bước 4 Dự kiến kế hoạch học tập: Trên cơ sở mục tiêu bài học, nội dung bài,
thời gian học tập và các hoạt động đã xây dựng, GV cần dự kiến kế hoạch học tập phù hợp để mỗi cá nhân hay nhóm có định hướng cụ thể về những việc cần làm theo một trình tự, từ đó xây dựng được kế hoạch TH của bản thân nhằm hoàn thành tốt công
Trang 25việc được giao, nâng cao chất lượng bài học Kế hoạch học tập bao gồm: những nội dung cơ bản, hoạt động cần thực hiện, thời gian thực hiện, sản phẩm tạo thành
1.4.2 Tổ chức hoạt động tự học trong dạy học
Dạy học là một quá trình thực hiện những biện pháp có cơ sở khoa học nhằm đảm bảo hiệu suất cao nhất của quá trình học tập với điều kiện sử dụng hợp lí thời gian, sức lực và phương tiện của GV và HS Đích cuối cùng của dạy học chính là tổ chức dạy TH; là quá trình nâng cao tính tự giác, tự quản lí, TH của HS trong quá trình học tập ở nhà trường; là quá trình chuyển hóa yêu cầu, nhiệm vụ học tập có tính khách quan thành nhu cầu chủ quan Từ quan niệm về dạy học nêu trên, chúng tôi cho rằng:
Tổ chức dạy TH là quá trình GV định hướng và điều khiển các hoạt động học của HS, nhằm tối ưu hóa quá trình TH để chiếm lĩnh tri thức
Trong dạy TH, người thầy phải luôn đóng vai trò là người tổ chức, định hướng, điều khiển các hoạt động nhận thức, tìm tòi khám phá tri thức của HS Để làm tốt việc
đó, GV cần cung cấp con đường, cách thức để HS tự tìm ra kiến thức và tự lĩnh hội, chiếm lĩnh kiến thức mới GV cũng phải làm cho HS thấy được những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết, cái cần phải chiếm lĩnh Chính những xung đột ấy là động lực thúc đẩy tính chủ động, tích cực trong hoạt động học của HS, làm cho HS ý thức được cái cần lĩnh hội và biết giải quyết các mâu thuẫn nội tại, tạo ra sự cân bằng mới trong việc chiếm lĩnh tri thức Mục tiêu của dạy TH là thông qua việc tổ chức các hoạt động cho HS chiếm lĩnh tri thức, HS được rèn luyện, hoàn thiện các kĩ năng cơ bản
của NLTH để có thể TH suốt đời
1.4.2.1 Căn cứ vào lí luận và thực tiễn dạy học toán, việc tổ chức hoạt động tự học toán cho học sinh cần đảm bảo các tiêu chí sau:
- Nội dung TH phải mang tính vừa sức, phù hợp với đối tượng HS, thiết thực, gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày mà HS thường gặp
- Phải tạo được môi trường sư phạm thuận lợi cho các hoạt động TH Ví dụ: Sĩ
số HS trong lớp không được quá đông để đảm bảo GV có thể bao quát hoạt động TH của từng cá nhân; HS có đầy đủ các điều kiện, phương tiện học tập
- Kế hoạch dạy học cần thiết kế khoa học, linh hoạt, đảm bảo tất cả HS đều được giao nhiệm vụ và mục tiêu học tập cụ thể phù hợp với năng lực bản thân Mỗi HS
là một chủ thể của quá trình học tập
Trang 26- HS có đủ thời gian thực hiện nhiệm vụ TH của bản thân và tham gia các hoạt động nhóm
- Quá trình hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá, của GV phải linh hoạt dựa trên kết quả TH và sự tiến bộ của HS
1.4.2.2 Tổ chức hoạt động theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học
Cách thiết kế, tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn HS TH của một bài học môn Toán [4]:
* Hoạt động 1: Hoạt động khởi động
Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS huy động vốn kiến thức và kĩ năng
đã có để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới; giúp GV tìm hiểu xem HS hiểu biết như thế nào về những vấn đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung của bài học Mặt khác, hoạt động này nhằm tạo ra sự hứng thú và một tâm thế tích cực để HS chuẩn bị bước vào bài mới
GV đưa ra tình huống học tập có liên quan đến vấn đề sẽ xuất hiện trong SGK dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của HS Nhiệm vụ trong hoạt động khởi động là những câu hỏi hay vấn đề mở, chưa cần HS phải có câu trả lời hoàn chỉnh
* Hoạt động 2: Hoạt động hình thành kiến thức
Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng qua
hệ thống các nhiệm vụ, bài tập
GV giúp HS hình thành được những kiến thức mới thông qua các hoạt động khác nhau như: nghiên cứu SGK, tài liệu, hoạt động trải nghiệm sáng tạo
* Hoạt động 3: Hoạt động luyện tập
Mục đích là giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được Yêu cầu HS phải biết vận dụng những kiến thức vừa học được vào giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể Qua đó, GV xem HS mình đã nắm được kiến thức vừa học hay chưa và nắm ở mức độ nào Hoạt động thực hành gồm các bài tập yêu cầu HS củng cố các tri thức vừa học và rèn luyện các kĩ năng liên quan
* Hoạt động 4: Hoạt động vận dụng
Mục đích là giúp HS vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện
và giải quyết các tình huống hay vấn đề nảy sinh trong cuộc sống gần gũi, ở gia đình, địa phương
Trang 27GV cần gợi ý, khuyến khích HS nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình, mô tả yêu cầu cần đạt (về sản phẩm)
* Hoạt động 5: Hoạt động tìm tòi mở rộng
Mục đích là giúp HS không ngừng tiến tới, không bao giờ dừng lại với những
gì đã học và cần phải tiếp tục học, góp phần học tập suốt đời
GV khuyến khích HS tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức, kĩ năng ngoài sách
vở, ngoài lớp học
1.5 Thực trạng của vấn đề dạy - tự học hiện nay
1.5.1 Nhận thức của giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của hoạt động
tự học
Trong những năm gần đây, ở các trường phổ thông đã có những chuyển biến mạnh mẽ về việc đổi mới phương pháp dạy và học Tuy nhiên, nhận thức của GV đặc biệt là của HS về tầm quan trọng và nâng cao NLTH còn nhiều hạn chế Khá đông HS chưa thấy được ý nghĩa và vai trò của phương pháp TH trong quá trình học tập, quá trình lập thân lập nghiệp Một số HS thông qua việc hướng dẫn của GV và thực tế được rèn luyện trong quá trình học tập nên cũng đã nhận thức được tác dụng của việc
TH Tuy nhiên do nhiều lý do khách quan và chủ quan về thời gian, điều kiện học tập
và năng lực cá nhân nên đa số HS chưa có ý thức thường xuyên để lập kế hoạch TH và
Trang 28Về nhận thức của GV về vai trò của TH trong việc hình thành kiến thức, kĩ năng cho HS, có tới 72,2% GV cho rằng TH có vai trò quan trọng, có 22,2% GV cho
là bình thường và 5,6% GV cho là không quan trọng
Để việc học tập có hiệu quả thì điều cơ bản nhất là người học phải biết TH Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo không chỉ đổi mới từ PPDH của GV mà cũng cần phải đổi mới cả phương pháp học của HS bởi vì không một người GV nào có thể nhồi nhét kiến thức vào đầu HS nếu HS đó không muốn học Qua việc tổng kết kinh nghiệm dạy học của bản thân, của các đồng nghiệp, qua trao đổi trực tiếp với các em
HS cũng như kết quả thu được từ phiếu thăm dò, dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy những biểu hiện về thực trạng hoạt động dạy - TH cụ thể như sau:
1.5.2 Thực trạng hoạt động tự học của học sinh
Thực trạng việc dạy và học ở các trường phổ thông hiện nay chủ yếu theo phương pháp truyền thống Việc TH của HS cũng chỉ ở mức độ học bài cũ và làm bài về nhà, cố gắng làm hết các bài tập của GV giao; chưa chú trọng đến việc TH để phát hiện, khám phá những kiến thức mới, những lời giải hay, độc đáo và sáng tạo
- Về mục đích tự học của học sinh
TH để ôn tập lại kiến thức đã học mà GV giao chiếm 85,6%; TH để đối phó với các bài kiểm tra và thi đạt kết quả cao 91,2%; TH là để ghi nhớ tài liệu và nắm kiến thức có hệ thống 28,8%; TH để vận dụng kiến thức đã được học vào giải bài tập và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống 32,8%; TH là để hiểu biết, mở mang thêm cho bản thân 19,2%
Muốn TH đạt kết quả tốt, trước hết cần phải xác định được mục đích và động
cơ học tập đúng đắn, cần phải có ý chí và quyết tâm cao từ đó mới xây dựng được kế hoạch và phương pháp TH ở trên lớp cũng như học ở nhà Tuy nhiên, từ những số liệu trên cho thấy hầu hết HS hiện nay mục đích học tập là nhằm để đối phó với việc kiểm tra bài của GV lấy điểm, đối phó với thi cử; một số để nắm vững những kiến thức cơ bản chứ ít có nhu cầu mở rộng, hiểu sâu và nâng cao kiến thức cho bản thân HS ngoài việc học ở trên lớp thì thời gian còn lại chủ yếu tham gia các lớp học thêm, luyện thi nên không có thời gian cho việc TH ở nhà
Trang 29- Về tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
Qua khảo sát chúng tôi thấy chỉ có 21,6% HS tìm ra niềm vui, hứng thú trong quá trình học tập; có tới 37,6% HS không quan tâm đến vấn đề này; còn lại 40,8% HS chủ yếu đối phó và hoàn thành công việc GV giao
Tình trạng khá phổ biến của HS là đến trường, theo lớp, theo bạn học thêm theo phong trào chứ không xuất phát từ nhu cầu ham học hỏi, mở rộng kiến thức Phần đông HS chưa có ý thức tự giác trong học tập, chưa chuẩn bị bài vở khi đến trường mà chỉ thiên về ghi nhớ Về hoạt động trong giờ học là phần nhiều HS đến lớp chỉ nghe giảng, ghi chép thụ động, ít suy nghĩ, chỉ trả lời khi GV yêu cầu và không dám hỏi khi
có những vấn đề thắc mắc không hiểu
- Về việc thực hiện kĩ năng học tập
Để đánh giá về kĩ năng làm việc độc lập của HS trong quá trình học toán, chúng tôi điều tra đối với 125 HS về mức độ sử dụng một số kĩ năng TH như sau:
Kĩ năng
Mức độ
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không
SL TL % SL TL % SL TL %
1 Đọc SGK và nghiên cứu tài
liệu để lựa chọn tri thức cơ bản 25 20,0 63 50,4 37 29,6
2 Trao đổi ý kiến với bạn và làm
việc theo nhóm trong khi học 43 34,4 70 56,0 12 9,6
3 Vận dụng kiến thức đã học vào
4 Tự phát hiện và sửa chữa sai lầm 15 12,0 48 38,4 62 49,6
5 Đặt câu hỏi và phát biểu trên lớp 28 22,4 52 41,6 45 36,0
6 Suy luận, tìm hiểu lời giải 22 17,6 37 29,6 66 52,8
- Về việc xây dựng kế hoạch học tập và phương pháp tự học
Qua điều tra tôi nhận thấy HS ít tự xây dựng được kế hoạch học tập cho mình hàng ngày mà đa số các em thực hiện kế hoạch do GV đặt ra Chỉ được một số ít 21,6% HS được khảo sát là có kế hoạch học tập hàng ngày Tuy nhiên với kế hoạch
Trang 30học tập đã được vạch ra, nhiều HS không tự xác định được tiến độ và tự điều chỉnh kế hoạch học tập chiếm 53,6%; có 47,2% HS không tự lựa chọn và xây dựng được cho mình phương pháp học tập phù hợp
Việc vận dụng phương pháp TH ở HS còn rất thấp, nhận thức của HS về TH
chưa đồng đều và không có khả năng liên kết những kiến thức toán học thành hệ thống Trong hoạt động giảng dạy, GV đã chú ý đến việc hướng dẫn HS lựa chọn và
áp dụng phương pháp TH nhưng chưa cụ thể và đầy đủ Nhiều HS chưa có phương pháp, thói quen TH nên trong quá trình giảng dạy của GV các em khó tiếp thu, còn lúng túng trong khi thảo luận nhóm Từ đó các em mất căn bản, không muốn học
1.5.3 Thực trạng việc hướng dẫn tự học cho học sinh của giáo viên
Trong việc đổi mới PPDH lấy HS làm trung tâm thì việc TH của HS vô cùng quan trọng Tuy nhiên, thực tế dạy học hiện nay, việc áp dụng PPDH hướng dẫn HS
TH của GV ở tất cả các môn học nói chung và môn Toán nói riêng còn gặp nhiều lúng túng và khó khăn
PPDH phổ biến hiện nay ở trường phổ thông là thuyết trình thiên về truyền thụ kiến thức một chiều, HS thụ động tiếp thu khi nghe giảng và hướng dẫn của GV để giải bài tập Chính phương pháp dạy và học đó đã hạn chế rất nhiều đến tính độc lập,
sự phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của HS
- Về nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của tự học trong dạy học Toán
Qua gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp một số GV cho thấy, có tới 88,9% ý kiến GV được hỏi cho rằng TH giúp HS hiểu bài sâu sắc hơn; có 83,3% GV cho rằng
TH giúp HS hình thành phương pháp học và rèn luyện NLTH; TH giúp HS mở rộng, đào sâu kiến thức chiếm 77,8%; có 72,2% GV ý kiến về TH giúp HS có khả năng tự đánh giá kết quả học tập của mình và có tới 94,4% ý kiến cho rằng TH giúp HS hình thành tính tích cực, độc lập và sáng tạo trong học tập
- Về việc tạo hứng thú trong học tập cho học sinh ở trên lớp
GV đã áp dụng một số biện pháp vào dạy học như: đưa kiến thức phù hợp với trình độ nhận thức của HS chiếm 66,7%; tạo không khí sôi nổi trong các giờ học, có sự giao tiếp giữa GV và HS, giữa các HS với nhau chiếm 33,3%; sử dụng các câu hỏi gây
tò mò và tạo tình huống có vấn đề có 44,4%; hướng dẫn, kích thích HS nhu cầu tự đi tìm cái mới chiếm 27,7%
Trang 31Hầu hết GV thấy rõ vai trò quan trọng của TH trong quá trình học tập ở trường
và quá trình lập nghiệp của HS Đặc biệt đối với bộ môn Toán kiến thức phong phú, đa dạng và khó đối với trình độ HS thì việc rèn luyện và nâng cao NLTH càng có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên việc rèn luyện và nâng cao NLTH cho HS phụ thuộc vào nhiều điều kiện như thời gian, năng lực sư phạm của người thầy, động cơ thái độ và năng lực học tập của mỗi HS nên GV chưa tiến hành một cách thường xuyên
Phần lớn GV chưa thực sự quan tâm, hướng dẫn phương pháp học tập và rèn luyện kĩ năng TH cho HS Trong các giờ lý thuyết thì nặng về thuyết trình, diễn giải và tập trung truyền thụ cho hết kiến thức bài học Với các tiết luyện tập thì nặng cung cấp
và giải các dạng bài tập mẫu mang tính luyện thi nhằm mục đích đạt khối lượng kiến thức mà ít chú ý tập cho HS cách phát hiện và giải quyết vấn đề, khai thác kiến thức của SGK theo hướng TH Mỗi tiết dạy của GV vẫn chưa phát huy tính tích cực của
HS, một trong những thể hiện rõ nhất là trong việc soạn giáo án hệ thống câu hỏi còn mang tính hình thức, chưa có tính gợi mở hay đòi hỏi HS phải tích cực suy nghĩ
- Về việc rèn luyện một số kĩ năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
GV hướng dẫn HS sử dụng kĩ năng đọc SGK và nghiên cứu tài liệu chiếm 66,7%; hướng dẫn HS xây dựng kế hoạch học tập 27,7%; hướng dẫn HS biết cách tổng hợp kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương là 77,7%; hướng dẫn HS bổ sung, mở rộng kiến thức cho bản thân 61,1%; hướng dẫn HS tự kiểm tra, tự đánh giá chiếm 55,6%
Kết quả trên cho thấy, trong quá trình dạy học GV đã cố gắng rèn luyện kĩ năng
TH cho HS nhưng chưa được thường xuyên cũng như chưa giúp HS tự mình phát hiện, khám phá kiến thức mới, cách làm việc độc lập, TH với SGK Việc hướng dẫn cho HS chuẩn bị bài ở nhà nhiều GV chưa thật quan tâm mặc dù có thể nói rằng khâu này có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn HS TH, nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo trong quá trình học bài mới ở trên lớp Hầu hết GV chỉ nhắc các em về học bài cũ
và chuẩn bị bài mới theo câu hỏi và bài tập ở SGK, chứ không hướng dẫn cụ thể các
em học bài cũ và chuẩn bị bài mới như thế nào
- Về cách dạy học của giáo viên trên lớp
Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 18 GV dạy Toán ở một số trường THPT trên địa bàn TP Đồng Hới - Quảng Bình, kết quả thu được như sau:
Trang 32Câu hỏi Mức độ SL TL %
Câu 1: Quý thầy cô có nghe nói
đến việc “dạy học có tự học” cho
học sinh chưa?
Câu 2: Quý thầy cô đã từng tham
gia khóa học nào về rèn luyện
NLTH cho học sinh trong dạy
học chưa?
Chưa từng tham gia 6 33,3
Câu 3: Theo thầy cô việc rèn
luyện NLTH cho học sinh trong
dạy học toán học là?
Câu 4: Quý thầy cô có tổ chức
các hoạt động theo hướng rèn
luyện NLTH cho học sinh trong
dạy học không?
Câu 5: Trong quá trình dạy học
Toán học, quý thầy cô chủ yếu
Câu 6: Theo quý thầy cô việc
làm bài ở nhà và xem bài trước
có tác dụng gì đối với học sinh
khi các em học trên lớp?
Tiếp thu bài mới dễ dàng hơn 6 33,3 Hiểu sâu hơn về nội dung bài học 5 27,7 Hứng thú hơn khi học bài mới 3 16,7
Ý kiến khác: Cả 3 lí do trên 4 22,3
Câu 7: Theo quý thầy cô việc
dạy học theo hướng rèn luyện
NLTH cho học sinh có những
thuận lợi và khó khăn cơ bản:
Thuận lợi: Phù hợp với xu hướng phát triển của
thế giới; được sự quan tâm của các ngành, các cấp; HS tích cực, sáng tạo hơn và nâng cao kết quả học tập
Khó khăn: Phải chuẩn bị giáo án kĩ nên mất
nhiều thời gian, vẫn quen với cách dạy truyền thống mà ngại thay đổi SGK, phân phối chương trình, cơ sở vật chất, tài liệu cũng như ý thức của HS chưa đáp ứng đủ điều kiện
Trang 33Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy các GV bước đầu đã có sự đổi mới về PPDH, các PPDH truyền thống đã dần được thay thế bằng các PPDH tích cực Tuy nhiên, số GV sử dụng các PPDH tích cực vẫn còn hạn chế và chưa có chiều sâu, chưa triệt để đặc biệt là các phương pháp tạo điều kiện rèn luyện kĩ năng, NLTH cho
HS mà chỉ mới dừng lại ở việc cải tiến phương pháp bằng cách sử dụng các câu hỏi tái hiện, nêu vấn đề PPDH hiện nay ở các trường phổ thông đúng như Giáo sư Hoàng Tụy nhận xét “Ta còn chuộng cách dạy nhồi nhét, luyện trí nhớ, dùng mẹo vặt để giải những bài toán oái oăm, giả tạo, chẳng giúp gì mấy để phát triển trí tuệ mà làm cho HS thêm xa rời thực tế, mệt mỏi và chán nản”
1.5.4 Nguyên nhân của thực trạng trên
Qua điều tra, phỏng vấn và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng thực trạng dạy - TH nói trên do một số nguyên nhân sau:
• Về phía HS:
Một số HS chưa xác định động cơ và thái độ học tập đúng đắn, thói quen học tập thụ động, ngại suy nghĩ, lệ thuộc nên chưa có ý thức tự giác, đầu tư thời gian trong học tập, học phần nào cũng thấy khó thành ra chán nản với việc học từ đó không định hướng được phương pháp học tập, đặc biệt là NLTH
Không ít HS thiếu hụt về kiến thức, ít khi xem trước bài ở nhà, năng lực học tập
có hạn nên chưa thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn luyện NLTH trong quá trình học tập và quá trình lập thân, lập nghiệp sau này Các em không hiểu TH là
gì và muốn TH thì phải làm như thế nào mà chỉ nghĩ học là đối phó với các kì thi, các bài kiểm tra của GV Vì vậy, chưa có sự quyết tâm, thiếu tính kiên trì để xây dựng cho mình kế hoạch TH và tự giác thực hiện
HS thường hay làm các bài tập theo một khuôn mẫu nhất định, học thuộc các bước giải mà ít có điều kiện suy nghĩ tìm tòi, phát triển bài toán theo nhiều cách nên dẫn đến tình trạng dù là một bài tập đã làm rồi nhưng đề bài được trình bày theo một cách khác cũng có thể làm các em lúng túng không biết hướng giải quyết như thế nào Một số HS thông qua việc hướng dẫn của GV đã thấy được tác dụng của phương pháp
TH nhưng vì HS ngoài việc phải hoàn thành các yêu cầu, nhiệm vụ của GV giao cho còn phải tốn rất nhiều thời gian để tham gia các lớp học thêm, luyện thi đại học và phải làm những công việc cá nhân khác nữa nên không đủ thời gian cho việc TH
Trang 34• Về phía GV:
Tình hình dạy học hiện nay, việc áp dụng PPDH hướng dẫn HS TH của các GV
ở tất cả các bộ môn nói chung và môn Toán nói riêng còn nhiều lúng túng và khó khăn Phần lớn GV nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH truyền thống sang dạy học - TH, song do ảnh hưởng của lối dạy truyền thống đã quá quen thuộc trong thời gian dài nên ngại thay đổi cũng như ngại tốn nhiều thời gian, công sức cho việc soạn bài theo hướng tích cực cho người học nên chất lượng TH còn chưa cao Nhiều GV chưa thực sự quan tâm đúng mức trong việc rèn luyện và nâng cao NLTH cho HS Do đó những giờ dạy theo phương pháp dạy - TH tăng cường hoạt động học tập của HS chưa được nhiều, chủ yếu ở những giờ thao giảng, thanh tra hay thi GV giỏi
Phân phối chương trình còn có chỗ chưa hợp lý, khối lượng kiến thức truyền đạt tương đối nhiều mà GV phải dạy theo đúng phân phối chương trình quy định nên việc mở rộng, khai thác các khái niệm, tính chất, định lí, bài tập chưa được triệt để Một số GV còn chưa được trang bị các phương pháp cơ bản về kĩ năng dạy - TH
Do các em HS có trình độ nhận thức, tiếp thu bài khác nhau, nhiều em học còn yếu nên GV chỉ dạy cho các em nắm kiến thức cơ bản còn việc rèn luyện, hướng dẫn phương pháp TH trong suốt quá trình dạy học vẫn rất hạn chế Trong giáo án chủ yếu liệt kê những kiến thức cơ bản mà HS cần phải nắm, đa số GV lo không đủ thời gian cho giờ học nên hoạt động của GV chiếm phần lớn thời lượng tiết học Vì vậy, trong tiết dạy chưa thể hiện rõ các hoạt động của HS, chưa tổ chức, hướng dẫn và khơi dậy khả năng TH cho HS
Cách kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập chưa kích thích được khả năng
tư duy và ý thức TH của HS vì một số GV vẫn dạy học theo quan niệm là “thi gì, dạy nấy” GV chỉ quen với cách gọi HS lên bảng kiểm tra bài cũ để đủ số điểm tối thiểu, việc kiểm tra định kì thực hiện theo phân phối chương trình là trước khi kiểm tra sẽ giới hạn cho HS một phần kiến thức và dạng bài tập trọng tâm Trong dạy học, GV chủ yếu tập trung rèn luyện kĩ năng giải toán, truyền thụ những kiến thức cần cho kỳ thi mà không chú trọng đến việc đào sâu, phát triển tư duy sáng tạo, NLTH cho HS Vẫn còn tình trạng chạy đua theo thành tích học tập, tuy không nhiều nhưng cũng ảnh hưởng, tác động rất lớn đến việc TH của các em
Trang 35Ngoài những nguyên nhân cơ bản trên, chúng tôi thấy còn một số nguyên nhân khác như tài liệu hướng dẫn TH, số lượng HS trong mỗi lớp, cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng việc đổi mới phương pháp, chưa có sự quan tâm đúng đắn từ phía phụ huynh
HS Nhiều gia đình HS hầu như giao hẳn việc học của con em mình cho nhà trường, cho GV mà chưa có biện pháp phối hợp để giúp đỡ thiết thực và hiệu quả Qua nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân nói trên thì khẳng định việc tăng cường rèn luyện kĩ năng TH cho HS ở các môn học nói chung và về bộ môn Toán nói riêng càng được quan tâm và chú trọng hơn
1.6 Kết luận chương 1
Nội dung Chương 1 là tìm hiểu về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện
NLTH của HS THPT, với các kết quả đạt được như sau:
- Luận văn đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống những cơ
sở lý luận, vấn đề thực tiễn về TH và rèn luyện NLTH cho HS Qua đó thấy được TH
có vai trò quan trọng và cần thiết giúp cho người học tự tin, chủ động không chỉ trong quá trình học tập mà cả trong cuộc sống của mỗi con người TH không chỉ giúp cho người học có kết quả học tập tốt mà còn góp phần nâng cao năng lực làm việc một cách độc lập, sáng tạo, tư duy khoa học và hoàn thiện nhân cách của bản thân
- Qua khảo sát thực trạng việc dạy - TH ở trường THPT Đào Duy Từ cho thấy: việc sử dụng các biện pháp rèn luyện NLTH cho HS trong dạy học còn nhiều hạn chế, việc rèn luyện các kĩ năng TH vẫn chưa được chú trọng do nhiều nguyên nhân Do vậy, cần có các biện pháp rèn luyện và nâng cao NLTH cho các em thông qua đó kích thích động cơ, hứng thú học tập và tạo điều kiện cho HS học tích cực, góp phần nâng cao chất lượng học tập
Từ những vấn đề nghiên cứu ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc rèn luyện NLTH cho HS trong dạy học nói chung cũng như dạy học môn Toán nói riêng là việc làm rất cần thiết Trên cơ sở phân tích lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện và nâng cao NLTH cho HS trong dạy học, chúng tôi sẽ nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện NLTH cho HS trong dạy học môn Toán
Trang 36Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC,
- Nắm vững định lí về dấu của nhị thức bậc nhất và định lí về dấu của tam thức bậc hai
- Hiểu được khái niệm bất phương trình, hệ bất phương trình và những khái niệm liên quan như nghiệm của bất phương trình, giải bất phương trình, quan hệ tương đương hai bất phương trình
- Biết biểu diễn tập nghiệm của bất phương trình, hệ bất phương trình và giải được các bất phương trình bằng máy tính bỏ túi
* Về tư duy, thái độ:
- Có tinh thần hợp tác, tích cực tham gia bài học và rèn luyện các hoạt động trí tuệ
Trang 372.1.2 Nội dung và phân phối chương trình chương
Nội dung Bất đẳng thức, bất phương trình ở trường THPT được trình bày trong chương 4 SGK đại số lớp 10
• Cấu tạo chương:
Chương 4 gồm 6 bài, thực hiện trong 16 tiết học, được phân phối cụ thể như sau:
• Những lưu ý khi dạy chương này:
Với 3 tiết, bài bất đẳng thức chỉ nhằm ôn tập khái niệm và các tính chất cơ bản của bất đẳng thức, bổ sung về bất đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối và bất đẳng thức giữa trung bình cộng và trung bình nhân cho hai số không âm cũng như áp dụng vào chứng minh được một số bất đẳng thức đơn giản
Đối với bất phương trình và hệ bất phương trình bậc nhất một ẩn, lưu ý cho
HS cách biểu diễn tập nghiệm trên trục số rất thuận tiện trong thực hành giải toán Thông qua dạy học bất phương trình, cần củng cố và đào sâu một số kiến thức về tập hợp và logic toán Nội dung về dấu của nhị thức bậc nhất, của tam thức bậc hai là cơ sở để giải các bất phương trình và hệ bất phương trình bậc nhất, bậc hai một ẩn
Bất phương trình và hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn, việc xác định miền nghiệm trên mặt phẳng tọa độ được coi là giải bất phương trình hay hệ bất phương trình đã cho
Trang 38• Bảng mô tả các mức độ nhận thức và năng lực được hình thành của chương:
Nội dung Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao
Bất đẳng
thức
Nắm được các tính chất và nhận biết bất đẳng thức Cô-si
Chứng minh được các bất đẳng thức đơn giản
Chứng minh bất đẳng thức vận dụng các tính chất và bất đẳng thức Cô-si
Sử dụng bất đẳng thức giải quyết các vấn đề thực tế, các bài toán mở rộng
hệ bất phương trình và phép biến đổi tương đương
Tìm điều kiện bất phương trình, biết được tập nghiệm của bất phương trình, hệ bất phương trình
Giải được các bất phương trình cơ bản và biến đổi bất phương trình
Vận dụng giải các bất phương trình, hệ bất phương trình
mở rộng phức tạp hơn
Dấu của nhị
thức bậc
nhất
Hiểu định lí, nắm được cách xét dấu của nhị thức bậc nhất
Xét được dấu của nhị thức bậc nhất
Xét được dấu các biểu thức chứa tích, thương các nhị thức bậc nhất
Vận dụng xét dấu nhị thức bậc nhất để giải các bất phương trình
mở rộng phức tạp hơn
Bất phương
trình bậc
nhất hai ẩn
Nhận biết được bất phương trình bậc nhất hai ẩn
và tập nghiệm
Biểu diễn được miền nghiệm của bất phương trình bậc nhất hai ẩn
Biểu diễn được miền nghiệm của hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn
Vận dụng giải các bài toán thực tế, các bài toán tối ưu, tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất
Dấu của tam
thức bậc hai
Hiểu định lí, nắm được cách xét dấu của tam thức bậc hai
Xét được dấu của tam thức bậc hai
Xét được dấu các biểu thức chứa tích, thương các tam thức bậc hai
Vận dụng xét dấu tam thức bậc hai để giải bất phương trình
mở rộng phức tạp hơn
Trang 392.1.3 Vị trí, vai trò của nội dung Bất đẳng thức, bất phương trình trong chương trình Toán lớp 10
HS được làm quen và tiếp cận nội dung bất đẳng thức từ cấp THCS với khái niệm và một số tính chất đơn giản Sang bậc THPT, việc dạy học bất đẳng thức được đưa vào ngay ở bài đầu tiên trong chương 4 - Đại số 10 Bài này bao gồm: ôn tập và bổ sung các tính chất của bất đẳng thức, giới thiệu bất đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối, bất đẳng thức giữa trung bình cộng và trung bình nhân đối với hai
số không âm Về bài toán chứng minh bất đẳng thức, SGK không nêu tường minh các phương pháp chứng minh mà chỉ hình thành phương pháp thông qua một số ví
dụ cụ thể
Nội dung bất phương trình HS đã làm quen và giải được một số bất phương trình đơn giản từ bậc tiểu học, chẳng hạn như là bài toán tìm các số tự nhiên x sao cho x + 5 < 10 Khái niệm về bất phương trình được định nghĩa chính thức ở lớp 8,
HS được học sơ lược về bất phương trình, hai bất phương trình tương đương và một
số định lí biến đổi tương đương đối với bất phương trình bậc nhất một ẩn Đến lớp
10, HS được học một cách có hệ thống và mở rộng hơn về kiến thức bất phương trình, hệ bất phương trình
Bất đẳng thức có vai trò rất quan trọng trong chương trình Toán học, nó không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn là công cụ đắc lực trong các mô hình toán học liên tục hay rời rạc, trong lý thuyết phương trình…Nghiên cứu các bài toán bất đẳng thức dưới nhiều hình thức và phương pháp khác nhau có thể đem đến cho GV, HS nhiều cách tiếp cận, khám phá cũng như phát huy tối đa tính sáng tạo và tư duy nghiên cứu khoa học thực sự cho HS
Bất phương trình là một trong những nội dung cơ bản của của kiến thức toán ở nhà trường phổ thông Ăngghen cho rằng, Toán học nghiên cứu những mối quan hệ về
số lượng và hình dạng không gian của thế giới quan; về quan hệ nhỏ hơn, lớn hơn hoặc bằng nhau giữa hai số lượng hay hai đại lượng Điều đó nói lên vai trò rất quan trọng của bất phương trình trong Toán học cũng như đối với các môn học khác
Nội dung dạy học phần Bất đẳng thức, bất phương trình ở chương 4 - Đại số lớp 10 được đưa vào chương trình với một hệ thống kiến thức phù hợp với trình độ
Trang 40HS; nó được nâng dần lên từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, điều đó thể hiện qua các dạng bài tập được đưa vào chương trình Tuy nhiên, nhiều HS do mất căn bản
từ cấp THCS dẫn đến tình trạng các em thấy chủ đề này khó hiểu, trừu tượng nên không có hứng thú trong việc học và không có kĩ năng, phương pháp học phù hợp cho bản thân
Kiến thức về chủ đề này rất đa dạng và phong phú nhưng thời gian thực hành, luyện tập không được nhiều đồng thời GV phải dạy đúng phân phối chương trình theo quy định nên việc mở rộng, khai thác và ứng dụng các kiến thức đã học chưa được khai thác sâu sắc triệt để Ngoài một số bài tập có nêu phương pháp giải và chứng minh thì chủ yếu các bài tập còn lại đòi hỏi HS phải có nhiều thời gian luyện tập, tìm hướng giải quyết Khi đứng trước bài toán bất đẳng thức hay bất phương trình chưa có thuật giải, mang tính sáng tạo thì các em tỏ ra lúng túng không biết lựa chọn cách nào
để tìm ra hướng giải và thường mắc nhiều sai lầm Vì vậy, khi dạy học chủ đề này GV
cố gắng hướng dẫn, gợi ý cho HS cách suy nghĩ, tìm tòi lời giải khi đứng trước một bài toán, cũng như xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phù hợp với từng đối tượng HS nhằm rèn luyện NLTH cho các em
2.2 Những định hướng của việc đề ra một số biện pháp rèn luyện năng lực
tự học cho học sinh
* Định hướng 1: Rèn luyện NLTH cho HS trước hết phải đáp ứng được mục
tiêu của việc dạy, học môn Toán ở trường THPT
* Định hướng 2: Khai thác chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng và SGK, sách
bài tập hiện hành để góp phần rèn luyện NLTH cho HS
* Định hướng 3: Rèn luyện NLTH cho HS dựa trên định hướng đổi mới về
phương pháp dạy - học hiện nay
* Định hướng 4: Hệ thống một số biện pháp phải thể hiện rõ ý tưởng rèn luyện
NLTH cho HS đồng thời góp phần vào việc làm cho HS nắm vững các tri thức, kĩ
năng của môn học và có thể thực hiện được trong quá trình dạy học
* Định hướng 5: Hình thành và rèn luyện NLTH cho HS cần dựa trên cơ sở quá
trình tích lũy kiến thức của HS và có những điều kiện yếu tố tâm lý cần thiết
2.3 Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua