Thiết kế tiến trình dạy học một số chủ đề bài tập chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh .... Trong thực tế dạy học ở trường ph
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ NHỊ
NGHỆ AN - 2018
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học
và quý thầy cô khoa Vật lý trường Đại học Vinh, khoa liên kết Trường Đại học Long An đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Với những tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Nhị, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu và giáo viên Vật lý trường Trung học phổ thông Trường Chinh đã tạo mọi điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực và có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo chân tình từ quý thầy giáo, cô giáo và ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Ninh Thuận, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Trần Thái Vũ
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VẬT LÝ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Năng lực tự học 6
1.1.1 Quá trình tự học 6
1.1.2 Năng lực tự học của học sinh cấp THPT 18
1.2 Bài tập Vật lý 24
1.2.1 Khái niệm bài tập Vật lý 24
1.2.2 Vai trò của bài tập Vật lý 24
1.2.3 Phân loại bài tập Vật lý 26
1.2.4 Hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lý 30
1.3 Bài tập Vật lý với việc phát triển năng lực tự học cho học sinh 33
1.3.1 Sự cần thiết của bài tập Vật lý trong phát triển năng lực tự học cho học sinh 33
1.3.2 Xây dựng bài tập theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 35
1.3.3 Sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 37
1.4 Thực trạng việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học bài tập Vật lý 38
1.4.1 Thực trạng về việc tự học của học sinh 38
1.4.2 Thực trạng về việc tổ chức dạy học bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 39
1.4.3 Kết luận 39
1.5 Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học bài tập Vật lý 40
Trang 5iii
1.5.1 Biện pháp 1: Xây dựng hệ thống bài tập làm phương tiện bồi dưỡng năng lực tự học cho
học sinh 40
1.5.2 Biện pháp 2: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích, tìm tòi lời giải bài tập 40
1.5.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh tự xây dựng bài tập mới từ 1 bài tập ban đầu 41
1.5.4 Biện pháp 4: Hướng dẫn tổ chức thảo luận, thuyết trình tại lớp trong tiết học thực hành giải bài tập Vật lý 42
1.5.5 Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh ôn tập hệ thống bài tập Vật lý bằng Sơ đồ tư duy 44
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ LỚP 10 THPT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 47
2.1 Phân tích chương “Các định luật bảo toàn” trong chương trình Vật lý 10 THPT 47
2.1.1 Vị trí của chương “Các định luật bảo toàn” trong chương trình Vật lý 10 THPT 47
2.1.2 Mục tiêu của chương “Các định luật bảo toàn” theo chuẩn kiến thức-kỹ năng do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành 48
2.1.3 Nội dung cơ bản của chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 ban cơ bản 50
2.1.4 Cấu trúc của chương 56
2.2 Biên soạn hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT 57
2.2.1 Chủ đề 1: Động lượng - định luật bảo toàn động lượng 58
2.2.2 Chủ đề 2: Công – Công suất 69
2.2.3 Chủ đề 3: Động năng – Thế năng – Cơ năng 74
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số chủ đề bài tập chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh 86
2.3.1 Kế hoạch dạy học số 1: 87
2.3.2 Kế hoạch dạy học số 2: 91
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 95
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 95
Trang 6iv
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 95
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 95
3.2 Đối tượng và phương pháp của thực nghiệm sư phạm 95
3.2.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 95
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 96
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 96
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 97
3.4.1 Đánh giá định tính 97
3.4.2 Đánh giá định lượng 98
3.4.3 Kiểm định giả thiết thống kê 102
Kết luận chương 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC P1
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phân bố vị trí các chương và số tiết học trong sgk Vật lý 10 THPT 47
Bảng 2.2 Mục tiêu chương “Các định luật bảo toàn” theo chuẩn kiến thức-kỹ năng 48
Bảng 2.3 Phân tích nội dung dạy học chương “các định luật bảo toàn” 50
Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu TN 95
Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả thực hiện các yêu cầu của 2 bài kiểm tra 30 phút 98
Bảng 3.3 Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 100
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất 1000
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất tích lũy 101
Bảng 3.6 Các tham số thống kê 102
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1: Mô hình chung cấu trúc năng lực 20
Sơ đồ 1.2 Các bước tổ chức thảo luận thuyết trình BTVL 43
Sơ đồ 2.1 Cấu trúc của chương “Các định luật bảo toàn” 56
Hình 2.1 Con lắc thử đạn 62
Hình 2.2 Vệ tinh Vinasat-1 và sự phóng vệ tinh Vinasat-1 63
Đồ thị 3.1 Biểu đồ phân bố điểm 100
Đồ thị 3.2 Đồ thị phân phối tần suất 101
Đồ thị 3.3 Đồ thị phân phối tần suất tích lũy 101
Trang 10Bác Hồ đã dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” Nhưng không
phải ai cũng có ý thức và khả năng tự học tốt Chính vì thế, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, HS cần được bồi dưỡng năng lực tự học, biến việc học trở thành niềm vui, hứng thú và nhu cầu đối với mỗi HS
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[24]
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ:
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”[7]
Bên cạnh đó, một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình giáo
dục phổ thông vừa ban hành tháng 4 năm 2017 đó là: “Chương trình giáo dục
Trang 11THPT giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của người lao động, ý thức, nhân cách của công dân; khả năng tự học và học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh bản thân để tiếp tục vươn lên, học nghề hoặc htam gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.”[6]
Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông qua quan sát, trao đổi với GV
và HS tôi nhận thấy việc bồi dưỡng NLTH cho HS trung học phổ thông còn những tồn tại sau:
- Nhiều HS chưa biết cách chủ động tự học, còn thụ động trong việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức; chưa biết phát huy tính độc lập, sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tế; coi việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đặc biệt là việc giải bài tập vận dụng là sự bắt buộc và nhiều khi giải quyết nó một cách đối phó
- GV chưa hoặc không có thời gian để quan tâm đến việc bồi dưỡng NLTH cho HS, chưa biết cách tổ chức dạy học bài tập để bồi dưỡng NLTH cho HS; chưa nhận thức được đầy đủ vai trò, ý nghĩa của hoạt động tự học của học sinh
- Việc tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tổ chức thường xuyên, hoặc chỉ thực hiện trong các giờ thao giảng, hội giảng nên chưa mang lại hiệu quả như mong đợi
- Qua thực tế dạy học của bản thân, tôi nhận thấy bài tập chương “Các định luật bảo toàn” còn có nhiều hạn chế Học sinh chỉ được làm các bài tập theo dạng mẫu mà giáo viên đã gợi ý nên chưa phát huy hết các năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực tự học Bên cạnh đó nội dung chương “Các định luật bảo toàn” là một trong những kiến thức quan trọng trong chương trình Vật
lý THPT và có thể áp dụng vào việc giải thích các vấn đề trong thực tế
Trang 12Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học bài tập chương
“Các định luật bảo toàn” Vật lý lớp 10 THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp và sử dụng phối hợp các biện pháp đó trong dạy học bài tập chương “Các định luật bảo toàn” VL lớp 10 THPT nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh từ đó nâng cao kết quả học tập cho học sinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động DH Vật lý ở trường THPT
- Bài tập trong quá trình DH nhằm phát triển NLTH cho HS
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý lớp 10 THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp và sử dụng phối hợp các biện pháp đó vào dạy học bài tập chương “Các định luật bảo toàn” thì sẽ phát triển được năng lực tự học từ đó góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động tự học, phương pháp tổ chức
hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh
5.2 Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức hoạt động dạy học bài tập Vật lý
theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh
5.3 Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập và các tài liệu tham khảo
về Vật lý 10 THPT
5.4 Xây dựng quy trình dạy học nhằm phát triển NLTH cho HS trong dạy
học bài tập Vật lý, áp dụng vào chương “Các định luật bảo toàn”, Vật lý 10 THPT
Trang 135.5 Đề xuất một số biện pháp phát triển NLTH cho HS trong dạy học bài
tập Vật lý ở trường THPT
5.6 Xây dựng và đề xuất phương án sử dụng hệ thống bài tập chương
“Các định luật bảo toàn” nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
5.7 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Trường Chinh,
Huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp phát triển NLTH trong dạy học bài tập Vật lý
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và luật Giáo dục
- Nghiên cứu các sách, bài báo, tạp chí chuyên ngành
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo, các luận văn, …liên quan
6.2 Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng dạy học bài tập Vật lý ở Trường THPT nói chung và dạy chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý lớp 10 nói riêng
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Chọn mẫu nghiên cứu
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng
- Kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của HS sau khi vận dụng dạy học bài tập Vật lý theo hướng phát triển NLTH cho học sinh vào dạy học
6.4 Phương pháp thống kê
Kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm được xử lí bằng thống
kê Toán học
7 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ và cụ thể hóa thêm cơ sở lí luận của hoạt động tự học và phát triển năng lực tự học của học sinh ở trường THPT
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ
HỌC CỦAHỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THPT
Chương 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH
LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ LỚP 10 THPT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌCCỦA HỌC SINH
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THPT
Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một
bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chủ tịch Hồ chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát
vì hồi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực
cố gắng tìm học, tự học là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả
cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan,
có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa
Trang 16học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[17,18]
Như vậy, tự học là tự mình thực hiện việc học Tự học không thể thiếu trong hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kỹ năng và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của GV Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào kỹ năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ
Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học
như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
1.1.1.2 Vị trí, vai trò của tự học
Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức có sẵn, yêu cầu HS ghi nhớ, mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho
HS tự khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các kiến thức hay các vấn đề khoa học Qua đó, giúp HS không chỉ nắm bắt được kiến thức mà còn biết cách tìm ra những kiến thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng ở trình độ cao thì tự học càng cần được coi trọng Nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiển cứu khoa học Vì thế, muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì người học phải có khả năng tự phát hiện
và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống hay khoa học đặt ra
Trang 17Rèn luyện kỹ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho
HS trong quá trình học tập Một trong những phẩm chất quan trọng của mọi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phải hình thành được phẩm chất đó cho người học Khi đó giáo dục mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (có nguồn gốc từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong
đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng
cá nhân trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú, người học mới có được sự tự giác, say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở
sự phối hợp giữa hứng thứ với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với những biến đổi của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi người sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể
cả những thách thức to lớn từ môi trường, nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao, tạo đà cho tự học trong cuộc sống hay trong thực tiễn
Trang 18- Có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu
là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn
- Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Thầy làm việc hướng dẫn như ở trường hợp 2
Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn
Xét theo vai trò của người thầy thì có hai hình thức tự học chính là: tự học có GV huớng dẫn và tự học không có GV hướng dẫn:
• Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực
tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của
HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV
Trang 19giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của
GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn
sử dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
• Tự học có hướng dẫn
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích, nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS
Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho
HS tự phát triển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình thức tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong tự học có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV
Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Vật lý thường chỉ trình bày
kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kỹ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch
Trang 20như thế nào và sau khi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các bài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả
Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo
quy định của Bộ Giáo dục đào tạo, môn Vật lý trong các trường THPT có thời gian từ 2-3 tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít
và sẽ phiến diện nếu để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những kỹ năng tự học cụ thể Rất nhiều HS
từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó Rèn luyện kỹ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó
1.1.1.4 Các thành tố cơ bản của tự học
Muốn tự học, mỗi người cần thiết phải có được bốn thành tố cơ bản sau:
Động cơ học tập, Kế hoạch học tập, Thực hiện kế hoạch học tập để chiếm lĩnh kiến thức, Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập [5]
• Động cơ học tập
Trong rất nhiều động cơ học tập của HS, ta có thể tách thành hai nhóm
cơ bản:
- Các động cơ hứng thú nhận thức
Trang 21- Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung hấp dẫn, mới lạ, thú
vị, bất ngờ và chứa nhiều những yếu tố kích thích, gợi sự tò mò Động cơ này
sẽ xuất hiện thường xuyên khi nguồn học liệu hay GV tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học…
Một khi đã có động cơ, hiểu nhiệm vụ và có trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý nghĩa xã hội của sự học Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè Từ đó, các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội
• Kế hoạch học tập
Việc học, tự học thật sự có hiệu quả khi mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch học tập được xây dựng cụ thể, rõ ràng và có tính hướng đích cao, sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cá nhân
Mục tiêu học tập là những gì người học đặt ra để phấn đấu trong học tập
và có khả năng đạt được nó trong quá trình học tập của mình Để có được mục tiêu khả thi và hữu ích, HS cần xác định mục tiêu học tập của mình theo năm yếu tố sau đây:
- Cụ thể và rõ ràng: Càng chi tiết càng dễ thực hiện
- Đo lường được: Mục tiêu có thể đo lường và đánh giá được một cách
rõ ràng
- Có thách thức: Mục tiêu phải cho thấy người học cần phải nỗ lực và có
kỉ luật mới có thể đạt được
- Thực tế: Có khả năng đạt được đối với HS đó
Trang 22- Có thời gian để hoàn thành: Mục tiêu phải có thời hạn hoàn thành cụ thể Nếu là mục tiêu lâu dài, cần chia mục tiêu thành nhiều mục tiêu nhỏ và xác định thời hạn hoàn thành đối với từng mục tiêu
Người có kỹ năng tự học là người xác định được kế hoạch học tập ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của mình Thậm chí, các kế hoạch phải được tạo lập theo từng môn học, từng phần trong môn học theo từng thời điểm, giai đoạn học tập cụ thể Trong lập kế hoạch phải chọn đúng vấn đề trọng tâm, cốt lõi, quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao
Sau khi đã xác định được các vấn đề trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc trong kế hoạch chung một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ
tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi Tuy nhiên, theo khoa học về nhận thức, cần lưu ý một số điểm sau đây:
- Học ở đâu: quan trọng nhất là học ở nơi thuận lợi cho tiếp thu, không làm phân tán sự tập trung và là nơi học thích hợp với thói quen, phong cách học tập của bạn
- Khi nào nên học tập: chỉ nên học lúc thoải mái, minh mẫn, vào đúng khoảng thời gian trong kế hoạch để học Không nên học cố trong vòng 15 phút ngay trước và sau khi ăn hoặc không học cố khi đã quá mệt mỏi, buồn ngủ; không học cố vào giờ chót trước khi đến lóp
- Học cho giờ lí thuyết: cần đọc tất cả những tài liệu, đọc trước và ghi chú những điếm chưa hiểu để chuẩn bị cho giờ học trên lớp Nếu bạn học sau giờ lên lớp của GV, cần chú ý xem lại những thông tin đã ghi chép được
- Học cho giờ cần phát biểu, trả bài: nên dùng khoảng thời gian trống, ngay trước các giờ học này để luyện tập kỹ năng phát biểu
Trang 23- Sửa đổi kế hoạch học tập: có thể sửa đổi khi kế hoạch không hiệu quả, hoặc khi có việc đột xuất, làm đảo lộn, khi đó việc lập kế hoạch sẽ trở nên linh hoạt, dễ dàng hơn
• Thực hiện kế hoạch học tập để chiếm lĩnh kiến thức
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kỹ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn
đê nồng hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không tuỳ thuộc vào chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Theo đó, thường bao gồm các hoạt động như:
- Tiếp nhận/thu thập thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin
từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như: đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ internet, xemina, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra Thu thập thông tin nhằm tập hợp những thông tin liên quan đến vấn đề mà người học đang tìm hiểu, giải quyết Để hình thành
kỹ năng này, người học thường phải tiến hành các thao tác như:
+ Tìm kiếm thông tin
+ Tiến hành thu thập thông tin
+ Sắp xếp thông tin đã chọn lọc một cách hệ thống, theo từng nội dung
- Xử lí thông tin: cần tìm hiểu, tóm lược, tổng họp, phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải, đánh giá các thông tin thu thập được; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, có hệ thống các thông tin đó để giải quyết vấn đề Để hình thành
kỹ năng này, người học thường phải tiến hành các thao tác như:
+ Tóm tắt, phân loại thông tin
+ Phân tích thông tin
+ Tổng hợp, hệ thống hoá thông tin
- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học đế giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận,
Trang 24xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch ta thường gặp rất nhiều khó khăn Nhiều khi, tìm được một khối lượng lớn tư liệu, thông tin nhưng việc tập họp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại khó thực hiện được Lúc này cần khoanh vùng vấn đề theo một giới hạn hay phạm vi đừng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tôi ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết
- Trao đổi, phổ biến thông tin: Trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin, tri thức thông qua các hình thức như thảo luận, thuyết trình, tranh luận việc này thường là khâu cuối cùng trong quá trình tự học, tiếp nhận kiến thức Hoạt động này giúp người học hình thành và phát triển kỹ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản), chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển kỹ năng họp tác và quan trọng hơn giúp khách quan hoá và chính xác hoá kết quả tự học Để hình thành và ngày càng hoàn thiện kỹ năng này, người học thường phải thực hiện có hiệu quả các hành động như:
+ Hợp tác với bạn, với thầy
+ Trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói hoặc viết
+ Tham gia tranh luận, trao đổi, chia sẻ thông tin
Trong hợp tác trao đổi thông tin, HS không chỉ được đo lường về mức
độ hiểu kiến thức của mình mà còn được hình thành và nâng cao dần những kỹ năng xã hội cần thiết như: kỹ năng trình bày, kỹ năng tranh luận
• Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
Trong bất kì hoạt động nào đánh giá kết quả cũng đều quan trọng, vì nó giúp cho chủ thể kịp thời phát hiện ưu diêm hay thiếu sót, hạn chế và điều chỉnh các hoạt động, phù họp với mục đích đề ra Trong tự học, tự kiểm tra, tự đánh giá có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo kết quả, chất lượng của tự học
Trang 25Việc tự đánh giá, điều chỉnh kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức, như: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu mà GV đề xuất hay các bảng kiểm; tự đánh giá, điều chỉnh; sự đánh giá nhận xét của tập thể, thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu Tất cả cách làm đó đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua đó, người học tự đối thoại để thẩm định, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, để từ đó có hướng khắc phục nhược điểm hay phát huy ưu điểm
Như vậy, tự học rõ ràng là vấn đề không hề đơn giản Muốn học tập có hiệu quả, nhất thiết HS phải chủ động tự giác, học bất cứ lúc nào có thể, bằng chính nội lực, vì nội lực chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển Ngoài
ra, còn rất cần tới vai trò của người thầy hay người trợ giúp với tư cách là ngoại lực trong việc giúp cho HS có được một hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học, nhờ vào kinh nghiệm của thầy Nhờ đó, hoạt động tự học của HS ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất
1.1.1.5 Các giai đoạn của tự học
Quá trình tự học thường được diễn ra theo các giai đoạn: tự nghiên cứu,
tự thể hiện, tự điều chỉnh và vận dụng Mỗi giai đoạn vừa nêu trên có các bước
cơ bản để thực hiện, có thể mô tả chúng như phần dưới đây [5]
Giai đoạn I: Tự nghiên cứu
+ Bước 1: Xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự học Đây là khâu đầu tiên của quá trình học một nội dung hay một chủ đề Kết quả giai đoạn này là nhận ra các đặc điểm của từng nội dung hay chủ đề Dựa vào đó xây dựng được kế hoạch tự học
+ Bước 2: Xác định kiến thức, kỹ năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay chủ đề Sau khi nhận ra nội dung, đặc điểm của từng nội dung (bước 1), HS phải tiếp tục xác định trong mỗi nội dung đó, kiến thức nào cần thu nhận kiến
Trang 26Như vậy, kiến thức mới thu nhận và kiến thức đã có họp thành một thể thống nhất biến thành vốn riêng của chủ thể, tạo thuận lợi cho việc huy động khi cần sử dụng
Giai đoạn II: Tự thể hiện và hợp tác
Tự học theo cách đã nêu ở giai đoạn I tuy kiến thức có hệ thống, nhưng còn mang tính chủ quan, những nhầm lẫn, thiếu sót nếu có sẽ không dễ gì được
tự phát hiện ra Vì thế cần phải qua giai đoạn II, nhằm chuyển sản phẩm (kiến thức, kỹ năng ) chủ quan thành khách quan Tức là cần phải xã hội hoá sản phấm học tập Giai đoạn này được thực hiện qua các bước:
+ Bước 4 Tự thể hiện, chỉ có thể nhận xét, đánh giá được sản phẩm học
ở giai đoạn học cá nhân, khi được HS thể hiện (diễn đạt) lại theo mức độ nắm vững kiến thức Từ sản phẩm có tính cá nhân, trong tư duy được thể hiện ra hình thức cụ thể để mỗi HS và GV có thể quan sát, phân tích từ đó bổ sung, chỉnh sửa làm cho sản phẩm được chính xác, mang tính khách quan Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ học tập mà HS có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau như: tóm tắt, lập dàn ý, lập sơ đồ hệ thống, báo cáo, bài nói, bài tập, dự án, phiếu học tập
+ Bước 5: Thảo luận, sau khi biểu đạt như ở bước 4, dưới sự giúp đỡ của
GV hay người có hiểu biết (như ông, bà, cha, mẹ hay anh, chị ), HS thảo luận, tranh luận về các điều mới học được của mình Người thể hiện phải giải thích,
Trang 27bảo vệ sản phẩm của mình, các thành viên trong nhóm và GV (hay người trợ giúp) lắng nghe, phân tích, bổ sung, sửa chữa nhằm hoàn thiện, làm cho sản phẩm đảm bảo độ tinh khiết, chính xác, tiệm cận tới chân lí
Giai đoạn III: Tự điều chỉnh
+ Bước 6 Tự đánh giá Lúc này HS cần tự đánh giá việc học, dựa vào các hướng dẫn đã có Tất nhiên việc tự đánh giá này luôn mang tính chủ quan,
độ chính xác có thể chưa cao Vì thế, để hiệu quả, ban đầu GV cần hướng dẫn
HS cách đánh giá, sau đó cho HS tự đánh giá, hoặc đánh giá lẫn nhau (giữa các thành viên trong nhóm) Cứ như thế, dần dần qua luyện tập mà HS biết cách tự đánh giá, sau khi tự học mỗi nội dung hay mỗi phần trong chương trình
+ Bước 7: Tự điều chỉnh Sau khi tự đánh giá người học tự đối chiếu, tự nhận ra những chỗ sai sót, xác định nguyên nhân, rồi từ đó tự sửa lại nội dung kiến thức, kỹ năng và tự điều chỉnh cách học sao cho ngày càng phù hợp
Tuy nhiên, đến đây vẫn chưa trả lời được câu hỏi: “Mục đích học đế làm gì?”, mà chỉ trả lời được khi HS sử dụng kiến thức vào các tình huống học tập
và đời sống Vì vậy, cần có thêm giai đoạn vận dụng
Giai đoạn IV: Vận dụng kiến thức
+ Bước 8: Vận dụng kiến thức: Trên cơ sở đã nắm vững kiến thức, HS phải tự nhận ra được ý nghĩa, giá trị của từng kiến thức, kỹ năng đó và sử dụng được vào những tình huống khác nhau Vận dụng tốt kiến thức, kỹ năng là bước cuối cùng của quá trình học hay tự học
1.1.2 Năng lực tự học của học sinh cấp THPT
1.1.2.1 Khái niệm năng lực
Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc
tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm
lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào
đó với chất lượng cao”[25]
Trang 28Theo quan điểm các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, các thuộc tính của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của 1 hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
Theo Nguyễn Thị Nhị, Năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động
có ý nghĩa Khi thực hiện hoạt động này, người ta phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm sẳn có, sử dụng các kỹ năng bản thân một cách chủ động và trách nhiệm [12]
Theo chương trình Giáo dục tổng thể năm 2017 của Bộ GDĐT thì năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,
kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [6]
Theo chúng tôi, “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng
và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… Năng lực của
cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân
đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”
Như vậy, năng lực có thể xem là một tổ hợp đo lường được các kiến thức,
kỹ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc cần có nhiều NL khác nhau, vì NL được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần chuyển hóa những kiến thức, kỹ năng và thái độ
có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới
Kiến thức, kỹ năng là cơ sở để hình thành và rèn luyện NL trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kỹ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã được coi là có NL, mà còn cần đến việc sử
Trang 29dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kỹ năng cùng với thái độ, trách nhiệm của bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi thì mới được coi là có
NL
Sơ đồ 1.1: Mô hình chung cấu trúc năng lực
Trong Dự thảo chương trình tổng thể GDPT được thông qua ngày 27 tháng 7 năm 2017 thì chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hướng đến hình thành 10 năng lực cốt lõi của học sinh bao gồm[6]: Năng lực tự chủ và tự học, Năng lực giao tiếp và hợp tác, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, Năng lực ngôn ngữ, Năng lực tính toán, Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, Năng lực công nghệ, Năng lực tin học, Năng lực thẩm mỹ, Năng lực thể chất
Như vậy, năng lực tự học có vị trí đầu tiên trong các năng lực cốt lõi cho thấy tầm quan trọng của năng lực tự học đối với học sinh
1.1.2.2 Năng lực tự học
Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra khái niệm về năng lực tự học như sau: Năng
Trang 30lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra [18].
Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi
cá nhân Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa – xã hội Năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi
là khả năng tiềm ẩn Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy tự học và năng lực tự học của học sinh sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em tự học suốt đời
Theo chúng tôi, “Năng lực tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự
nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm
sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập”
1.1.2.3 Cấu trúc của năng lực tự học
Năng lực tự học có những biểu hiện sau: kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng thực hành, luyện tập, ôn tập, kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng kiểm tra, đánh giá, tự điều
chỉnh
- Kỹ năng lập kế hoạch: Trong quá trình tự học, học sinh cần xây dựng
cho mình kế hoạch học tập bao gồm các hoạt động như: dự kiến thời gian hoàn thành một hoạt động, lập thời gian biểu chi tiết, phân chia công việc trong nhóm, dự kiến địa điểm thực hiện, ấn định nội dung học tập cần đạt Khi xây
Trang 31dựng kế hoạch học tập cần đảm bảo tính khả thi của kế hoạch Muốn vậy, kế hoạch phải đảm bảo cho thời gian tự học tương xứng với lượng kiến thức của môn học; Đảm bảo sự xen kẽ giữa các môn học khác nhau, giữa các hình thức
tự học khác nhau
- Kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng sáng tạo: Kỹ năng giải quyết vấn
đề thể hiện qua việc phát hiện và làm rõ vấn đề, đề xuất, lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá giải pháp để giải quyết vấn đề Trong quá trình giải quyết vấn đề nảy sinh, học sinh có thể tìm ra cách giải quyết mới hoặc tìm ra vấn đề mới đó chính là khả năng sáng tạo, khả năng này đòi hỏi người học phải sử dụng trí tuệ để thực hiện Người học có năng lực sáng tạo được thể hiện ở khả năng tư duy sáng tạo trong các hoạt động liên quan đến học tập như tìm ra được phương pháp thực hiện tốn ít thời gian nhưng hiệu quả hoặc đưa ra ý tưởng mới, tạo ra được một sản phẩm mới, độc đáo
- Kỹ năng thu thập thông tin: Bao gồm kỹ năng đọc, kỹ năng nghe giảng
và ghi chép
+ Kỹ năng đọc: Trong quá trình tự học, người học có thể phải đọc sách,
đọc tài liệu hay đọc giáo trình Khi đọc cần phải xác định rõ mục đích đọc và lựa chọn cách đọc phù hợp Tập trung chú ý đọc sẽ không phải đọc lại nhiều lần Khi đọc cần ghi chép và biết cách “hỏi sách” bằng cách đặt các câu hỏi, rồi tìm câu trả lời từ sách Cuối cùng là hệ thống hoá những kiến thức thu được sau khi đọc
+ Kỹ năng nghe giảng và ghi chép bài giảng
Để nghe giảng có hiệu quả HS cần đọc lướt nội dung bài học để định hình kiến thức và đưa ra những câu hỏi cho bài học Khi nghe giảng, cần tập trung nghe, phân tích nội dung nghe để tìm ra nội dung chính của bài học Cần hỏi để hiểu rõ vấn đề còn khúc mắc, không nên vội vã kết luận một vấn đề khi chưa hiểu rõ về nó Ghi chép cũng là một việc quan trọng trong quá trình nghe
Trang 32giảng Nên ghi chép theo cấu trúc của bài học, đồng thời phân tích chọn lọc thông tin để ghi theo ý của mình Đối với những điểm chính của bài học cần ghi chép cẩn thận để làm tài liệu học tập
- Kỹ năng thực hành, luyện tập, ôn tập: Thực hành là hoạt động cần sự
phối hợp của chân tay, trí tuệ, tâm lí, kỹ năng này được đánh giá thông qua các thao tác để tạo ra những sản phẩm cụ thể Kỹ năng thực hành có thể được biểu hiện như: Biết sử dụng thành thạo công cụ công nghệ thông tin, phần mềm tiện ích để phân tích số liệu định lượng; Áp dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tế, mô phỏng nội dung học tập thành bảng biểu, sơ đồ, mô hình,…để làm sáng tỏ vấn đề, thực hiện các hoạt động thí nghiệm một cách hứng thú và chính xác Hoạt động luyện tập được sử dụng thường xuyên và liên tục giúp học sinh nằm vững và khắc sâu kiến thức đã học Và sau đó kỹ năng ôn tập là hoạt động quan trọng nhằm tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ lô gic có thể có cả kiến thức cũ
và mới
- Kỹ năng đánh giá, tự điều chỉnh trong học tập: Thông qua hoạt động
đánh giá để đưa ra giải pháp hành động nhằm giải quyết một vấn đề dựa trên những yếu tố có thực, có cơ sở để điều chỉnh hoạt động của bản thân từ đó rút kinh nghiệm để đạt được mục tiêu học tập cao hơn Trong quá trình học tập thì
tự điều chỉnh là đặc điểm rất quan trọng vì nó có thể trở thành động cơ học tập, quá trình này được biểu hiện cụ thể như sau: Xác định được nội dung cần học
và nội dung chưa hiểu, tự kiểm tra xem mình ghi nhớ được kiến thức học trên
Trang 331.2 Bài tập Vật lý
1.2.1 Khái niệm bài tập Vật lý
Bài tập Vật lý là những tình huống, vấn đề đặt ra được giải quyết bằng những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm Vật lý dựa trên cơ sở sử dụng các định luật và các phương pháp Vật lý [21]
Các bài tập Vật lý là một phần hữu cơ của quá trình dạy học Vật lý vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm Vật lý, phát triển tư duy Vật lý và thói quen vận dụng kiến thức Vật lý vào thực tiễn
1.2.2 Vai trò của bài tập Vật lý
Trong quá trình dạy học Vật lý, các bài tập Vật lý có tầm quan trọng đặc biệt, chúng được sử dụng theo những mục đích khác nhau [21]:
1.2.2.1 Bài tập Vật lý có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới
Trang 341.2.2.5 Thông qua giải bài tập có thể rèn luyện cho HS những đức tính tốt và tác phong làm việc khoa học: như tính tự lực cao, tính kiên trì vượt khó, tính cẩn thận, tính hợp tác, tính khiêm tốn học hỏi, v.v
1.2.2.6 Bài tập Vật lý là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng của HS một cách chính xác
Nếu GV biết ra các đề kiểm tra, đề thi nội dung bảo đảm tính phân hóa
về năng lực học Vật lý của HS thì qua bài giải của HS ta có thể phân loại được các mức độ năng lực học tập Vật lý của HS đã đạt được một cách chính xác
Tóm lại: Bài tập Vật lý là phương tiện có vai trò và chức năng để thực hiện 6 mục đích nêu trên Ta có thể sử dụng bài tập Vật lý vào bất cứ giai đoạn nào của quá trình dạy học Cần chú ý rằng việc rèn luyện cho HS giải các bàỉ tập Vật lý không phải là mục đích dạy học (vì giải bài tập là phương tiện để thực hiện hoạt động rèn luyện tư duy, nó không có mục đích tự thân của dạy học) Mục đích cơ bản đặt ra khi giải bài tập Vật lý là làm sao cho HS hiểu sâu sắc hơn những qui luật Vật lý, biết phân tích và ứng dụng chúng vào những vấn
đề thực tiễn, vào kĩ thuật và cuối cùng phát triển được năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề Giải bài tập Vật lý có giá trị rất lớn về mặt phát triển tính tích cực, tự học của HS Qua hoạt động giải bài tập giáo dục cho HS ý chí, tinh thần vượt khó, rèn luyện phong cách nghiên cứu khoa học, yêu thích môn học Vật lý [21]
Trang 35Bài tập Vật lý là phương tiện dạy học thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng của dạy học Vật lý trong nhà trường (nhiệm vụ giáo dưỡng, nhiệm vụ phát triển trí tuệ, nhiệm vụ giáo dục và nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp) Các chiến lược về giải bài tập Vật lý về thực chất là những phương pháp nghiên cứu đặc thù Vật lý học mà học sinh được tìm hiểu, nghiên cứu trong quá trình học môn Vật lý ở nhà trường [21]
1.2.3 Phân loại bài tập Vật lý
Bài tập Vật lý đa dạng, phong phú Người ta phân loại bài tập Vật lý bằng nhiều cách khác nhau theo nhiều đặc điểm: theo nội dung, theo ý nghĩa mục đích, theo chiều sâu của việc nghiên cứu vấn đề, theo phương thức giải, theo phương thức cho giả thiết, theo mức độ khó của nhận thức [21]
1.2.3.1 Phân loại theo nội dung
+ Các bài tập được sắp xếp theo các đề tài của tài liệu Vật lý Người ta phân biệt các bài tập về cơ học, về Vật lý phân tử, về điện từ, v.v Sự phân chia như vậy có tính chất qui ước Bởi vì kiến thức sử dụng trong giả thiết của một bài tập thường không lấy từ một chương, một phần mà có thể tích hợp nhiều kiến thức các phần khác nhau của giáo trình Vật lý
+ Người ta còn phân biệt các bài tập nội dung trừu tượng, bài tập nội dung cụ thể
+ Bài tập có nội dung lịch sử, đó là những bài tập chứa đựng những kiến thức có đặc điểm lịch sử: những dự liệu và các thí nghiệm Vật lý cổ điển, về những phát minh, sáng chế hoặc những câu chuyện có tính chất lịch sử
+ Bài tập Vật lý vui cũng được sử dụng rộng rãi Nét nổi bật trong nội dung loại bài tập này là sử dụng những sự kiện, hiện tượng kì lạ hoặc vui Việc giải các bài tập này sẽ làm cho tiết học sinh động, nâng cao được hứng thú học tập của HS
Trang 36tư duy lôgic của HS Việc giải các bài tập định tính rèn luyện cho HS hiểu rõ được bản chất của các hiện tượng Vật lý và những quy luật của chúng, dạy cho
HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn Giải bài tập định tính rèn luyện cho
HS thao tác tư duy phân tích, như vậy tạo cơ sở HS biết phân tích nội dung Vật
lý của một bài tập nói chung và bài tập tính toán nói riêng
Bài tập định tính được sử dụng ưu tiên hàng đầu sau khi học xong lí thuyết, trong khi luyện tập, ôn tập Vật lý
Trang 37+ Loại bài tập định tính tổng hợp là loại bài tập định tính khi giải HS phải
áp dụng một chuỗi các suy luận lôgic dựa trên cơ sở các định luật, quy tắc mới
có thể giải được
+ Loại bài tập định tính sáng tạo là loại bài tập định tính giải nó đòi hỏi các phép suy luận lôgic mới, không theo khuôn mẫu quen thuộc mới có thể tìm
ra phương án giải quyết bài tập
Bài tập định tính thường có hai dạng: Bài tập giải thích hịện tượng và bài tập dự đoán hiện tượng
b) Bài tập tính toán hay bài tập định lượng
Bài tập tính toán là những bài tập muốn giải chúng, ta phải thực hiện một loạt phép tính và kết quả thu được là đáp số định lượng, tìm giá trị một số đại lượng Vật lý Bài tập tính toán có thể chia làm hai loại:
- Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép toán đơn giản Nó có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, giúp HS hiểu rõ ý nghĩa định luật và công thức biểu diễn, sử dụng các đơn vị Vật lý tương ứng và có thói quen cần thiết để giải bài tập phức tạp
- Bài tập tính toán tổng hợp là loại bài tập muốn giải nó thì phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Kiến thức tích hợp nhiều nội dung kiến thức trong một chương, một phần hoặc các phần của tài liệu Vật lý Loại bài tập này giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thốc, thấy được mối liên hệ
Trang 38và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn
d) Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là những bài tập trong đó đối tượng nghiên cứu là những
đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng Vật lý Nó đòi hỏi HS phải biểu diễn quá trình diễn biến của các hiện tượng nêu trọng bài tập bằng đồ thị
Đồ thị là một hình thức biểu đạt mối quan hệ giữa các đại lượng Vật lý, tương đương với cách biểu đạt bằng lời hay công thức Nhiều khi nhờ vẽ được đồ thị chính xác, đồ thị biểu diễn số liệu thực nghiệm mà ta có thể tìm được định luật Vật lý mới (đồ thị là một dạng mô hình sử dụng nghiên cứu Vật lý vào trong dạy học Vật lý) Bởi vậy, các bài tập sử dụng đồ thị hoặc xây dựng đồ thị có vị trí quan trọng trong dạy học Vật lý
e) Bài tập nghịch lí và ngụy biện
Các bài toán nghịch lí và ngụy biện về Vật lý là những bài toán loại đặc biệt mà phương pháp giải chung nhất là phân tích và tìm ra nguyên nhân của
sự hiểu sai các khái niệm, định luật và lí thuyết Vật lý
Trang 39Giải các bài tập loại này, công việc đầu tiên phải làm bao giờ cũng là nghiên cứu lại chính khái niệm; định luật và lý thuyết Vật lý mà bài toán đã đề cập đến Nghiên cứu để hiểu thật chính xác nội dung của khái niệm hoặc, định luật: nó diễn tả mối quan hệ như thế nào, giữa những đại lượng nào trong khái niệm hoặc định luật; điều kiện nào để xảy ra mối quan hệ đó?
Sau khi đã đối chiếu đúng nội dung và phạm vi vận dụng của tri thức Vật
lý tương ứng với nghịch lí và ngụy biện đề cập trong bài toán, ta sẽ bước sang giai đoạn đi tìm nguyên nhân của kết luận trái ngược hoặc sai khác giữa điều khẳng định trong bài toán với điều đáng lí phải xảy ra theo đúng như kết luận
do tri thức hiểu đúng đem lại Nói cách khác, ta phải đi tìm lí do hiểu sai về khái niệm, định luật Vật lý hoặc phạm vi, điều kiện của bài toán đối với việc vận dụng khái niệm và định luật Vật lý
Hoạt động giải bài tập nghịch lí và ngụy biện có tác dụng lớn trong việc bồi dưỡng phát triển tư duy lôgic, tư duy phê phán của học sinh
1.2.3.3 Phân loại theo hình thức làm bài
a) Bài tập tự luận: là những bài yêu cầu học sinh giải thích, tính toán và
hoàn thành theo một logic cụ thể Nó bao gồm những loại bài đã trình bày ở trên
b) Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập cho câu hỏi và đáp án
Các đáp án có thể là đúng, gần đúng hoặc sai Nhiệm vụ của học sinh là tìm ra câu trả lời đúng nhất, cũng có khi đó là những câu bỏ lửng yêu cầu điền vào những chỗ trống để có câu trả lời đúng
1.2.4 Hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lý
1.2.4.1 Các bước giải bài tập Vật lý
Bài tập Vật lý đa dạng và phong phú có nhiều cách phân loại khác nhau Cũng khó có thể đưa ra một phưong pháp chung để giải bài tập Vật lý có tính vạn năng đế áp dụng cho việc giải một bài tập cụ thể Trong trường phổ thông
Trang 40Bước 1: Tóm tắt đầu bài (nêu giả thiết, và kết luận): sử dụng các ký tự quen dùng xác định những đại lượng đã cho và những đại lượng cần tìm, kết hợp với hình vẽ (nếu có thể)
Bước 2: Thiết lập các phương trình: Xác lập các mối liên hệ cơ bản giữa các dữ liệu xuất phát và cái cần phải tìm bằng cách dựa vào các định luật và định lí Vật lý, các biểu thức định nghĩa của những đại lượng Vật lý, các điều kiện của đầu bài,
Bước 3: Giải các phương trình vừa thiết lập để thu được kết quả dưới dạng các biểu thức hoặc trị số của những đại lượng cần tìm kèm theo đơn vị đo
Bước 4: Biện luận và nhận xét kết quả tính để kiểm tra lại phương pháp giải, nhận xét lời giải, tìm lời giải khác (nếu có thể) hoặc nêu lên khả năng ứng dụng và mở rộng của bài tập
1.2.4.2 Các kiểu hướng dẫn học sinh giải BTVL
Muốn cho việc hướng dẫn giải bài tập được định hướng một cách đúng đắn GV phải phân tích được phương pháp giải bài tập cụ thể bằng cách vận dụng những hiểu biết vể tư duy giải bài tập Vật lý Mặt khác phải xuất phát từ mục đích sư phạm cụ thể của việc cho HS giải bài tập để xác định kiểu hướng dẫn phù hợp [19,21]
Sau đây chúng ta sẽ đề cập đến các kiểu hướng dẫn giải bài tập Vật lý theo các mục đích sư phạm khác nhau:
Mức độ 1 Hướng dẫn theo mẫu (hướng dẫn angôrit) là sự hướng dẫn chỉ
rõ cho HS những hành động cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hành