1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế một số tình huống dạy học đại số 10 theo phương pháp dạy học dự án

106 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Một Số Tình Huống Dạy Học Đại Số 10 Theo Phương Pháp Dạy Học Dự Án
Tác giả Nguyễn Thanh Hải
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Mỹ Hằng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được bước chuyển trên, phải tập trung thực hiện việc chuyển từ PPDH hàn lâm sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH HẢI

ĐẠI SỐ 10 THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH HẢI

ĐẠI SỐ 10 THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Toán

Mã số: 8140111

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Mỹ Hằng

Nghệ An, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành các nội dung của Luận văn này, tôi xin được cảm ơn tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên

cứu đề tài “Thiết kế một số tình huống dạy học Đại số 10 theo PPDH dự án”

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GV hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Mỹ Hằng đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm Luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Viện Sư phạm tự nhiên, Tổ bộ môn PPDH Toán, Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Phòng Đào tạo Sau Đại học trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Luận văn

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo nhà trường, GV và HS trường THCS&THPT Bắc Sơn và một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm các nội dung được trình bày trong Luận văn

Dù đã rất cố gắng, song Luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Nghệ An, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thanh Hải

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Đóng góp của Luận văn 3

8 Cấu trúc của Luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 4

1.1 Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông 4

1.1.1 Định hướng chung 4

1.1.2 Định hướng đổi mới PPDH môn Toán ở trường phổ thông 6

1.1.3 Định hướng đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực người học 7

1.2 Tổng quan về phương pháp DHDA 10

1.2.1 Dự án và dự án học tập 10

1.2.2 Phương pháp DHDA 10

1.3 Khảo sát thực trạng việc dạy và học dự án trong dạy học Toán ở trường phổ thông 17

1.3.1 Mục đích khảo sát thực trạng: 17

1.3.2 Đối tượng khảo sát thực trạng: 17

1.3.3 Hình thức khảo sát thực trạng: 17

1.3.4 Kết quả khảo sát thực trạng: 17

1.4 Kết luận chương 1 22

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC ĐẠI SỐ 10 THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN 23

2.1 Nội dung, chương trình dạy học Đại số 10 23

2.2 Một số yêu cầu của nội dung bài học sẽ được xây dựng theo phương pháp DHDA 23

2.3 Xây dựng một số tình huống dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA 25 2.3.1 Tình huống dạy học 1: Dạy học ứng dụng BĐT Cô-si 25

Trang 5

2.3.2 Tình huống dạy học 2: Dạy học ứng dụng Hệ PT và Hệ BPT 36

2.3.3 Tình huống dạy học 3: Dạy học Thống kê 48

2.4 Kết luận chương 2 60

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích, nội dung thực nghiệm sư phạm 61

3.2 Những thuận lợi, khó khăn khi tiến hành thực nghiệm sư phạm 61

3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 62

KẾT LUẬN 85

KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 91

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển kinh

tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của

xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt

ra nhiều thách thức, nhất là những yêu cầu mới đối với GD trong việc đào tạo đội ngũ lao động GD đứng trước một thử thách là tri thức của loài người ngày càng phát tiển nhanh nhưng cũng dễ lạc hậu theo thời gian Thị trường lao động hiện nay luôn đòi hỏi ngày càng cao về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, tính linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác trong làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời ở đội ngũ những người lao động

Cùng với sự phát triển chung của GD thế giới, GDPT nước ta đang triển khai thực hiện bước chuyển từ chương trình GD tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc HS học được gì đến chỗ quan tâm tới việc HS học được cái gì qua việc học Để thực hiện được bước chuyển trên, phải tập trung thực hiện việc chuyển từ PPDH hàn lâm sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chú trọng đổi mới đánh giá KQHT của HS bằng việc chuyển từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết vấn

đề, coi trọng kiểm tra đánh giá KQHT với kiểm tra, ĐG trong quá trình học tập để

có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và GD

Trước những đòi hỏi về PPDH nhằm đáp ứng yêu cầu của đổi mới GD, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình nghiên cứu về các PPDH tích cực được công bố thay thế dần các PPDH truyền thống, trong đó có DHDA

DHDA có khá nhiều ưu điểm, trong đó người học được thực hiện một nhiệm

vụ học tập phức hợp, có sự gắn kết giữa lý thuyết với thực hành, nhất là ứng dụng kiến thức Toán học vào giải quyết các bài toán thực tiễn cuọc sống hằng ngày Quá trình thực hiện nhiệm vụ đó sẽ phát huy được năng lực tự lực và tự chủ trong học tập của HS, phát triển tư duy sáng tạo cho người học, phát triển được các năng lực

cá nhân người học, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tinh thần làm việc có kế hoạch, khả năng làm việc hợp tác của người học Thực chất của phương pháp này

là tổ chức và hướng dẫn người học lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng, phát

Trang 9

triển năng lực thông qua việc giải quyết các bài toán dưới dạng một tình huống thực tiễn được gọi là dự án học tập

Chương trình Toán học lớp 10 được xem là chương trình bản lề giúp HS làm quen với kiến thức và cách học ở cấp THPT Chính vì vậy mà việc rèn luyện kiến thức lớp 10 một cách nghiêm túc và cẩn thận là điều vô cùng cần thiết Về phần Đại

số lớp 10, HS sẽ được củng cố và mở rộng những kiến thức từ cấp THCS như: mệnh đề - tập hợp, hàm số bậc nhất - bậc hai, phương trình - hệ phương trình, BĐT

- BPT, cung và góc lượng giác, công thức lượng giác Đồng thời HS sẽ tiếp cận với nội dung kiến thức về thống kê với vai trò là một bộ phận của toán học, nghiên cứu các hiện tượng ngẫu nhiên, nghiên cứu các phương pháp thu thập, phân tích và xử

lý các số liệu nhằm phát hiện các quy luật thống kê trong tự nhiên và xã hội Hơn nữa, nội dung của môn học này phong phú, có tính liên môn, tính thực tiễn cao Do

đó, để đạt được hiệu quả cao cho quá trình dạy học Đại số 10, người GV cần tìm kiếm PPDH thích hợp với đặc trưng riêng của môn học

DHDA ngày càng được phổ biến rộng rãi trong các trường phổ thông và Đại học trên thế giới Hiện nay ở Việt nam cũng đã có một số tác giả nghiên cứu về dạy học theo dự án, tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu dạy học theo dự án để áp dụng trong giảng dạy Đại số 10 ở trường THPT

Từ những lý do đã nêu ở trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn

là “Thiết kế một số tình huống dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo dự án để thiết kế một số tình huống dạy học Đại số 10 theo

phương pháp DHDA nhằm định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu quy trình thực hiện DHDA được thể hiện thông qua một số tình huống dạy học cụ thể do tác giả thiết kế

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số tình huống dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ định hướng đổi mới về PPDH ở trường phổ thông, thể hiện định hướng đổi mới đó trong dạy học Toán ở trưởng THPT nói chung và trong dạy học Đại số 10 nói riêng

Trang 10

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của phương pháp DHDA

- Đề xuất quy trình thiết kế tình huống DHDA trong dạy học Đại số 10 ở trường THPT

- Thiết kế một số tình huống dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của những đề xuất nêu trên

5 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quy trình tổ chức DHDA và những ưu điểm của DHDA nếu thiết kế được các tình huống dạy học Đại số 10 theo phương pháp này

thì sẽ phát triển năng lực cho HS, góp phần đổi mới PPDH ở trường phổ thông

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu về phương pháp DHDA, về THDH và về phát triển năng lực cho học sinh, các tài liệu liên quan đến dạy học Đại số 10 và các tài liệu khác liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát thực trạng: Tìm hiểu về thực trạng DHDA hiện nay

ở trường phổ thông thông qua các hình thức quan sát, phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra GV và HS các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Phương pháp thực nghiệm GD: Tiến hành thực nghiệm một số THDH nhằm kiểm định tính hợp lý, tính khả thi của một số nội dung dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA, và kiểm nghiệm tính khả thi giả thuyết khoa học của đề tài

7 Đóng góp của Luận văn

Bước đầu thiết kế được một số nội dung dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA nhằm phát triển năng lực cho học sinh

8 Cấu trúc của Luận văn

Nội dung được trình bày trong Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh

mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Thiết kế một số THDH Đại số 10 theo phương pháp DHDA Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông

1.1.1 Định hướng chung

Cùng với các hệ thống chính trị - xã hội khác, giáo dục là một hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, có chức năng hết sức quan trọng, có liên quan mật thiết đến việc hình thành và phát triển con người, là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người Do đó, quốc gia nào, dân tộc nào cũng đều hết sức quan tâm đầu tư cho sự phát triển của GD Ở Việt Nam, GD được xác định là

“quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển”

Việt Nam tiếp nhận những đặc điểm của thời đại như các quốc gia khác trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gia nhập WTO và hội nhập kinh

tế thế giới trong điều kiện đang tiến hành đổi mới thành công Đất nước đang đứng trước những thời cơ và thách thức đòi hỏi con người Việt Nam, GD Việt Nam phải

nỗ lực để vươn lên phía trước, sánh vai cùng các quốc gia trong khu vực và vươn tầm thế giới

Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường đi đến mục đích Theo quan điểm Triết học, khái niệm phương pháp được hiểu là “ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung” Như vậy, nói đến phương pháp là nói đến con đường, cách thức giúp con người đạt được mục đích hoạt động của mình

Xung quanh khái niệm PPDH tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau Một số định nghĩa tiêu biểu là:

Theo I Ia Lecne: “PPDH là một hệ thống hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh nội dung học vấn”

Theo I D Dverev: “PPDH là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng nguồn nhận thức, các thủ thuật lôgic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo”

Ngoài ra, khái niệm PPDH còn được xem xét dưới các góc độ sau đây:

Theo quan điểm điều khiển học: “PPDH là cách tổ chức hoạt động nhận thức của HS và điều khiển hoạt động này”

Trang 12

Theo quan điểm lôgic học: “PPDH là những thủ thuật lôgic được sử dụng để giúp HS nắm vững kiến thức và kỹ năng một cách chủ động, tự giác”

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm PPDH của nhiều tác giả, nhưng các tác giả đều thừa nhận rằng PPDH có những đặc điểm, đặc trưng đó là: PPDH định hướng thực hiện mục tiêu dạy học; PPDH là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học; PPDH thực hiện thống nhất chức năng dạy học và giáo dục; PPDH là sự thống nhất của lôgic nội dung và lôgic tâm lý nhận thức; PPDH có mặt bên ngoài và bên trong; PPDH có mặt khách quan và chủ quan; PPDH là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học

Từ đó có thể hiểu khái niệm PPDH như sau: “PPDH là những hình thức và

cách thức hoạt động của GV và HS trong những môi trường dạy học được chuẩn bị nhằm đạt mục đích dạy học, phát triển năng lực của cá nhân” [14]

PPDH được xem là một trong những yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học Cùng một nội dung như nhau, nhưng HS có học tập tích cực, chủ động, hứng thú hay không, giờ học có kích thích sự phát triển của tư duy, phát huy được năng lực của HS hay không, có để lại những dấu ấn sâu sắc và khơi dậy những tình cảm tốt đẹp cho người học hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào PPDH của người GV

Định hướng về đổi mới PPDH được pháp chế hoá trong Luật Giáo dục, đó là

“Phương pháp GDPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS; phù

hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Dựa trên khái niệm chung về PPDH, có thể hiểu đổi mới PPDH là sự cải tiến những cách thức dạy học không hiệu quả của GV và HS, sử dụng những cách thức khác hiệu quả hơn với mục đích nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, phát triển năng lực của HS [14]

Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại trừ, bác bỏ các PPDH truyền thống lâu nay vẫn sử dụng như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của những PP này Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của các PPDH này, người GV trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài dạy lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong quá trình đàm thoại, hay như kỹ thuật làm mẫu trong phương pháp luyện tập

Trang 13

Tuy nhiên, các PPDH truyền thống còn có những hạn chế nhất định, vì vậy bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp với các PPDH không truyền thống nhằm tăng cường tính tích cực nhận thức của HS trong thuyết trình, đàm thoại

Đổi mới PPDH cần được tổ chức, lãnh đạo và hỗ trợ từ các cơ quan quản lý, các cấp quản lý GD, đặc biệt là các nhà trường thông qua những biện pháp phù hợp tình hình thực tế của quá trình tổ chức dạy học

Từ các quan điểm và yêu cầu trên có thể thấy, định hướng chung của đổi mới PPDH đó là: Đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực HS, phải tiến hành đổi mới một cách đồng bộ, đồng thời phải có bước đi và mức độ thích hợp cho việc đổi mới PPDH

1.1.2 Định hướng đổi mới PPDH môn Toán ở trường phổ thông

Trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ phát triển khá mạnh mẽ, CNTT, phương tiện kỹ thuật hiện đại ngày càng xâm nhập vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, vào nhà trường, việc đổi mới PPDH nói chung và dạy học Toán nói riêng bắt buộc phải thay đổi, dạy cho HS tư duy chứ không chỉ nhồi nhét kiến thức,

HS phải tự mình khám phá kiến thức mới thông qua các hoạt động học tích cực, thông qua hợp tác nhóm, thông qua sử dụng CNTT

Về phương pháp dạy và học toán, các nước tiên tiến và ngay các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Malaysia, đã có nhiều bước đổi mới, GV được đào tạo để đổi mới PPDH toán theo định hướng tích cực hóa trong học tập của học sinh, vận dụng các PPDH toán tiên tiến phù hợp với xu thế chung trên thế giới, đặc biệt chú trọng đưa Toán học vận dụng vào thực tế, trong đó việc sử dụng các PPDH không truyền thống được quan tâm áp dụng

Ở Việt Nam, trong hơn 40 năm qua, chương trình phổ thông đã có nhiều lần thay đổi Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, ở miền Nam học chương trình giải phóng, phân ban ở cấp ba tương tự với chương trình học trước đó với hệ 12 năm, miền Bắc tiếp tục học chương trình 10 năm Đến năm

1981, cả nước thống nhất một chương trình cải cách cuốn chiếu từ lớp 1 đến lớp

12, học chương trình cải cách Cho đến gần đây, sau khi thí điểm nhiều đợt về chương trình phân ban ở cấp THPT, nhiều ý kiến không thống nhất với nhau, nên

Bộ GD&ĐT đã thỏa hiệp một chương trình dạy học không còn ba đến bốn ban như trước, mà chỉ còn hai ban đó là Ban Khoa học Tự nhiên và Ban Khoa học Xã hội, học hai chương trình cho mỗi ban là chương trình cơ bản và chương trình nâng cao

Trang 14

So với những chương trình trước đây, lần này đã có một Chương trình làm pháp lệnh, thống nhất từ lớp 1 đến lớp 12, có tính liên thông giữa các môn học với quan điểm đổi mới khá rõ nét, với một bộ chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể SGK chỉ là tài liệu thể hiện chương trình, được biên soạn theo hướng giúp GV đổi mới PPDH, giúp HS tự học Tuy nhiên, theo đánh giá chung chương trình hiện hành vẫn đang còn nặng, gây quá tải cho người học, bộ sách chuẩn dùng cho tất cả các đối tượng

HS là không hợp lý Không phải đối tượng nào cũng có thể học được chương trình toán hiện nay, ví dụ HS miền núi, vùng sâu vùng xa, HS có năng khiếu về xã hội thì hạn chế về tư duy toán học, Điều đó khiến nhiều HS càng ngày càng không theo kịp, nên sinh chán học, xảy ra hiện tượng ngồi nhầm lớp Chương trình học vẫn đang còn mang nặng tính hàn lâm, thiếu thực tiễn

Đổi mới PPDH môn Toán ở bậc phổ thông như thế nào cho hợp lý cần phải được nghiên cứu và tính toán một cách kỹ lưỡng

Việc đổi mới PPDH môn Toán nên tập trung trả lời các câu hỏi như: Toán học vị Toán học hay Toán học vị thực tiễn? Dạy Toán cho ai? Dạy Toán như thế nào? Các nhà trường phổ thông cần làm gì để đổi mới PPDH môn Toán? …

1.1.3 Định hướng đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực người học

Đổi mới PPDH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là thực hiện bước chuyển từ chương trình GD tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Do đó, cần phải tập trung thực hiện việc chuyển từ PPDH hàn lâm sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chú trọng đổi mới đánh giá KQHT của HS

Tăng cường việc học tập nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực cho HS Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng của các môn học một cách riêng lẻ, GV cần tạo ra các chủ

đề học tập tích hợp liên môn, đa môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn

đề phức hợp và các năng lực khác nữa Cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

Trang 15

Việc đổi mới PPDH theo hướng định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau đây [14]:

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập, giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn

GV là người tổ chức và điều khiển HS tiến hành các hoạt động học tập nhằm phát hiện tri thức mới, vận dụng sáng tạo tri thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn đời sống xã hội, …

- Chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác SGK và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới, … Định hướng cho HS cách tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để dần hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo

- Tăng cường kết hợp học tập cá thể với học tập hợp tác nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân, của cả tập thể trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

- Chú trọng đánh giá KQHT hướng tới mục tiêu bài học trong suốt quá trình dạy học, đồng thời chú trọng phát triển các kĩ năng tự ĐG và ĐG lẫn nhau của HS với nhiều hình thức khác nhau

Một số biện pháp đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực HS đã được nghiên cứu và đề xuất đó là:

- Cải tiến PPDH truyền thống: Như trên đã đề cập, đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có những hạn chế nhất định, do đó cần kết hợp sử dụng các PPDH này với các PPDH và kĩ thuật dạy học tích cực, không truyền thống

- Kết hợp các PPDH khác nhau: Việc phối hợp các phương pháp và hình thức dạy học khác nhau trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực của HS và nâng cao chất lượng dạy học

- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và CNTT hợp lý hỗ trợ dạy học: PTDH có vai trò quan trọng trọng việc đổi mới PPDH Đa phương tiện và CNTT vừa là nội dung vừa là công cụ trong dạy học theo xu thế mới Bên cạnh sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng phần mềm dạy học cũng như các PPDH sử dụng công nghệ e-Learning, mạng trường học kết nối

Trang 16

- Sử dụng các KTDH nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Các KTDH có thể xem là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Có những KTDH chung cho nhiều PPDH, nhưng có những KTDH chỉ đặc thù của từng PPDH nào

đó

- Chú trọng các PPDH đặc thù bộ môn: PPDH có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn, Các PPDH đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy học bộ môn

- Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh theo nhiều cách thức khác nhau, cần luyện tập cho HS các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập bộ môn

Chương trình GDPT tổng thể đã được ban hành nhằm mục tiêu cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp người học biết làm chủ kiến thức phổ thong, biết vận dụng một cách có hiệu quả các kiến thức giáo khoa vào đời sống, biết khả năng

tự học suốt đời Chương trình còn giúp người học có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, đồng thời giúp người học có cá tính, có nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú Thông qua đó, người học có được cuộc sống ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước, của xã hội

Chương trình GDPT hình thành và phát triển cho HS những năng lực cốt lõi

sau:

+ Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp

phần hình thành, phát triển:

Năng lực tự chủ và tự học;

Năng lực giao tiếp và hợp tác;

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

+ Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một

số môn học và hoạt động giáo dục nhất định:

Trang 17

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình GDPT

còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS

Chương trình GD THPT giúp HS tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay

trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới

1.2 Tổng quan về phương pháp DHDA

1.2.1 Dự án và dự án học tập

“Dự án là một kế hoạch, một dự định, về cơ bản được đặc trưng bởi tính duy

nhất của các điều kiện trong tính tổng thể của nó, ví dụ có mục đích định trước, giới hạn về thời gian, nhân lực và các điều kiện khác” [33]

Do đó có thể xem “dự án là một kế hoạch, một dự tính chuyên biệt nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định đã đề ra, được thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn, có nguồn nhân lực, vật chất và tài chính xác định làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng tới” [26]

Dự án học tập có thể hiểu là một dự án trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau

Trang 18

+ Các hoạt động học tập trong DHDA được thiết kế một cách cẩn thận, theo sát chương trình học, có phạm vi kiến thức tích hợp và quan trọng nhất phải gắn với một vấn đề thực tiễn nghề nghiệp hay đời sống thực tiễn

+ Phải tạo ra được những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề

Với những phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi: DHDA là một

PPDH mà người dạy sử dụng các tình huống có vấn đề xuất phát từ thực tiễn cuộc sống xung quanh liên quan đến nội dung bài dạy, từ đó chuyển giao nhiệm vụ cho người học phải tự tìm ra giải pháp khả thi để giải quyết tình huống đó với sự hỗ trợ của người dạy và phương tiện học tập, nhất là CNTT Qua đó, người học chiếm lĩnh được tri thức, hình thành các kĩ năng học tập và phát triển được các năng lực

cá nhân

*) Đặc trưng cơ bản của DHDA [22]:

DHDA có các đặc trưng thể hiện trong sơ đồ dưới đây, cụ thể như: dự án gắn với thực tiễn, tính tự lực cao của học sinh, kết hợp lý thuyết với thực hành, định hướng sản phẩm, tính liên môn, làm việc nhóm, đánh giá đa dạng thường xuyên, công nghệ hiện đai hỗ trợ và thúc đẩy việc học Trong đó người học là trung tâm

của quá trình dạy học, kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp

DHDA

Sơ đồ 1.1: Đặc trưng của DHDA

DHDA hỗ trợ phát triển các kỹ năng hợp tác, tự giám sát, phân tích dữ liệu

và đánh giá thông tin Trong suốt quá trình thực hiện dự án, các câu hỏi định hướng

sẽ kích thích HS tư duy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn cao

*) Đặc điểm của DHDA [23]:

Người học là trung tâm

Định hướng hứng thú

Vấn đề gắn với thực tiễn

Tính tự lực

Lý thuyết - Thực hành Định hướng sản

phẩm Tính liên môn

Trang 19

DHDA có các đặc điểm sau:

Định hướng thực tiễn; Định hướng hứng thú người học; Mang tính phức hợp, liên môn; Định hướng hành động; Tính tự lực của người học; Cộng tác làm việc; Định hướng sản phẩm

*) Ưu điểm, nhược điểm của DHDA [23]:

- Ưu điểm:

Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH này như sau: + Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; + Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;

+ Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;

+ Phát triển khả năng sáng tạo;

+ Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;

+ Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

+ Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

+ Phát triển năng lực tự đánh giá

+ Phát triển năng lực CNTT và truyền thông

mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống;

+ DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp;

+ DHDA đòi hỏi người học phải có ý thức và năng lực tự học cao, có chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản để tham gia thực hiện dự án

*) Vai trò của HS và GV trong DHDA [24]

- Vai trò của học sinh:

+ HS là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó

+ HS tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm

Trang 20

+ HS là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em

+ HS hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó

+ HS là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án + HS là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó

+ GV không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ HS, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án

*) Quy trình thiết kế THDH theo dự án

Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan đến DHDA, tác giả chọn lựa và cải tiến một phần quy trình DHDA trong tài liệu của tác giả Huỳnh Văn Sơn [23] để triển khai thực hiện việc thiết kế một số THDH Đại số 10 theo phương pháp DHDA cho phù hợp với thực tế dạy học tại trường phổ thông Cụ thể:

Công đoạn 1: Chuẩn bị dự án

(Trước khi thực hiện dự án Thời gian chuẩn bị từ 1 đến 2 tuần)

- Xác định đối tượng tiến hành dự án

+ Số lượng HS của lớp học, năng lực

của HS đáp ứng việc DHDA

+ Điều kiện CSVC để triển khai DHDA

+ Nội dung bài học sẽ tiến hành DHDA

- Xác định mục tiêu dạy học

+ Chuẩn nội dung cần đạt của dự án

- Tìm hiểu cách thức và phương pháp DHDA

+ Biết DHDA là gì + Những công việc cần thực hiện khi học tập theo PP này

- Tự xác định nhu cầu, khả năng và sở thích của bản thân

Trang 21

Công việc của GV Công việc của HS

+ Từ khả năng và nhu cầu của HS

- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng của

dự án

+ Câu hỏi khái quát

+ Câu hỏi nội dung

- Xây dựng lịch trình đánh giá

+ Đánh giá thành phần, xuyên suốt dự

án

+ Đánh giá tổng thể cuối dự án

- Xây dựng kế hoạch triển khai dự án

(Thời gian, công việc của GV, HS, phối

hợp với ai, công cụ hỗ trợ )

+ Tìm kiếm thông tin, địa chỉ các tài liệu

tham khảo và chia sẻ với học sinh

+ Lấy thông tin liên lạc của HS

+ Tạo các kênh liên lạc để trao đổi ý

kiến, hướng dẫn HS thực hiện dự án

+ Những năng lực cá nhân HS cần có + Các kỹ năng của bản thân

+ Muốn đạt được kết quả học tập như thế nào? Bằng cách nào?

- Nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu thông tin liên quan đến nội dung dự án

- Xây dựng nhóm học tập

+ Cùng sở thích, cùng mối quan tâm, có thể hỗ trợ nhau

+ Phân công nhóm trưởng, thư ký + Tham khảo ý kiến và tiêu chí lập nhóm của GV

+ Cung cấp thông tin nhóm và thông tin

cá nhân cho GV

- Tiếp cận với các nguồn thông tin, các công cụ hỗ trợ do GV giới thiệu

Công đoạn 2: Tiến hành dự án

(Bắt đầu dự án Tiết 1: Giới thiệu dự án)

- Tìm hiểu nhu cầu học sinh

+ HS đã có những kiến thức gì liên quan

- Thực hiện bảng khảo sát nhu cầu

- Đưa ra ý tưởng dự án

Trang 22

Công việc của GV Công việc của HS

đến vấn đề bài học sẽ làm dự án

+ HS có những kỹ năng gì (làm việc

nhóm, CNTT )

+ HS có những ý tưởng gì cho dự án

- Triển khai dự án đến học sinh

+ Giới thiệu dự án: kịch, bài trình chiếu,

phim nhằm kích thích HS qua tình

huống có vấn đề

+ Giao nhiệm vụ cho HS

- Giao các bài tập nhỏ hỗ trợ cho việc

- Thu các bài tập nhỏ, bài tập cá nhân

- Thu thập sản phẩm của HS để lên kế

hoạch cho buổi báo cáo sản phẩm

- Tham gia thực hiện các nhiệm vụ được phân công trong dự án, hình thành ý tưởng cho sản phẩm

- Xây dựng kế hoạch làm sản phẩm

- Làm bài tập và tìm hiểu thông tin từ nhiều nguồn để giải quyết các câu hỏi trong bộ câu hỏi định hướng

- Thường xuyên thông báo và trao đổi tiến độ công việc với GV

- Nộp các bài tập, sản phẩm dự án

Công đoạn 3: Báo cáo và đánh giá sản phẩm dự án

(Tiết 2,3 Thời gian có thể linh động tùy vào dự án)

- Tổ chức báo cáo sản phẩm của HS

+ Điều hành báo cáo của các nhóm

+ Đặt câu hỏi cho sản phẩm dự án

- Tổ chức đánh giá sản phẩm

+ Phát phiếu đánh giá, bảng kiểm mục

cho HS

+ Đánh giá sản phẩm từng nhóm

- Tổ chức kiểm tra kiến thức

Phát và thu bài kiểm tra đã chuẩn bị sẵn

- Khảo sát ý kiến học sinh

- Công bố kết quả điểm, khen thưởng

- Làm bài kiểm tra

- Làm phiếu khảo sát ý kiến

Bảng 1.1: Quy trình DHDA

Trang 23

Trong các công đoạn của quy trình DHDA thì công đoạn 1 là công đoạn cơ bản nhất Ở công đoạn này, việc xây dựng bộ câu hỏi định hướng là mấu chốt đảm bảo điều kiện tiên quyết để thực hiện dự án Bộ câu hỏi định hướng giúp HS kết nối những khái niệm cơ bản trong cùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng việc học tập của HS thông qua các vấn đề kích thích tư duy Các câu hỏi định hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêu học tập và chuẩn của chương trình Theo quan điểm của chúng tôi,

bộ câu hỏi định hướng bao gồm hai loại chính:

+ Câu hỏi bài học: Là những câu hỏi dạng mở có liên hệ trực tiếp với dự án hoặc bài học cụ thể hoặc mang tính liên môn, giúp HS tự xây dựng câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thập được

+ Câu hỏi nội dung: Là những câu hỏi dạng đóng có các câu trả lời được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụ thể, thường có liên quan đến các định nghĩa hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin (như các câu hỏi kiểm tra thông thường) và những câu hỏi thực hành liên hệ thực tiễn

Trong câu hỏi nội dung thì có câu hỏi lý thuyết và câu hỏi thực hành

Việc đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà

còn phải đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng, năng lực cần đạt của người học đồng thời theo dõi sự tiến bộ của họ Một số công cụ đánh giá:

+ Bài kiểm tra viết và kiểm tra nói;

1.2.3 Vận dụng phương pháp DHDA trong dạy học Đại số 10

Nội dung chương trình toán lớp 10 là nội dung quan trọng vì nó có vị trí chuyển tiếp và hoàn thiện từ THCS lên THPT và có nhiều cơ hội để đưa nội dung thực tiễn vào dạy học

Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học ở trường THPT nhìn chung mới chỉ tập trung rèn luyện cho HS vận dụng tri thức học toán ở kỹ năng vận dụng tri thức

Trang 24

trong nội bộ môn toán là chủ yếu còn kĩ năng vận dụng tri thức trong toán học vào nhiều môn học khác, ứng dụng toán vào đời sống thực tiễn chưa được chú ý đúng mức và thường xuyên Những bài toán có nội dung liên hệ trực tiếp với đời sống lao động sản xuất còn được trình bày một cách hạn chế trong chương trình toán phổ thông hiện nay

Như vậy, trong giảng dạy toán nếu muốn tăng cường rèn luyện khả năng và ý thức ứng dụng toán học cho HS nhất thiết phải chú ý mở rộng phạm vi ứng dụng, trong đó ứng dụng vào thực tiễn cần được đặc biệt chú ý thường xuyên, qua đó góp phần tăng cường thực hành gắn với thực tiễn làm cho toán học không trừu tượng khô khan và nhàm chán HS biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết trực tiếp một số vấn đề trong cuộc sống và ngược lại

Nội dung dạy học Toán ở trường phổ thông nói chung và Đại số 10 nói riêng

có nhiều chủ đề kiến thức có thể sử dụng để thiết kế các THDH theo phương pháp DHDA để HS tiếp cận và giải quyết Trong Luận văn nghiên cứu này chúng tôi cố gắng chọn lọc những THDH điển hình và có tính khả thi cao để triển khai thực hiện

1.3 Khảo sát thực trạng việc dạy và học dự án trong dạy học Toán ở trường phổ thông

1.3.1 Mục đích khảo sát thực trạng:

Thu thập thông tin, phân tích thông tin nhằm đánh giá được ưu điểm, nhược điểm, thực tiễn của việc DHDA ở trường phổ thông từ đó đề xuất một số THDH sử dụng phương pháp DHDA trong dạy học Đại số 10

1.3.2 Đối tượng khảo sát thực trạng:

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 148 GV và 502 HS một số trường THPT, THCS&THPT của các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Lệ Thủy thuộc tỉnh Quảng Bình

1.3.3 Hình thức khảo sát thực trạng:

Bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp

1.3.4 Kết quả khảo sát thực trạng:

*) Kết quả điều tra GV:

Câu hỏi 1: Trong quá trình dạy học, thầy/cô đã áp dụng dạy học phương pháp

DHDA hay chưa?

Nội dung Kết quả lựa chọn (%)

Trang 25

Có 3,38

Câu hỏi 2: Mức độ quan tâm của thầy/cô với phương pháp DHDA?

Nội dung Kết quả lựa chọn (%)

Câu hỏi 3: Theo thầy/cô, có cần thiết sử dụng phương pháp DHDA trong dạy học

ở trường THPT trong giai đoạn GD hiện nay hay không?

Nội dung Kết quả lựa chọn (%)

Câu hỏi 4: Thầy/cô biết đến phương pháp DHDA từ nguồn nào?

Từ chương trình đào tạo ở trường Sư phạm 3,38

Thông qua đợt tập huấn chuyên môn các cấp 2,03

Từ các phương tin thông tin truyền thông

Câu hỏi 5: Thầy, cô hãy cho biết mức độ thuận lợi và khó khăn trong quá trình vận

dụng DHDA tương ứng với các bước triển khai thực hiện 1 tình huống dạy học?

Thuận lợi Ít thuận lợi Khó khăn

Trang 26

Báo cáo kết quả dự án 43,9 27,7 28,38

Tham gia xây dựng ý tưởng dự án 10,14 33,11 84,46

Tham gia báo cáo kết quả dự án 44,59 35,81 19,59

Câu hỏi 7: Theo thầy/cô khả năng vận dụng DHDA vào các nội dung chương trình

môn Toán THPT như thế nào? (Chỉ dành cho GV Toán)

Nội dung

Khả năng vận dụng DHDA (%) Thuận lợi Ít thuận lợi Khó khăn Không AD được

HS hiểu, nắm vững kiến thức bài học 13,51 21,62 84,46

Trang 27

Câu hỏi 9: Dự định của thầy/cô trong vận dụng phương pháp DHDA vào trong quá

trình dạy học bộ môn của mình?

Nội dung Kết quả lựa chọn (%)

Nội dung Kết quả lựa chọn (%)

Tập huấn chương trình DHDA cho GV 85,81

Phổ biến tài liệu về DHDA cho GV 66,89

Tổ chức cho GV tham quan, học tập các

Bảng 1.2: Thực trạng DHDA ở trường phổ thông

Từ số liệu điều tra tại Bảng 3 nêu trên, chúng tôi nhận thấy:

Ở trường phổ thông hiện nay phương pháp DHDA chưa được chú trọng áp dụng trong giảng dạy, GV tiếp cận PPDH này chủ yếu qua các kênh thông tin không chính thống và PPDH này ít được GV quan tâm Phương pháp DHDA có những khó khăn nhất định trong quá trình áp dụng, tuy nhiên PPDH này rất phù hợp với đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay, chính vì vậy nên mong muốn của

đa số GV là được tập huấn, được cung cấp tài liệu DHDA một cách bài bản Hầu hết các GV đều có kế hoạch vận dụng PPDH này trong dạy học của bản thân nếu có

sự định hướng, chỉ đạo và có sự tiếp cận PP một cách chính thống

Trong quá trình vận dụng DHDA, các GV đã phát hiện những khó khăn, thuận lợi của các khâu trong quy trình thực hiện, của các phần kiến thức khác nhau trong môn Toán THPT

HS đã thể hiện thái độ tích cực và đạt được những kĩ năng, những năng lực nhất định khi tham gia học tập thông qua các dự án học tập (nhận định của GV, chưa được chứng minh thực tiễn) Tuy nhiên mức độ tích cực của HS và hiệu quả của giờ học còn khá hạn chế Điều này có thể lí giải nguyên nhân là do PPDH này chưa được áp dụng rộng rãi và chưa được sử dụng thường xuyên

Trang 28

*) Kết quả khảo sát học sinh:

Câu hỏi 1: Trong các giờ học Toán trên lớp hiện nay, em thường được tham gia vào hoạt động nào nhất (HS có thể chọn nhiều hoạt động)?

Nội dung khảo sát Kết quả lựa chọn (%)

Làm các bài tập trắc nghiệm kỹ năng tính toán nhanh 75,50

Làm bài tập lớn (nghiên cứu toán học, dự án học tập) 0,00

Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác 3,78

Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và

Phát triển năng lực Công nghệ, Tin học 2,19

Phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên và

Bảng 1.4: Kết quả phát triển năng lực qua việc học Toán ở trường phổ thông

Câu hỏi 3: Trong quá trình học tập môn Toán ở trường THPT em đã từng được tham gia thực hiện các dự án học tập hay chưa?

Nội dung khảo sát Kết quả lựa chọn (%)

Trang 29

Ít khi tham gia 0,00

Bảng 1.5: Thực trạng tham gia học tập theo phương pháp DHDA môn Toán

ở trường phổ thông

Kết quả khảo sát qua các bảng số liệu nêu trên cho thấy, phần lớn HS đều có nhận định là các hoạt động HS được tham gia khi học Toán trên lớp chủ yếu là hoạt động cá nhân, nghe giảng lý thuyết sau đó làm bài tập áp dụng hoặc các bài tập giải nhanh (tức là hình thức trắc nghiệm có sự hỗ trợ của máy tính cầm tay), HS rất ít được tham gia các hoạt động nhóm, đặc biệt là chưa được tham gia thực hiện các

dự án học tập, các bài tập lớn, các hoạt động ứng dụng Toán học vào thực tiễn cuộc sống Do vậy, cảm nhận chung của HS là việc học trên lớp phục vụ rất nhiều cho việc phát triển các kỹ năng tính toán, năng lực tự học nhưng lại thiếu đi một phần quan trọng là các năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực CNTT, năng lực giao tiếp , là nhóm các năng lực sẽ giúp ích các em rất nhiều trong thực tế cuộc sống

Tóm lại, phương pháp DHDA chưa được áp dụng nhiều trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT hiện nay PPDH trên lớp chủ yếu vẫn theo các PPDH truyền thống, không phát huy hết được tính tích cực, sáng tạo học tập của

HS Điều đó cũng dẫn đến các năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn của HS còn yếu Từ cơ sở lí luận và kết quả điều tra trên chúng tôi nhận thấy để phát huy tính tích cực, phát triển năng lực cũng như các kỹ năng xã hội và kỹ năng làm việc cho HS trong dạy học thì việc tổ chức DHDA là một trong những giải pháp hay và hiệu quả, đặc biệt là việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn PPDH này sẽ góp phần phát triển các năng lực của HS, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện GD&ĐT, trong đó chú trọng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay

1.4 Kết luận chương 1

Trong chương này chúng tôi đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

Một số vấn đề về đổi mới PPDH ở trường phổ thông hiện nay;

Phân tích các cơ sở lí luận về phương pháp DHDA;

Thực trạng vận dụng DHDA ở trường THPT hiện nay

Dựa trên các cơ sở lí luận và thực tiễn đó có thể thiết kế được một số THDH Đại số 10 nhằm phát triển năng lực cho HS theo phương pháp DHDA

Trang 30

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC ĐẠI SỐ

10 THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN 2.1 Nội dung, chương trình dạy học Đại số 10

- Nội dung 1: Mệnh đề, tập hợp

Củng cố, mở rộng hiểu biết của HS về Lí thuyết tập hợp đã được học ở các lớp dưới, cung cấp các kiến thức ban đầu về lôgic và các khái niệm số gần, sai số, tạo cơ sở để học tập tốt các chương sau Hình thành cho HS khả năng suy luận có

lí, khả năng tiếp nhận, biểu đạt các vấn đề một cách chính xác

- Nội dung 2: Hàm số bậc nhất và bậc hai

Ôn tập và bổ sung các khái niệm cơ bản về hàm số, tập xác định, đồ thị của hàm số, khái niệm hàm số chẵn, hàm số lẻ, xét chiều biến thiên và vẽ đồ thị các hàm số đã học

- Nội dung 3: Phương trình, hệ phương trình

Bổ sung các kiến thức về phương trình, ôn tập và hệ thống hóa các cách giải phương trình bậc nhất, bậc hai một ẩn, phương trình và hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, đồng thời cung cấp cách giải hệ phương trình bậc nhất ba ẩn thông qua ví

dụ

- Nội dung 4: Bất đẳng thức, bất phương trình

Củng cố và hoàn thiện các kĩ năng chứng minh BĐT và giải BPT Ngoài các phép biến đổi tương đương, HS còn học được cách xét dấu nhị thức bậc nhất và tam thức bậc hai làm cơ sở cho việc giải các BPT và hệ BPT

- Nội dung 5: Thống kê

Thống kê là khoa học nghiên cứu các phương pháp thu thập, phân tích và xử

lí các số liệu nhằm phát hiện các quy luật thống kê trong tự nhiên và xã hội Nội dung kiến thức này giúp HS nắm vững một số phương pháp trình bày số liệu nhờ các số đặc trưng

- Nội dung 6: Cung và góc lượng giác, công thức lượng giác

HS được cung cấp các khái niệm về đường tròn định hướng, cung và góc lượng giác, chuẩn bị cho việc xây dựng khái niệm hàm số lượng giác HS được học các công thức lượng giác cơ bản nhất và biết vận dụng các công thức này để thực hiện các biến đổi lượng giác

2.2 Một số yêu cầu của nội dung bài học sẽ được xây dựng theo phương pháp DHDA

Trang 31

Theo Trần Thị Thái [24]: Việc xác định một số nguyên tắc dưới đây trong thiết kế các dự án toán học trong chương trình THPT cơ bản xuất phát từ bản chất của DHD đó là định hướng vào người học, định hướng thực tiễn, định hướng sản phẩm; từ bản chất của khoa học toán học; từ các nguyên tắc dạy học môn Toán; từ nội dung chương trình và SGK toán THPT:

- Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của HS và tạo cơ hội để HS tự thực hiện

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự hứng thú, tính tự lực và phát triển tư duy cho HS, đảm bảo quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm trong DHDA Việc khảo sát tìm hiểu nhận thức và nhu cầu của các em HS trước khi thực hiện dự án là một trong những phương thức để thực hiện nguyên tắc này Việc định hướng cho các nhóm HS tự xác định, tự xây dựng các chủ đề dự án học tập của nhóm mình cũng có tác dụng tương tự Các sản phẩm của dự án phải được chính các em HS thiết kế và thực hiện, GV chỉ đóng vai tư vấn, hỗ trợ, theo dõi tiến độ và chỉ đạo thực hiện dự án

- Đảm bảo nội dung chương trình, nội dung SGK và mối quan hệ liên môn

Dự án thiết kế là dự án trong một môn học - môn Toán, do đó trọng tâm nội dung nằm trong môn Toán Dự án được lựa chọn có thể xuất phát từ một phần, nhiều phần hay toàn bộ bài học; nguyên một chương hoặc kết hợp nhiều chương;…vẫn phải thể hiện được nội dung cơ bản của môn học Đảm bảo nguyên tắc này đồng nghĩa với việc đảm bảo được kỹ năng xác định chính xác mục tiêu cơ bản của bài dạy trong kế hoạch bài dạy của mỗi dự án

Toán học là một môn khoa học có liên quan đến nhiều môn khoa học khác do

đó việc đảm bảo mối quan hệ liên môn được xác định như một nội dung quan trọng

và đặc biệt phù hợp với DHDA khi xét đến bản chất của PPDH này

- Đảm bảo tính thiết thực, gần gũi trong đời sống và sản xuất

DHDA không chỉ nhằm mục đích là cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, cần thiết và có tính hệ thống mà thông qua đó còn nhằm mục đích hình thành

và phát triển ở HS những kỹ năng, những năng lực cần thiết trong cuộc sống hàng ngày Khi tổ chức DHDA cho HS nói chung và trong dạy học môn Toán ở trường THPT nói riêng, GV cần phải lựa chọn những nội dung, những chủ đề gắn liền với thực tiễn cuộc sống, gắn với thực hành giúp HS giải quyết được những vấn đề thiết thực và gần gũi với cuộc sống hàng ngày Sau mỗi dự án học tập, những sản phẩm

do HS tạo ra không chỉ có những sản phẩm mang tính lý thuyết mà còn có những

Trang 32

sản phẩm thực tế HS cũng cần phải vận dụng những kiến thức, những kinh nghiệm

và những kỹ năng đã được tích luỹ, được trang bị để hoàn thành những nhiệm vụ học tập phức hợp do dự án học tập đề ra

Do vậy khi thiết kế các dự án GV cần phải lựa chọn các nội dung kiến thức, chủ đề học tập có mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tế, cho HS thấy được ứng dụng của toán học trong đời sống quanh ta

- Đảm bảo thể hiện giá trị sống, kỹ năng sống, phát triển năng lực cá nhân

Đây chính là phần giá trị HS đạt được trong quá trình thực hiện và hoàn thành dự án

Yêu cầu hình thành, rèn luyện và phát huy ở HS các kỹ năng của thế kỉ 21,

đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa

Các kỹ năng này là điều kiện để phần nào đáp ứng được nguyên tắc này ở góc độ hình thành ở HS các năng lực cốt lõi và các năng khiếu cá nhân

Yêu cầu hình thành và phát triển các năng lực chung, năng lực cốt lõi và các năng khiếu cá nhân (đã được trình bày tại mục 1.1.3, Chương 1 của Luận văn này)

2.3 Xây dựng một số tình huống dạy học Đại số 10 theo phương pháp DHDA

2.3.1 Tình huống dạy học 1: Dạy học ứng dụng BĐT Cô-si

* Tên dự án: “Vận dụng BĐT Cô-si để giải các bài toán thực tiễn”

* Thiết kế dự án:

a) Đối tượng tiến hành dự án:

HS lớp 10 trường THCS&THPT Bắc Sơn tỉnh Quảng Bình

Năng lực HS cơ bản đáp ứng yêu cầu của việc triển khai thực hiện dự án học tập

Trang 33

Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng tốt yêu cầu dạy và học theo dự án

c) Ý tưởng dự án:

Giúp HS hiểu và nắm vững khái niệm và các tính chất của BĐT giữa trung bình cộng và trung bình nhân của các số không âm Thông qua dự án HS có thể thấy được mối liên hệ giữa Toán học với thực tiễn ở chỗ các em có thể vận dụng được kiến thức về BĐT Cô-si để giải quyết được các bài toán xuất phát từ các tình huống trong thực tiễn đời sống hằng ngày

d) Xây dựng bộ câu hỏi định hướng của dự án:

- Câu hỏi lý thuyết:

Câu hỏi 1: Nêu BĐT Cô-si cho 2 số thực không âm? Nêu BĐT Cô-si cho 3

số thực không âm? Nêu BĐT Cô-si cho n số thực không âm?

Câu hỏi 2: Nêu hệ quả của BDT Cô-si để tìm GTLN của một tích và phân tích các yếu tố có mặt trong giả thiết của hệ quả đó?

Câu hỏi 3: Nêu hệ quả của BDT Cô-si để tìm GTNN của một tổng và phân tích các yếu tố có mặt trong giả thiết của hệ quả đó?

- Câu hỏi thực hành:

Câu hỏi 4: Tìm GTLN của hàm số 2

(1 )

yxx , với 0  x 1? Câu hỏi 5: Tìm GTNN của hàm số y 2x 12

x

  , với x 0?

Trang 34

Câu hỏi 6: Một nhà sản xuất bột trẻ em cần thiết kế bao bì mới cho một loại

sản phẩm mới của nhà máy với thể tích 1,8 (dm 3

) Nếu bạn là nhân viên thiết kế bạn sẽ làm như thế nào để nhà máy chọn bản thiết kế của bạn?

Câu hỏi 7: Một nhà máy cần thiết kế hộp đựng sản phẩm hình hộp chữ nhật

không nắp từ mẫu bao bì hình vuông có diện tích 9 (dm 2 ) Làm thế nào bạn giúp nhà máy thiết kế để hộp đựng sản phẩm có thể tích lớn nhất?

Câu hỏi 8: Hãy tìm hiểu thêm một số phương pháp giải bài toán sử dụng BĐT Cô-si, một số ứng dụng của BĐT Cô-si trong thực tiễn?

e) Kế hoạch triển khai thực hiện dự án:

- Bước 1: Chuẩn bị, giao nhiệm vụ thực hiện dự án

+ Tìm hiểu nhu cầu, khó khăn của HS liên quan đến việc thực hiện dự án + GV chia lớp HS thành 4 nhóm (tương ứng với cơ cấu 4 tổ của lớp) và giao nhiệm vụ, nội dung của dự án cho từng nhóm

Nhiệm vụ chung: Yêu cầu mỗi nhóm tìm và đọc các kiến thức liên quan đến BĐT Cô-si, các PP giải bài toán sử dụng BĐT Cô-si và các ứng dụng của nó trong việc giải quyết các bài toán trong thực tiễn

Nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm:

Nhóm 1: Thực hiện câu hỏi bài học số 1, 2 và câu hỏi thực hành số 4, 6, 8 Nhóm 2: Thực hiện câu hỏi bài học số 1, 3 và câu hỏi thực hành số 5, 7, 8 Nhóm 3: Thực hiện câu hỏi bài học số 1, 2 và câu hỏi thực hành số 4, 6, 8 Nhóm 4: Thực hiện câu hỏi bài học số 1, 3 và câu hỏi thực hành số 5, 7, 8 + GV định hướng các vấn đề thực hành cụ thể để HS giải quyết Đồng thời

GV và HS thống nhất tiêu chí đánh giá các sản phẩm GV và HS thảo luận và quyết định thời gian hoàn thành dự án Sản phẩm chung của các nhóm là bài báo cáo và file trình chiếu MS PowerPoint hoặc MS Word bao gồm nội dung câu hỏi bài học liên quan đến kiến thức về BĐT Cô-si và lời giải cho câu hỏi thực hành

+ Xây dựng kế hoạch thực hiện: Các nhóm học tập tiến hành lập kế hoạch sơ

bộ xác định những công việc cần triển khai Nghiên cứu lý thuyết: tổng hợp lại kiến thức về BĐT Cô-si đã học kết hợp với các tư liệu tự tìm tòi qua các kênh thông tin khác nhau Về thực hành: Tìm hiểu một số phương pháp giải các bài toán thực tiễn

có sử dụng đến kiến thức về BĐT Cô-si và tìm cách giải quyết các bài toán trong câu hỏi thực hành đã đề ra

Trang 35

+ Các nhóm cùng thảo luận để phân công công việc cho mỗi thành viên của nhóm

+ GV kiểm tra kế hoạch thực hiện: Sau khi mỗi nhóm nộp bản kế hoạch thực

hiện dự án của nhóm, GV xem xét kế hoạch và góp ý cho bản kế hoạch GV gợi ý các nhóm trưởng cách thức điều hành nhóm và phân công nhiệm vụ đến từng thành viên của nhóm, cách thức trao đổi và liên lạc với GV

+ Chỉnh sửa kế hoạch: Dựa vào sự góp ý của GV, các nhóm cùng xem xét và

có thể điều chỉnh lại kế hoạch cũng như phương pháp thực hiện dự án của nhóm

+ GV thông báo tài liệu tham khảo cho HS: SGK và SBT Đại số 10, tài liệu liên quan đến nội dung bài học cùng một số trang website để HS tham khảo

- Bước 2: HS tổ chức triển khai thực hiện dự án

+ Đọc tài liệu tham khảo để tổng hợp lại các kiến thức về BĐT Cô-si

+ Trong khoảng thời gian còn lại HS thực hiện dự án theo yêu cầu mà GV hướng dẫn đặt ra

Nghiên cứu lý thuyết: HS hệ thống lại các kiến thức đã học, phân tích các vấn đề thực tiễn dựa trên vốn kiến thức, kinh nghiệm đã có nhằm đánh giá các vấn

đề nghiên cứu Tiến hành thu thập, nghiên cứu tài liệu, tìm kiếm và xử lý các thông tin về lý thuyết, đông thời trao đổi, thảo luận trong nhóm để các thành viên cùng nắm được nội dung mà nhóm đang nghiên cứu Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về

lý thuyết, HS tiến hành vận dụng để giải quyết các bài toán thực tiễn

Tìm hiểu thực tế: Tìm hiểu những bài toán thực tiễn trong đời sống mà có thể vận dụng kiến thức BĐT Cô-si để giải quyết, sau đó đề xuất trong bài báo cáo của nhóm Viết sản phẩm nghiên cứu chung của nhóm Trao đổi, thảo luận trong nhóm

để cùng tổng hợp ý kiến và các phương án giải quyết vấn đề nhằm hoàn thành nội dung báo cáo, đồng thời mỗi thanh viên tập báo cáo trước nhóm HS có thể đề xuất thêm các bài toán có thể dùng kiến thức về BĐT để giải quyết các vấn đề thực tiễn mà nhóm đã thu thập được

+ GV thường xuyên kiểm tra, thúc dục, động viên các nhóm hoạt động, kịp thời đưa ra những chỉ dẫn và các định hướng cho hoạt động HS sẽ thu nhận được một hệ thống kiến thức, kỹ năng vận dụng BĐT Cô-si và tổng hợp lại theo cách hiểu của mỗi nhóm học sinh

- Bước 3: HS hoàn thiện và trình bày dự án

Trang 36

+ Các nhóm hoàn thiện và trình bày sản phẩm của nhóm trong thời gian từ

ra những câu hỏi nhằm mục đích trao đổi về nội dung nghiên cứu của từng nhóm

Cá nhân HS báo cáo hoặc đại diện của nhóm báo cáo trả lời các câu hỏi do GV và tập thể lớp đưa ra Trên cơ sở những ý kiến đóng góp, đánh giá, tự đánh giá, các nhóm tổng hợp lại để hoàn chỉnh sản phẩm cuối cùng và nộp cho GV

+ GV thu thập ý kiến phản hồi của mỗi thành viên trong nhóm về hiệu quả của công việc

- Bước 4: Tổ chức đánh giá và rút kinh nghiệm dự án

+ HS tự ĐG việc triển khai thực hiện dự án của cá nhân và của nhóm

+ HS ĐG việc thực hiện nhiệm vụ của các nhóm khác

+ GV đánh giá hiệu quả làm việc của từng nhóm theo các tiêu chí đánh giá

GV đánh giá và nhận xét về kết quả thực hiện của từng nhóm trên cơ sở kết quả những hoạt động để triển khai thực hiện dự án học tập như: nghiên cứu lý thuyết, quá trình soạn và trình bày bài báo cáo trước lớp của từng nhóm

+ Sau khi phân tích, đánh giá ưu và nhược điểm của từng dự án, GV đề xuất cách giải quyết hiệu quả nhất cho từng dự án

+ HS ghi chép và tổng hợp thành sản phẩm hoàn chỉnh, làm tài liệu học tập cho bản thân và cả lớp

f) Dự kiến thời gian thực hiện: Dự án triển khai thực hiện trong 7 ngày

Thời gian Người thực hiện Nội dung thực hiện

Trang 37

Thời gian Người thực hiện Nội dung thực hiện

Đưa ra thời gian thực hiện và các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng cần đạt được

Phân nhóm HS thực hiện nhiệm vụ trong dự án Hướng dẫn một số kỹ năng khi thực hiện dự án Thống nhất đưa ra các tiêu chí đánh giá sản phẩm của từng nhóm

Giải đáp thắc mắc của các nhóm dự án

Học sinh

Thảo luận, xây dựng kế hoạch thực hiện của nhóm Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm

Phản hồi ý kiến về dự án với GV

2-3 buổi Học sinh Thu thập và xử lý các thông tin liên quan

Xin ý kiến hướng dẫn của GV (nếu cần)

Theo dõi, đánh giá và chỉnh sửa kiến thức, kỹ năng cho từng nhóm

Thể chế hóa kiến thức liên quan đến dự án

Đánh giá sản phẩm dự án của HS, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ dự án, mức độ phát triển năng lực của từng dự án, có thể đánh giá một số cá nhân Thực hiện bài kiểm tra kiến thức sau khi hoàn thành dự án

Trang 38

Thời gian Người thực hiện Nội dung thực hiện

HS

HS tổng hợp kiến thức vào vở làm tài liệu học tập Rút kinh nghiệm để triển khai các dự án tiếp theo Làm bài kiểm tra theo yêu cầu của GV

Bảng 2.1: Dự kiến thời gian thực hiện dự án BĐT Cô-si

g) Yêu cầu sản phẩm trình bày của dự án:

- Về hình thức sản phẩm: Các nhóm trình bày kết quả thông qua bài báo cáo bằng phần mềm MS PowerPoint hoặc MS Word bao gồm nội dung câu hỏi bài học liên quan đến kiến thức về BĐT Cô-si và lời giải cho câu hỏi thực hành, kèm hình ảnh, các tư liệu, số liệu minh họa

- Về nội dung: Các nhóm hoàn thành việc trả lời đúng trọng tâm các câu hỏi định hướng của dự án mà GV đã giao

Cụ thể:

Câu hỏi 1: Trong toán học, BĐT Cô-si là BĐT so sánh giữa trung bình cộng

và trung bình nhân của n số thực không âm được phát biểu như sau:

- Với 2 số không âm a, b ta có: Trung bình nhân của hai số không âm nhỏ hơn hoặc bằng trung bình cộng của chúng

, , 0 2

Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi ab

- Với 3 số không âm a, b, c ta có: Trung bình nhân của ba số không âm nhỏ hơn hoặc bằng trung bình cộng của chúng

3

, , , 0 3

a b c abc    a b c

Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi a b c

- Với n số a i i,  1,n không âm, ta có: Trung bình nhân của n số thực không

âm luôn nhỏ hơn hoặc bằng trung bình cộng của chúng

Trang 39

thường được viết:

n n

Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi a1a2   a n

Câu hỏi 2: Nếu hai số dương thay đổi nhưng có tổng không đổi thì tích của chúng lớn nhất khi hai số bằng nhau

Tức là, với hai số dương a và b có a b S không đổi thì suy ra:

Trang 40

Sử dụng BĐT Cô-si cho 3 số thực không âm ta

Theo một số mô hình thường gặp, bao bì được làm bằng dạng hình hộp chữ nhật hoặc dạng hình trụ Như vậy cần xác định xem hai dạng đó thì dạng nào sẽ tiết kiệm vật liệu hơn

a) b)

Hình 2.1: Thiết kế bao bì sản phẩm hộp sữa

Các phương án giải quyết:

Phương án 1: Làm bao bì sản phẩm có dạng hình hộp, đáy hình vuông cạnh x

(Hình 2.1 a)

Ta có thể tích hình hộp chữ nhật 2

2

1,8 1,8

Ngày đăng: 01/08/2021, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2017), Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn HS tự học, Tài liệu tập huấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn HS tự học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Tài liệu tập huấn
Năm: 2017
2. GS. Bernd Meier – TS. Nguyễn Văn Cường (2005), Hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án đào tạo GV PT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: GS. Bernd Meier, TS. Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án đào tạo GV PT
Năm: 2005
3. GS. Bernd Meier – TS. Nguyễn Văn Cường (2010), Hội thảo tập huấn: Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án đào tạo GV PT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tập huấn: Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT
Tác giả: GS. Bernd Meier, TS. Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án đào tạo GV PT
Năm: 2010
4. Nguyễn Ngọc Bích (2016), Tổ chức dạy học môn hình học cao cấp cho sinh viên ngành sư phạm Toán học ở trường Đại học theo phương thức đào tạo tín chỉ, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học môn hình học cao cấp cho sinh viên ngành sư phạm Toán học ở trường Đại học theo phương thức đào tạo tín chỉ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 2016
5. Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương (2011), Dạy học dự án - Từ lí luận đến thực tiễn, Tạp chí khoa học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dự án - Từ lí luận đến thực tiễn
Tác giả: Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương
Nhà XB: Tạp chí khoa học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
6. Trần Đức Chiến (2007), Rèn luyện năng lực tư duy thống kê cho HS trong dạy học thống kê – xác suất ở môn Toán Trung học phổ thông. Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực tư duy thống kê cho HS trong dạy học thống kê – xác suất ở môn Toán Trung học phổ thông
Tác giả: Trần Đức Chiến
Nhà XB: Viện chiến lược và chương trình giáo dục
Năm: 2007
7. Phan Dân, Trương Văn Hưỡn (2011), Học và thực hành theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Đại số 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và thực hành theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Đại số 10
Tác giả: Phan Dân, Trương Văn Hưỡn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
8. Nguyễn Huy Đoan, Phạm Thị Bạch Ngọc, Đoàn Quỳnh, Đặng Hùng Thắng, Lưu Xuân Tình (2008), Bài tập Đại số 10 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Đại số 10 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Huy Đoan, Phạm Thị Bạch Ngọc, Đoàn Quỳnh, Đặng Hùng Thắng, Lưu Xuân Tình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. Lê Hồng Đức, tập thể GV trường Quốc tế Newwton – Hà Nội (2014), Phương pháp chứng minh BĐT Tìm GTLN, GTNN của Hàm số, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chứng minh BĐT Tìm GTLN, GTNN của Hàm số
Tác giả: Lê Hồng Đức, tập thể GV trường Quốc tế Newwton – Hà Nội
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2014
10. Trần Văn Hạo, Vũ Tuấn, Doãn Minh Cường, Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Tiến Tài (2014), Đại số 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số 10
Tác giả: Trần Văn Hạo, Vũ Tuấn, Doãn Minh Cường, Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Tiến Tài
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
11. Trần Văn Hạo, Vũ Tuấn, Doãn Minh Cường, Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Tiến Tài (2014), Đại số 10 (Sách GV), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số 10 (Sách GV)
Tác giả: Trần Văn Hạo, Vũ Tuấn, Doãn Minh Cường, Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Tiến Tài
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
12. Trần Văn Hạo, Doãn Minh Cường, Vũ Lưu, Nguyễn Tiến Tài (2007), Dạy và học Đại số 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học Đại số 10
Tác giả: Trần Văn Hạo, Doãn Minh Cường, Vũ Lưu, Nguyễn Tiến Tài
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
13. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2006
14. Phạm Minh Hùng, Nguyễn Thị Hường, Thái Văn Thành (2016), Giáo trình Giáo dục học, NXB Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học
Tác giả: Phạm Minh Hùng, Nguyễn Thị Hường, Thái Văn Thành
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2016
15. Nguyễn Phú Khánh (2015), BĐT và bài toán Max – Min, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BĐT và bài toán Max – Min
Tác giả: Nguyễn Phú Khánh
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2015
16. Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Phạm Văn Kiều (1997), Phát triển lý luận dạy học môn toán, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lý luận dạy học môn toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Phạm Văn Kiều
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
17. Nguyễn Bá Kim,Vũ Dương Thụy (2001), PPDH môn Toán (phần đại cương), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH môn Toán (phần đại cương)
Tác giả: Nguyễn Bá Kim,Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
18. Trịnh Thị Khánh Linh (2013), Dạy học BĐT Cauchy bằng PPDH theo dự án, Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học BĐT Cauchy bằng PPDH theo dự án
Tác giả: Trịnh Thị Khánh Linh
Nhà XB: Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ
Năm: 2013
19. Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn, Nguyễn Anh Hoàng, Tạ Hoàng Thông (2011), Những con đường khám phá lời giải BĐT, NXB ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con đường khám phá lời giải BĐT
Tác giả: Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn, Nguyễn Anh Hoàng, Tạ Hoàng Thông
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2011
20. Đoàn Quỳnh, Nguyễn Huy Đoan, Nguyễn Xuân Liêm, Đặng Hùng Thắng, Trần Văn Vuông (2008), Đại số 10 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số 10 nâng cao
Tác giả: Đoàn Quỳnh, Nguyễn Huy Đoan, Nguyễn Xuân Liêm, Đặng Hùng Thắng, Trần Văn Vuông
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w