1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng cong vẹo cột sống và tác dụng của một số bài tập thể dục can thiệp lên học sinh trung học cơ sở bị cong vẹo cột sống ở thành phố vinh nghệ an

98 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Cong Vẹo Cột Sống Và Tác Dụng Của Một Số Bài Tập Thể Dục Can Thiệp Lên Học Sinh Trung Học Cơ Sở Bị Cong Vẹo Cột Sống Ở Thành Phố Vinh – Nghệ An
Tác giả Hồ Quý Hợi
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Thị Ái Khuê
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Sinh học thực nghiệm
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH HỒ QUÝ HỢI THỰC TRẠNG CONG VẸO CỘT SỐNG VÀ TÁC DỤNG CỦA MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ DỤC CAN THIỆP LÊN HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ BỊ CONG VẸO CỘT SỐNG Ở

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HỒ QUÝ HỢI

THỰC TRẠNG CONG VẸO CỘT SỐNG VÀ TÁC DỤNG CỦA MỘT

SỐ BÀI TẬP THỂ DỤC CAN THIỆP LÊN HỌC SINH TRUNG HỌC

CƠ SỞ BỊ CONG VẸO CỘT SỐNG Ở THÀNH PHỐ VINH – NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC SINH HỌC

NGHỆ AN – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HỒ QUÝ HỢI

THỰC TRẠNG CONG VẸO CỘT SỐNG VÀ TÁC DỤNG CỦA MỘT

SỐ BÀI TẬP THỂ DỤC CAN THIỆP LÊN HỌC SINH TRUNG HỌC

CƠ SỞ BỊ CONG VẸO CỘT SỐNG Ở THÀNH PHỐ VINH – NGHỆ AN

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 8.42.01.14

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS HOÀNG THỊ ÁI KHUÊ

NGHỆ AN – 2018

Trang 3

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn:

Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Viện sư phạm tự nhiên Trường Đại học Vinh đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập tại trường và quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể các giáo viên, nhân viên

và học sinh trường THCS Lê Mao thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo PGS.TS Hoàng Thị Ái Khuê – Giảng viên cao cấp khoa Giáo dục thể chất, Trường Đại học Vinh, là người hướng dẫn khoa học, người đã dày công chỉ bảo, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bố, mẹ, vợ, anh, chị, em, đồng nghiệp

và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, chia sẻ những lúc khó khăn, thuận lợi cùng tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Qua đây cũng cho tôi gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo và tập thể Giáo viên, nhân viên của trường THPT Cờ Đỏ là nơi tôi công tác đã tạo điều kiện để tôi hoàn hoàn thànhkhóa học và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Hồ Quý Hợi

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi và nhóm nghiên cứu thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thị Ái Khuê Kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nghệ An, tháng 8 năm 2018

Người cam đoan

Hồ Quý Hợi

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH 9

DANH MỤC BẢNG 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 12

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống trên Thế giới và Việt Nam 4 1.1.1.1 Nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống trên Thế giới 4

1.1.1.2 Nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống ở Việt Nam 8

1.1.2 Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục chữa cong vẹo cột sống trên Thế giới và Việt Nam 12

1.1.2.1 Nghiên cứu nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục chữa cong vẹo cột sống trên Thế giới 12

1.1.2.2 Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục chữa cong vẹo cột sống ở Việt Nam 17

1.2 Hình thái giải phẫu cột sống và cong vẹo cột sống 18

1.2.1 Hình thái giải phẫu cột sống 18

1.2.2 Cong vẹo cột sống 19

Trang 6

1.2.2.2 Phân loại cong vẹo cột sống 19

1.2.2.3 Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ cong vẹo cột sống 22

1.2.2.3 Ảnh hưởng của cong vẹo cột sống lên một số chức năng sinh lý, thể chất 24

1.2.3 Tác dụng của một số bài tập thể dục theo phương pháp Schroth và Yoga trong điều chỉnh cong vẹo cột sống 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Sơ lược một số đặc điểm cơ bản của vùng nghiên cứu 29

2.2 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 29

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp chọn mẫu 30

2.3.2 Phương pháp tính cỡ mẫu 30

2.3.3 Phương pháp điều tra 31

2.3.4 Phương pháp xác định cong vẹo cột sống 31

2.3.5 Phương pháp nhân trắc học 32

2.3.6 Phương pháp xác định các chỉ số sinh lý 34

2.3.7 Phương pháp xác định các chỉ số thể lực 34

2.3.8 Phương pháp thực nghiệm 36

2.3.9 Phương pháp xử lý số liệu 36

2.3.10 Các phương pháp nghiên cứu khác 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 37

Trang 7

Mao thành phố Vinh - Nghệ An 37

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37

3.1.2 Thực trạng học sinh bị cong vẹo cột sống ở trường Trung học cơ sở Lê Mao, thành phố Vinh – Nghệ An 38

3.1.2.1 Tỷ lệ học sinh mắc cong vẹo cột sống ở trường Trung học cơ sở Lê Mao, thành phố Vinh – Nghệ An 38

3.1.2.2 Phân loại cong vẹo cột sống ở học sinh trường Trung học cơ sở Lê Mao, thành phố Vinh – Nghệ An 40

3.1.3 Một số chỉ số hình thái, sinh lý và thể chất của học sinh bị CVCS 43

3.1.3.1 Một số chỉ số hình thái 43

3.1.3.2 Một số chỉ số sinh lý 49

3.1.3.3 Một số chỉ số thể lực 56

3.2 Tác dụng của một số bài tập thể dục lên học sinh bị vẹo cột sống chữ C ở trường Trung học cơ sở Lê Mao, thành phố Vinh – Nghệ An 61

3.2.1 Đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu can thiệp 61

3.2.2 Hiệu quả của bài tập thể dục điều chỉnh cong vẹo cột sống cho học sinh bị vẹo cột sống chữ C 62

3.2.3 Tác dụng của các bài tập thể dục lên một số chỉ số hình thái 64

3.2.4 Tác dụng của các bài tập thể dục lên một số chỉ số sinh lý 66

3.3.5 Tác dụng của bài tập thể dục lên một số chỉ số thể chất 69

KẾT LUẬN 71

KIẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 8

CS: Cộng sự CSCV: Cong vẹo cột sống

THCS: Trung học cơ sở THPT: Trung trung phổ thông

WHO: Tổ chức Y tế Thế giới YTTH: Y tế trường học

Trang 9

Hình 1.1 Hình thái giải phẫu cột sống 18

Hình 1.2 Cột sống bình thường và cột sống bị vẹo 19

Hình 1.3 Các dạng vẹo cột sống theo hình thái 20

Hình 2.1 Cong vẹo cột sống theo Adam 31

Hình 2.2 Cách xác định góc Cobb 32

Hình 2.3 Cách đo chiều cao đứng 33

Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu 36

Trang 10

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn đánh giá thể lực hoc sinh, sinh viên của Bộ Giáo dục và

Đào tạo 35

Bảng 3.1 Số lượng học sinh được kiểm tra cột sống theo tuổi và giới tính 37 Bảng 3.2 Số lượng và tỷ lệ học sinh bị CVCS tại trường THCS Lê Mao 38 Bảng 3.3 So sánh tỷ lệ CVCS với các tác giả khác 39 Bảng 3.4 Số lượng và tỷ lệ các dạng cong vẹo cột sống của học sinh trường

40

Bảng 3.5 Thực trạng độ CVCS (độ) đo theo phương pháp Cobb Angle của

học sinh trường THCS Lê Mao 41

Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ % học sinh bị CVCS phân theo mức độ ở trường

THCS Lê Mao (theo phương pháp Cobb Angle) 42

Bảng 3.7 Một số chỉ số hình thái của học sinh nam bị CVCS và không bị

CVCS tại trường THCS Lê Mao 44

Bảng 3.8 Một số chỉ số hình thái của học sinh nữ bị CVCS và không bị

CVCS tại trường THCS Lê Mao 45

Bảng 3.9 Một số chỉ số sinh lý của học sinh nam bị CVCS và không bị

CVCS ở trường THCS Lê Mao 50

Bảng 3.10 Một số chỉ số sinh lý của học sinh nữ bị CVCS và không bị CVCS

ở trường THCS Lê Mao 51

Bảng 3.11 Một số chỉ số thể lực của học sinh nam bị CVCS và không bị

CVCS ở trường THCS Lê Mao 56

Bảng 3.12 Một số chỉ số thể lực học sinh nữ bị CVCS và không bị CVCS ở

trường THCS Lê Mao 57

Bảng 3.13 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu can thiệp bằng các bài tập thể

dục theo phương pháp Schroth và Yoga 61

Trang 11

trường THCS Lê Mao sau 3 tháng can thiệp bằng bài tập thể dục 62

Bảng 3.15 Tác dụng của bài tập thể dục lên một số chỉ số hình thái của học

sinh bị CVCS chữ C ở trường THCS Lê Mao 64

Bảng 3.16 Tác dụng của bài tập thể dục lên một số chỉ số sinh lý của học

sinh bị CVCS chữ C ở trường THCS Lê Mao 66

Bảng 3.17 Tác dụng của bài tập thể dục lên một số chỉ số thể chất của học

sinh nam và nữ bị VCS chữ C ở trường THCS Lê Mao 69

Trang 12

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các dạng CVCS phân theo mức độ ở học sinh trường

THCS Lê Mao (theo phương pháp Cobb Angle) 43

Biểu đồ 3.2 Khác biệt chiều cao đứng của học sinh nam bị CVCS và không

bị CVCS ở trường THCS Lê Mao 46

Biểu đồ 3.3 Khác biệt cân nặng của học sinh nữ bị CVCS và không bị CVCS

ở trường THCS Lê Mao 47

Biểu đồ 3.4 Khác biệt vòng ngực trung bình của học sinh nam bị CVCS và

không bị CVCS ở trường THCS Lê Mao 49

Biểu đồ 3.5 So sánh tần số tim của học sinh nam bị CVCS và không bị

CVCS ở trường THCS Lê Mao 52

Biểu đồ 3.6 So sánh tần số thở của học sinh nam bị CVCS và không bị

CVCS ở trường THCS Lê Mao 54

Biểu đồ 3.7 So sánh dung tích sống của học sinh nữ bị CVCS và không bị

CVCS ở trường THCS Lê Mao 55

Biểu đồ 3.8 So sánh thành tích chạy 30 mét xuất phát cao của học sinh nam

bị CVCS và không bị CVCS ở trường THCS Lê Mao 58

Biểu đồ 3.9 So sánh thành tích chạy 5 phút tùy sức của học sinh nam bị

CVCS và không bị CVCS ở trường THCS Lê Mao 59

Biểu đồ 3.10 So sánh thành tích nằm ngửa gập bụng trong 30 giây của học

sinh nữ bị CVCS và không bị CVCS ở trường THCS Lê Mao 60

Biểu đồ 3.11 Mức độ cải thiện độ CVCS của học sinh bị CVCS chữ C ở

trường THCS Lê Mao sau 3 tháng can thiệp bằng bài tập thể dục 63

Biểu đồ 3.12 Sự thay đổi vòng ngực trung bình của học sinh nam và nữ bị

CVCS chữ C sau 3 tháng can thiệp ở trường THCS Lê Mao 65

Biểu đồ 3.13 Sự thay đổi tần số thở của học sinh nam và nữ bị CVCS chữ C

sau 3 tháng can thiệp bằng bài tập thể dục ở trường THCS Lê Mao 67

Biểu đồ 3.14 Sự thay đổi dung tích sống của học sinh nam và nữ bị CVCS

chữ C sau 3 tháng tập thể dục tại trường THCS Lê Mao 68

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chăm sóc sức khỏe lứa tuổi học sinh là nhiệm vụ quan trọng vì đây là thế hệ tương lai của đất nước Bên cạnh được chăm sóc về giáo dục, học sinh cần được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phòng chống các dịch bệnh

và bệnh do chính các yếu tố học đường gây nên Trong những năm qua, ngành Giáo dục và ngành Y tế đã phối hợp với nhau để thực hiện tốt công tác y tế trường học (YTTH) nhằm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục toàn diện cho học sinh Mặc dù hoạt động y tế trường học, điều kiện vệ sinh học tập của học sinh đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức Bên cạnh những bệnh, sự gia tăng bệnh mới nổi của học sinh như thừa cân, béo phì, rối loạn tâm thần học đường điều kiện kinh tế xã hội thay đổi thì

tỷ lệ học sinh mắc các bệnh học đường vẫn còn cao và chưa được khống chế như tật khúc xạ (từ 5% đến 30%), cong vẹo cột sống (từ 4% đến 50%), bệnh răng miệng (từ 60% đến 95%) Những bện này nếu không được phát hiện sớm

và điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất cũng như tinh thần của học sinh [11]

Cong vẹo cột sống (CVCS) là bệnh khá phổ biến ở học sinh Cong vẹo cột sống thường tiến triển âm thầm, kéo dài trong thời gian nhiều năm, gây ra những biến dạng về giải phẫu, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh lý của bộ máy hô hấp, tuần hoàn, vận động Đặc biệt CVCS ở trẻ em gái có thể làm khung chậu lệch, ảnh hưởng đến chức năng sinh đẻ sau này So với học sinh bình thường, học sinh mắc cong vẹo cột sống có thể lực kém hơn Tai hại hơn nữa là chứng cong vẹo cột sống ảnh hưởng đến tương lai của trẻ vì chúng không thể theo những ngành đòi hỏi phải có thân hình cân đối và phát triển tốt (như Phi công, Vũ công, Vận động viên, Người mẫu, Người dẫn chương trình) Ngoài ra những em bị cong vẹo cốt sống thường có tâm lý thiếu tự tin, ngại tiếp xúc với người khác nên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý của trẻ [9], [24]

Trang 14

Theo điều tra của một số tác giả trong nước, tỷ lệ học sinh bị cong vẹo cột sống nói chung còn cao, từ 17% đến 30% tùy vùng sinh thái [12], [31], [37] Theo nghiên cứu của Vũ Đức Thu và Cộng sự công bố năm 2001 [38],

tỷ lệ cong vẹo cột sống tại một số trường phổ thông Hà Nội là 28,6% - 33,3%

và có xu thế tăng theo cấp học Tại Nghệ An theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bông Bê và Cộng sự [2] tại một số trường cấp 1 và cấp 2 ở thành phố Vinh, huyện Nam Đàn, huyện Nghi Lộc, tỷ lệ cong vẹo cột sống dao động trong khoảng 25% - 35%

Năm 1971, ba ngành Y tế, Giáo dục và Thể dục thể thao đã ra thông tư liên bộ về chữa CVCS ở trẻ em nhưng hiệu quả chưa cao Theo chương trình giáo dục thể chất ở các cấp học nói chung và cấp học trung cơ sở nói riêng chủ yếu mới chú ý đến phát triển về thể lực mà chưa có chương trình “chuyên biệt” cho học sinh mắc bệnh tật nói chung và học sinh CVCS nói riêng Thực

tế những học sinh CVCS đang tập luyện chung một chương trình với học sinh bình thường [24], [41]

Cong vẹo cột sống có thể chữa bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng việc can thiệp bằng việc thực hiện các động tác thể dục là phương pháp đơn giản, thuận tiện và hiệu quả Thể dục chữa cong vẹo cột sống là dùng các động tác thể dục điều chỉnh các sai lệch về cột sống [32], [47]

Phương pháp Schroth là một nguyên tắc không phải phẫu thuật được sử dụng như là một điều trị chứng vẹo cột sống bao gồm các bài tập CVCS cụ thể phụ thuộc vào mẫu đường cong Ứng dụng phương pháp trị liệu cong vẹo cột sống Schroth mang lại hiệu quả điều chỉnh CVCS đáng kể, phương pháp Schroth cải thiện độ cong vẹo cột sống (giảm góc Cobb), tăng độ linh hoạt của cột sống, tăng cường chức năng hô hấp, tim mạch, cải thiện chiều cao và cân nặng theo nghiên cứu của Schreiber S (2015) và Park J (2018) [71], [76]

Để góp phần vào việc đánh giá thực trạng cong vẹo cột sống và tác dụng của một số bài tập thể dục lên học sinh trung học cơ sở mắc cong vẹo

Trang 15

cột sống, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng cong vẹo cột

sống và tác dụng của một số bài tập thể dục can thiệp lên học sinh trung học cơ sở bị cong vẹo cột sống ở thành phố Vinh – Nghệ An”.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng học sinh bị cong vẹo cột sống ở trường trung học

cơ sở Lê Mao thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Tìm hiểu tác dụng của một số bài tập thể dục can thiệp lên những học sinh bị CVCS chữ C của trường THCS Lê Mao thông qua một số chỉ số hình thái, sinh lý và thể chất

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá thực trạng cong vẹo cột sống của học sinh trung học cơ sở

Lê Mao, thành phố Vinh – Nghệ An

- Điều tra qua phiếu, thu thập các thông tin về tên, tuổi, giới tính, dân tộc, vùng sinh thái sinh sống

- Khám xác định tỷ lệ CVCS, loại CVCS và mức độ CVCS

- Đánh giá ảnh hưởng của CVCS lên các chỉ tiêu chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, tố chất nhanh, tố chất dẻo, tần số tim, huyết áp, tần số thở, dung tích sống

3.2 Tìm hiểu tác dụng của một số bài tập thể dục lên học sinh trung học

cơ sở bị cong vẹo cột sống chữ C

- Tìm hiểu một số bài tập thể dục theo phương pháp Schroth và Yoga

- Hướng dẫn học sinh bị CVCS thực hành các bài tập thể dục

- Đánh giá hiệu quả của bài tập thể dục lên những học sinh bị CVCS sau 3 tháng tập luyện thông qua một số chỉ số: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, tần số tim, huyết áp, tần số thở, dung tích sống, chạy

30 mét, chạy tùy sức trong 5 phút và nằm ngửa gập thân trong 30 giây

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống trên Thế giới và Việt Nam 1.1.1.1 Nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống trên Thế giới

Cong vẹo cột sống đã được phát hiện và điều trị từ giai đoạn rất sớm của lịch sử phát triển Y học Hypocrate là một trong những tác giả đầu tiên

trình bày về cong vẹo cột sống và đặt tên là Scoliosis Ông cũng mô tả về việc

sử dụng các thiết bị làm giảm tiến triển của cong vẹo cột sống [31]

Tới thế kỷ XVIII, XIX, các nhà nghiên cứu đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh của vẹo cột sống một cách đầy đủ và rõ ràng hơn Đó là thời điểm đánh dấu bước phát triển to lớn góp phần vào việc phòng và chữa trị bệnh học đường nói chung và CVCS nói riêng

Năm 1849, Hare cho rằng CVCS có liên quan tới tư thế sai, rối loạn phát triển thể chất, còi xương Ông cũng mô tả việc sử dụng khuôn bằng thạch cao để điều trị CVCS có hiệu quả [16] Cùng năm 1849, Edwars Lonsdale viết luận thuyết về điều trị CVCS Ông cho rằng biến dạng cột sống ở trẻ em gái khi ngồi khâu vá mặc áo nịt ngực quá chặt, bế ắm trẻ nhỏ một bên tay ở giai đoạn cột sống phát triển quá nhanh dẫn đến cong vẹo cột sống [31]

Nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng cơ sở vật chất trường học, hệ thống chiếu sáng và trang thiết bị đồ dùng học tập, giảng dạy Từ kiểu bàn ghế Erisman, bàn đóng liền với ghế được cho là có khả năng phòng chống cong vẹo cột sống, đã có những thay đổi trong những thập kỷ gần đây là kiểu bàn ghế hai chỗ ngồi, bàn ghế rời nhau và chú trọng tới hiệu số chiều cao của bàn ghế theo từng cỡ, số bàn ghế [31]

Tỷ lệ CVCS trong một khám sàng lọc của Guillauve trên 751 trẻ em trai và gái, có 18% trong số 350 trẻ em trai và 41% trong số 401 trẻ em gái bị biến dạng cột sống [75]

Trang 17

Trong những năm từ 1971 đến 1976, tác giả J.E Loustein khám sàng lọc cho trường học ở Bang Minesota của Mỹ trên 571722 học sinh thấy có 8,3% học sinh có biểu hiện ban đầu biến dạng cột sống, sau đó khi khám chuyên khoa thấy có tới 4,0% bị biến dạng cột sống [7], [14]

Nghiên cứu của Rogala và Cộng sự năm 1978 khám sàng lọc cho

26947 học sinh thấy có 45% cong vẹo cột sống [16]

Một khám sàng lọc khác của Stirlings và Cộng sự cho 15799 trẻ em từ

6 đến 14 tuổi ở Anh năm 1996, thì cứ 934 học sinh (5,9%) cho Focward bending test (+) và được chụp X quang sàng lọc lần 2 có 431 học sinh (2,7%)

có góc Cobb trên phim X quang lớn hơn 5 độ [79]

Năm 2005 tại Singapore J.S Daruwalla và Cộng sự khám sàng lọc cho

110744 học sinh ở các nhóm tuổi 6 đến 7; 11 đến 12 và 16 đến 17 Kết quẩ cho thấy tỷ lệ học sinh bị CVCS ở nhóm 6 – 7 là 0,12%; nhóm 11 – 12 tuổi là 1,7% và 16 – 17 tuổi là 3,1% [15]

Theo báo cáo của Flordeliza Young năm 2009 tại Singapore cho thấy,

tỷ lệ cong vẹo cột sống ở trẻ gái tăng dần theo lứa tuổi Nghiên cứu tỷ lệ mắc CVCS cho trẻ từ 9 – 13 tuổi cho kết quả, tỷ lệ mắc cong vẹo cột sống 9 tuổi là 0,27%, 10 tuổi là 0,64%, 11 tuổi là 1,58%, 12 tuổi là 2,22% và 13 tuổi là 2,49% Tỷ lệ đối với trẻ em gái 9 tuổi là thấp nhất (0,27%) và có sự tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm tuổi 10 – 11 tuổi và nhóm 12 – 13 tuổi Điều này đặt

ra giả thiết về việc khám sàng lọc đối với học sinh nữ thực hiện mỗi năm bắt đầu vào lúc từ 10 tuổi đến 13 tuổi [14]

Nghiên cứu của Suh SW năm 2011, sàng lọc vẹo cột sống qua dịch tễ cắt ngang được thực hiện để xác định tỷ lệ vẹo cột sống hiện tại trong dân số Hàn Quốc và so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước đây Từ năm 2000 đến năm 2008 với 1134890 học sinh đã trải qua sàng lọc vẹo cột sống Các trẻ

em được chia thành hai nhóm tuổi 10-12 tuổi (trường tiểu học) và 13-14 tuổi (trường trung học), để tính tỷ lệ hiện nhiễm theo tuổi và giới tính cụ thể Tỷ lệ

Trang 18

vẹo cột sống hàng năm và tỷ lệ chung của vẹo cột sống được tính toán Có

584554 bé trai và 550336 bé gái trong mẫu, tỷ lệ nam / nữ là 1,1: 1 Có 77910 (6,2%) trẻ em (824 bé trai và 51086 bé gái) với số đo scoliometer> 5 độ, và

37339 trong số đó có kết quả dương tính với góc Cobb ≥10 độ (giá trị tiên đoán dương tính chiếm 46,4%) Tỷ lệ hiện nhiễm vẹo cột sống tổng thể là 3,26%; trẻ em gái có tỷ lệ nhiễm cao hơn (4,65%) so với nam (1,97%) Tỷ lệ hiện nhiễm tăng dần từ 1,66 lên 6,17% từ năm 2000 đến năm 2008, ngoại trừ năm 2002 Theo độ tuổi và giới tính, các bé gái 10-12 tuổi có tỉ lệ vẹo cột sống cao nhất (5,57%), tiếp theo là 13-14 trẻ em gái (3,90%), nam 10-12 tuổi (2,37%), và 13-14 tuổi trai (1,42%) Ở nam và nữ, tỷ lệ hiện nhiễm giảm 64,53% và 60,65% ở nhóm 10-12 tuổi và 13-14 tuổi tương ứng (p = 0,001) Tỷ lệ 10 độ -19 độ đường cong là 95,25% và 84,45% ở trẻ em trai và trẻ em gái, tương ứng; và tỷ lệ 20 độ - 29 độ đường cong là 3,91% và 11,28%, đó là một sự khác biệt đáng kể (p = 0,001) [82]

Theo nghiên cứu của Amy L Mcitosh năm 2012 cho rằng CVCS có tỷ

lệ mắc bệnh tăng theo lứa tuổi và liên quan đến giới tính, tỷ lệ mắc CVCS của

nữ 10 tuổi cao gấp 10 lần so với nam cùng lứa tuổi với tỷ số 11:1 Đối với trẻ

em gái, tỷ lệ mắc CVCS tăng nhanh bắt đầu từ khi xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên (khoảng 11, 12 tuổi), trẻ em trai xuất hiện muộn hơn 1 – 2 năm (khoảng 13, 14 tuổi) Nguyên nhân của CVCS tuổi vị thành niên này cũng không được biết đến một cách rõ ràng [14]

Asher và Công sự khi khám sàng lọc cho 26947 học sinh năm 2013 đã phát hiện có 4,5% vẹo cột sống tự phát góc vẹo lớn hơn 6 độ, 2% góc vẹo trên

Trang 19

ở các nước khác nhau cho thấy các tình trạng mắc CVCS của các quốc gia có

sự khác biệt, đồng thời các tác giả cũng đưa ra mối qua hệ giữa CVCS với các bệnh tật khác Trong công trình của mình các tác giả đã thống kê các số liệu của các tác giả ở các quốc gia như sau:

- Nghiên cứu về Kamtsiuris được thực hiện tại Đức bởi Viện Robert Koch trên 17641 trẻ em (8556 bé gái, 8995 trẻ em trai) được phỏng vấn và khám bệnh tật, trẻ em từ 0 đến 17 tuổi tham gia

- Nghiên cứu về Suh được tiến hành tại Hàn Quốc trên 1134890 trẻ em tham gia (584554 bé trai và 550336 bé gái) Hai nhóm tuổi đã được điều tra: 10-12 năm và 13-14 năm

- Nghiên cứu về Nery được tiến hành ở Brasil trên 1340 trẻ em tham gia (684 bé trai, 656 bé gái) Tuổi trung bình là 12,7 năm

- Nghiên cứu về Daruwalla được tiến hành tại Singapore 110744 trẻ

em được khám (60167 bé gái, 50577 bé trai) Ba nhóm tuổi đã được điều tra: 6–7, 11-12 và 16-17 năm (chỉ có các bé gái được điều tra trong nhóm cuối cùng)

- Nghiên cứu về Cilli được tiến hành ở Thổ Nhĩ Kỳ với 3175 trẻ em tham gia (1538 bé gái, 1637 bé trai) Độ tuổi được khảo sát từ 10 đến 15 tuổi

- Nghiên cứu về Soucacos được tiến hành ở Hy Lạp trên 82901 trẻ em tham gia (41939 bé trai và 40962 bé gái) Độ tuổi được khảo sát từ 9 đến 14 tuổi

Qua phân tích dẫn liệu Konieczny M và Cộng sự đã chỉ ra rằng: tỷ lệ mắc CVCS 0,47% đến 5,2%; trẻ em gái có tỷ lệ mắc CVCS cao hơn trẻ em trai và tăng dần theo lứa tuổi; mức độ nghiêm trọng trong biến dạng đường cong cột sống của trẻ em gái cao hơn trẻ em trai và tăng dần theo lứa tuổi; chứng vẹo cột sống trẻ sơ sinh (0–3 tuổi) có tỷ lệ cao hơn các đường cong bên trái (56-88%) so với vẹo cột sống vị thành niên, trong chứng vẹo cột sống tự phát vị thành niên các đường cong bên trái và bên phải được chia đều [65]

Trang 20

Theo nghiên cứu của Seokwon Huh và Cộng sự (2015), vẹo cột sống là

dị thường phổ biến nhất của cột sống ở thanh thiếu niên Tỷ lệ vẹo cột sống tự phát vị thành niên sử dụng điểm cắt góc Cobb 10 độ hoặc hơn là khoảng 2% đến 2,5% Chứng vẹo cột sống tự phát thường phổ biến hơn ở trẻ em nữ Tỷ lệ trẻ em gái với bé trai có độ cong thấp bằng nhau nhưng tăng lên tỷ lệ 5,4 bé gái đến 1 bé trai cho đường cong từ 21 độ trở lên hoặc 10 bé gái cho mỗi bé trai có đường cong lớn hơn 30 độ Trong nghiên cứu này, phạm vi tổng thể của các góc Cobb là 28,5 - 94,0 độ (trung bình 53,8 ± 15,0 độ), trong đó 83,3% là bệnh nhân nữ Tỷ lệ giữa các nữ với nam là khoảng 5: 1[78]

1.1.1.2 Nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu nghiên cứu về thực trạng cong vẹo cột sống, chủ yếu là CVCS ở lứa tuổi học sinh

Theo nghiên cứu của Trần Đình Long, Dương Bích Hồng, Nguyễn Hoài An trên học sinh phổ thông tại Hà Nội năm 1962 cho thấy, tỷ lệ biến dạng cột sống chung ở học sinh là 32% Tỷ lệ này tăng theo cấp học, ở cấp 1

Tỷ lệ CVCS ở trường phổ thông cơ sở Trần Quốc Toản, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội từ năm 1982 – 1987 gặp ở học sinh nam là 10,32%, học sinh nữ là 9,88% và tỷ lệ chung là 10,10% [27]

Trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, theo báo cáo của Bộ trưởng Y tế Phạm Song tỷ lệ học sinh bị biến dạng cột sống là 27%, trong đó nam 21,2%

và nữ là 24,5% [22]

Theo nghiên cứu của Trần Văn Dần tỷ lệ CVCS ở học sinh thập kỷ 90

Trang 21

của thế kỷ XX từ 16% - 27% Nhìn chung tỷ lệ CVCS vẫn không giảm [14] Theo Phạm Văn Hán nghiên cứu 504 học sinh gồm 4 lớp tiểu học, 4 lớp trung học cơ sở tại thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng năm 1998, cho thấy tỷ lệ CVCS từ 18,9% - 27,91% [13]

Những năm đầu của thế kỷ XXI (2000 – 2005), một số kết quả về cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông đều có nhận xét là CVCS có xu hướng tăng theo cấp học Năm 2000 – 2001, Vũ Đức Thu, Lê Thị Kim Dung và Cộng sự nghiên cứu ở học sinh phổ thông Hà Nội thấy rằng tỷ lệ mắc CVCS ở các cấp

là 30,8%, trong đó Tiểu học là 28,7%, Trung học cơ sở là 30,1%, Trung học phổ thông là 33,15% Triệu Đình Thanh, năm 2003 nghiên cứu ở học sinh miền núi huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thấy rằng tỷ lệ học sinh Trung học

cơ sở mắc CVCS cao gấp 1,8 lần so với học sinh Tiểu học Hình dạng cong vẹo cột sống chủ yếu là hình chữ C thuận (chiếm tới 46,1%), cong vẹo chữ C nghịch chiếm 35,7%, cong vẹo chữ S thuận chiếm 9,1%, cong vẹo chữ S nghịch chiếm 6,5% [35], [38]

Theo Lê Thị Song Hương năm 2004, ở vùng ngoại thành Hải Phòng tỷ

lệ học sinh Tiểu học mắc CVCS là 12,7%, vùng nội thành Hải Phòng tỷ lệ này

là 29,3% [21] Theo Nông Thanh Sơn năm 2004, tỷ lệ mắc CVCS ở học sinh Tiểu học Thái nguyên là 12% - 17,3% [34] Cũng năm 2004, theo kết quả nghiên cứu của Lê Thế Thự và Cộng sự có thấy tỷ lệ học sinh Tiểu học và THCS khu vực thành phố Hồ Chí Minh mắc CVCS rất cao Đặc biệt, tỷ lệ CVCS tăng vọt vào cuối năm (đầu năm là 12,1% đến cuối năm tăng lên 30,0%)

Điều tra của các tác giả Nguyễn Thị Bích Liên, Trần Văn Dần, Nguyễn Thị Thu, Đào Thị Mùi, Lê Quang Giao trên 2700 học sinh thuộc khối lớp 1, 5,

9 và 12 tại 12 trường phổ thông của hai quận nội thành và hai huyện ngoại thành Hà Nội năm học 2004 – 2005 cho thấy Tỷ lệ học sinh CVCS chung là 18,9%, trong đó 19,6% là nam và 18,3% là nữ Tính theo cấp học Tiểu học có 17,2%, Trung học cơ sở có 22,2% và Trung học phổ thông là 18,8% Học sinh

Trang 22

ngoại thành bị CVCS cao hơn học sinh nội thành (ngoại thành có tỷ lệ 21,4%

và nội thành có 16,3%) Tỷ lệ CVCS tăng theo cấp học Hình dáng CVCS chủ yếu ở hai dạng chữ C thuận và chữ C ngược Có mối liên quan giữa tỷ lệ CVCS với tư thế ngồi học, kích thước bàn ghế, tuy nhiên mối liên hệ này chưa chặt chẽ [26]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chỉnh, Thái Lan Anh, Nguyễn Thị Thanh Bình trên 9151 học sinh (4713 nam và 4438 nữ) ở địa bàn thành phố Hải Phòng theo tại 3 khu vực thành thị, nông thôn và hải đảo năm 2005 Tỷ lệ vẹo cột sống (VCS) chung là 4,48%, trong đó nam là 4,24% và nữ là 5,57%

Tỷ lệ VCS cao nhất ở nông thôn 6,29%; hải đảo 4,73%; thấp nhất ở thành phố 3,83% Tỷ lệ VCS ở học sinh nữ nông thôn và hải đảo cao hơn so với học sinh

nữ ở thành phố Tỷ lệ VCS cao nhất ở Trung học phổ thông là 6,29%, đến cấp Tiểu học là 5,08% và thấp nhất là cấp Trung học cơ sở 4,38% Trong số các

em học sinh bị VCS có 84% học sinh có cột sống hình chữ C (C thuận 44,7

%; C ngược 39,3%) Học sinh nam hay gặp cột sống chữ C thuận, học sinh nữ hay gặp cột sống hình chữ C ngược Gần 6% số học sinh bị VCS ở mức độ nặng [8]

Theo nghiên cứu của Hoàng Ngọc Chương và Cộng sự (2008) khảo sát

ở 20 cơ sở giáo dục, khám cho 3191 học sinh tại các trường phổ thông trong tỉnh Thừa Thiên Huế, tỷ lệ CVCS chung của học sinh là 26,9% trong đó học sinh nam là 26,6%; nữ là 26,9%, ở miền núi là 32,7%, đồng bằng là 28,5% và thành phố 22,1% (p<0,01); có mối liên quan giữa CVCS với các yếu tố: thói quen mang cặp, bàn ghế không thích hợp (p<0,05) [10]

Lỗ Văn Tùng nghiên cứu trên 784 học sinh 3 trường Tiểu học Bắc Giang năm 2007 cho thấy tỷ lệ học sinh bị CVCS là 8,16% (tỷ lệ vẹo cột sống

là 4,08% và tỷ lệ cong cột sống là 4,08%) [39]

Đào Thị Mùi năm 2009 cho thấy tỷ lệ học sinh Hà Nội mắc CVCS khá cao là 18,9% và tăng theo cấp học, trong đó tỷ lệ mắc CVCS ở học sinh Tiểu

Trang 23

học là 17,0% - 17,6%, học sinh lớp 9 có tỷ lệ mắc cao nhất là 22,2% [30]

Theo điều tra của Chu Văn Thăng và Cộng sự năm 2009 ở 8 tỉnh trong

cả nước cho kết quả tỷ lệ VCS tăng lên theo cấp học trong đó có Hà Nội Học sinh nam Tiểu học có tỷ lệ mắc VCS chung của 8 tỉnh là 8,65%, Trung học cơ

sở là 9,63% và Trung học phổ thông là 12,57% Tỷ lệ mắc VCS chung ở học sinh nam là 10,08% Học sinh nữ ở khối tiểu học là 6,3%, ở khối trung học cơ

sở là 9,09% và trung học phổ thông là 10,40%, tỷ lệ mắc chung của nữ là 8,62% [36]

Năm 2013, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan khám sàng lọc cho 8 trường ở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội cho thấy trong số 236 trường hợp VCS thì có 198 học sinh biến dạng cột sống hình chữ C trong đó C thuận chiếm tỷ lệ 44,5%, C nghịch chiếm 39,4%, S thuận chiếm 14,83%, S nghịch chiếm tỷ lệ rất ít chỉ có 1,27% Tỷ lệ mắc CVCS chung là 12,6% [25]

Năm 2016, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Diễm khảo sát trên 8118 học sinh Tiểu học ở 6 tỉnh: Hòa Bình, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Ninh Thuận và Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ mắc CVCS chung

là 3,6% Tỷ lệ mắc CVCS ở Hòa Bình, Kon Tum có tỷ lệ cao nhất là 7,9% và 7,1%; thấp nhất là Ninh Thuận 0,3% [14]

Ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng có một số công trình điều tra, nghiên cứu thực trạng thể lực và các bệnh học đường ở học sinh: Năm 2003, Hoàng Minh Khôi đã khám phát hiện cong vẹo cột sống và tìm ra một số yếu tố liên quan đến dị tật học đường này trên đối tượng 100 học sinh trường tiểu học Trung

Đô, thành phố Vinh Năm 2005, Đinh Thị Nga đã tiến hành khảo sát thực trạng và một số bệnh học đường ở học sinh trường Tiểu học và Trung học cơ

sở Quang Trung, thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Thành thuộc xã Đức Thành, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Năm 2006, Lê Thị Việt Hà đã tiến hành khảo sát một số bệnh học đường và ảnh hưởng của chúng lên chỉ tiêu thể lực, thể chất, sinh lý và năng

Trang 24

lực trí tuệ ở học sinh Trung học phổ thông huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc cong vẹo cột sống tăng theo lứa tuổi, tỷ lệ mắc CVCS ở nữ cao hơn ở nam, CVCS ảnh hưởng khá rõ ràng đến chức năng sinh lý và thể chất và năng lực trí tuệ của người mắc dị tật này [16]

1.1.2 Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục chữa cong vẹo cột sống trên Thế giới và Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục chữa cong vẹo cột sống trên Thế giới

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về các biện pháp can thiệp lên cong vẹo cột sống Trong những nghiên cứu đó có thể phân chia thành 2 nhóm: can thiệp không qua phẫu thuật và can thiệp qua phẫu thuật Can thiệp không qua phẫu thuật chỉ áp dụng với những trường hợp người bệnh bị CVCS

ở mức độ nhẹ (góc Cobb <50 độ), có thể sử dụng những động tác vận động hoặc sử dụng dụng cụ hỗ trợ nắn chỉnh cột sống như áo ngực, khung kéo Can thiệp bằng phương pháp phẫu thuật khi người bị CVCS nặng (góc Cobb >50 độ), và ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ, sức khỏe, hoạt động

Nghiên cứu của Stons B năm 1979 trên 42 thanh thiếu niên với chứng vẹo cột sống tự phát tối thiểu, tham gia tập thể dục từ 9 đến 15 tháng Kết quả thu được 5% đường cong tăng lên, 74% vẫn giữ nguyên và giảm 21% Sự thay đổi độ cong đối với những bệnh nhân này cũng được so sánh với nhóm bệnh nhân hồi phục khớp với chứng vẹo cột sống không có chương trình tập luyện thể dục Không có sự khác biệt đáng kể về thay đổi đường cong giữa hai nhóm nghiên cứu [81]

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động thể thao lên người bị vẹo cột sống, Parsch D năm 2002, trong nghiên cứu này ông đã chia các bệnh nhân thành 2 nhóm, một nhóm được điều trị bằng phẫu thuật và nhóm không được điều trị bằng phẫu thuật, thu được kết quả: Cả hai nhóm bệnh nhân vẹo cột

Trang 25

sống đạt được điểm số thể thao thấp hơn so với nhóm đối chứng (nhóm không

bị CVCS) Không có sự khác biệt giữa hai nhóm vẹo cột sống Giảm chức năng cột sống tương quan với hoạt động thể thao giảm Ở những bệnh nhân được điều trị phẫu thuật, góc Cobb tương quan với hoạt động thể thao giảm Mức độ của bệnh cột sống ở bệnh nhân được điều trị phẫu thuật không ảnh hưởng đến hoạt động thể thao của họ [72]

Nghiên cứu của Emery K (2010) trên 19 người, trong đó 9 người kiểm soát và 10 người thử nghiệm bằng phương pháp Pilates Nhóm đối tượng được đánh giá hai lần, cách nhau 12 tuần, trong đó nhóm thử nghiệm đã được tập luyện một chương trình theo phương pháp Pilates với lịch tập 2 lần/tuần, mỗi lần tập 1 giờ Đánh giá bao gồm các thử nghiệm tư thế ngồi, sức mạnh bụng, phạm vi vai chuyển động và uốn cong vai tối đa, trong đó cổ, vai và hoạt động thân, hoạt động của 16 cơ đã được ghi lại Những người thực hiện luyện tập theo phương pháp Pilates có hiệu quả trong việc cải thiện sức mạnh bụng và tư thế cột sống trên cũng như trong việc ổn định tư thế cốt lõi khi chuyển động uốn vai được thực hiện Vì các chức năng phối hợp này trước đó

đã bị hạn chế bởi các triệu chứng ở vùng cổ vai Kết quả của chúng tôi cho thấy có thể sử dụng Pilates trong công tác phòng chống rối loạn vai cổ [52]

Theo nghiên cứu ảnh hưởng của CVCS đến chiều cao đứng của Ylicoski M ở Phần Lan trên 1500 bệnh nhân được công bố năm 2003 cho thấy, chiều cao đứng của 1500 bệnh nhân nữ liên tiếp trong độ tuổi từ 9-24 (có độ tuổi trung bình là 13,9) với chứng vẹo cột sống tự phát chưa được điều trị ít nhất là 10 độ ở đường bên của họ so với chiều cao đứng của các cô gái trung bình Độ lớn trung bình của các đường cong chính là 29,4 độ (khoảng

10 độ - 80 độ) và của các đường cong nhỏ 20,3 độ (khoảng 0 độ - 66 độ) Một công thức cho sự mất chiều cao gây ra bởi các đường cong bên và gây ra bởi chứng gù ngực được đưa ra Chiều cao điều chỉnh của các cô gái bị vẹo cột sống vô căn cao hơn đáng kể (p <0,001) so với chiều cao của các cô gái trung bình ở độ tuổi 11 - 15 và mức độ cao này đã có mặt ở tuổi 11 - 13, thậm chí

Trang 26

không có điều chỉnh cho sự mất chiều cao gây ra bởi chứng vẹo cột sống Sau khi trưởng thành, các cô gái bị vẹo cột sống tự phát không cao hơn đáng kể so với các cô gái trung bình Tính trung bình, độ lớn của chứng gù ngực không ảnh hưởng đến chiều cao của bệnh nhân vẹo cột sống so với chiều cao của các

cô gái bình thường cùng độ tuổi [87]

Nghiên cứu của Fusco C năm 2011, trên 40 bệnh nhân bị CVCS bằng bài tập thể chất cụ thể trong 6 tháng để đánh giá ảnh hưởng của bài tập thể chất trong việc cải thiện tình trạng CVCS Tất cả các nghiên cứu đã xác nhận tính hiệu quả của các bài tập trong việc giảm tốc độ tiến triển (chủ yếu ở tuổi dậy thì sớm) và cải thiện các góc Cobb (vào cuối giai đoạn tăng trưởng) Các bài tập cũng được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm toa thuốc Như vậy, bài tập thể chất có thể cải thiện góc Cobb của các bệnh nhân bị CVCS và

có thể cải thiện sức mạnh, tính di động và cân bằng [54]

Năm 2012, nghiên cứu của Romano M và cộng sự đánh giá hiệu quả của tập thể dục cụ thể ở bệnh nhân vị thành niên mắc chứng vẹo cột sống vô căn Có hai nghiên cứu với 154 người tham gia Kết quả thu được từ nghiên cứu thứ nhất cho chất lượng thấp từ 1 khảo sát ngẫu nhiên có kiểm soát, các bài tập như là một bổ trợ cho các phương pháp điều trị khác để tăng hiệu quả của các phương pháp điều trị đó Kết quả thu được từ nghiên cứu thứ hai, các bệnh nhân chỉ thuần tập bài tập thể dục cụ thể được cấu trúc trong một chương trình tập thể dục có thể giảm mức độ cong vẹo cột sống hai lần so với

"vật lý trị liệu thông thường" [74]

Theo Alves de Araujo năm 2012, nghiên cứu gồm 31 học sinh nữ chia thành hai nhóm: một nhóm kiểm soát (n = 11), không có can thiệp điều trị và một nhóm thực nghiệm (n = 20), đã trải qua liệu pháp Pilates Kiểm tra độc lập của góc Cobb, phạm vi chuyển động của độ cong cột sống và đau cho thấy

sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm, với các giá trị tốt hơn trong nhóm Pilates Thử nghiệm phụ thuộc phát hiện sự giảm đáng kể góc Cobb (giảm 38% với p = 0.0001), sự gia tăng đáng kể về phạm vi chuyển động độ cong

Trang 27

của cột sống (tăng 80%, p = 0,0001) và giảm đáng kể đau (giảm 60%, p = 0,0001) trong nhóm thực nghiệm trị liệu Pilate Không có sự khác biệt đáng

kể về góc Cobb, độ linh hoạt cột sống và đau được tìm thấy cho nhóm kiểm sát không áp dụng liệu pháp Pilate [42]

Theo nghiên cứu của Pugacheva N và Cộng sự năm 2012, chương trình của các bài tập khắc phục đặc biệt theo phương pháp Schroth với sự cải tiến của HR Weiss đã được thực hiện trong liệu pháp riêng đa phương thức của chứng vẹo cột sống tự phát Hiệu quả của việc điều trị được đánh giá ở 21 bệnh nhân được điều trị bằng chương trình vật lý trị liệu trong sáu tuần Trạng thái ban đầu của hệ thống cơ xương và hiệu quả điều trị được đánh giá với các

kỹ thuật chẩn đoán nhờ dụng cụ: địa hình quang học với sự trợ giúp của máy tính, điện kỹ thuật của các cơ xương và ổn định Theo dữ liệu điều tra lâm sàng và kiểm tra nhờ các phương tiện nói trên, chương trình Schroth của các bài tập trị liệu được cải tiến bởi HR.Weiss cải thiện hiệu quả điều trị ở trẻ bị vẹo cột sống tự phát [73]

Năm 2013, Bielec và Cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của sự tham gia thường xuyên trong các bài học bơi ở trường học trên các biến nhân trắc học và tư thế khiếm khuyết xảy ra trong học sinh trung học cơ sở đã cho thấy trong nhóm tham gia thường xuyên thì sự điều chỉnh CVCS có nhiều khác biệt so với nhóm đối chứng [44]

Các bài tập thể dục tích cực cũng giúp cho sự ổn định độ gù và kiểm soát độ vẹo cột sống Bên cạnh thực hiện một chương trình phục hồi chức năng thông thường kết hợp với điều chỉnh tư thế đầu về phía trước cũng có thể cải thiện độ cong vẹo và mực độ chức năng ở những bệnh nhân vẹo cột sống vô căn vị thành niên Thể dục dụng cụ và các hình thức trị liệu hô hấp được phát triển bởi một số tác giả có thể có sự cải thiện đáng kể các thông số

về chức năng hô hấp và tính di động ngực [50]

Theo Kim BJ năm 2014, nghiên cứu hiệu quả so sánh của bài tập điều

Trang 28

trị Schroth so với bài tập điều trị Sling về sự linh hoạt, cân bằng, góc cột sống

và mở rộng ngực ở bệnh nhân vẹo cột sống, nghiên cứu được tiến hành trên

12 bệnh nhân vị thành niên bị vẹo cột sống (10 bé gái và 2 bé trai) từ 11 đến

16 tuổi và có độ cong từ 20 độ đến 60 độ cho kết quả Bảy đường bên phải là ngực và năm đường ngực với hai đường cong Cả hai bên đều không cân bằng

về sức mạnh xoay vòng thân của tất cả bệnh nhân Hoạt động truyền dẫn xung

là bất đối xứng ở cả hai bên và trong cơ bụng và đoạn cột sống của tất cả các bệnh nhân Những bất đối xứng này đã được sửa chữa hoàn toàn với vòng quay thân được kết hợp với các mức tăng sức mạnh đáng kể Mức tăng sức mạnh dao động từ 12% đến 40% Một cô gái 16 tuổi với đường cong thắt lưng

60 độ tiến triển xấu và phải phẫu thuật Không có bệnh nhân nào trong số những bệnh nhân còn lại tiến triển xấu và 4 trong số 12 bệnh nhân giảm độ cong từ 20 độ đến 28 độ [63]

Theo nghiên cứu của Gichul Kim và Cộng sự năm 2016, so sánh hiệu quả của các bài tập Schroth và Pilates trên góc Cobb và phân bố trọng lượng

cơ thể của bệnh nhân vẹo cột sống tự phát Hai mươi bốn bệnh nhân vẹo cột sống với góc Cobb ≥20 độ được chia thành 2 nhóm: nhóm tập thể dục Schroth (n = 12) và nhóm tập thể dục Pilates (n = 12) Nhóm tập Schroth và nhóm tập Pilates thực hiện các bài tập Schroth và Pilates, tương ứng ba lần một tuần trong 12 tuần, mỗi lần tập 60 phút Góc Cobb được đo ở vị trí đứng với một thiết bị chụp X quang và tải trọng được đo bằng Gait View Pro 1.0 Qua so sánh ở 2 nhóm đều cho thấy những thay đổi đáng kể ở góc Cobb Đối với phân bố trọng lượng, nhóm tập Schroth cho thấy sự khác biệt đáng kể trong tổng trọng lượng giữa các mặt tăng và giảm, nhưng nhóm tập Pilates không cho thấy sự khác biệt đáng kể Hơn nữa, so sánh trong nhóm tập Schroth cho thấy sự khác biệt đáng kể trong những thay đổi trong góc Cobb và phân bố trọng lượng so với nhóm tập Pilates Cả hai bài tập của Schroth và Pilates đều

có hiệu quả trong việc thay đổi góc Cobb và phân bố trọng lượng của bệnh nhân vẹo cột sống Tuy nhiên, so sánh giữa các nhóm cho thấy bài tập Schroth

Trang 29

hiệu quả hơn bài tập Pilates [55]

1.1.2.2 Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục chữa cong vẹo cột sống ở Việt Nam

Từ những năm gần đây người ta đưa ra phương pháp điều trị CVCS bằng tập luyện nhằm mục đích: làm mạnh các cơ bụng và các cơ duỗi thân; làm dài các cấu trúc bên lõm của đường cong; làm mạnh các cơ gấp thân phía bên lồi của đường cong; kéo giãn các cơ gấp háng bị co rút; các bài tập hít thở sâu để cải thiện chức năng hô hấp; hướng dẫn tư thế đúng

Bài tập thể dục chữa CVCS được áp dụng rất ít ở Việt Nam, việc hiểu biết cặn kẽ các bài tập thể dục và tác dụng của chúng trong chữa bệnh CVCS cũng chưa được nghiên cứu nhiều Theo tìm hiểu của chúng tôi chỉ có một số

đề tài đề cập đến vấn đề này

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Túy, Thái Lan Anh năm

2006 trên 184 học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở ở thành phố Hải Phòng cho thấy, sau 6 tháng can thiệp bằng các bài tập phòng chống CVCS tỷ lệ học sinh khỏi là 56,5%, sau 14 tháng can thiệp là 77,6%, không có sự khác biệt ở hai giới nam và nữ Tỷ lệ khỏi ở vùng ngoại thành cao nhất chiếm 85,4%, tiếp theo là vùng hải đảo 79,2% và thấp nhất là vùng nội thành 62,5% [9]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Ái Khuê, Ngô Thị Như Thơ (2008) áp dụng bài tập thể dục trên đối tượng là 65 học sinh lứa tuổi 12 trường THCS Hưng Bình, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị CVCS chữ C thuận cho thấy sau 3 tháng luyện tập có tác dụng giảm mức cong vẹo cột sống và mức độ lệch của vai Cùng với giảm CVCS, bài tập còn cải thiện chức năng tim mạch, hô hấp

và phát triển các tố chất về thể lực như sức nhanh, mạnh và mềm dẻo cho học sinh [24]

Trang 30

1.2 Hình thái giải phẫu cột sống và cong vẹo cột sống

1.2.1 Hình thái giải phẫu cột sống

Cột sống là trụ cột chịu trọng lực của thân mình ở người, nằm chính giữa thành sau thân, chạy dài từ mặt dưới xương chẩm đến hết xương cụt Cột sống bao bọc và bảo vệ tủy sống Nhìn nghiêng cột sống có 4 đoạn cong, từ trên xuống dưới gồm có: đoạn cổ cong lõm ra sau; đoạn ngực cong lõm ra trước; đoạn thắt lưng cong lõm ra sau và đoạn cùng cụt cong lõm ra trước Cấu trúc các đoạn cong của cột sống để thích nghi với tư thế đứng thẳng của

cơ thể người Đồng thời cũng đáp ứng được các vận động của cơ thể như cúi, ngửa, nghiêng bên và xoay thân mình [15], [29]

Hình 1.1 Hình thái giải phẫu cột sống [29]

Cột sống có từ 33 - 35 đốt sống xếp chồng lên nhau Có 24 đốt sống trên rời nhau gồm: 7 đốt sống cổ ký hiệu từ C1 - C7; 12 đốt sống lưng ký hiệu

từ Th1 - Th12; 5 đốt sống thắt lưng ký hiệu từ L1 - L5 Xương cùng gồm 5 đốt sống dưới dính lại thành một tấm ký hiệu từ S1 - S5 Xương cụt có 4 hoặc

6 đốt cuối cùng rất nhỏ, cằn cỗi cùng dính lại làm một tạo thành ký hiệu từ Co1 - Co6 và được dính vào đỉnh xương cùng [15], [29](hình 1.1)

Trang 31

1.2.2 Cong vẹo cột sống

1.2.2.1 Khái niệm cong vẹo cột sống

Cong vẹo cột sống (Biến dạng cột sống) là tình trạng cột sống bị nghiêng, lệch về một phía hoặc bị cong về phía trước hay phía sau, do đó cột sống không còn giữ được các đoạn cong sinh lý như bình thường của nó vốn

có [15]

Bình thường cột sống không hoàn toàn nằm ở tư thế thẳng đứng, mà có một số đoạn cong sinh lý trên mặt phẳng đối xứng dọc Trong tư thế đứng thẳng, nếu nhìn từ phía sau về trước, cột sống là một đường thẳng, nếu nhìn từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái, cột sống có 2 đoạn cong uốn về phía trước là cổ và thắt lưng, 2 đoạn uốn về phía sau là ngực và cùng - cụt [15]

Vẹo cột sống là hình dạng cột sống khi nhìn từ phía sau ra trước cột sống bị lệch sang bên trái hoặc bên phải (hình 1.2)

Hình 1.2 Cột sống bình thường và cột sống bị vẹo

Cong cột sống là hiện tượng hình dạng cột sống khi nhìn từ sau ra trước cột sống vẫn thẳng theo dây dọi, tuy nhiên khi nhìn từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái các đoạn cong sinh lý bị cong mạnh về phía trước hoặc phía sau

so với đường cong sinh lý bình thường

1.2.2.2 Phân loại cong vẹo cột sống

* Phân loại vẹo cột sống:

Trang 32

- Cột sống nhìn từ phía sau đường cong có đỉnh lệch về phía bên trái gọi là vẹo cột sống dạng C thuận, ngược lại đường cong cột sống có đỉnh lệch

về phía bên phải gọi là dạng C nghịch

- Nếu cột sống có 2 đoạn cong sinh lý cong đối xứng nhau thì gọi dạng cong S thuận hoặc S nghịch (hình 1.3)

Hình 1 3 Các dạng vẹo cột sống theo hình thái

Trong nghiên cứu này của chúng tôi tập trung vào đối tượng là học sinh

bị vẹo cột sống dạng chữ C thuận và chữ C nghịch

* Phân loại theo Hiệp hội nghiên cứu vẹo cột sống:

- Vẹo cột sống tự phát: Vẹo cột sống ở trẻ nhỏ dưới 4 tuổi, 90% - 95%

tự khỏi, không cần điều trị, vẹo cột sống ở trẻ nhỏ thường tiên lượng rất kém

và thường dẫn đến những biến dạng lớn nếu không được can thiệp phục hổi chức năng sớm trong giai đoạn đang tiến triển Các đường cong vẹo cột sống

ở trẻ nhỏ hay gặp ở ngực, chiều lồi ở bên trái và trẻ trai thường gặp hơn trẻ gái; Vẹo cột sống ở trẻ thiếu nhi từ 4 tuổi đến 9 tuổi chiếm từ 10% - 20% các loại vẹo cột sống ở trẻ em; Vẹo cột sống ở tuổi vị thành niên là lứa tuổi 10 đến khi xương trưởng thành, đây là loại vẹo cột sống phổ biến nhất, chiếm tỷ

lệ 85% số bệnh nhi vẹo cột sống cần điều trị, thường gặp ở trẻ gái đường cong

ở ngực phải [36]

- Vẹo cột sống do biến dạng bẩm sinh: có thể do sự phát triển bất

Trang 33

thường của xương, biến dạng bất thường của thân đốt sống, có thể do sự phát triển bất thường của tủy sống như rối loạn sản tủy cũng có thể do các nguyên nhân phối hợp sự bất thường của xương phối hợp với liệt

- Vẹo cột sống do nguyên nhân thần kinh cơ: do các bệnh lý về thần kinh như bại liệt, bại não, bệnh rỗng tủy sống và cũng có thể do bệnh lý về cơ như teo cơ tiến triển

- Vẹo cột sống do rối loạn mô giữa: Vẹo cột sống do rối loạn mô giữa

có thể do bệnh Marfan hoặc co rút đa khớp bẩm sinh

- Vẹo cột sống do chấn thương: do gẫy cột sống, phẫu thuật cột sống hoặc nguyên nhân ngoài cột sống như bỏng, tạo hình ngực

- Vẹo cột sống do kích thích: thường do các bệnh lý về u tủy sống hoặc kích thích rễ thần kinh

- Vẹo cột sống do nguyên nhân khác: thường do rối loạn chuyển hóa, rối loạn nội tiết, rối loạn dinh dưỡng

* Các dạng cong cột sống:

- Nếu đoạn cổ và lưng cong quá gọi là gù

- Nếu đoạn thắt lưng cong quá gọi là ưỡn

- Nếu đoạn thắt lưng cong ngược lại ra trước gọi là còng

- Nếu không còn độ cong sinh lý gọi là bẹt

* Phân loại mức độ biến dạng của các loại cong vẹo cột sống theo phương pháp Cobb Angle:

Xác định độ cong vẹo cột sống bằng cách đo góc Cobb để đánh giá mức độ biến dạng cột sống được chia thành 3 mức độ

- CVCS độ I: Có góc Cobb từ 10 độ đến 15 độ;

- CVCS độ II: Có góc Cobb từ 15 độ đến 30 độ;

- CVCS độ III: Có góc Cobb trên 30 độ

Trang 34

1.2.2.3 Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ cong vẹo cột sống

Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân cong vẹo cột sống là không

rõ, hay còn được gọi là cong vẹo cốt sống vô căn Nhiều nghiên cứu cho thấy một số nguy cơ trong trường học có thể gây ra hay làm tăng tiến triển biến dạng cột sống [12]

Từ năm 1849, Hare đã nhận thấy biến dạng cột sống có liên quan đến

tư thế sai, rối loạn thể chất, còi xương, suy dinh dưỡng Ông cũng mô tả việc

sử dụng các khuôn bằng thạch cao để điều trị biến dạng cột sống có hiệu quả

Bệnh liên quan đến tư thế xấu thường xuyên của học sinh trong những năm tại trường, đặc biệt là những học sinh phải thường xuyên ngồi với loại bàn ghế không phù hợp với chiều cao của mình Keegan đã phát hiện ra rằng

áp lực đè lên bờ phía trước của đốt sống có thể nâng lên từ 50 kg đến 100 kg khi con người ngồi với tư thế cúi về phía trước Các dây chằng và các cơ vùng lưng cùng chịu đựng sức căng giống nhau Tình trạng này sẽ làm tăng ảnh hưởng xấu cho vùng lưng đặc biệt là đối với những học sinh phải thường xuyên ngồi với những bàn ghế có kích thước không phù hợp với chiều cao cơ thể Thậm chí với khi đứng, lưng học sinh ít hoặc nhiều sẽ duy trì thói quen khi ngồi với cột sống còng xuống, 2 vai nhô lên và đầu cúi về phía trước Sự cong quá mức của lưng trong giai đoạn thiếu niên có thể là lý do làm tăng dị tật của lưng [7]

Môi trường học tập của trẻ cũng là một trong những nguy cơ gây cong vẹo cột sống Theo một số điều tra, khảo sát của một số tác giả đo kích thước của bàn ghế và tầm vóc của học sinh cho thấy 95,3% chiều cao bàn không phù hợp với học sinh nam, trong đó 92% là bàn cao, 3,3% là bàn thấp Bàn không phù hợp với nữ là 95,1%, trong đó bàn cao là 93,4%, bàn thấp là 1,7% Cũng qua khảo sát cho thấy 73,3% ghế không phù hợp với hoc sinh nam, trong đó 29,1% là ghế cao, 43,2% là ghế thấp Đối với học sinh nữ 79% ghế không phù hợp, trong đó 37% là ghế cao, 42% là ghế thấp Khảo sát bàn ghế theo các khối học các tác giả cũng cho thấy 81,9% bàn ghế không phù hợp ở

Trang 35

khối Tiểu học, 73,7% bàn ghế không phù hợp ở khố Trung học cơ sơ, 68,3% bàn ghế không phù hợp ở khối Trung học phổ thông [13], [40]

Tỷ lệ học sinh ngồi lệch gặp ở nhiều học sinh Tiểu học, học sinh Trung học cơ sở (41,8% - 52,0%), thấp nhất ở Trung học phổ thông (6,2%) Tỷ lệ học sinh có cúi đầu giảm dần theo các cấp học Tiều học là 54,3%, Trung học

cơ sở là 39,6% và Trung học phổ thông là 6,1% [13], [40]

Học sinh mắc CVCS do ít vận động thể chất, do ngồi quá lâu, do ăn thiếu dinh dưỡng, do lao động nặng cũng là những nguyên nhân làm gia tăng cong vẹo cột sống [13], [40]

Yếu tố cặp sách học sinh cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như mang cặp sách nặng về một bên tay, vai Nhiều nghiên cứu cho rằng cặp sách học sinh mang hàng ngày cũng là yếu tố gây ra sự mệt mỏi hệ cơ – xương và có sự liên hệ với hiện tượng đau lưng ở học sinh Tháng 6 năm

1996, Bộ Giáo dục Úc đã ra quyết định về trọng lượng cặp sách học sinh, theo

đó cặp sách học sinh mang hàng ngày không được vượt quá 10% trọng lượng

cơ thể [15]

Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thái độ của học sinh về phòng chống cong vẹo cột sống còn thấp Thái độ chống cong vẹo cột sống cũng có

sự khác biệt giữa các cấp học, theo nghiên cứu của Vũ Văn Túy [40]

Việc nhận thức, thái độ của giáo viên trong việc phòng chống CVCS cũng là yếu tố quan trọng tác động đến tình trạng CVCS ở học sinh Thái độ của giáo viên về phong ngừa CVCS thể hiện qua việc nhắc nhở học sinh ngồi đúng tư thế, không ngồi quá lâu một chỗ, vận động thể chất đều đặn, sử dụng bàn ghế phù hợp với chiều cao sẽ góp phần giảm tỷ lệ cong vẹo cột sống ở học sinh

Kiến thức, thái độ, thực hành của phụ huynh cũng tác động đến tỷ lệ CVCS ở học sinh Hiểu biết của phụ huynh càng nhiều về CVCS thì việc nhắc nhở con, em thực hành tư thế ngồi đúng, lượng vận động phù hợp, dinh

Trang 36

dưỡng phù hợp với từng đứa trẻ từ đó sẽ góp phần làm giảm các nguy cơ trẻ

bị CVCS Do đặc thù về nghề nghiệp, nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm con em mình trong việc phòng chống CVCS, nhóm phụ huynh quan tâm chăm sóc con em mình thường xuyên hơn thì tỷ lệ mắc CVCS thấp hơn so với nhóm phụ huynh chưa quan tâm, hoặc ít quan tâm [40]

1.2.2.3 Ảnh hưởng của cong vẹo cột sống lên một số chức năng sinh lý, thể chất

Nhiều nghiên cứu với mục đích tìm hiểu CVCS ảnh hưởng như thế nào đến chức năng sinh lý, trong số đó nghiên cứu về ảnh hưởng của CVCS đến chức năng hô hấp được tiến hành rất nhiều trên thế giới Những nghiên cứu với mục đích như vậy ít gặp ở Việt Nam

Chức năng phổi và cơ, cùng với khả năng tập thể dục, được đánh giá ở

60 bệnh nhân bị biến dạng cột sống rõ rệt (> 40 độ) và trong 25 tình nguyện viên khỏe mạnh Bệnh nhân mắc bệnh mắc vẹo cột sống vô căn chỉ có các mẫu thông khí bất thường từ nhẹ đến trung bình, thường gặp nhất là những bất thường hạn chế Chức năng của cơ hô hấp, chân tay và khả năng tập thể dục dưới mức giới hạn bình thường ở bệnh nhân vẹo cột sống vô căn và thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng Khả năng tập thể dục được tìm thấy tương quan với chức năng của cơ quan hô hấp, thở, chi trên và chi dưới, ngoài

ra có sự liên quan lẫn nhau Phân tích đa biến cho thấy chức năng cơ bắp chi dưới là nhân tố chính dẫn đến không dung nạp Dường như không có mối liên

hệ giữa biến dạng cột sống và chức năng phổi, chức năng cơ hoặc khả năng tập thể dục Bệnh nhân vẹo cột sống vô căn bị rối loạn chức năng cơ bắp tổng quát góp phần làm giảm khả năng tập thể dục của họ, ngay cả khi không có suy nhược nặng [58]

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ cong cột sống với sự tăng trưởng chiều cao cơ thể do Stokes (2008) cho thấy, mất chiều cao (tính bằng mm) xảy ra với sự gia tăng 10 độ trong góc Cobb trung bình (đối với hai đường cong) sẽ

Trang 37

là 1,1 + 0,16 lần góc Cobb trung bình (tính theo độ) Ví dụ, đối với một thay đổi góc Cobb từ 30 độ đến 40 độ, mức giảm chiều cao dự kiến sẽ là 1,1 + 35 x 0,16 mm = 6,7 mm Điều này giả định rằng sự mất chiều cao chỉ xảy ra do kết quả của độ cong thay đổi, mà không thay đổi chiều cao đĩa liên quan đến sự gia tăng vẹo cột sống [80]

Theo nghiên cứu của Tsiligaiannis T và cộng sự năm 2012, vẹo cột sống tự phát, một rối loạn phổ biến của dịch chuyển ngang và luân chuyển của cơ thể sống trong giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng, có nhiều tác dụng

về chức năng hô hấp Vẹo cột sống dẫn đến một bệnh phổi hạn chế với sự sụt giảm đa tạp về thể tích phổi, làm thay đổi các cơ quan nội tạng, cản trở sự chuyển động của xương sườn và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ hô hấp Vẹo cột sống làm giảm thể tích lồng ngực cũng như hạn chế thể tích phổi

và kết quả trong việc tăng cường thở để đáp ứng được nhu cầu trong khi tập thể dục và ngủ Tăng huyết áp phổi và suy hô hấp có thể phát triển ở ngững người mắc vẹo cột sống tự phát nặng [83]

Theo Jeohaimey Johari (2016), ông đi tìm mối quan hệ giữa chức năng phổi và CVCS ở những người tuổi vị thành niên Tổng cộng có 38 bệnh nhân tham gia kiểm tra, tuổi trung bình của người bện là 16,68 Đa số bệnh nhân là

nữ (chiếm 92,1%) Góc Cobb trung bình là 58,11 độ Dung tích thở ra tối đa

và dung tích thở ra tối đa trong 1 giây trước phẫu thuật trung bình lần lượt là 75,32% và 80,47% Đa số bệnh nhân có loại 1A (47,4%) và vẹo cột sống loại 1B (34,2%) theo phân loại Lenke Qua phân tích số liệu thu được kết quả, chức năng phổi bị ảnh hưởng bởi mức độ nghiêm trọng của đường cong ngực,

số lượng đốt sống liên quan đến độ cong, trạng thái tĩnh của ngực và mất cân bằng mạch vành Bốn yếu tố này có liên quan đến tăng nguy cơ suy phổi vừa đến nghiêm trọng, tuy nhiên ảnh hưởng ở mức độ tối thiểu Chỉ có 19,7% biến thiên quan sát được trong dung tích thở ra tối đa bị suy giảm đáng kể Kết quả tương tự đã được tìm thấy cho dung tích thở ra tối đa trong một giây (18,0%) Suy hô hấp được thấy ở những bệnh nhân không được điều trị có vẹo cột sống

Trang 38

tự phát với một góc lớn và có dung tích sống thấp, đặc biệt là ở những người khởi phát sớm Một góc cong vẹo lớn hơn 40 độ và góc gù lớn hơn 50 độ tương quan với tăng đau và giảm dung tích thở ra tối đa, giảm dung tích thở ra tối đa cũng tương quan với độ cứng đường cong [59]

Các biến chứng như đau lưng, các vấn đề về tâm lý, khuyết tật thể chất, rối loạn phổi và thậm chí tử vong sớm có thể xảy ra trong các nhóm bệnh nhân vẹo cột sống nhẹ, vừa phải và nặng Ảnh hưởng của vẹo cột sống trên chức năng phổi đã được công nhận Tuy nhiên, ít được biết đến về tác dụng của vẹo cột sống nhẹ trên chức năng phổi vì nó đã được bác bỏ là không đáng

kể Với những hiểu biết ngày càng nhiều, rõ ràng về bản chất và biến chứng của vẹo cột sống tự phát, những biến chứng này cần phải được xác định ở giai đoạn sớm để làm giảm tác động của nó đối với sức khỏe vị thành niên trước khi tiến triển Các hạn chế về chức năng phổi và chức năng nhẹ bắt đầu trong giai đoạn sớm của vẹo cột sống tự phát nhẹ Vấn đề này đòi hỏi sự can thiệp ngay lập tức để ngăn chặn sự suy giảm thêm Ngoài ra, các hạn chế về thông khí phổi không tương quan với mức độ cong cột sống ở thanh thiếu niên mắc vẹo cột sống tự phát nhẹ [65]

1.2.3 Tác dụng của một số bài tập thể dục theo phương pháp Schroth và Yoga trong điều chỉnh cong vẹo cột sống

Phương pháp Schroth được Katharina Schroth phát triển từ năm 1920 tại Đức từ kinh nghiện chữa trị CVCS của bản thân và được Hans-Rudolf Weiss và Christa Lehnert-Schroth PT đã tiếp tục phát triển lý thuyết của phương pháp Schroth

Phương pháp trị liệu cột sống Schroth tuân theo quy trình tập thể dục 3 bước: 1 Chỉnh sửa vị trí xương chậu thích hợp; 2 Kéo dài cột sống và sau đó các kỹ thuật thở góc quay để di chuyển cột sống và xương sườn thành tư thế tốt nhất có thể Kỹ thuật thở đặc biệt này giúp từ bên trong đẩy các xương sườn ra ngoài như một tấm đệm không khí mở rộng; 3 Tăng cường sự linh

Trang 39

hoạt và sức mạnh cơ bắp yếu và bảo vệ tư thế sửa chữa [84]

Phương pháp Schorth một phương pháp ba chiều để kéo dài cột sống và

bù đắp sự mất cân bằng chính xác của cột sống Mục đích là để phát triển các

cơ bên trong của lồng ngực để chỉnh sự bất thường của cột sống và xương sườn Các bài tập được sử dụng chủ yếu để duỗi thẳng cột sống, xoay cột sống kết hợp với hơi thở góc quay Thở là một phần quan trọng của Phương pháp Schroth, phương pháp này sử dụng một kỹ thuật thở đặc biệt được gọi là hơi thở góc quay Ý tưởng là xoay cột sống bằng hơi thở để giúp định hình lại lồng xương sườn và mô mềm xung quanh [49]

Theo Yang J năm 2015, nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập Schroth thường xuyên lên góc Cobb và bướu xương sườn ở người lớn bị vẹo cột sống

tự phát có góc Cobb trên 20 độ, khối u bưới xương 15 độ, đau lưng ở mức độ

5, khó thở khi leo cầu thang Sau can thiệp 8 tuần, góc của Cobb giảm từ 20,51 độ xuống còn 16,35 độ (giảm 19,3%) và khối u giảm từ 15 độ xuống 9

độ (giảm 40%) Mức độ đau lưng giảm từ mức 5 xuống mức 1, khó thở trong khi leo cầu thang biến mất [86]

Park J và Cộng sự (2018) nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập Schroth về chứng vẹo cột sống tự phát, từ phân tích của mình ông đã cho kết luận Kích thước tổng thể của bài tập Schroth cao (g = 0,724) Ngoài ra, bài tập Schroth

có thể có lợi hơn cho bệnh nhân vẹo cột sống có góc Cobb từ 10 đến 30 độ so với những người có góc Cobb lớn hơn 30 độ Bệnh nhân nên tập luyện ít nhất một tháng để có tác dụng tốt hơn Sức mạnh cơ bắp bị ảnh hưởng nhiều nhất

và biến dạng cấu trúc cũng thay đổi sau khi tập thể dục Schroth [71]

Nghiên cứu của Schreiber S và Cộng sự (2015), năm mươi bệnh nhân với chứng vẹo cột sống tự phát tuổi từ 10-18, với đường cong 10 độ - 45 độ, được tuyển chọn từ một phòng khám vẹo cột sống được phân ngẫu nhiên để nhận tiêu chuẩn chăm sóc hoặc giám sát các bài tập Schroth cộng với tiêu chuẩn chăm sóc trong 6 tháng Một chương trình luyện tập ở nhà hàng ngày

Trang 40

đã được điều chỉnh trong các lần tập được giám sát hàng tuần Sau 3 tháng, những bệnh nhân trong nhóm Schroth được cải thiện 32,3 giây và trong sự kiểm soát 4,8 giây Sự khác biệt về sự thay đổi giữa các nhóm là 27,5 giây có

ý nghĩa thống kê (95%, p = 0,04) Từ 3 đến 6 tháng, hình ảnh tự cải thiện trong nhóm Schroth bằng 0,13 và bị suy giảm trong sự kiểm soát 0,17 (95%, p

= 0,049) Sự khác biệt giữa các nhóm về sự thay đổi điểm số của hội nghiên cứu vẹo cột sống chuyển thành lũy thừa của bốn nhóm được quan sát từ 3 đến

6 tháng (95%, p = 0,03), ở đâu tăng 65,3 trong Schroth và giảm 20,0 trong nhóm đối chứng Schroth phân loại và chiều cao có tác động chính đáng kể trên một số kết quả [76]

Yoga là một phương pháp luyện tập lâu đời có nguồn gốc từ Ấn Độ khoảng 5.000 năm trước Người ta thường cho rằng tập yoga là tập những động tác, tư thế uốn éo kỳ lạ Nhưng thật ra, yoga bao gồm các bài tập giúp cải thiện thể chất, tinh thần, tình cảm và cả tâm linh của người tập Đây là một lựa chọn thú vị cho những người mới bắt đầu cũng như những ai luyện tập thể dục thường xuyên Từ “yoga” có nguồn gốc từ chữ “yuj” trong tiếng Phạn, có nghĩa là “thêm”, “tham gia”, “đoàn kết”, hoặc “đính kèm” Bộ môn này được xây dựng dựa trên ý tưởng rằng tâm trí và cơ thể là một Khi tập, bạn cần kết hợp các kỹ thuật thở, tư thế yoga (còn gọi là asana) và ngồi thiền Để thực hiện được điều này, cần phải có kỹ luật và phải luyện tập để thống nhất cơ thể, tâm trí và tâm hồn [67]

Năm 2014, Loren Fishman nghiên cứu các ứng dụng trị liệu của yoga cho đau lưng trên 25 người mắc CVCS thứ phát trong 6 tháng Nghiên cứu cho thấy thực hành thường xuyên của Side Plank (Vasisthasana) có hiệu quả trong việc giảm đường cong vẹo cột sống tự phát cho cả bệnh nhân vị thành niên và người lớn trung bình 40% Cải thiện tổng thể về độ cong cột sống là 40%, nhưng trong nhóm thanh thiếu niên được cải thiện hơn người lớn ở mức 49,6%, hay gần một nửa Tuy nhiên, những người tham gia trưởng thành đã cải thiện 38,4% [69]

Ngày đăng: 01/08/2021, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Phạm Năng Cường, 1994. Phòng chống bệnh cận thị và cong vẹo cột sống trong học sinh. Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống bệnh cận thị và cong vẹo cột sống trong học sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
14. Nguyễn Thị Hồng Diễm, 2016. Nghiên cứu thực trạng ba bệnh lứa tuổi học đường phổ biến ở học sinh tiểu học và đề xuất biện pháp can thiệp.Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: p
19. Nông Thị Hồng và Cộng sự, 1998. Vệ sinh và Y học thể dục thể thao. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh và Y học thể dục thể thao
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
22. Hội đồng KHKT trường Đại học Y Bắc Thái và Bệnh viện đa khoa Thái Nguyên, 1990. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
24. Hoàng Thị Ái Khuê, Ngô Thị Như Thơ, 2008. Nghiên cứu và ứng dụng bài tập chữa cong vẹo cột sống dạng “C” thuận cho học sinh lứa tuổi 12.Tạp chí Sinh lý học Việt Nam, ISSN: 1859 – 2376, tr 27 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C
27. Trần Đình Long, Lý Bích Hồng, Nguyễn Hoài An, 1995. “Tình hình cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông cơ sở Trần Quốc Toản, Hoàn Kiếm , Hà Nội từ 1982 đến 1989”. Tạp chí nhi khoa, Hội nhi khoa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông cơ sở Trần Quốc Toản, Hoàn Kiếm , Hà Nội từ 1982 đến 1989
28. Chu Văn Mẫn, Đào Hữu Hồ, 2001. Giáo trình thống kê sinh học. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thống kê sinh học
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
29. Phạm Văn Minh, 2002. Giải phẫu ngực - bụng. Giải phẫu người tập II. Bộ môn Giải phẫu, trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu người tập II
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
38. Vũ Đức Thu, Lê Kim Dung, Đào Ngọc Phong và Cộng sự, 2001. “Tình hình cận thị và cong vẹo cốt sống ở học sinh thành phố Hà Nội”. Tuyển tập nghên cứu khoa học Giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp. Nhà xuất bản Thể dục thể thao Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình cận thị và cong vẹo cốt sống ở học sinh thành phố Hà Nội”. "Tuyển tập nghên cứu khoa học Giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp
Nhà XB: Nhà xuất bản Thể dục thể thao Hà Nội
41. Y học thể dục thể thao, 2000. Nhà xuất bản Thể dục thể thao. 2. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thể dục thể thao
Nhà XB: Nhà xuất bản Thể dục thể thao. 2. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
10. Hoàng Ngọc Chương và Cộng sự, 2008. Nghiên cứu thực trạng môi trường học tập và tỷ lệ mắc bệnh cận thị và cong vẹo cột sống của học sinh phổ thông tỉnh Thừa Thiên Huế. Hội nghị khoa học kỹ thuật ngành Y tế Thừa Thiên Huế lần thứ II, năm 2008. Tạp chí Y học thực hành số 596 – 2008 Khác
11. Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, 2015. Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án Bệnh tật học đường giai đoạn 2016 – 2020 Khác
13. Trần Văn Dần, Đào Thị Mùi, 2005. Nghiêm cứu về bệnh cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông Hà Nội, thực trạng và giải pháp dự phòng. Đề tài cấp Bộ Y tế, Hà Nội Khác
15. Trịnh Quang Dũng, 2015. Nghiên cứu hiệu quả can thiệp cho trẻ vẹo cột sống không rõ nguyên nhân bằng áo nẹp chỉnh hình TLSO. Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Khác
16. Lê Thị Việt Hà, 2006. Thực trạng một số bệnh học đường và ảnh hưởng của chúng lên các chỉ tiêu thể lực, thể chất, sinh lý và năng lực trí tuệ ở học sinh Trung học phổ thông huyện Nam Đàn – Nghệ An. Luận văn Thạc sỹ Sinh học, Đại học Vinh Khác
17. Phạm Văn Hán, 1998. Đánh giá hiện trạng vệ sinh và các bệnh liên quan trong học đường tại thị trấn Minh Đức, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Tạp chí Y học thực hành 5/1998 Khác
18. Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thúy Hiệp, 2015. Nghiên cứu một số chỉ số thể lực củ học sinh trung học cơ sở ở tỉnh Bình Dương. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 6 (25) – 2015 Khác
20. Nguyễn Ngọc Hợi, 1995. Điều tra sự phát triển thể chất của học sinh. Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ (mã số 13-93-19). Bộ Giáo dục và Đào tạo Khác
21. Lê Thị Song Hương và Cộng sự, 2005. Đánh giá sự phát triển bệnh học đường và hiệu quả can thiệp tại một số trường học thành phố Hải Phòng.Tuyển tập NCKH – GDTC – YTTH. Nhà xuất bản TDTT, tr. 381-388 Khác
23. Đào Huy Khuê, 1991. Đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 - 17 tuổi (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình). Luận án phó tiến sỹ khoa học Sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w