1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý và bệnh lây qua đường truyền máu ở người hiến máu tình nguyện tại trung tâm huyết học truyền máu nghệ an

101 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Chỉ Tiêu Hình Thái, Sinh Lý Và Bệnh Lây Qua Đường Truyền Máu Ở Người Hiến Máu Tình Nguyện Tại Trung Tâm Huyết Học Truyền Máu Nghệ An
Tác giả Nguyễn Tâm Thành
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hợi, PGS.TS. Nguyễn Văn Hương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Sinh học thực nghiệm
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm đã phối hợp với Ban chỉ đạo hiến máu tình nguyện của tỉnh, các sở, ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, vận động hiến máu nhằm tăng cường nguồn người hiến máu và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẤN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN NGỌC HỢI PGS.TS NGUYỄN VĂN HƯƠNG

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nghệ An, ngày …… tháng 08 năm 2018

Học viên

Nguyễn Tâm Thành

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý Thầy, Cô trong chuyên ngành Sinh học Thực nghiệm, khoa Sinh, Phòng đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các vị lãnh đạo và đồng nghiệp tại Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc, nghiên cứu, thực hiện luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các thành viên trong gia đình, bạn bè đã

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Nghệ An, ngày …… tháng 08 năm 2018

Học viên

Nguyễn Tâm Thành

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 4

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.2 Thực trạng về Hiến máu tình nguyện 11

1.2.1 Trên thế giới 11

1.2.2 Tại Việt Nam 13

1.2.3 Tại Nghệ An 15

1.3 Tình hình bệnh lây nhiễm qua đường máu ở người HMTN 17

1.3.1 Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) 20

1.3.2 Virus viêm gan B (HBV) 26

1.3.3 Virus viêm gan C (HCV) 29

1.3.4 Giang mai (Treponema pallidum) 34

1.3.5 Sốt rét 35

1.4 Đảm bảo chất lượng An toàn truyền máu trong công tác HMTN 37

1.4.1 An toàn cho người hiến máu 37

1.4.2 An toàn cho nhân viên y tế 37

1.4.3 An toàn cho người nhận máu 38

CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 39

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 39

Trang 6

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 39

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 39

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 39

2.2.2 Nhóm nội dung nghiên cứu 39

2.2.3 Các kỹ thuật cụ thể áp dụng trong nghiên cứu 40

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 46

3.1 Một số chỉ tiêu hình thái ở người HMTN 46

3.1.1 Số lượt người hiến máu tình nguyện 46

3.1.2 Tỷ lệ người hiến máu lần đầu, nhắc lại 47

3.1.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của người HMTN 48

3.1.4 Đặc điểm về lứa tuổi của người HMTN 50

3.1.5 Đặc điểm về giới tính ở người HMTN 52

3.1.6 Thể tích đơn vị máu tiếp nhận 53

3.1.7 Cân nặng của người HMTN theo giới 56

3.1.8 Người HMTN không đủ cân nặng theo nghề nghiệp: 56

3.1.9 Tỷ lệ không đủ cân nặng HMTN theo nhóm tuổi: 57

3.2 Một số chỉ tiêu sinh lý 59

3.2.1 Nhóm máu HMTN 59

3.2.2 Người hiến máu bị trì hoãn do huyết sắc tố thấp 61

3.2.3 Người hiến máu bị trì hoãn do huyết áp (HA) không bình thường 64

3.3 Một số bệnh lây qua đường máu ở người 66

3.3.1 Tỷ lệ nhiễm HIV, HBV, HCV, giang mai và sốt rét ở người hiến máu lần đầu 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Đề nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 85

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

18 HH-TMTW Huyết học – Truyền máu Trung ương

Trang 8

25 NT Nhiễm trùng

37 NAT Nucleic Acid Amplification Testing

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình nhiễm HIV trong truyền máu do lấy máu 22

Bảng 1.2: Tỷ lệ % kháng thể HIV dương tính ở đối tượng NHM lần đầu 23

Bảng 1.3: Tỷ lệ HBsAg dương tính ở một số nhóm người khỏe mạnh 31

Bảng 3.1 Tỷ lệ người hiến máu lần đầu, nhắc lại năm 2017 47

Bảng 3.2 Đặc điểm về nghề nghiệp của người HMTN (2014-2017) 48

Bảng 3.3 Đặc điểm về lứa tuổi của người HMTN 50

Bảng 3.4 Số lượng và tỷ lệ theo giới ở người HMTN năm 2017 52

Bảng 3.5 Tỷ lệ máu tiếp nhận thể tích 350ml trong 4 năm (2014 – 2017) 54

Bảng 3.6 Cân nặng ở người HMTN năm 2017 56

Bảng 3.7 Tỷ lệ không đủ cân nặng HMTN theo nghề nghiệp 57

Bảng 3.8 Tỷ lệ không đủ cân nặng HMTN theo lứa tuổi 57

Bảng 3.9 Tỷ lệ người HMTN theo nhóm máu hệ ABO 59

Bảng 3.10 Tỷ lệ người HMTN theo nhóm máu hệ Rh 60

Bảng 3.11 Số lượng người HMTN bị trì hoãn do huyết sắc tố 61

Bảng 3.12 Tỷ lệ NHMTN bị loại vì huyết áp không bình thường 64

Bảng 3.13 Huyết áp của NHMTN (theo nhóm tuổi) 65

Bảng 3.14 Tỷ lệ nhiễm HIV ở người hiến máu lần đầu 66

Bảng 3.15 Tỷ lệ nhiễm HIV của các ĐT HM lần đầu theo giới 66

Bảng 3.16 Tỷ lệ các bệnh HIV của các ĐT HM lần đầu theo tuổi 66

Bảng 3.17 Tỷ lệ nhiễm bệnh HBV ở người hiến máu lần đầu 68

Bảng 3.18 Tỷ lệ nhiễm bệnh HBV của các ĐT HM lần đầu theo giới 68

Bảng 3.19 Tỷ lệ các bệnh HBV của các ĐT HM lần đầu theo tuổi 69

Bảng 3.20 Tỷ lệ nhiễm bệnh HCV ở người hiến máu lần đầu 70

Bảng 3.21 Tỷ lệ nhiễm bệnh HCV của các ĐT HM lần đầu theo giới 70

Bảng 3.22 Tỷ lệ nhiễm anti HCV của các ĐT HM lần đầu theo tuổi 71

Bảng 3.23 Tỷ lệ nhiễm bệnh giang mai ở người hiến máu lần đầu 72

Trang 10

Bảng 3.24 Tỷ lệ nhiễm bệnh Giang mai của các ĐT HM lần đầu theo giới 72 Bảng 3.25 Tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng của các ĐT HM lần đầu theo tuổi 72 Bảng 3.26 Tỷ lệ nhiễm bệnh sốt rét ở người hiến máu lần đầu 73

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Thực trạng nhiễm bệnh HBV trên thế giới 30

Hình 2.1 Dụng cụ Test nhanh Determin HBsAg của Abbott (Mỹ) 41

Hình 2.2 Công nghệ NAT (Nucleotit Acid Testing) 43

Hình 3.1 Số lượt NHMTN tại Trung tâm HH-TM Nghệ An (2010 – 2017) 46 Hình 3.2 Số lượt NHMTN tại Trung tâm HH-TM Nghệ An năm 2017 47

Hình 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của người HMTN năm 2017 49

Hình 3.4 So sánh số người HMTN theo lứa tuổi năm 2014 – 2017 51

Hình 3.5 Đặc điểm về lứa tuổi người HMTN năm 2017 51

Hình 3.6 So sánh số đơn vị máu tiếp nhận 350ml năm 2014 - 2017 54

Hình 3.7 Thể tích máu tiếp nhận năm 2017 55

Hình 3.8 Số lượng người hiến máu bị trì hoãn do huyết sắc tố thấp theo nghề nghiệp 61

Hình 3.9 Số lượng người hiến máu bị trì hoãn do huyết sắc tố thấp theo nhóm tuổi 62

Trang 12

đã trở thành một lĩnh vực quan trọng của chính sách y tế quốc gia Một đơn vị máu đến với người bệnh là kết quả từ khâu vận động hiến máu tình nguyện (HMTN), tiếp nhận, sàng lọc, sản xuất, bảo quản và phân phối máu [3]

Theo WHO ở các nước đang phát triển nhu cầu số lượng đơn vị máu hàng năm bằng khoảng 2% dân số Cùng với sự gia tăng dân số, sự phát triển của đất nước và việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu cũng như sự phát triển nhiều kỹ thuật mới trong y học thì nhu cầu máu và sản phẩm máu ngày càng tăng cao Muốn có đủ máu chất lượng, chúng ta phải có đủ số lượng người tham gia HMTN không vì mục đích kinh

tế và khâu tiếp nhận, sàng lọc, sản xuất chế phẩm máu không ngừng được đầu

tư cải tiến [14] Nhận thức được điều này, phong trào HMTN ở nước ta đã và đang nhận được sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội Chính vì vậy những năm gần đây cuộc vận động HMTN trong cả nước, chúng ta đã thu được nhiều kết quả rất khích lệ, nhiều người trong xã hội đã có nhận thức cao và thái độ tích cực trong việc đi hiến máu, đồng thời vận động người khác cùng tham gia hiến máu Theo số liệu thống kê từ năm 2008 đến hết 2017, cả nước

đã tiếp nhận được 9.212.670 đơn vị máu hiến tặng Trong đó, hiến máu tình

Trang 13

nguyện là 98%, hiến máu nhắc lại đạt 41,5% và tỷ lệ hiến máu đạt gần 1,6% Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được thì cuộc vận động HMTN còn gặp những khó khăn như nguồn hiến máu tự nguyện cho người bệnh gặp rất nhiều khó khăn vào dịp nghỉ hè, cuối năm; đơn vị máu tiếp nhận chủ yếu là 250ml Nghệ An với dân số hơn 3 triệu người (năm 2018); trong những năm qua Nghệ An, công tác HMTN đã được các cấp ngành vào cuộc và đã có những kết quả đáng trân trọng Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An (sau đây gọi tắt là Trung tâm) được thành lập năm 2010, với nhiệm vụ tiếp nhận, sàng lọc, sản xuất chế phâm máu, lưu trữ và cung ứng máu cho các bệnh viện trên địa bàn 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; khám, điều trị cho bệnh nhân các bệnh về máu khu vực Trung tâm đã phối hợp với Ban chỉ đạo hiến máu tình nguyện của tỉnh, các sở, ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, vận động hiến máu nhằm tăng cường nguồn người hiến máu và hiến máu nhắc lại, đã mở rộng đối tượng hiến máu trong bộ đội, công nhân, cán bộ, công chức, thanh niên nông thôn, mở rộng địa bàn hiến máu, thành lập nhiều câu lạc bộ hiến máu đột xuất; triển khai việc tiếp nhận tiểu cầu máu, thành lập câu lạc bộ tiểu cầu tại các trường đại học, cao đẳng,…

Trong những năm qua, lượng máu tiếp nhận được ở Trung tâm ngày càng tăng cao, năm 2017, lượng máu tiếp nhận được tăng gần 5,8 lần so với năm 2010; Trong năm 2017, đơn vị đã tiếp nhận 29.186 đơn vị máu, vượt hơn tăng 3.197 đơn vị máu so với năm 2016; Lượng máu này đáp ứng tương đối đầy đủ cho công tác cấp cứu, điều trị của các bệnh viện trong diện bao phủ Tuy nhiên, yêu cầu của hoạt động truyền máu không chỉ là cung cấp

đủ máu mà còn phải bảo đảm an toàn truyền máu Trong đó công tác xây dựng nguồn người hiến máu là rất quan trọng Nguồn người hiến máu biến động theo từng thời điểm trong năm, phụ thuộc vào công tác vận động hiến máu, tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, trình độ hiểu biết của người dân

Trang 14

cũng như sự phát triển của nền kinh tế xã hội, sự phát triển rộng rãi của các phương tiện thông tin đại chúng

Thực trạng nguồn người hiến máu tại Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An như thế nào? cần phải được tổng kết, đánh giá để phân tích tìm các biện pháp tạo nguồn người hiến máu an toàn v à b ề n v ữ n g

Chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, sinh

lý và bệnh lây qua đường truyền máu ở người hiến máu tình nguyện tại Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An” với mong muốn góp phần

giúp các nhà quản lý, ban chỉ đạo có cách nhìn nhận về đặc điểm nguồn người hiến máu trên địa bàn, định hướng và giải pháp trong công tác tuyên truyền, vận động hiến máu, góp phần vào công tác đảm bảo an toàn truyền máu (ATTM) nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá một số chỉ tiêu hình thái, chỉ tiêu sinh lý và bệnh lây qua đường truyền máu ở người HMTN tại Trung tâm Huyết học – Truyền máu Nghệ An năm 2017

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng về HMTN tại Trung tâm huyết học – Truyền máu Nghệ An;

- Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý của người hiến máu tình nguyện;

- Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm một số bệnh lây qua đường máu ở người hiến máu tình nguyện

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Lịch sử truyền và hiến máu gắn liền với nhiều phát hiện mới trong các lĩnh vực y học, sinh học, miễn học … Đến nay truyền máu đã đạt được nhiều kết quả to lớn như: nguồn người hiến máu, ngân hàng máu, về kháng nguyên hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu …

Năm 1492 - Tại Rome, Đức Giáo Hoàng Innocent VIII bị một cơn đột quỵ, ông yếu dần và hôn mê Bác sĩ khuyên truyền máu như một liệu pháp điều trị cho căn bệnh của Đức Giáo Hoàng Tuy nhiên, do y học chưa phát triển, bệnh tình của Đức Giáo Hoàng không được chữa khỏi, ông qua đời vào cuối năm đó [17]

Năm 1615 - Andreas Libavius miêu tả kỹ thuật truyền máu của ông Tuy nhiên kỹ thuật của ông đã không được công bố đầy đủ [17]

Năm 1628 - Bác sĩ người Anh William Harvey (1578-1657) đã miêu tả chức năng của tim và sự tuần hoàn của máu Ông chỉ ra rằng tim là một máy bơm, sự co bóp của tim đẩy máu vào các động mạch Và sau khi lưu thông qua các tĩnh mạch, máu đó quay trở lại tim Chính vì vậy, có thể kết luận rằng, máu lưu thông tuần hoàn trong cơ thể Harvey còn suy luận công dụng của các van - là để ngăn chặn máu chảy ngược vào trong các tĩnh mạch [17] Những thành công của hoạt động truyền máu trở nên phổ biến ở thế kỷ XIX và phát triển mạnh ở thế kỷ XX dù đã được khởi đầu từ thế kỷ XVII bằng lời kêu cứu truyền máu của Florentin ở Francisco – 1654 [17]

Năm 1662, nhóm nghiên cứu của Richard Lower (Oxford, Mỹ) đã thí nghiệm truyền máu từ hai con chó cho một con chó nhỏ hơn, cứ mỗi lần rút máu từ con chó nhỏ, nhóm nghiên cứu lại lấy máu từ hai con chó lớn bù vào

Trang 16

Với tổng lượng máu rút ra tương đương với trọng lượng của con chó nhỏ, nghiên cứu chỉ ra rằng nó vẫn sống, hoạt động bình thường sau thí nghiệm [17]

Năm 1667, Jeam – Baptiste Denis và Paul Emmerez đã lấy máu của một con bê để truyền cho một bệnh nhân có rối loạn hành vi, lần truyền thứ nhất không xảy ra phản ứng gì, nhưng ở lần truyền thứ hai phản ứng truyền máu

đã xuất hiện Hai tháng sau, bệnh nhân phát bệnh Denis lại thực hiện liệu pháp trên, ngay hôm sau bệnh nhân tử vong Từ đó, truyền máu của động vật cho người bị luật pháp cấm [17]

Năm 1818, James Blundell, một bác sĩ sản khoa đã thực hiện truyền máu cho những phụ nữ mất máu sau đẻ với người cho máu là chồng của bệnh nhân Ông rút ra gần 4 Aoxơ máu (khoảng 110 ml máu) từ tay người chồng

và dùng syringe truyền máu thành công cho người vợ Từ năm 1825 đến năm

1830, James Blundell đã thực hiện 10 ca truyền máu, trong đó có 5 ca thành công, qua đó chứng minh được lợi ích của việc truyền máu trong việc cứu sống người bệnh Kết quả này đã được công bố Ông cũng phát minh ra rất nhiều dụng cụ để thực hiện truyền máu cũng như đưa ra những chỉ dẫn hợp

lý cho công tác truyền máu [17]

Năm 1901, nhà bác học vĩ đại người Mỹ gốc Áo Karl Landsteiner (1868-1943) đã phát hiện ra nhóm máu hệ ABO, đây là hệ nhóm máu đầu tiên được phát hiện ở người và cũng là hệ nhóm máu đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động truyền máu Việc phát hiện ra nhóm máu hệ ABO đã

mở ra cho ngành truyền máu một trang mới Bệnh nhân đã được truyền máu

an toàn và mang lại hiệu quả cao trong điều trị khi được thực hiện truyền máu hòa hợp nhóm máu hệ ABO Tiếp nối kết quả đó, vào năm 1911, Ottenberg đã nêu vấn đề hoà hợp nhóm máu trong truyền máu và đưa ra được

sơ đồ truyền máu mang tên ông [17]

Trang 17

Sau đó Weil (1915) đã đưa ra dung dịch citrat và dung dịch này được sử dụng trong suốt thời gian thế chiến thứ nhất [17]

Từ năm 1927 – 1947, Landsteiner và học trò phát hiện thêm các hệ nhóm máu ngoài ABO, đó là M, N, P….[17]

Năm 1940, nhà bác học Karl Lansteiner và Wiener đã gây miễn dịch cho thỏ bằng hồng cầu kh Rhesus và đã thu được một kháng thể gây ngưng kết với khoảng 85% hồng cầu người da trắng ở New York, kháng nguyên (KN) tương ứng với kháng thể (KT) này là kháng nguyên D Các KN khác của hệ

Rh lần lượt được phát hiện, cho đến thời điểm hiện nay, người ta đã chứng minh hệ Rh là hệ nhóm máu phức tạp nhất với khoảng 55 KN khác nhau; tuy nhiên, các kháng nguyên chính, quan trọng của hệ Rh vẫn là D, C, c, E, e Hệ nhóm máu Rh là hệ nhóm máu có vai trò quan trọng thứ hai trong thực hành truyền máu, sau hệ nhóm máu ABO Cũng nhờ phát hiện ra hệ nhóm máu hệ

Rh mà người ta đã lý giải được cơ chế gây bệnh vàng da tan huyết ở trẻ sơ sinh là do có sự bất đồng nhóm máu hệ Rh giữa mẹ và thai Với kết quả của nghiên cứu, việc truyền máu hòa hợp Kháng nguyên nhóm máu hệ Rh đã giúp cho người bệnh được truyền máu an toàn và hiệu quả hơn [17]

Tới năm 1943, Loutit đã chỉnh lý dung dịch chống đông ACD giúp chống đông lượng máu lớn và bảo quản máu ở nhiệt độ 4oC trong thời gian dài hơn [17]

Năm 1981, một căn bệnh mới – AIDS - được khám phá Đây là một căn bệnh lây truyền qua đường máu, đã gây nên những khó khăn lớn trong vấn đề

an toàn truyền máu Năm 1983, người ta đã phân lập được HIV Và vào năm

1985, việc phát hiện anti – HIV đã được áp dụng để sàng lọc HIV/AIDS [17] Năm 1983, Chất nuôi dưỡng hồng cầu mới được giới thiệu, kéo dài thời gian lưu trữ máu đến 42 ngày [17]

Năm 1985, Các xét nghiệm sàng lọc máu đầu tiên để phát hiện HIV được cấp phép và thực hiện bởi các Ngân hàng máu Mỹ [17]

Trang 18

Năm 1987, Hai xét nghiệm gián tiếp để sàng lọc viêm gan C: anti-HBc

và kiểm tra men gan alanine (ALT) được phát triển và thực hiện [17]

Năm 1988 con người đã xác định được bản chất của kháng thể HCV Tiếp đó, vào năm 1992, sàng lọc HCV ở người hiến máu đã trở thành nguyên tắc bảo đảm an toàn truyền máu [17]

Trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, vai trò của bạch cầu trong an toàn truyền máu và vấn đề ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh đã được đề cập Vấn đề ứng dụng tế bào gốc trong điều trị không chỉ dừng ở ghép tuỷ tế bào gốc sinh máu mà còn phát triển rộng hơn như: ghép tế bào gốc cho bệnh nhân bị bệnh tim, bệnh não, bệnh đái tháo đường… cũng bước đầu có kết quả

Năm 1989 Tại Mỹ, lần đầu tiên việc sàng lọc phát hiện virus HTLV-I (anti HTLV-I) được thực hiện ở người hiến máu [17]

Năm 1990, xét nghiệm sàng lọc phát hiện bệnh viêm gan C (loại viêm gan không phải A, B) [17]

Năm 1992, Xét nghiệm sàng lọc kháng thể kháng HIV-1 và kháng thể HIV-2 đã được thực hiện [17]

Năm 1996, Xét nghiệm kháng nguyên p24 HIV [17]

Năm 1999, Kỹ thuật khuếch đại acid nucleic (Nucleic Acid Amplification Testing- NAT) được sử dụng trong sàng lọc máu được FDA công nhận NAT có thể trực tiếp phát hiện các vật liệu di truyền của virus như viêm gan C và HIV [17]

Song song với những nghiên cứu, phát minh về lĩnh vực y học, sinh học

về truyền máu thì cũng xuất hiện nhiều nghiên cứu về các yếu tố khác liên quan đến truyền máu, những đối tượng hiến máu tình nguyện như:

+ Nghiên cứu của tác giả Perera WWK (Srilanka) năm 2000 cho thấy trong số các nguyên nhân người hiến máu ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi bị loại thì tỉ lệ nguyên nhân lượng huyết sắc tố thấp chiếm 7,4% [49];

Trang 19

+ Nghiên cứu của tác giả Yasmin Ayob (Malaysia) (2001) trong các lý

do người hiến máu bị loại (29%) thì lượng huyết sắc tố thấp là nguyên nhân chủ yếu và hầu như trong số họ là nữ [58];

+ Nghiên cứu của Mindy Goldma (Canada) (2000) cũng chỉ ra có 5% người hiến máu (chủ yếu là nữ) bị loại vì lượng huyết sắc tố thấp [47];

+ Nghiên cứu của Urlep Salinovic.K (Slovenia): lượng huyết sắc tố thấp

là lý do trì hoãn hiến máu phổ biến nhất: là 22,1% năm 2002 và 31,2% năm

2006 [55]

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Trước năm 1954 ở Việt Nam, ngân hàng máu được quân đội Pháp thành lập, tổ chức đầu tiên tại bệnh viện Đồn Thủy (Quân y viện 108 hiện nay) để cung cấp máu cho quân đội Pháp Sau đó là một vài bệnh viện ở Sài Gòn cũng do quân đội Pháp tổ chức và quản lý

Từ năm 1954 – 1974: Sau hoà bình, ta tiếp quản thủ đô, bệnh viện Đồn Thủy được đổi tên là Quân y viện 108 Năm 1956 bệnh viện Việt Đức mở khoa lấy máu và truyền máu Tiếp đó, nhiều bệnh viện cũng đã tổ chức thu gom máu

Từ năm 1972 – 1992: Nguồn máu thu được chủ yếu là từ người bán máu ( >90%), phương tiện thu gom máu bằng chai, an toàn truyền máu chủ yếu là làm phản ứng chéo và định nhóm, tìm đơn vị máu tương đồng Các cơ sở truyền máu chỉ sàng lọc cơ bản như: Sốt rét, giang mai; một vài cơ sở sàng lọc HBV, truyền máu toàn phần chiếm 100%, nước ta chưa có chương trình quốc gia về an toàn truyền máu

Tháng 1 năm 1995, nước ta thay chai bằng túi chất dẻo theo chuẩn quốc

tế Tới năm 1999, toàn bộ đơn vị máu đã được sàng lọc đủ năm bệnh nhiễm trùng trong phạm vi tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện [21]

Trang 20

Như vậy, song song với sự phát triển của phong trào hiến máu tình nguyện thì các nghiên cứu về đặc điểm xã hội học, các chỉ tiêu sinh học, các bệnh liên quan đến người HMTN đã được thực hiện và phát triển

Năm 2006, Nguyễn Đức Thuận đã đánh giá tình hình người hiến máu tình nguyện tại Viện huyết học – Truyền máu Trung ương như sau [30]: + Tỷ lệ người HMTN là 55,75%, tăng 250% so với năm 2004; không có

sự khác biệt giữa tỷ lệ nam và nữ hiến máu tình nguyện Trong đó, 97,4% người hiến máu tình nguyện là trong độ tuổi thanh niên (từ 18 đến 35); Sinh viên - học sinh chiếm tỷ lệ 72,6%; người HMTN là cán bộ công nhân viên chiếm tỷ lệ 17,2% Có 22 người HMTN có nhóm máu Rh âm (0,075%) Chủ yếu người HMTN chỉ hiến máu 1 lần trong năm (96,3%), tỷ lệ hiến máu nhắc lại đạt 29,9%

+ Các chỉ số huyết học ở máu ngoại vi của người CMCN và người HMTN từ 3 lần trở lên đều nằm trong giới hạn bình thường của người Việt Nam Người HMTN có hàm lượng hemoglobin, số lượng hồng cầu và hematocrite cao hơn so với người CMCN

+ Việc tổ chức sàng lọc HBV trước khi hiến máu đã loại được 1.865 người (chiếm 8,77%), tỷ lệ máu hủy do nhiễm bệnh là 3,58%

Năm 2010, nhóm gồm Đặng Hương Giang, Đoàn Công Khanh, Bùi Thị Phương, Dương Văn Tuyển, Thành Thị Bích Chi, Lê Văn Tuấn của Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đã mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của SV Cao đẳng Điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội về HMTN năm 2008- 2009: Kiến thức tốt về HMTN là 35,4%, thái độ đúng là 64,3%, thực hành kém chiếm tới 87,7% Thực trạng chỉ ra, giữa kiến thức và thực hành không có mối liên quan với nhau trong HMTN [10]

Năm 2013, Ngô Mạnh Quân, Lê Thanh Hằng, Nguyễn Anh Trí của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi về hiến

Trang 21

máu dự bị của người dân hai huyện đảo Cát Hải và Phú Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy: 61,4% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có trình độ học vấn từ THPT trở lên đã nghe về HMDB, tỷ lệ này cao hơn so với nhóm có trình độ học vấn dưới THPT (26%), tỷ suất chênh là 4,532, p<0,001 Tỷ lệ ĐTNC đã nghe về HMDB ở nhóm cán bộ, công chức cao hơn so với nhóm nghề nghiệp khác (75,7% và 39,8%, p<0,001) Tỷ lệ sẵn sàng đăng ký HMDB ở nam giới cao hơn nữ giới (83,5% và 69,6%, p<0,001) Nhóm có bạn bè, người thân đã từng hiến máu có tỷ lệ sẵn sàng đăng ký HMDB cao hơn so với nhóm không có người thân từng hiến máu (89,8% so với 65,4%, p<0,001) Nhóm ĐTNC đã từng hiến máu có tỷ lệ đăng ký tham gia vào lực lượng HMDB cao hơn so với nhóm chưa từng hiến máu (26,7% và 5,2%), p<0,001, OR là 6,673 [25]

Từ 1/2014 đến 12/2014, Nguyễn Thi ̣ Hồng Gấm, Phạm Thi ̣ Ngo ̣c (Trường Đa ̣i ho ̣c Y Dược – ĐH Thái Nguyên) đã nghiên cứu về hoạt hộng hiến máu tình nguyện trên 504 sinh viên ở trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên, kết quả cho thấy: Hệ nhóm máu ABO: Tỷ lệ nhóm máu tuân theo quy luật O > B > A > AB Hệ nhóm máu Rh(D): Tỷ lệ Rh(D) dương 99,4%, Rh(D) âm rất thấp (0,06%) Sinh viên hiến máu có một số đặc điểm: Nữ giớ i chiếm 57.9 %, nam giớ i chiếm 42.1%, tỷ lệ nhóm máu ABO và Rh (D)ở nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt giữa dân tộc kinh và dân tộc thiểu số, sinh viên hiến máu chủ yếu năm đầu và giảm dần ở những năm sau, đợt hiến máu trong kỳ học chiếm tỷ lệ cao [9]

Nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển (Uông Bí) năm 2000 cho thấy 67,65% là người HMTN, người HMCN là 32,35%

Năm 2006, Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thuận về tình hình thu gom máu trong cả nước thì tỷ lệ người HMTN là 31%, tỷ lệ người HMCN và NNCM là 69%, cũng theo nghiên cứu này năm 2006 tỷ lệ người HMTN ở nước ta là 59%, tỷ lệ người HMCN và NNCM là 41% [0] Nghiên cứu của

Trang 22

Phạm Thị Thùy Nhung 2008 tại Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương tỷ

lệ người HMTN là 71%, người HMCN là 28% [17]

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thuận, trong số người HMTN của Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương năm 2006, tỷ lệ HS-SV chiếm tới 72,6% [30], của Phạm Thị Thùy Nhung năm 2010 tỷ lệ hiến máu của HS-SV là 72,8

% nên có tình trạng thiếu máu trong dịp hè, nghỉ Tết nguyên đán [17]

Nghiên cứu của Phạm Ngọc Dũng khi nghiên cứu tình hình HMTN tại tỉnh An Giang, nghiên cứu này cho thấy người hiến máu chủ yếu trong độ tuổi từ 20 đến 40 (chiếm 79,26%) [33]

Nghiên cứu của tác giả Trần Bích Hợp có người HMTN lần đầu có huyết sắc tố nhỏ hơn 90g/L là 14,33%, của tác giả Phạm Thị Thùy Nhung có 0,94% người HMCN có lượng huyết sắc tố nhỏ hơn 90 g/l và 27,3% có biểu

hiện thiếu máu [12]

1.2 Thực trạng về Hiến máu tình nguyện

Ngày 8/5/1974 được lấy làm ngày vận động “Hiến máu cứu người” trên toàn thế giới [5]

Trên thế giới có rất nhiều tổ chức hiến máu không lấy tiền như :

- Ba Lan: Câu lạc bộ những người hiến máu không lấy tiền

- Pháp: Liên đoàn những người hiến máu không lấy tiền

- Italia: Hội những người hiến máu tình nguyện Italia

- Thế giới: Liên hiệp quốc tế các tổ chức người hiến máu [37]

Trang 23

Hiện nay, có rất nhiều nước làm tốt công tác vận động HMNĐ và hiến máu nhắc lại Nhờ sự phát triển của phong trào hiến máu tình nguyện, lực lượng NHM ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ NHM tình nguyện nhắc lại ngày càng tăng

Năm 1964, chính phủ Nhật Bản quyết định thu nhận máu từ những người hiến máu tình nguyện không trả tiền Những người có khả năng hiến máu đều hiểu rằng: Hiến máu không có hại nếu hiến máu đúng hướng dẫn của thầy thuốc Họ còn hiểu thế nào là hiến máu an toàn và nhất định không hiến máu nếu thấy mình có yếu tố nguy cơ Bởi vậy, việc cung cấp máu tại Nhật Bản không những đủ máu cho nhu cầu điều trị mà còn có độ an toàn cao

Tại Canada tỷ lệ người hiến máu nhắc lại (ít nhất 1 lần trong 12 tháng)

đã tăng từ 45% (năm 2001) đến 50% (năm 2006) Số lần hiến máu của mỗi người hiến máu mỗi năm tăng từ 1,98 (năm 2001) tới 2,16 (năm 2006)

Ở Pakistan, có tới 90% là người hiến máu tình nguyện, trong đó sinh viên chiếm 70%, công nhân viên chức chiếm 20%, chỉ còn 10% là người cho máu chuyên nghiệp Đặc biệt, họ rất chú trọng tới đội ngũ học sinh sinh viên,

ưu tiên họ vì biết rằng đấy là lực lượng trẻ, giàu nhiệt tình và lòng dũng cảm Tại Đức, hơn 4,5 triệu đơn vị máu được thu gom mỗi năm (với dân số Đức là 82 triệu người) trong đó 3,3 % dân số là người hiến máu tình nguyện

Ở Mỹ, hơn 13 triệu đơn vị máu được thu gom từ khoảng 10 triệu người hiến máu, tất cả họ đều là người hiến máu tình nguyện, xấp xỉ 11,5 triệu lít huyết tương được thu gom, phần lớn qua máy gạn tách huyết tương

Việc cho máu lấy tiền, cho máu thay thế từ người thân trong gia đình thực ra chỉ phổ biến ở những nước mà ở đó công tác truyền máu phát triển kém hoặc không đầy đủ

Theo WHO năm 2006 đã thống kê các hình thức hiến máu ở các nước theo HDI (chỉ số phát triển con người) Những nước có chỉ số HDI thấp (gồm

Trang 24

550 triệu người) có tỷ lệ người hiến máu tình nguyện là 34%, gia đình cho máu là 63%, người cho máu được trả tiền là 3% Trong khi đó những nước

có chỉ số HDI trung bình (gồm 4.041 triệu người) các tỷ lệ đó là 60%, 36%, 4% Những nước có chỉ số HDI cao (gồm 1.057 triệu người) các tỷ lệ đó là 94%, 4%, 2%

Trước năm 1998, tại Trung Quốc, máu được thu gom từ: người hiến máu được trả tiền (78%) và người hiến máu không được trả tiền (gồm người hiến máu tình nguyện và người bị bắt buộc phải hiến máu) (22%) Từ 1/10/1998 luật về việc hiến máu được ban hành, việc hiến máu trả tiền đã bị cấm Năm 2006 số người hiến máu không được trả tiền tăng lên 98% trong

đó 94% là người hiến máu tình nguyện Những người đứng đầu ngành y tế tin tưởng rằng rằng tỉ lệ người hiến máu tình nguyện sẽ là 100% vào năm

2010

Cộng hoà Maxedonia thuộc Anbani chỉ có 17,63% người hiến máu tình nguyện Số còn lại là từ người thân trong gia đình Ở họ cũng không có hiện tượng cho máu lấy tiền

Ngược lại với Maxedonia, Malaysia với dân số 27 triệu dân, trong đó 2 triệu người là dân nhập cư và người nước ngoài Trước những năm 1980, 30% người hiến máu là người hiến máu thay thế Từ đó đến nay 100% người hiến máu là người hiến máu tình nguyện Tổng số máu thu gom tăng từ 42 nghìn đơn vị (năm 1972) lên 500 nghìn đơn vị (năm 2006) Tỷ lệ lượt hiến máu là 20/1.000 dân Thủ đô Kuala Lumper với dân số 1,6 triệu người, tỷ lệ người hiến máu là 70/1.000 dân Có thể nói đây là chiến lược tối ưu, đặc biệt trong tình hình hiện nay khi mà các bệnh nhiễm trùng qua đường máu đang lan tràn trên khắp các châu lục, nhất là nhiễm HIV/AIDS

1.2.2 Tại Việt Nam

NHMTN là những người hoàn toàn tự nguyện cho máu để cứu người bệnh khi họ có nhận thức đầy đủ về sự cần thiết và ý nghĩa cao đẹp của v i ệ c

Trang 25

hiến máu N h ờ đ ó , họ đã “tự sàng lọc”, thực hiện tốt những hướng dẫn của cán bộ y tế trước, trong và sau khi tham gia hiến máu Thống kê toàn quốc tỷ lệ NHMTN là 59%

NHMTN mà nhất là NHMTN nhắc lại là đối tượng hiến máu an toàn nhất Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, việc xây dựng và phát triển bền vững nguồn NHMTN không lấy tiền là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu trong hoạt động truyền máu

Phong trào hiến máu tình nguyện ở nước ta được khởi đầu từ những năm 90 của Thế kỷ trước, dù muộn hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 235/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện (tháng 2 năm 2008)

Tính trong 10 năm qua (2008 - 2017), tổng lượng máu vận động và tiếp nhận của toàn quốc đạt hơn 10 triệu đơn vị, cụ thể hơn, các tiêu chí so sánh giữa năm 2008 và năm 2017 là:

- Tổng số lượng máu cả nước tiếp nhận tăng hơn 3 lần so với năm 2008

từ 500 nghìn đơn vị lên gần 1,5 triệu đơn vị máu năm 2017; tỷ lệ hiến máu tình nguyện tăng từ 71,6% năm 2008 lên 98% năm 2017; tỷ lệ dân số hiến máu từ 0,61% năm 2008 lên gần 1,6% năm 2017

- Nhiều bộ, ban, ngành, địa phương triển khai tốt việc vận động và tiếp nhận máu, có nhiều đợt hiến máu tình nguyện, điển hình như: Lễ hội xuân hồng, Hành trình Đỏ, Chủ nhật Đỏ,… qua đó đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào toàn dân tham gia hiến máu tình nguyện Kết quả của phong trào đã cung cấp lượng máu ngày càng lớn, căn bản đáp ứng đủ nhu cầu về máu phục vụ cấp cứu và điều trị người bệnh, hàng triệu người bệnh nhờ đó đã được cứu sống

Cũng trong 10 năm qua, hệ thống viện, trung tâm huyết học và truyền máu trong cả nước được đầu tư, nâng cấp; Ban chỉ đạo vận động hiến máu

Trang 26

tình nguyện các cấp được củng cố và hoàn thiện thêm; chính sách dành cho người hiến máu và công tác hiến máu tiếp tục được hoàn thiện; nhiều hoạt động tôn vinh người hiến máu, sự kiện hiến máu đã được tổ chức hiệu quả, để lại ấn tượng sâu đậm; sự vào cuộc của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vận động hiến máu tình nguyện ngày càng quyết liệt và có hiệu quả; lực lượng hiến máu ngày một mở rộng, tăng cường rộng khắp

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác hiến máu tình nguyện còn gặp các khó khăn, thách thức, như: nhu cầu điều trị máu và các chế phẩm của người bệnh tiếp tục tăng; công tác tuyên truyền, vận động hiến máu chưa liên tục, rộng khắp tới mọi người có tiềm năng hiến máu, lực lượng hiến máu chủ yếu vẫn là thanh niên, sinh viên; kế hoạch hiến máu thường tập trung vào một số thời điểm, chưa dàn đều các tháng trong năm, nhân lực chuyên trách về công tác vận động hiến máu tình nguyện còn thiếu và kinh nghiệm vẫn còn hạn chế; chưa phối hợp tốt trong tổ chức hiến máu và đơn vị tiếp nhận máu; năng lực bảo quản, sản xuất và cung cấp các chế phẩm máu của các trung tâm máu, các bệnh viện vẫn còn hạn chế; chính sách khuyến khích, động viên người hiến máu cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện Ở một số thời điểm, nhất là vào dịp tết, dịp hè, tại nhiều địa phương, khu vực còn tình trạng thiếu máu

Trang 27

Năm 2017, Nghệ An đã tiếp nhận được gần 30.000 đơn vị máu, đạt gần 116,7% kế hoạch đề ra, tăng gần 5 nghìn đơn vị máu so với năm 2016; tỷ lệ dân số hiến máu đạt 0,67% Từ số máu tiếp nhận được, Trung tâm Huyết học

- Truyền máu tỉnh đã sản xuất được gần 60.000 đơn vị máu và chế phẩm máu Với những kết quả đạt được, năm 2017, tỉnh Nghệ An được Ban Chỉ đạo vận động hiến máu Quốc gia tặng bằng khen về việc thực hiện xuất sắc 2 chiến dịch hiến máu “Lễ hội Xuân hồng” và “Hành trình Đỏ”; 4 tập thể và 5

cá nhân được Ban Chỉ đạo vận động hiến máu Quốc gia, Bộ Y tế tặng Bằng khen

Công tác truyền máu tại Nghệ An được UBND tỉnh giao nhiệm vụ cho Trung tâm Huyết học - Truyền máu Từ năm 2010 Trung tâm hoạt đông với

mô hình lồng ghép với Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An Đến tháng

4 năm 2016, Trung tâm tách ra hoạt động độc lập và được tỉnh giao nhiệm vụ tương đương bệnh viện hạng hai tuyến tỉnh Trung tâm hiện có 8 khoa phòng đầy đủ khối Cận lâm sàng, lâm sàng và một ngân hàng máu của với quy mô vùng Bắc Trung Bộ; với tổng số biên chế là 97 cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao cùng hệ thống trang thiết bị được đồng bộ hiện đại để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ: Thực hiện và nâng cao chất lượng các xét nghiệm chuyên khoa huyết học, tế bào, miễn dich huyết học… Tuyên truyền vận động hiến máu, thực hiện việc tiếp nhận máu, sàng lọc, sản xuất chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn để cung ứng cho các bệnh viện trên địa bàn; Khám chữa bệnh chuyên khoa các bệnh về máu; nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, đào tạo, chỉ đạo tuyến chuyên môn nghiệp vụ về Huyết học - Truyền máu

Thời gian qua, Trung tâm thực hiện tốt việc áp dụng thành công các kỹ thuật mới như: sinh thiết tủy xương, xét nghiệm công thức nhiễm sắc thể, gạn tách tế bào điều trị Là một trong số ít Trung tâm áp dụng thành công sàng lọc máu bằng công nghệ NAT (Nucleotit Acid Testing), sản xuất chế phẩm máu bằng công nghệ cao, đạt tiêu chuẩn theo quy định… giúp cho việc chẩn đoán

Trang 28

các bệnh chuyên khoa cũng như công tác xây dựng ngân hàng máu ngày càng lớn mạnh

Trong những năm vừa qua, Trung tâm cũng đã xây dựng và tổ chức các ĐHM tình nguyện:

- Điểm hiến máu cố định: Là điểm hiến máu được tổ chức thường xuyên hàng tuần, hàng tháng đặt tại các địa điểm cố định và đối tượng tham gia hiến máu chủ yếu đã được xác định (điểm hiến máu cố định tại Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An, số 60A Tôn Thất Tùng, Thành phố Vinh)

- Điểm hiến máu lưu động: Là các điểm hiến máu tại các cơ quan, trường học, địa phương (huyện, thành thị), khu công nghiệp… một cách không thường xuyên liên tục hàng tuần, hàng tháng và thường gắn liền với kế hoạch được Ban chỉ đạo của tỉnh phê duyệt, các đợt hoặc chiến dịch truyền thông hay sự kiện tại đơn vị, địa phương tổ chức hiến máu

- Điểm hiến máu bằng xe ôtô chuyên dụng: Đang tiến hành xây dựng 1.3 Tình hình bệnh lây nhiễm qua đường máu ở người HMTN

1.3.1 Máu và thành phần của máu

Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại

bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí carbonic và acid lactic Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (cả tế bào có chức năng bảo vệ cơ thể lẫn tế bào bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) giữa các tổ chức và cơ quan trong cơ thể Các rối loạn

về thành phần cấu tạo của máu hay ảnh hưởng đến sự tuần hoàn bình thường của nó có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác nhau Có hai vòng tuần hoàn tương đối độc lập về mặt giải phẫu nhưng liên quan chặt chẽ về mặt chức năng: tuần hoàn phổi (hay còn gọi tiểu tuần hoàn) và tuần

Trang 29

hoàn hệ thống (hay còn gọi là đại tuần hoàn) Hai vòng tuần hoàn này đều hoạt động chủ yếu bởi sức bơm của cơ tim

Máu chiếm 7% trọng lượng cơ thể, với tỷ trọng trung bình khoảng

1060 kg/m3, gần giống với tỷ trọng nước nguyên chất (1000 kg/m3) Người trưởng thành trung bình có khoảng 5 lít máu Theo thể tích hồng cầu chiếm khoảng 45% số tế bào máu, huyết tương chiếm khoảng 54,3%, và bạch cầu khoảng 0,7%

- Huyết cầu: Các thành phần hữu hình gồm:

+ Hồng cầu: chiếm khoảng 96% Ở động vật có vú, hồng cầu trưởng thành mất nhân và các bào quan Hồng cầu chứa hemoglobinvà có nhiệm vụ chính là vận chuyển và phân phối ôxy

+ Bạch cầu: chiếm khoảng 3% là một phần quan trọng của hệ miễn dịch có nhiệm vụ tiêu diệt các tác nhân gây nhiễm trùng và phát động đáp ứng miễn dịch của cơ thể

+ Tiểu cầu: chiếm khoảng 1%, chịu trách nhiệm trong quá trình đông máu Tiểu cầu tham gia rất sớm vào việc hình thành nút tiểu cầu, bước khởi đầu của quá trình hình thành cục máu đông trong chấn thương mạch máu nhỏ

- Huyết tương: Huyết tương là dung dịch chứa đến 90% nước, 10% là các protein huyết tương và rất nhiều chất khác với một lượng nhỏ, đôi khi chỉ

ở dạng vết Các thành phần chính của huyết tương gồm:

+ Albumin

+ Các yếu tố đông máu

+ Các globulin miễn dịch (immunoglobulin) hay kháng thể (antibody) + Các hormone

+ Các protein khác

+ Các chất điện giải (chủ yếu là Natri và Clo, ngoài ra còn có can

xi, kali, phosphate.)

+ Các chất thải khác của cơ thể

Trang 30

Trong cơ thể, dưới tác động của cơ tim, hệ thần kinh thực vật và các hormone, máu lưu thông không theo quy luật của lực trọng trường Ví

dụ não là cơ quan nằm cao nhất nhưng lại nhận lượng máu rất lớn (nếu tính theo khối lượng tổ chức não) so với bàn chân, đặc biệt là trong lúc lao động trí óc Ở người và các sinh vật sử dụng haemoglobin khác, máu được ôxy hóa

có màu đỏ tươi (máu động mạch) Máu khử ôxy có màu đỏ bầm (máu tĩnh mạch)

1.3.2 Bệnh lây nhiễm qua đường máu ở người HMTN

Máu rất quan trọng và cần thiết cho sự sống, nhờ có truyền máu mà nhiều người bệnh đã được cứu sống Máu cũng rất cần thiết để cấp cứu các trường hợp chấn thương, các tai nạn và các thảm họa do thiên tai và chiến tranh Hàng năm toàn thế giới (176 nước) có trên 4.00 triệu đơn vị máu được thu thập để truyền cho người bệnh, tuy nhiên con số này so với nhu cầu điều trị vẫn còn rất thiếu Mỗi năm có khoảng 500.000 phụ nữ bi chết khi sinh con, hầu hết những phụ nữ này thuộc các nước đang phát triển và trong số các trường hợp trên có 25% người mẹ khi sinh con bị chết vì mất máu nặng Máu quan trọng như vậy, nhưng truyền máu cũng có thể làm lây truyền một số bệnh từ người cho máu sang người bệnh nếu các nguyên tắc về an toàn truyền máu không được tôn trọng Hiện nay, hàng năm trên toàn thế giới vẫn còn khoảng 13 triệu đơn vị máu được thu thập nhưng chưa được sàng lọc bất cứ một bệnh nhiễm trùng nào Các bệnh nhiễm trùng này đã gây nên các hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt có một số bệnh được gây ra bởi virus đã ảnh hưởng rất lớn tới sự sống của hàng triệu người, như đại dịch HIV/AIDS đã gây tử vong khoảng 2,5 triệu người/năm Hiện nay người ta đã phát hiện có rất nhiều căn nguyên gây các bệnh nhiễm trùng truyền qua đường truyền máu như virus gây suy giảm miễn dịch ở người (human immuno deíìciency virus), virus viêm gan B (hepatitis B virus), virus viêm gan c (hepatitis c virus), virus viêm gan D (hepatitis D virus), virus viêm gan G (hepatitis G virus),

Trang 31

Cytomegalovirus (CMV), Epstein - B'arr virus, virus gây ung thư tế bào lympho ở người (HTLV), Parvovirus, giang mai, sốt rét Theo khuyên cáo của Tổ chức y tế thể giới thì sáu loại căn nguyên bắt buộc phải được sàng lọc cho người cho máu là: HIV, HBV, HCV, xoắn khuẩn giang mai, ký sinh trùng sốt rét và xoắn khuẩn Czuzi Tại Việt Nam năm loại căn nguyên bắt buộc phải sàng lọc trước khi máu được truyền cho người bệnh là HIV, HBV, HCV, xoắn khuẩn giang mai và ký sinh trùng sốt rét

1.3.1 Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV)

Kể từ khi được phát hiện đầu tiên vào tháng 6/1981, đến nay, với sự gia tăng nhanh chóng, đại dịch HIV/AIDS đã ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới Tính đến ngày 28/2/2003, chúng ta đã phát hiện 42 triệu người nhiễm HIV và có khoảng 15 triệu người chết vì AIDS Trong đó trên 90% thuộc về các nước đang phát triển, mà chủ yếu là Châu Phi [5] Ở Việt Nam, từ một phụ nữ được phát hiện nhiễm HIV tháng 12/1990, với sự gia tăng nhanh chóng, đến ngày 31/5/2007 đã có 126.543 trường hợp nhiễm HIV được phát hiện, 24.788 bệnh nhân chuyển thành AIDS và tổng số người chết vì AIDS là 13.874 người

Trên thế giới tháng 3/1985 đã bắt đầu xét nghiệm sàng lọc thường quy tìm kháng thể HIV, sử dụng phản ứng miễn dịch men – kỹ thuật ELISA để sàng lọc NHM Còn tại Việt Nam trước năm 1993 trừ một số cơ sở truyền máu lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các tỉnh, huyện chưa

có hệ thống sàng lọc bệnh nhiễm trùng kể cả virus viêm gan B [4][5]

Trong khi đó nhu cầu sử dụng máu lại phát triển ở nhiều cơ sở điều trị kể

cả tuyến huyện

Mặc dù đã sàng lọc HIV ở NHM nhưng vẫn có một tỷ lệ túi máu bị nhiễm HIV do lấy máu ở giai đoạn cửa sổ Ở các nước tiên tiến như: Mỹ, Đức, Nhật Bản thì nhiễm trùng cửa sổ xảy ra rất ít (từ 1:1.000.000 – 1:200.000) Còn các nước đang phát triển và ở Châu Phi tỷ lệ nhiễm HIV qua

Trang 32

đường truyền máu cao hơn nhiều (từ 1:94 đến 1:45.000 lần truyền máu) Theo tác giả Tadateru: ở Nhật Bản vẫn có 2 trường hợp bệnh nhân bị nhiễm HIV qua đường truyền máu (1999), tại Myanmar có 0,45% bệnh nhân bị nhiễm

HIV qua đường truyền máu (2000)

Bảng 1.1: Tình hình nhiễm HIV trong truyền máu do lấy máu ở giai đoạn cửa

sổ ở một số nước trên thế giới

Nước Năm Tỷ lệ nhiễm HIV do lấy máu trong giai đoạn cửa sổ

Tại Việt Nam, theo Đỗ Trung Phấn và cs tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng NHM lần đầu và nhiều lần năm 1998 như sau [19]:

Bảng 1.2: Tỷ lệ % kháng thể HIV dương tính ở đối tượng NHM lần đầu

và hiến máu nhắc lại năm 1998

Đối tượng NHM Số lần hiến máu Kháng thể HIV dương tính(%)

Hiến máu lần đầu

Hiến máu nhắc lại > 2 lần

882

223

0,5

0

Trang 33

- Diễn biến huyết thanh của nhiễm HIV/AIDS và các dấu ấn miễn dịch có giá trị dể chẩn đoán:

Sau khi nhiễm HIV, trước khi xuất hiện kháng nguyên và kháng thể của

virus có một thời kỳ được gọi là giai đoạn cửa sổ của bệnh, giai đoạn này thường kéo dài từ 2-6 tuần Thời kỳ này chỉ có những biểu hiện lâm sàng như nhiễm các virus khác (sốt, đau mình mẩy, phát ban, sưng hạch lympho) Hiện nay, bằng kỹ thuật thì trong giai đoạn này người ta có thể xác định được trực tiếp genome của virus trong huyết thanh (HIV - RNA) hoặc trong tế bào

lympho (HIV-DNA) trong vòng từ 1-2 tuần sau khi nhiễm virus Tiếp theo

thời kỳ cửa sổ là sự xuất hiện của kháng nguyên HIV p24 Thời gian xác định được kháng nguyên HIV p24 trong huyết thanh là rất ngắn, thường không quá

1-2 tuần

Khoảng một tuần sau khi xuất hiện kháng nguyên, kháng thể HIV loại IgM được phát hiện Để có thể phát hiện kháng thể HIV loại IgM trong huyết thanh của người bị nhiễm thường phải sau 35 ngày Theo một số tác giả khác với những loại kít phát hiện HIV có độ nhậy và độ đặc hiệu cao như hiện nay thì chỉ cần 14 ngày

Một tuần sau khi kháng thể HIV-IgM được phát hiện thì kháng thể HIV - IgG sẽ được xác định Nồng độ kháng thể này sẽ được tăng dần trong máu và

sẽ tồn tại trong nhiều năm

- Khả năng gây bệnh:

Khi HIV xâm nhập vào cơ thể, nó tác động chủ yếu lên các tế bào của hệ miễn dịch và làm rối loạn trầm trọng chức năng của hệ thống miễn dịch do đó làm thay đôi chức năng của đại thực bào, gây rối loạn chức năng của lympho

B, gây thay đôi số lượng và chức năng các dưới nhóm lympho, giảm chức năng và số lượng tế bào NK, gây giảm tế bào T độc, gây tổn thương các cơ quan tạo lympho Với các tổn thương của các tế bào miễn dịch trên, đã tạo

Trang 34

điều kiện thuận lợi cho các nhiễm trùng cơ hội và ung thư một số cơ quan như ung thư trực tràng, u lympho v.v phát triển

- Chẩn đoán nhiễm HIV:

Các dấu ấn có giá trị chẩn đoán:

+ Anti - HIV1,2 tip IgG (20 -30 ngày)

+ Anti - HIV1,2 Mix-IgM + IgG (10 - 15 ngày)

+ Kháng nguyên P24 (10 - 15 ngày)

+ RNA-HIV (6 - 10 ngày)

Các dấy ấn này đồng thời cịng là các dấu ấn dùng sàng lọc HIV người cho máu Các kỹ thuật sử dụng cho sàng lọc: Trong thời gian từ 6-8 tuần kể từ khi virut xâm nhập vào cơ thể đây là “giai đoạn cửa sổ sinh học”, một số các

kỹ thuật sau đây được áp dụng trong giai đoạn này gồm có:

+ Kỹ thuật phân lập virus

+ Kỹ thuật phân tử: phản ứng chuỗi Polymerase (PCR) phát hiện genome HIV

+ Kỹ thuật phát hiện kháng nguyên p24

Các kỹ thuật trên thường được áp dụng trong các trường hợp: nhiễm HIV giai đoạn cửa sổ trong trường hợp này rất có ý nghĩa trong truyền máu, ghép các cơ quan, con của những người mẹ nhiễm HIV và trường hợp ELISA dương tính mà Western Blot (WB) không xác định

Các kỹ thuật áp dụng trong giai đoạn có kháng thể:

+ Nhóm kỹ thuật sàng lọc: Gồm có kỹ thuật ngưng kết: (SERODIA) phát hiện kháng thể tip IgG, kỹ thuật men miễn dịch(ELISA) phát hiện kháng thể tip IgM + IgG Đây là kỹ thuật có độ nhạy cao, tiến hành đơn giản, giá thành

rẻ Rất có giá trị trong điều tra dịch tể và trong sàng lọc người cho máu

+ Nhóm kỹ thuật khẳng định: Gồm có kỹ thuật thấm miễn dịch Western Blot (WB) và kỹ thuật miễn dịch phóng xạ kết tủa (Radio Immuno

Trang 35

Precipitation Assay: RIPA) Thường dùng để xác định các dương tính từ nhóm kỹ thuật sàng lọc trên WB thường được áp dụng hơn là kỹ thuật RIPA

- Kỹ thuật sàng lọc HIV:

+ Kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA): Thử nghiệm ELISA là kỹ thuật sàng lọc được ứng dụng phổ biến trong các phòng xét nghiệm hiện nay Có 3 loại nguyên lý cơ bản:

Phương pháp ELISA kháng globulin: Đây là phương pháp đơn giản nhất, trong đó kháng thể virus nào có trong mẫu xét nghiệm cũng sẽ gắn với kháng nguyên virus đã cố định và sẽ được phát hiện nhờ kháng thể chống người gắn men Xét nghiệm này được thực hiện theo tiến trình sau:

++ Kháng nguyên đã được gắn sẵn trên giếng thử

++ Nhỏ huyết thanh hay huyết thanh hoà loãng vào giếng thử

++ Cuối giai đoạn ủ, rửa giếng để loại bỏ huyết thanh Quá trình rửa sẽ loại bỏ huyết thanh thừa trong giếng mà không làm bong hay hay loại bỏ kháng thể đặc hiệu đã gắn

++ Thêm dung dịch cộng hợp vào tất cả các giếng, rồi ủ nhiệt độ nhất định trong thời gian nhất định Dung dịch cộng hợp có chứa kháng thể globulin chống người gắn men Kháng thể thường IgG chống người và men thường được sử dụng làø peroxidase horseradish Hoạt động của men này làm cho cơ chất không màu ở dạng bất hoạt sẽ có màu khi chuyển sang dạng hoạt hóa

++ Cuối giai đoạn ủ, rửa giếng để loại bỏ thành phần thừa, cộng hợp không gắn thêm cơ chất vào tất cả các giếng và ủ ở nhiệt độ nhất định Dung dịch cơ chất chứa một chất hóa học là chất hiện màu Chất hiện màu là hợp chất hòa tan tổng hợp có thể đổi màu sau khi bị oxy hóa, bị khử hoặc bị biến đổi hóa học khác do men Khi thêm dung dịch cơ chất vào giếng có chứa các thành phần gắn cộng hợp, men sẽ hoạt hóa cơ chất và do vậy hình thành chất

Trang 36

màu trong giếng Các giếng không chứa thành phần gắn cộng hợp sẽ không xuất hiện màu khi cho cơ chất vào trong giếng

++ Cuối giai đoạn ủ, cho vào dung dịch axit hòa loãng vào tất cả các giếng để dừng phản ứng Axit có tác dụng bất hoạt men và cố định màu

++ Đọc mật độ quang (giá trị OD) của dung dịch trong giếng và đánh giá kết quả thử nghiệm

Phương pháp ELISA cạnh tranh: Nguyên lý cơ bản của phương pháp ELISA cạnh tranh cũng giống như kiểu ELISA kháng globulin Kháng thể HIV gắn với kháng nguyên cố định và sau đó sự có mặt của kháng nguyên được phát hiện Thử nghiệm này khác chút ít về cách phát hiện kháng thể HIV Kháng nguyên gắn trên mặt giếng khi cho mẫu huyết thanh vào Thêm vào cùng lúc cộng hợp và như vậy huyết thanh và cộng hợp ủ cùng lúc với nhau Cộng hợp là một kháng thể chống HIV gắn men, nhưng đúng hơn là một kháng thể chống người không đặc hiệu Cộng hợp chống HIV cạnh tranh

vị trí gắn kháng nguyên với kháng thể chống HIV tự nhiên Nồng độ cộng hợp chống HIV được đặt ở mức sao cho lượng kháng thể HIV nhỏ nhất có trong mẫu xét nghiệm cũng đủ vượt quá để chúng được ưu tiên gắn với kháng nguyên so vơí kháng thể cộng hợp

Phương pháp ELISA “kẹp chả” (san-wich): Kháng nguyên (thường là các peptide tổng hợp) được gắn trên bề mặt giếng Huyết thanh và chất cộng hợp được thêm vào giếng cùng một lúc sẽ cạnh tranh vị trí gắn kháng nguyên với kháng nguyên đã được gắn sẵn trên giếng Cuối giai đoạn ủ, rửa loại bỏ huyết thanh, thêm cộng hợp rồi tiếp tục ủ Cộng hợp là kháng nguyên tổng hợp gắn men chứ không phải là kháng thể chống IgG người gắn men (như trong ELISA kháng globulin) Trong thời gian ủ, kháng nguyên cộng hợp gắn với phức hợp kháng thể chống HIV đã gắn với kháng nguyên cố định trong giếng Một phức hợp kẹp kháng nguyên – kháng thể – kháng nguyên gắn men được tạo thành Rửa bỏ cộng hợp thừa và thêm chất cộng hợp màu giống như

Trang 37

kháng globulin Xét nghiệm này mang tính đặc hiệu cao và tỷ lệ dương tính giả giảm đi

Cách tính kết quả sẽ dựa vào mật độ quang học (OD) và giá trị ngưỡng Mật độ quang học của mỗi giếng được xác định khi chùm tia ánh sáng ở bước sóng thích hợp chiếu qua đáy giếng và đo mức độ hấp thu ánh sáng của dung dịch Để sử dụng các gia! trị OD, người ta phải so sánh chúng với kết quả chuẩn đã biết Kết quả này tập hợp các chứng và mẫu xét nghiệm Có nhiều cách tính kết quả khác nhau, tối thiểu cần 3 điểm cho mỗi xét nghiệm Trong

đó, 2 điểm là giá trị trung bình giữa chứng âm và chứng dương để xác định xét nghiệm là có ý nghĩa và chúng phải nằm trong khoảng quy định của nhà sản xuất Cuối cùng để đánh giá kết quả phản ứng hay không phản ứng thì phải tính toán giá trị ngưỡng

+ Kỹ thuật chẩn đoán HIV bằng xét nghiệm nhanh: Có một số xét nghiệm nhanh đặc biệt khác nhau, hình thức chung là kháng nguyên HIV được cố định trên một màng dễ thấm hay bán thấm hoặc trên một thanh thử đơn lẻ và các loại thuốc thử dùng chung Các loại thử nghiệm này cho kết quả trong vòng 20 phút, thường được sử dụng để sàng lọc trong trường hợp khẩn cấp

1.3.2 Virus viêm gan B (HBV)

Trong vòng 10 năm sau khi phát hiện ra HBsAg người ta đã lần lượt phát hiện thêm các kháng nguyên, kháng thể khác nhau của virus, kháng thể HBs

có tác dụng bảo vệ phòng lây nhiễm HBV Sự phát hiện này đã mở đường cho việc sử dụng vaccin phòng viêm gan B

- Chuyển đổi huyết thanh của nhiễm virus viêm gan B và các dấu ấn miễn dịch dể chẩn đoán:

Thời kỳ ủ bệnh của nhiễm HBV thay đổi tùy thuộc vào từng bệnh nhân, thông thường từ 45-180 ngày

Trang 38

Để chẩn đoán nhiễm HBV người ta dựa chủ yếu vào các dấu ấn miễn dịch được phát hiện trong huyết thanh Để phát hiện được các dấu ấn miễn dịch này trung bình phải 56 ngày sau nhiễm Với kỹ thuật sinh học phân tử để phát hiện HBV - DNA người ta đã rút ngắn được thời kỳ cửa sổ của nhiễm HBV từ 56 ngày xuống chỉ còn 25 ngày

Các dấu ấn miễn dịch của nhiễm HBV bao gồm: HBsAg, HBeAg, kháng thể HBc, kháng thể HBs, kháng thể HBe

HBsAg (hepatitis surface antigen): Là kháng nguyên bề mặt viêm gan B Anti HBs (Anti hepatitis B suríace): Là kháng thể chống kháng nguyên

bề mặt của viêm gan B

HBeAg (hepatitis Be antigen): Là một kháng nguyên hòa tan Xuất hiện ngay sau HBsAg vài ngày

Anti HBe (anti hepatitis e): là kháng thể chống kháng nguyên e

Anti HBc (anti hepatitis B core): kháng thể chống kháng nguyên nhân của virus

Gen của HBV (DNA/HBV)

- Khả năng gây bệnh: Nhiễm HBV có thể gây viêm gan B cấp, viêm gan

mạn, xơ gan, ung thư gan và người lành mang HBsAg Các hậu quả của viêm gan B là rất trầm trọng Do vậy phải phòng lây nhiễm viêm gan B một cách hữu hiệu, đặc biệt là phòng lây nhiễm viêm gan B qua đường truyền máu

- Tình hình nhiễm bệnh HBV:

Viêm gan virus B (HBV) là một trong những bệnh lây nhiễm phổ biến của thế giới với khoảng 2 tỷ người nhiễm HBV Virus HBV xâm nhập qua đường máu nên dễ dàng được lan truyền rộng rãi bởi các sản phẩm máu có chứa nguồn bệnh Do đó, việc truyền máu chứa HBV trở thành mối đe dọa lớn đối với các quốc gia đang phát triển mà có tỷ lệ nhiễm cao và quy trình chọn lọc máu chưa chặt chẽ Máu và các sản phẩm từ máu trước khi được sử dụng đã được sàng lọc huyết thanh học Tuy nhiên, gần đây, các nhà nghiên

Trang 39

cứu phát hiện ra có những trường hợp nhiễm viêm gan B do truyền máu Điều này chứng tỏ trong máu và các sản phẩm của máu có virus HBV tiềm ẩn là những kháng nguyên viêm gan B bề mặt không phát hiện được về mặt huyết thanh học nhưng lại có sự hiện diện của HBV DNA Virus HBV tiềm ẩn biểu hiện DNA trong máu với nồng độ rất thấp Do đó, kỹ thuật khuếch đại acid nucleic (Nucleic Acid Amplification Testing – NAT) đã được áp dụng tại Bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả sàng lọc máu Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát tỷ lệ nhiễm viêm gan B tiềm ẩn OBI (occult HBV infection) ở người hiến máu có kết quả âm tính với kỹ thuật miễn dịch huyết thanh học

Hiện nay tỷ lệ nhiễm các virus viêm gan cao và có xu hướng gia tăng trên thế giới Theo thống kê của WHO (1990) toàn thế giới có khoảng 2 tỷ người nhiễm virus viêm gan B Trong đó có khoảng 280 triệu người mang HBV mạn tính Châu Á, châu Phi là nơi có tỷ lệ người bị bệnh và người mang HBV cao nhất thế giới Hàng năm có tới 2 triệu người chết có liên quan trực tiếp đến nhiễm HBV, 25% mang HBV mạn tính chết vì ung thư gan nguyên phát và xơ gan, 80% người ung thư gan có liên quan đến nhiễm HBV [57] Việt Nam là vùng có tỷ lệ nhiễm HBV rất cao từ 10 – 15% (Hình 1.1)

Hình 1.1: Thực trạng nhiễm bệnh HBV trên thế giới

Trang 40

Theo Hoàng Thủy Nguyên, năm 1991 tại Hà Nội tỷ lệ người mang HBsAg(+) khoảng 15-20% Tại Trung tâm Truyền máu Huyết học Thành phố

Hồ Chí Minh tỷ lệ này khoảng 11,4% Tại bệnh viện Chợ Rẫy tỷ lệ này khoảng 5,1% Tại Tiền Giang tỷ lệ nhiễm HBV khoảng 21,3%

Hiện nay Việt Nam là quốc gia có người nhiễm HBV đứng hàng thứ hai trên thế giới, theo các nghiên cứu của Bộ Y tế, tỷ lệ người mang HBsAg vào khoảng 15 đến 20% dân số (2010) là nguyên nhân gây nên hơn 80% trường hợp bệnh về gan và ung thư gan trên cả nước

Riêng người cho máu tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ nhiễm HBV ngày càng có xu hướng giảm

+ Theo Đào Đình Đức vào năm 1996, tỷ lệ HBsAg (+) là 10%

+ Theo Cao Ngọc Nga và cộng sự năm 2003, tỷ lệ HBsAg (+) là 6,1% + Tại ngân hàng máu Tp Hồ Chí Minh năm 2010, tỷ lệ HBsAg (+) là 3,2%

Dưới đây là tỷ lệ HBsAg dương tính ở một số nhóm người khỏe mạnh (Bảng 1.3)

Bảng 1.3: Tỷ lệ HBsAg dương tính ở một số nhóm người khỏe mạnh

Nhân viên bệnh viện (Thành phố Hồ Chí Minh)

Người khỏe mạnh (Thành phố Hồ Chí Minh)

Người khỏe mạnh (Khánh Hoà)

Người HM chuyên nghiệp

Người nhà HM

Người hiến máu TN

26,20 11,30 15,48 2,50 10,70 9,40

- Chẩn đoán viêm gan B: phát hiện HBsAg, DNA-HBV, Anti HBc IgM,

IgG bằng các kỹ thuật sau đây:

Ngày đăng: 01/08/2021, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Đặng Hương Giang và cs, 2010. Kiến thức, thái độ và thực hành về hiến máu nhân đạo của SV cao đẳng Điều dưỡngTrường cao đẳngY tế Hà Nội năm 2008-2009, TCNCYH Phụ Trương số 68 (3) – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành về hiến máu nhân đạo của SV cao đẳng Điều dưỡngTrường cao đẳngY tế Hà Nội năm 2008-2009
11. Nguyễn Trần Hiển, 1995. “Các phương thức lây truyền HIV và giám sát dịch tễ học nhiễm HIV”, Nhiễm HIV/AIDS y học cơ sở, lâm sàng và phòng chống, 171 – 178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các phương thức lây truyền HIV và giám sát dịch tễ học nhiễm HIV”
12. Trần Bích Hợp, 1999. Nghiên cứu một số chỉ số sức khoẻ người cho máu, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sức khoẻ người cho máu
13. Nguyễn Thị Tuyết Mai, 1997. Tình hình nhiễm virus truyền qua đường máu ở những người hiến máu và một số đối tượng vùng Quảng Ninh, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội, 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm virus truyền qua đường máu ở những người hiến máu và một số đối tượng vùng Quảng Ninh
14. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Lê Văn Yên, Phạm Thị Tố Hoa, Nguyễn Thị Hồng, Vũ Thị Liên, Bế Thị Tuỳ, Vũ Thị Hương, 2004. “An toàn truyền máu tại bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí từ năm 1999 đến năm 2003”, Y học thực hành, (497), 136 – 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “An toàn truyền máu tại bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí từ năm 1999 đến năm 2003”
15. Đinh Thị Phi Nga, Phạm Anh Bính, 2004. “Đánh giá kết quả xét nghiệm sàng lọc một số tác nhân gây bệnh nhiễm trùng qua đường truyền máu tại bệnh viện 103 từ năm 1998 – 2002”, Y học Việt Nam số đặc biệt, (Tháng 9/2004), 122 – 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá kết quả xét nghiệm sàng lọc một số tác nhân gây bệnh nhiễm trùng qua đường truyền máu tại bệnh viện 103 từ năm 1998 – 2002”
16. Ngô Thị Huỳnh Nga, 2016. Thực trạng tình hình hiến máu tình nguyện và các yếu tố liên quan trên địa bàn huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2016, Tạp chí KH&amp;CN An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tình hình hiến máu tình nguyện và các yếu tố liên quan trên địa bàn huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2016
17. Phạm Thị Thùy Nhung, 2008. Nghiên cứu một số đặc điểm của người cho máu tại Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương 2006- 2008, Luận văn Thạc sỹ Y khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm của người cho máu tại Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương 2006- 2008
18. Đỗ Trung Phấn, 1995. “Cung cấp máu và an toàn truyền máu. Hai nhiệm vụ khẩn thiết hiện nay”, Tạp chí y học Việt Nam, 9(196), 2 – 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cung cấp máu và an toàn truyền máu. Hai nhiệm vụ khẩn thiết hiện nay”
20. Đỗ Trung Phấn và cs, 1998. “Tình hình sàng lọc các virus truyền máu năm 1998 của 67 trung tâm truyền máu trên 52 tỉnh có báo cáo”, Hội nghị tổng kết nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình sàng lọc các virus truyền máu năm 1998 của 67 trung tâm truyền máu trên 52 tỉnh có báo cáo”
22. Đỗ Trung Phấn và cs, 2001. “Kết quả sàng lọc HIV, HBV, HCV người cho máu toàn quốc giai đoạn 1996 - 2000”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Huyết học – Truyễn máu 1999 – 2001, 225 – 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả sàng lọc HIV, HBV, HCV người cho máu toàn quốc giai đoạn 1996 - 2000”
24. Ngô Mạnh Quân, 2004. “Vận động cho máu nhắc lại: biện pháp đảm bảo an toàn truyền máu có hiệu quả”, Y học thực hành (497), 187 – 190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vận động cho máu nhắc lại: biện pháp đảm bảo an toàn truyền máu có hiệu quả”
25. Ngô Mạnh Quân, Lê Thanh Hằng, Nguyễn Anh Tri ́, 2013. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi về hiến máu dự bị của người dân hai huyện đảo Cát Hải và Phú Quốc, Tạp chí Y học, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi về hiến máu dự bị của người dân hai huyện đảo Cát Hải và Phú Quốc
26. Trần Ngọc Quế, 2003. Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV, HBV, HCV ở các đối tượng sinh viên – học sinh cho máu tại viện Huyết học – Truyền máu, Luận văn cao học , Đại học Y Hà Nội, 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV, HBV, HCV ở các đối tượng sinh viên – học sinh cho máu tại viện Huyết học – Truyền máu
27. Thái Quý, 1995. “Một bước tiến mới trong công cuộc đổi mới chiến lược người cho máu”, Tài liệu lưu trữ tại viện Huyết học – Truyền máu TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một bước tiến mới trong công cuộc đổi mới chiến lược người cho máu”
28. Lê Thị Tám, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Huy Thạch và cs, 2004. “Tình hình thu gom máu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá (1994 – 2003)”, Y học thực hành, (497), 168 – 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình thu gom máu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá (1994 – 2003)
29. Phạm Thi, Vũ Bằng Đình, 2004. “Kết quả sàng lọc các bệnh truyền nhiễm qua đường máu trong 14 năm khám tuyển người cho máu tại khoa truyền máu bệnh viện TWQĐ 108”, Y học Việt Nam số đặc biệt, (Tháng 9/2004), 73 – 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sàng lọc các bệnh truyền nhiễm qua đường máu trong 14 năm khám tuyển người cho máu tại khoa truyền máu bệnh viện TWQĐ 108”
31. Nguyễn Đức Thuận, Ngô Mạnh Quân, Bùi Ngọc Dũng, 2007. “Kỹ năng tổ chức điểm hiến máu tình nguyện”, Cẩm nang vận động hiến máu tình nguyện, 97 – 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ năng tổ chức điểm hiến máu tình nguyện”
32. Trần Hồng Thủy, Phạm Quang Vinh và cs, 2004. Một số thông số đánh giá chất lượng máu và chế phẩm máu tại Viện Huyết học -Truyền máu Trung ương năm 2000 -2003. Tạp chí y học, 497, 160-165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông số đánh giá chất lượng máu và chế phẩm máu tại Viện Huyết học -Truyền máu Trung ương năm 2000 -2003
33. Mai Văn Tư, Bạch Khánh Hòa, Đặng Thị Thu Hằng, 2018. ”Nghiên cứu chất lượng xét nghiệm sàng lọc HIV, HBV, HCV ở người hiến máu tại Thái Bình 2011-2016, Tạp chí Y học Việt Nam tập 466 tháng 5, số đặc biệt 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chất lượng xét nghiệm sàng lọc HIV, HBV, HCV ở người hiến máu tại Thái Bình 2011-2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w