Trong hệ thống tài chính Quốc gia ngân sách nhà nước (Ngân sách nhà nước) là khâu chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng, thực hiện các chính sách xã hội, là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. “Thông qua Ngân sách nhà nước, Nhà nước thực hiện huy động các nguồn lực trong xã hội, phân phối và sử dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới quản lý kinh tế, quản lý Ngân sách nhà nước đã có những đổi mới nhằm phù hợp hơn với nền kinh tế đang chủ động hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Việc phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước ngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho chính quyền địa phương phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, của chính quyền địa phương trong quản lý ngân sách trên địa bàn. Ngân sách huyện gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính quyền nhà nước cấp huyện, có vai trò cung cấp phương tiện vật chất để chính quyền cấp huyện hoạt động, đồng thời là một công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng tại địa phương. Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngân sách huyện hiện nay vẫn chưa thể hiện rõ vai trò của mình đối với phát triển kinh tế tại địa bàn. Một trong những nguyên nhân được đó là việc phân cấp quản lý ngân sách hiện nay còn nhiều hạn chế; thẩm quyền quyết định ngân sách còn chồng chéo, chưa tạo cho địa phương thực sự làm chủ ngân sách của mình; hơn nữa, nhiều quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn chưa bao quát được tất cả lĩnh vực, không sát thực tế, địa phương khó thực hiện.” Thị xã Phú Thọ nằm ở phía tây của tỉnh trung du miền núi Phú Thọ, nguồn thu ngân sách hạn chế trong khi đó nhu cầu chi cho phát triển kinh tế là rất lớn. Do đó, công tác quản lý Ngân sách nhà nước càng cần phải được chú trọng để khơi dậy, khai thác nguồn thu, phân bổ và sử dụng hợp lý các khoản chi nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Thực tế thời gian qua, công tác quản lý ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ có sự chuyển biến tích cực, thể hiện ở việc đã khai thác hợp lý các nguồn lực tài chính tiềm năng và sẵn có tại địa phương và thực hiện phân phối các khoản chi hợp lý góp phần tạo động lực kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy công tác quản lý ngân sách nhà nước đạt được hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn những tồn tại cơ bản cần phải được khắc phục, hoàn thiện và là nhiệm vụ rất cấp bách đang được đặt ra. Vì vậy vấn đề tăng cường quản lý ngân sách huyện trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện: Nghiên cứu trường hợp thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 1NGUYỄN DUY THÁI
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THỊ XÃ
PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống tài chính Quốc gia ngân sách nhà nước (Ngân sách nhànước) là khâu chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện cácchức năng nhiệm vụ của mình Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng,thực hiện các chính sách xã hội, là một trong những công cụ quan trọng để Nhànước quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế “Thông qua Ngân sách nhà nước, Nhànước thực hiện huy động các nguồn lực trong xã hội, phân phối và sử dụng cho nhucầu phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới quản lý kinh tế, quản lý Ngânsách nhà nước đã có những đổi mới nhằm phù hợp hơn với nền kinh tế đang chủđộng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Việc phân cấp quản lý Ngân sáchnhà nước ngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho chính quyền địa phươngphát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm củacác cấp, của chính quyền địa phương trong quản lý ngân sách trên địa bàn Ngânsách huyện gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính quyền nhà nướccấp huyện, có vai trò cung cấp phương tiện vật chất để chính quyền cấp huyện hoạtđộng, đồng thời là một công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện quản lý toàndiện các hoạt động kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng tại địa phương.Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngân sách huyện hiện nay vẫn chưa thể hiện rõ vai tròcủa mình đối với phát triển kinh tế tại địa bàn Một trong những nguyên nhân đượcđó là việc phân cấp quản lý ngân sách hiện nay còn nhiều hạn chế; thẩm quyềnquyết định ngân sách còn chồng chéo, chưa tạo cho địa phương thực sự làm chủngân sách của mình; hơn nữa, nhiều quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn chưabao quát được tất cả lĩnh vực, không sát thực tế, địa phương khó thực hiện.”
Thị xã Phú Thọ nằm ở phía tây của tỉnh trung du miền núi Phú Thọ, nguồnthu ngân sách hạn chế trong khi đó nhu cầu chi cho phát triển kinh tế là rất lớn Do
Trang 3đó, công tác quản lý Ngân sách nhà nước càng cần phải được chú trọng để khơidậy, khai thác nguồn thu, phân bổ và sử dụng hợp lý các khoản chi nhằm thúc đẩysản xuất phát triển Thực tế thời gian qua, công tác quản lý ngân sách nhà nước tạithị xã Phú Thọ có sự chuyển biến tích cực, thể hiện ở việc đã khai thác hợp lý cácnguồn lực tài chính tiềm năng và sẵn có tại địa phương và thực hiện phân phối cáckhoản chi hợp lý góp phần tạo động lực kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy công tácquản lý ngân sách nhà nước đạt được hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn những tồntại cơ bản cần phải được khắc phục, hoàn thiện và là nhiệm vụ rất cấp bách đangđược đặt ra Vì vậy vấn đề tăng cường quản lý ngân sách huyện trong giai đoạn
hiện nay là hết sức cần thiết, đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện: Nghiên cứu trường hợp thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
+ Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với thu - chi ngânsách địa phương để vận dụng vào nghiên cứu vấn đề này ở Thị xã Phú Thọ.Muốn hoàn thành việc này trước hết luận văn tiến hành tổng quan các côngtrình khoa học liên quan của các học giả trong và ngoài nước để xem trong kếtquả nghiên cứu của họ có những điểm nào có thể kế thừa cho luận vănvà mức
độ kế thừa đến đâu Tổng kết kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu-chi ngânsách của một số địa phương để rút ra bài học cho Thị xã Phú Thọ
+ Đánh giá hiện trạng quản lý nhà nước đối với thu - chi ngân sách của Thịxã Phú Thọ để xác định mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của nhữnghạn chế, yếu kém
+ Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thu - chingân sách của Thị xã Phú Thọ
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
- Phân tích thực trạng trong công tác quản lý Ngân sách nhà nước thị xã Phú
Trang 4Thọ, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2017-2019.
“- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách nhà nướcthị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ từ nay đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý Ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian nghiên cứu: thực trang của vấn đề se được nghiên cưu cho
giai đoan 2015-2019 và dự báo tới năm 2025
+ Về mặt không gian: Địa bàn thị xã Phú Thọ
+ Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu cả mặt lý luận và thực tiễn về
QLNN đối với thu - chi NSĐP Trong đó, đặc biệt nghiên cứu hiện trạng QLNNđối với thu-chi NSĐP; định hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với thu -chi NSĐP của chính quyền Thị xã Phú Thọ
Về thu NS của Thị xã , luận văn tập trung nghiên cứu QLNN đối với thuthuế;
Về chi NS của Thị xã , luận văn tập trung nghiên cứu QLNN đối với chiĐTXDCB và chi thường xuyên Đây là hai nội dung chi có ý nghĩa quantrọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Thị xã Phú Thọ, đồng thời chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi NSĐP
Luận văn nghiên cứu bộ máy quản lý thu - chi NSĐP là các cơ quanQLNN tại địa phương, không nghiên cứu công tác quản lý của các cơ quantrung ương.”
4 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề trong lý luận về quản
lý ngân sách Nhà nướccấp huyện
- Làm rõ thực trạng quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Phú Thọ,tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua để đưa ra các giải pháp nhằm phát huy các ưuđiểm đã đạt được và khắc phục các nhược điểm trong việc quản lý ngân sách Nhà
Trang 5nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
“- Từ kết quả của những nghiên cứu đưa ra các kiến nghị đối với các ngànhchức năng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách Nhà nước cấp huyện
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lý Ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnhPhú Thọ hiện nay như thế nào, có thực hiện đúng theo luật Ngân sách nhà nướchay không?
- Những khó khăn trong công tác quản lý Ngân sách nhà nước trên địa bànthị xã Phú Thọ thị xã Phú Thọ , tỉnh Phú Thọ hiện nay là gì?
- Các giải pháp cần đưa ra là gì để hoàn thiện công tác quản lý Ngân sáchnhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ?
- Kiến nghị với các cấp là gì để công tác quản lý Ngân sách nhà nước tại thịxã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ thực hiện đúng theo luật Ngân sách nhà nước mang lạihiệu quả cao.”
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin thứ cấp:
Thu thập thông tin thứ cấp được chọn lọc và tổng hợp từ các tài liệu Luậtngân sách Nhà nướcnăm 2002; các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật ngân sáchNhà nước2002; báo cáo khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý TC - ngân sáchcủa các địa phương trong nước; dự toán ngân sách năm 2014, 2015, 2016, 2017 -UBND thị xã Phú Thọ thị xã Phú Thọ ; Báo cáo quyết toán ngân sách thị xã PhúThọ các năm 2014, 2015, 2016, 2017; các số liệu trong niên gián thống kê thị xã PhúThọ của Chi cục Thống kê thị xã Phú Thọ các năm 2014, 2015, 2016, 2017; cácthông tin mang tính pháp lý đã được xác nhận và công bố trên các phương tiệnthông tin như sách, tạp chí, cổng thông tin điện tử, văn bản pháp quy; thông tin cáctrang web báo điện tử của Bộ TC, các tỉnh, thị xã trong toàn quốc
- Thu thập thông tin sơ cấp: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Trang 6những người có trách nhiệm các phòng, ban, ngành của thị xã Phú Thọ, các ý kiếntrao đổi của lãnh đạo UBND, Huyện ủy, HĐND, chi cục thuế, phòng TC - KHhuyện và lấy số liệu trực tiếp từ các báo cáo của huyện.
- Thể hiện thông tin: Phương pháp thể hiện thông tin chủ yếu thông qua cácbảng biểu, sơ đồ
5.2.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các chỉ số để phân tích, đánh giá mức
độ biến động và mối quan hệ giữa các hiện tượng
- Phương pháp thống kê so sánh: Nhằm so sánh, đánh giá và kết luận về tìnhhình quản lý ngân sách qua các năm của huyện
- Phương pháp đối chiếu: Để đánh giá thực trạng khó khăn, thuận lợi từ đó có
đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách thị xã Phú Thọ
- Phương pháp chuyên gia: Giúp thu thập, chọn lọc những thông tin, ý kiếntrao đổi của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ngân sách.”
Bảng 2.1: Danh sách các chuyên gia phỏng vấn
1 Lê Kim Khánh Bí thư thị ủy - Chủ tịch HĐND Thị xã
2 Nguyễn Tiến Lâm Chủ tịch UBND Thị
3 Hoàng Ánh Tuyết Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch
4 Nguyễn Đức Dũng Trưởng phòng kinh tế
5.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
5.3.1 Nhóm chỉ tiêu về thu ngân sách
“- Thu ngân sách trên địa bàn: Thu trong cân đối (thu nội địa: Thu từ xínghiệp quốc doanh trung ương, thu từ xí nghiệp quốc doanh địa phương, thu từ xínghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực công thương nghiệp và ngoài quốcdoanh, thu lệ phí trước bạ, thu phí, lệ phí, thu chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền sửdụng đất, thu tiền thuê đất, thu từ ngân sách khác; Thu xuất nhập khẩu)
- Thu theo sắc thuế: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuếtiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất, thuế thu nhập cá nhân,thu phí và lệ phí, thu tiền sử dụng đất, thu khác
Trang 7“ Thu theo ngành kinh tế quốc dân: Công nghiệp Xây dựng, Thương mại
-Du lịch, Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Ngư nghiệp
5.3.2 Nhóm chỉ tiêu về chi ngân sách
- Chi trong cân đối: Chi thường xuyên (chi sự nghiệp kinh tế, chi phát triểnnông nghiệp và nông thôn, chi sự nghiệp văn hoá thông tin, chi sự nghiệp giáo dục,chi sự nghiệp y tế, chi sự nghiệp bảo trợ xã hội, chi quản lý hành chính, chi an ninhquốc phòng, chi bổ sung ngân sách xã, chi dự phòng, chi khác,…); Chi đầu tư pháttriển
- Chi quản lý qua ngân sách
- Tạm ứng chi ngoài ngân sách.”
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồmcó 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách Nhà nước
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách Nhà nước thị xã phú Thọ, tỉnh Phú
Thọ
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
Nhà nước thị xã phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC 1.1 Ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.1 Ngân sách nhà nước, ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.1.1 Ngân sách Nhà nướcvà hệ thống ngân sách NN
NSNN là quỹ tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính
cơ bản, tổng hợp của Nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính
và có tính quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế; là công cụ để thực hiện tích luỹ và tập trung vốn, phân phối và sử dụng vốn của Nhà nước cho quá trình phát triển kinh tế và đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội.
“Biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm Chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ NSNS, đồng thời dự toán các khoản chi cho các hoạt động KT-XH, chính trị, an ninh - quốc phòng, từ quỹ Ngân sách nhà nước và bảng dự toán này phải được Quốc hội phê chuẩn Như vậy, đặc trưng của Ngân sách nhà nước là tính dự toán các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm.
Hoạt động Ngân sách nhà nước là hoạt động thu (tạo thu) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa
một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể KT-XH trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị Nói cách khác, Ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế trong nền KT-XH và trong phân phối tổng sản phẩm xã hội Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà Nước.
Trang 9Thứ nhất, Ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính vĩ mô trong các kế
hoạch tài chính của Nhà nước để quản lý các hoạt động KT-XH.
Thứ hai, xét về mặt thực tế, Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập
trung lớn nhất của Nhà nước.
Thứ ba, Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu
tài chính Các nguồn tài chính được tập trung vào Ngân sách nhà nước nhờ vào việc Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối và phân phối lại các nguồn tài chính quốc gia dưới hình thức thuế và các hình thức thu khác.”
Có nhiều định nghĩa khác nhau về Ngân sách nhà nước do cách tiếp cận
và nhìn nhận vai trò của Ngân sách nhà nước trên nhiều khía cạnh khác nhau Trong bài luận văn, học viên thống nhất sử dụng định nghĩa được đưa ra trong Luật Ngân sách nhà nước hiện hành như sau:
Theo Điều 1 Luật Ngân sách nhà nước của Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 2 số 01/2002/QH11 thông qua ngày
16/02/2002 về NGÂN SÁCH NHÀ NƯớC đã xác định: " Ngân sách nhà nước
là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà Nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà Nước Ngân sách nhà nước có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ Phần thu thể hiện các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH" Khái niệm này có thể coi là cơ bản nhất trong các khái niệm đã
nêu trong đề tài.
“Ngân sách nhà nước là quỹ tập trung của Nhà nước Quỹ này thể hiện trong lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là mặt tĩnh và mặt động Theo hình thức biểu hiện bên ngoài và ở trạng thái tĩnh, các nguồn tài chính được tập trung
Trang 10vào Ngân sách nhà nước mà chúng ta có thể xác định vào bất cứ thời điểm nào Xét về thực chất và ở trạng thái động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào Ngân sách nhà nước và từ Ngân sách nhà nước phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân.
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế tài chính, là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được tạo lập và sử dụng Bao gồm:
Quan hệ kinh tế với Ngân sách nhà nước với khu vực doanh nghiệp; Quan hệ kinh tế với Ngân sách nhà nước với các đơn vị hành chính sự nghiệp; Quan hệ kinh tế với Ngân sách nhà nước với các tầng lớp dân cư; Quan hệ kinh tế với Ngân sách nhà nước với thị trường tài chính.”
Ngân sách nhà nước không thể nào là một cấp Ngân sách đơn lẻ bởi theo như khoản 1, Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đã nêu ở trên Theo tinh thần Luật Ngân sách nhà nước, hệ thống Ngân sách ở nước ta bao gồm 4 cấp: Ngân sách Trung ương, Ngân sách cấp Tỉnh, Ngân sách cấp Huyện, Ngân sách cấp Xã
1.1.1.2 Ngân sách cấp huyện
+ Khái niệm: Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và
Ngân sách đại phương Ngân sách đại phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành bao gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh, thị xã trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh).
- Ngân sách cấp huyện, thị xã, thị xã thuộc tỉnh (gọi chung là ngân
Trang 11sách cấp huyện).
- Ngân sách cấp xã, phường, xã , thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
+ Nội dung thu chi theo Luật ngân sách:
“Theo Luật Ngân sách 2002, nội dung phân định nhiệm vụ thu, chi của Ngân sách huyện bao gồm những nội dung sau:
Nhiệm vụ thu ngân sách:
- Các khoản thu Ngân sách đại phương được hưởng 100%: Thuế nhà đất; Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động dầu khí; Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước không kể thuê mặt nước từ hoạt động dầu khí; Tiền đền bù thiệt hại đất; Tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu NN; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thu từ vốn góp của Ngân sách địa phương, tiền thu hồi vốn của Ngân sách đại phương tại cơ sở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ TC cấp tỉnh theo quy định; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định của pháp luật; Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách tỉnh và ngân sách huyện; Thu bổ sung
từ ngân sách tỉnh; Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định.
Nhiệm vụ chi ngân sách:
- Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi do địa phương quản lý; Đầu tư và
hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức TC của NN theo quy định của pháp luật; Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình
Trang 12quốc gia do địa phương thực hiện; Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;”
“- Chi thường xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do địa phương quản lý: Giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác; Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; Phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động y tế khác; Các trại xã hội, cứu tế xã hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động khác; Bảo tồn, bảo tàng, thư viện, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động văn hoá khác; Phát thanh truyền hình và các hoạt động thông tin khác; Bồi dưỡng, huấn luyện các đội tuyển cấp tỉnh, các giải thi đấu cấp tỉnh, quản lý các cơ sở thi đấu thể dục thể thao và các hoạt động thể dục thể thao khác; Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý:
+ Sự nghiệp giao thông: Duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường và các công trình giao thông khác, lập biểu báo cáo và các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông trên các tuyến đường.
+ Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp Duy
tu, bảo dưỡng các tuyến đê, các công trình thuỷ lợi, các trạm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyến ngư, khoanh nuôi, bảo vệ phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
+ Sự nghiệp thị chính: Duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng vỉa
hè, hệ thống cấp thoát nước, giao thông nội thị, công viên và các sự nghiệp thị chính khác.
+ Đo đạc, lập bản đồ và lưu giữ hồ sơ địa chính và các hoạt động địa
Trang 13chính khác; Điều tra cơ bản; Các hoạt động về sự nghiệp môi trường; Các sự nghiệp kinh tế khác.
+ Các nhiêm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do Ngân sách đại phương thực hiện theo quy định của Chính phủ.
+ Hoạt động của các cơ quan NN, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở địa phương.
+ Hoạt động của các cơ quan địa phương của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân.”
“+ Hỗ trợ cho các tổ chức Chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của Pháp luật.
+ Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý.
+ Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện.
+ Trợ giá theo chính sách của NN.
+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của Pháp luật.
+ Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
Chi chuyển nguồn Ngân sách đại phương năm trước sang Ngân sách địa phương năm sau.”
1.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.2.1 Nguyên tắc cơ bản về quản lý Ngân sách nhà nước
* Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn
“Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý Ngân sách nhà nước Nội dung của nguyên tắc này là mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch Ngân sách nhà nước, mọi khoản chi phải được vào
sổ và quyết toán rành mạch Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mới
Trang 14phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tài khoản thu, chi Nguyên tắc quản lý này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức NN lập và sử dụng quỹ đen Điều này có ý nghĩa rằng mọi khoản thu chi của Ngân sách nhà nước đều phải đưa vào kế hoạch Ngân sách để Quốc hội phê chuẩn, nếu không việc phê chuẩn Ngân sách của Quốc hội sẽ không có căn cứ đầy đủ, không có giá trị.
* Nguyên tắc thống nhất trong quản lý Ngân sách nhà nước
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý Ngân sách nhà nước bắt nguồn
từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của NN Biểu hiện cụ thể sức mạnh vật chất của NN là thông qua hoạt động thu, chi của Ngân sách nhà nước Nguyên tắc thống nhất trong quản lý Ngân sách nhà nước được thể hiện:
Mọi khoản thu, chi của Ngân sách nhà nước phải tuân thủ theo những quy định của Luật Ngân sách NN, được dự toán hàng năm, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Các khâu trong chu trình Ngân sách nhà nước khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra thanh tra của cơ quan quyền lực, ở trung ương là Quốc hội, ở địa phương là HĐND.
Hoạt động Ngân sách nhà nước đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động KT-XH của quốc gia Hoạt động KT-XH của quốc gia là nền tảng của hoạt động Ngân sách nhà nước Hoạt động Ngân sách nhà nước phục vụ cho hoạt động KT-XH đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội.
* Nguyên tắc cân đối Ngân sách NN
Ngân sách nhà nước được lập và thu chi Ngân sách phải được cân đối Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NGÂN SÁCH NHÀ NƯớC bằng cách đưa ra các quyết định liên quan
Trang 15tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự hợp
lý, khai thác mọi nguồn thu mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng Đảm bảo cân đối Ngân sách là một đòi hỏi có tính chất khách quan xuất phát từ vai trò
NN trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả
và công bằng.”
* Nguyên tắc công khai hoá, minh bạch Ngân sách nhà nước
Về mặt chính sách, thu chi Ngân sách nhà nước là một chương trình hoạt động của Chính phủ được cụ thể hoá bằng số liệu Ngân sách nhà nước phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm “Nguyên tắc công khai của Ngân sách nhà nước được thể hiện trong suốt chu trình Ngân sách nhà nước và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình Ngân sách nhà nước.
* Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác”
“Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách TC địa phương;
Nguyên tắc này đòi hỏi Ngân sách nhà nước được xây dựng rành mạch, có hệ thống; các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạch Ngân sách; không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản thu, chi Ngân sách nhà nước; không được phép lập quỹ đen, ngân sách phụ.
1.1.2.2 Nội dung quản lý ngân sách cấp huyện
Quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện là quá trình NN sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý các nguồn thu vào Ngân sách nhà nước và chi Ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo công bằng, khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý ngân sách là quản lý thu chi Ngân sách nhà nước cấp huyện
Trang 16thông qua các khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra, thanh tra Ngân sách nhà nước.”
Việc nghiên cứu toàn diện về Quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện còn nhiều vấn đề, trong giới hạn cho phép của luận văn, luận văn chỉ tập trung trình bày quản lý ngân sách trên các phương diện: Lập dự toán, thực hiện dự toán, quyết toán và kiểm tra, thanh tra Ngân sách nhà nước.
* Lập dự toán ngân sách huyện
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúng đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch.
“Yêu cầu trong quá trình lập ngân sách phải đảm bảo:
+ Kế hoạch ngân sách Nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội: Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi nó bám sát kế hoạch phát triển, xã hội Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch ngân sách NN Trong điều kiện kinh tế thị trường, NN thực hiện cơ chế quản lý vĩ mô, kế hoạch phát triển KT-XH chủ yếu mang tính định hướng.
+ Kế hoạch Ngân sách nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách TC địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật ngân sách NN Hoạt động ngân sách Nhà nướclà nội dung cơ bản của chính sách TC Do vậy, lập Ngân sách nhà nước phải thể hiện được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách TC địa phương như: Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí các nội dung chi tiêu Bên cạnh đó, Ngân sách nhà nước hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu của Luật Ngân sách nhà nước, nên ngay từ khâu lập ngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ các yêu cầu của Luật Ngân sách nhà nước
Trang 17như: Xác định phạm vi, mức độ của nội dung các khoản thu, chi phân định thu, chi giữa các cấp ngân sách, cân đối Ngân sách nhà nước.”
“- Căn cứ lập Ngân sách nhà nước:
+ Nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Văn hoá - Xã hội đảm bảo quốc phòng,
An ninh của Đảng và Chính quyền địa phương, các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo.
+ Lập Ngân sách nhà nước phải căn cứ vào phân cấp nguồn thu, nhiệm
vụ chi của Ngân sách cấp tỉnh.
+ Lập Ngân sách nhà nước phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách của các năm trước, đặc biệt là của năm báo cáo.
+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách năm sau Thông tư hướng dẫn của Bộ TC về công tác lập dự toán Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành khác.
+ Số kiểm tra về dự toán của những năm trước và dự toán của Sở TC thông báo.
+ Lập Ngân sách nhà nước phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức cụ thể về thu, chi TC NN Lập Ngân sách nhà nước là xây dựng các chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi TC NN thông qua hệ thống pháp luật (đặc biệt là hệ thống các Luật thuế) và các văn bản pháp lý khác của NN.”
* Chấp hành dự toán ngân sách huyện.
- Chấp hành thu ngân sách huyện: Theo Luật Ngân sách nhà nước, chấp hành thu ngân sách có nội dung như sau:
+ Chỉ có cơ quan TC, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan khác
Trang 18được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu Ngân sách nhà nước.
“+ Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan NN hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND và sự giám sát của HĐND về công tác thu ngân sách tại địa phương; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách và các quy định khác của Pháp luật.
+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào ngân sách NN.
- Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định tại Điểm a khoản 1 điều 44 của Nghị định số 60/2003/NĐ- CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của ngân sách nhà nước , theo các nhóm mục: Chi thanh toán cá nhân; Chi nghiệp vụ, chuyên môn; Chi mua sắm, sửa chữa; Các khoản chi khác.
+ Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách huyện (xét theo lĩnh vực chi): Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y
tế, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, văn hoá xã hội; Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của NN; Chi cho hoạt động hành chính NN; Chi cho Quốc phòng - An ninh và trật tự an toàn xã hội; Chi khác.
Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN.
Trang 19“+ Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Trên nguyên tắc quản lý cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu thiết kế, dự toán; việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư xây dựng
cơ bản chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán được duyệt;” Việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện bằng hai phương pháp cấp phát không hoàn trả và có hoàn trả; Cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thực hiện giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả vốn đầu tư.
* Quyết toán ngân sách:
Theo Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ, quyết toán ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
“- Số liệu quyết toán Ngân sách nhà nước
+ Số quyết toán thu Ngân sách nhà nước là số thu đã được thực nộp hoặc hạch toán thu Ngân sách nhà nước qua KBNN.
+ Số quyết toán chi ngân sách Nhà nướclà số chi đã thực thanh toán hoặc đã hạch toán chi theo quy định tại điều 62 của Luật Ngân sách nhà nước
và các khoản chi chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp theo quy định tại khoản 2 điều 66 của Nghị định này.
- Ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền của Ngân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình Cuối năm, cơ quan TC được uỷ quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí uỷ quyền theo quy định gửi cơ quan TC uỷ quyền và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp uỷ quyền.
- KBNN các cấp có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi cơ quan TC cùng cấp để cơ quan TC lập báo cáo quyết toán KBNN xác nhận số
Trang 20liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp, đơn vị
sử dụng ngân sách.
+ Quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Hết năm kế hoạch, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư năm theo biểu mẫu quy định trong chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư.
Nội dung báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành: Nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án đến ngày khoá sổ lập báo cáo quyết toán; Chi phí đầu tư đề nghị quyết toán, chi tiết theo cơ cấu xây lắp, thiết bị, chi phí khác, chi tiết theo từng hạng mục, khoản mục chi phí đầu tư; Xác định chi phí đầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư.”
“+ Quyết toán các khoản chi thường xuyên
- Yêu cầu: Phải lập đầy đủ các loại báo cáo TC và gửi kịp thời các loại báo cáo đó đến các cơ quan có thẩm quyền; Số liệu trong báo cáo quyết toán phải đảm bảo tính trung thực, chính xác; Báo cáo quyết toán năm của các đơn
vị dự toán các cấp và của ngân sách các cấp chính quyền trước khi trình cơ quan NN có thẩm quyền phê chuẩn và phải có sự xác nhận của KBNN đồng cấp; Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu; Cơ quan kiểm toán NN thực hiện kế hoạch kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán Ngân sách nhà nước các cấp, cơ quan đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật.
- Hồ sơ: Đối với đơn vị xây dựng dự toán (hay còn gọi là đơn vị sử dụng ngân sách) cuối mỗi kỳ báo cáo các đơn vị dự toán phải lập các loại báo cáo quyết toán như sau: Bản cân đối tài khoản; Tổng hợp tình hình kinh phí
và quyết toán kinh phí đã sử dụng; Chi tiết kinh phí hoạt động đề nghị quyết toán; Bảng đối chiếu hạn mức kinh phí -Phụ biểu F02-3H; Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định- Mẫu B03-H; Báo cáo kết quả hoạt động sự nghiệp có thu- Mẫu B04-H; Thuyết minh báo cáo TC- Mẫu B05-H.
Trang 21+ Xét duyệt, phê chuẩn quyết toán ngân sách huyện
- Trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm của các đơn
vị dự toán được quy đinh như sau:
+ Đơn vị dự toán cấp xã lập báo cáo quyết toán theo chế độ quy định và gửi đơn vị dự toán cấp trên.
+ Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc Các đơn vị dự toán cấp trên là đơn
vị dự toán cấp I, phải tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, gửi
cơ quan TC cùng cấp.
+ Cơ quan TC cấp huyện thẩm định quyết toán năm của các đơn vị dự toán cấp huyện, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý sai phạm trong quyết toán của đơn vị dự toán cấp huyện, ra thông báo thẩm định quyết toán gửi đơn vị dự toán cấp huyện Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan TC duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp I.
- Trình tự lập, gửi, thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm của ngân sách cấp huyện được quy định như sau:
+ Mẫu, biểu báo cáo quyết toán năm của Ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách huyện nói riêng thực hiện theo chế độ kế toán NN và các văn bản hướng dẫn của Bộ TC.”
“Ban TC xã lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình UBND xã xem xét gửi phòng TC cấp huyện; Đồng thời UBND xã trình HĐND xã phê chuẩn Sau khi được HĐND xã phê chuẩn, UBND xã báo cáo bổ xung, quyết toán ngân sách gửi phòng TC cấp huyện.
+ Phòng TC cấp huyện thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; Lập quyết toán thu chi ngân sách cấp huyện; Tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu
Trang 22ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách huyện (Bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã) trình UBND đồng cấp xem xét gửi sở TC; Đồng thời UBND cấp huyện trình HĐND cấp huyện phê chuẩn Sau khi được HĐND cấp huyện phê chuẩn, UBND báo cáo bổ sung, quyết toán ngân sách gửi sở TC.
- Nội dung duyệt quyết toán năm đối với đơn vị dự toán: Xét duyệt từng khoản thu, chi phát sinh tại đơn vị, các khoản thu phải đúng pháp luật, pháp lệnh thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các chế độ thu khác của NN; Các khoản chi phải đảm bảo các điều kiện chi quy định, thu chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng Ngân sách nhà nước, đúng niên độ ngân sách; Chứng từ thu, chi phải hợp pháp Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu của KBNN.”
* Công tác thanh tra, kiểm tra Ngân sách nhà nước cấp huyện:
Thanh tra TC huyện có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu chi và quản lý Ngân sách Thanh tra TC huyện có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân được thanh tra xuất trình các hồ sơ, các tài liệu kèm theo; yêu cầu các cơ quan có liên quan tham gia phối hợp thực hiện thanh tra; tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm, thanh tra TC xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật; khi tiếp nhận các kiến nghị của cơ quan thanh tra TC, cơ quan có thẩm quyền phải xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan thanh tra TC
“Thanh tra TC phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình Nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của thanh tra TC trong việc thanh tra quản lý, sử dụng Ngân sách được quy định trong văn bản riêng của Chính phủ.
Mục đích thanh tra, kiểm tra là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý
Trang 23các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện tham nhũng, lãng phí, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách pháp luật để kiến nghị với cơ quan NN có thẩm quyền góp phần nâng cao hiệu quả hợp lý, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức kinh tế và cá nhân.”
* Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện:
- Khả năng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách.
- Dự toán của ngân sách cấp trên.
- Mức độ trang trải các khoản chi phí của Ngân sách nhà nước cấp huyện.
- Các nhiệm vụ chi của năm ngân sách.
- Định mức các nội dung chi của Ngân sách nhà nước cấp huyện.
1.1.2.3 Cân đối thu chi Ngân sách nhà nước cấp huyện:
Cân đối Ngân sách nhà nước là một nguyên tắc quan trọng trong quản
lý Ngân sách nhà nước và hiện nay trên thế giới đang tồn tại hai luồng quan điểm cân đối thu chi Ngân sách nhà nước.
Quan điểm thứ nhất đó là quan điểm thu được bao nhiêu chi bấy nhiêu Quan điểm này gắn liền với hệ số an toàn cao, giảm thiểu được nguy cơ suy thoái cho nền kinh tế nhưng lại đi kèm với nhược điểm không thể tránh khỏi ở những nước có nền kinh tế kém phát triển hay tăng trưởng kinh tế chậm là liệu thu ít thì tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ ra sao?
Quan điểm thứ hai là quan điểm phát hành thêm tiền và đi vay để nâng cao nguồn thu cho ngân sách NN Quan điểm này sẽ đáp ứng được nhu cầu thiếu hụt về vốn của Ngân sách nhà nước, tạo điều kiện phát triển nguồn thu cho quốc gia Tuy vậy quan điểm này tương đối mạo hiểm vì đối với việc phát hành tiền để bù đắp chi ngân sách sẽ trở thành một loại thuế vô hình
Trang 24đánh vào nguồn thu nhập của cư dân đồng thời đi kèm theo nó là lạm phát Nếu đi vay để tăng thu kèm theo đó là phải có tránh nhiệm hoàn trả cả vốn và lãi khi đến kỳ hạn đồng thời nếu sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả thì gánh nặng với nước ngoài sẽ ngày càng gia tăng.
* Cân đối thu chi Ngân sách nhà nước cấp huyện:
“- Trong lập dự toán Ngân sách nhà nước:
- Phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quản lý NN, đảm bảo quốc phòng an ninh.
- Phải được xây dựng theo chế độ tiêu chuẩn, định mức và lập chi tiết theo ngân sách.
- Để chủ động cân đối ngân sách NN, dự toán chi ngân sách địa phương được bố trí khoản dự phòng từ 2% đến 5% tổng chi nhằm đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh đột xuất trong năm ngân sách.
Trường hợp có biến động lớn về ngân sách địa phương so với dự toán đã phân bổ cần phải điều chỉnh tổng thể, UBND lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trình HĐND theo quy trình được quy định tại Luật Ngân sách nhà nước năm 2002.
- Trong chấp hành dự toán Ngân sách nhà nước:
Trong quá trình chấp hành Ngân sách nhà nước, khi có sự thay đổi về thu, chi, chủ tịch UBND huyện thực hiện như sau:
- Nếu tăng thu hoặc tiết kiệm chi so với dự toán được duyệt thì số tăng thu hoặt tiết kiệm chi được dùng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ hoặc để bổ sung quỹ dự trữ TC, hoặc chi một số khoản cần thiết khác, nhưng không cho phép chi về quỹ tiền lương, trừ trường hợp đặc biệt được cấp có thẩm quyền cho phép.
- Nếu giảm thu so với dự toán thì phải sắp xếp lại để giảm một số khoản chi tương ứng; Nếu có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không
Trang 25thể trì hoãn được mà nguồn dự phòng không đủ đáp ứng thì phải sắp xếp lại các khoản chi; Khi thực hiện việc tăng, giảm thu chi, Chủ tịch UBND phải báo cáo HĐND cùng cấp vào kỳ họp gần nhất.
- Trong công tác cân đối Ngân sách nhà nước, phân cấp quản lý NGÂN SÁCH NHÀ NƯớC phải đảm bảo các nguyên tắc theo luật định.”
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Tài liệu trong nước:
Tô Thiện Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách Nhà nướctỉnh An Giang giai đoạn 2015-2019 và tầm nhìn đến năm 2020, Luận
văntiến sỹ kinh tế, Đại học Ngân hàng thị xã Hồ Chí Minh Công trình này đã nêu những khó khăn đặt ra trong phân cấp quản lý ngân sách Nhà nướcvà những giải pháp để hoàn thiện việc thực hiện quản lý ngân sách NN.
Phạm Văn Thịnh (2011), Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Phù Cát đến 2012, Luận văn thạc sỹ, Đại học Yên Lập Luận văn nêu được
công tác quản lý ngân sách cấp huyện, nêu ra được những thực trạng của địa phương huyện Phù Cát và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nướctại huyện Phù Cát.
Lê Văn Vĩnh (2014), Giải pháp tăng cường quản lý Ngân sách Nhà nướctại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ, Đại học Mỏ địa chất
Hà Nội Đây là một luận văn nói về quản lý ngân sách cấp huyện của huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ Là một huyện trong tỉnh Phú Thọ, Phù Ninh và lâm Thao có nhiều điểm tương đồng về vị trí địa lý, giáo dục, văn hóa xã hội Luận văn đã nêu ra được thực trạng quản lý ngân sách tại huyện Phù Ninh, đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích để đánh giá thực trạng quản lý ngân sách của huyện như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp Luận văn chưa thu thập được ý kiến của các chuyên gia, các lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện, lãnh đạo các phòng ban chuyên môn để giúp thu thập, chọn lọc
Trang 26những thông tin, ý kiến trao đổi của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ngân sách.
Nguyễn Ngọc Kiểm (2011), Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu
tư xây dựng cơ bản huyện Núi Thành, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Yên
Lập Việc chi cho đầu tư xây dựng để tránh thất thoát vốn, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm, luận văn đã nêu được những điều còn tồn tại trong việc quản lý vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại huyện Núi Thành nói riêng và cũng là tồn tại nói chung của nhiều địa phương khác như: Việc cấp phát thanh toán chậm và phải thường dồn vào cuối năm kế hoạch gây khó khăn cho cơ quan thanh toán trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, còn có những hạn chế trong khâu kiểm tra, kiểm soát, giám sát và hạn chế trong tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách Nhà nướccho xây dựng cơ bản.
Nguyễn Hữu Khánh (2014), Ngân sách xã trong phân cấp quản lý ngân sách NN: Nghiên cứu tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Tạp
chí khoa học và phát triển, 6:813-820 Bài báo đã nghiên cứu tình hình quản lý ngân sách của một xã năm trong đồng bằng sông Hồng, đã chỉ ra được trên địa bàn xã Hoàng Diệu chi cho đầu tư phát triển phụ thuộc phần lớn vào thu cấp quyền sử dụng đất Bài báo đưa ra được những kiến nghị: Tăng cường minh bạch thông tin về ngân sách xã tới người dân, thay đổi mức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Nhà xuất bản TC (2012), 300 câu giải đáp các tình huống về công tác quản lý ngân sách Nhà nướcvà hệ thống MLNGÂN SÁCH năm 2012 Sách đã
thống kê những tình huống thường xảy ra trong quản lý ngân sách Nhà nướcgiúp thuận lợi hơn khi xử lý các tình huống và vướng mắc thường gặp trong quá trình quản lý ngân sách NN Giải đáp các tình huống liên quan đến việc lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán thu, thi ngân sách NN Giải đáp
Trang 27tình huống liên quan đến quản lý vốn và sử dụng vốn thuộc ngân sách NN.
Nhà xuất bản TC (2015), 685 tình huống giải đáp về nghiệp vụ kế toán, kiểm toán, quản lý TC, sử dụng ngân sách trong các đơn vị hành chính sự nghiệp Nội dung của sách đã giải đáp tình huống về quản lý TC, lập dự toán,
quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí NN Giải đáp tình huống về thanh toán, quyết toán nguồn vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, dự án hoàn thành sử dụng vốn ngân sách NN.
* Tài liệu nước ngoài:
Gene Siciliano (2008), TC dành cho nhà quản lý, Nxb Lao động- Xã
hội Hà Nội Hương Giang (dịch) Tài liệu đã đưa ra được các lỗi hay gặp phải khi quản lý trong lĩnh vực TC đặc biệt là trong các nhiệm vụ chi, từ đó chỉ ra được các công cụ để các nhà quản lý ngân sách sử dụng để phát huy hiệu quả các nguồn lực TC.
1.3 Kinh nghiệm quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện tại Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm Quản lý thu Ngân sách nhà nước của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
Tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, UBND huyện thực hiện giao dự toán, các cơ quan tham mưu xây dựng và quản lý nguồn thu là nhiệm vụ quan trọng giúp cho địa phương đảm bảo nguồn chi Thành lập Hội đồng đấu giá đất ở, xây dựng lực lượng uỷ nhiệm thu thuế cho UBND xã, thực hiện công khai công trình thu tại trụ sở UBND, đài truyền thanh về số hộ kinh doanh, mức thuế để dân biết tham gia giám sát đảm bảo đóng góp công bằng động viên, nhắc nhở các hộ nộp thuế, coi đó là tiêu chuẩn thi đua ghi nhận khen thưởng danh hiệu đơn vị, thôn xã và gia đình văn hoá Nhờ đó, Cẩm Khê vượt thu hàng năm.
“Điều hành chi Ngân sách cấp uỷ, chính quyền các cấp đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn, kiểm tra,
Trang 28giám sát chi, bám sát dự toán, bảo đảm cân đối tích cực Chi đầu tư phát triển được được đảm bảo tiến độ thực hiện dự án, chi thường xuyên tiết kiệm, hiệu quả ở huyện và cơ cở, đáp ứng chi đột xuất của huyện, cơ sở, tạo điều kiện cho các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Kho bạc huyện tích cực kết hợp với các ngành thuộc khối TC quản lý chặt chẽ Ngân sách nhà nước, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý, điều hành Ngân sách trên địa bàn huyện Đưa CNTT vào việc hoạch toán kế toán quản lý thu, chi đáp ứng yêu cầu quản lý Ngân sách xã Chi cục Thuế huyện Cẩm Khê đã triển khai tổ chức thực hiện và thấy các xã được uỷ nhiệm thu thuế đều hoàn thành vượt mức kế hoạch thu.
Chi cục Thuế huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã tổng kết công tác uỷ nhiệm thu thuế cho xã, thị trấn và rút ra một số kinh nghiệm: là làm tốt công tác tuyên truyền có bài bản và trình tự, phổ biến chủ trương uỷ nhiệm thu thuế, hợp đồng tuyển chọn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đảm nhiệm, cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể quán triệt coi công tác thuế thực sự là trách nhiệm và quyền lợi thiết thực của xã, không còn tình trạng chính quyền đứng ngoài cuộc.
Tất cả các xã, thị trấn đều thực hiện niêm yết công khai tại trụ sở UBND, phát trên đài truyền thanh xã về số hộ kinh doanh, mức thuế để dân biết tham gia giám sát bảo đảm đóng góp công bằng, động viên kịp thời những hộ nộp thuế sòng phẳng, nhắc nhở các hộ chấp hành chưa tốt Coi đó là tiêu chuẩn thi đua ghi nhận khen thưởng danh hiệu đơn vị, thôn làng, đoàn thể
và gia đình văn hoá Nhờ có dân chủ, công khai mà dân đã phát hiện không ít các hộ kinh doanh buôn bán, vận tải, chủ thầu xây dựng, các hộ chuyển quyền
sử dụng nhà đất dây dưa trốn thuế để xã có biện pháp truy thu được số thuế đáng kể.
Cơ quan Thuế và chính quyền các xã phối hợp với các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ việc nộp thuế của các đối tượng sản xuất kinh doanh.
Trang 29Cụ thể là: Phối hợp với cơ quan công an giao thông đăng ký phương tiện, thu thuế trước bạ để nắm chắc được các hộ kinh doanh vận tải đưa vào diện nộp thuế tăng thu đáng kể Phối hợp với cơ quan địa chính nắm chắc các hộ chuyển quyền sử dụng đất để thu thuế sát đúng và kịp thời Phối hợp với cơ quan TC cân đối các khoản thu thuế, phí Thực hiện quy chế thu thuế bằng giấy nộp tiền vào KBNN để ngăn chặn kẽ hở cán bộ thuế quan hệ trực tiếp thu tiền mặt của các hộ nộp thuế Cán bộ uỷ nhiệm thu của xã thay trưởng thôn đảm nhiệm thu thuế nhà đất bảo đảm quản lý chặt chẽ, thu đúng, thu đủ nộp kịp thời vào Ngân sách Nhờ có uỷ nhiệm thu cho xã nên đã khắc phục tình trạng một cán bộ thuế đảm nhiệm thu 2 - 3 xã vừa không sâu sát dẫn đến bỏ nguồn thu, từ đó giảm được biên chế hoặc chuyển cán bộ chuyên quản đảm nhiệm công tác khác như hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra Có thể khẳng định uỷ nhiệm thu thuế cho xã là chủ trương đúng đắn có hiệu quả nhiều mặt.”
1.3.2 Kinh nghiệm Quản lý thu Ngân sách tại thị xã Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Với Luật Ngân sách nhà nước được sửa đổi về đẩy mạnh phân cấp, tăng nguồn lực cho địa phương và đơn vị cơ sở khai thác nội lực nâng cao hiệu quả tiết kiệm, giảm bớt thủ tục hành chính, thị xã Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ tổ chức thực hiện khá tốt đáp ứng được các hoạt động phát triển KT-XH.
“Chi cục Thuế thị xã đã có nhiều biện pháp để thực hiện nhiệm vụ như: Chỉ đạo các đội thuế chuyên môn và đội thuế xã, phường, xã rà soát, đánh giá, phân tích kết quả thực hiện dự toán năm; Phân bổ chỉ tiêu dự toán thu đến từng đội thuế, sau đó các đội thuế đã phân bổ chỉ tiêu thực hiện đến từng công chức thuế trực tiếp thu gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ thu Ngân sách với tiêu chí đánh giá phân loại tập thể, cá nhân và các phong trào thi đua; Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ, giải đáp thắc mắc đối với người nộp thuế; Triển khai một số biện pháp đấu tranh chống thất thu thuế…
Trang 30Chi cục Thuế thị xã đã tiến hành rà soát các hộ kinh doanh, các nguồn thu để đưa vào quản lý kịp thời Đối với các hộ bán hàng có hoá đơn đội tăng cường giám sát việc xuất hoá đơn và kê khai thuế Các đối tượng
nợ đọng thuế kéo dài đội tăng cường cán bộ thuế xuống tận hộ giải quyết triệt để Chỉ đạo các đội thuế hoàn thành tốt nhiệm vụ thu Ngân sách, đặc biệt là khoản thu lớn như thuế ngoài quốc doanh.
Chi cục thuế tiến hành phân tích, đánh giá các chỉ tiêu thu Ngân sách nhà nước đã thực hiện những tháng đầu năm để tập trung các biện pháp tăng thu đối với các khoản thu đạt thấp; Tiếp tục thực hiện kiểm tra các hộ kinh doanh có sử dụng hoá đơn; Rà soát tất cả các hộ có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn để đưa vào quản lý kịp thời; Tích cực kiểm tra xây dựng cơ bản trong dân; Đẩy mạnh kiểm tra đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực kê khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế; Tăng cường tuyên truyền chính sách thuế, hỗ trợ, giải đáp chính sách thuế cho người nộp thuế và tập trung đôn đốc số thuế nợ đọng theo đúng quy trình…”
1.3.3 Kinh nghiệm Quản lý thu Ngân sách Nhà nướchuyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Thực hiện chủ trương của Tổng cục Thuế và sự chỉ đạo của Cục Thuế Bắc Giang về công tác uỷ nhiệm thu thuế cho UBND xã, thị trấn Chi cục Thuế huyện Việt Yên đã triển khai tổ chức thực hiện và thấy các xã được uỷ nhiệm thu thuế đều hoàn thành vượt mức kế hoạch thu.
“Chi cục Thuế huyện Việt Yên đã tổng kết công tác uỷ nhiệm thu thuế cho xã, thị trấn và rút ra một số kinh nghiệm; việc quan trọng là làm tốt công tác tuyên truyền có bài bản và trình tự, phổ biến chủ trương uỷ nhiệm thu thuế, hợp đồng tuyển chọn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đảm nhiệm Cùng với phân cấp, điều tiết nguồn thu cho ngân sách xã làm cho cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể quán triệt coi công tác thuế thực sự là trách nhiệm và
Trang 31quyền lợi thiết thực của xã, không còn tình trạng chính quyền đứng ngoài cuộc Nay mọi nguồn thu đã được cân đối vào ngân sách xã, miễn giảm sai,
bỏ sót nguồn thu là tự cắt vào ngân quỹ của xã mình, từ đó chính quyền xã có trách nhiệm cao hơn, tăng cường quản lý thu đúng, thu đủ.
Tất cả các xã đều thực hiện niêm yết công khai tại trụ sở UBND, phát trên đài truyền thanh xã về số hộ kinh doanh, mức thuế để dân biết tham gia giám sát bảo đảm đóng góp công bằng, động viên kịp thời những hộ nộp thuế sòng phẳng, nhắc nhở các hộ chấp hành chưa tốt Coi đó là tiêu chuẩn thi đua ghi nhận khen thưởng danh hiệu đơn vị, thôn làng, đoàn thể và gia đình văn hoá Nhờ có dân chủ, công khai mà dân đã phát hiện không ít các hộ kinh doanh buôn bán, vận tải, chủ thầu xây dựng, các hộ chuyển quyền sử dụng nhà đất dây dưa trốn thuế để xã có biện pháp truy thu được số thuế đáng kể Thể hiện sức mạnh của dân khi được phát động vào cuộc đấu tranh đảm bảo thực hiện công bằng xã hội.
Cơ quan Thuế và chính quyền các xã phối hợp với các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ việc nộp thuế của các đối tượng sản xuất kinh doanh.
Cụ thể là: Phối hợp với cơ quan công an và giao thông đăng ký phương tiện, thu thuế trước bạ để nắm chắc được các hộ kinh doanh vận tải đưa vào diện nộp thuế tăng thu đáng kể Phối hợp với cơ quan Địa chính nắm chắc các hộ chuyển quyền sử dụng đất để thu thuế sát đúng và kịp thời Phối hợp với cơ quan TC cân đối các khoản thu thuế, phí Thực hiện quy chế thu thuế bằng giấy nộp tiền vào KBNN để ngăn chặn kẽ hở cán bộ thuế quan hệ trực tiếp thu tiền mặt của các hộ nộp thuế Cán bộ uỷ nhiệm thu của xã thay trưởng thôn đảm nhiệm thu thuế nhà đất bảo đảm quản lý chặt chẽ, thu đúng, thu đủ nộp kịp thời vào ngân sách Nhờ có uỷ nhiệm thu cho xã nên đã khắc phục tình trạng một cán bộ thuế đảm nhiệm thu 2 - 3 xã vừa không sâu sát dẫn đến bỏ nguồn thu, từ đó giảm được biên chế hoặc chuyển cán bộ chuyên quản đảm
Trang 32nhiệm công tác khác như hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra Có thể khẳng định
uỷ nhiệm thu thuế cho xã là chủ trương đúng đắn có hiệu quả nhiều mặt.”
1.3.4 Bài học kinh nghiệm
- Kinh nghiệm từ các địa phương cho thấy để quản lý thu Ngân sách nhà nước cấp huyện đạt hiệu quả cao cần có các hình thức động viên, khen thưởng các tổ chức, các nhân trong việc nộp thuế, coi đó là tiêu chuẩn thi đua ghi nhận khen thưởng Để hoạt động thu Ngân sách nhà nước đạt hiệu quả cần làm tốt công tác tuyên truyền có bài bản và trình tự, phổ biến chủ trương uỷ nhiệm thu thuế, hợp đồng tuyển chọn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đảm nhiệm thu thuế.
- Để quản lý chi Ngân sách nhà nước một cách hiệu quả, không lãng phí cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy, chính quyền trong huyện Các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện cần tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chi, bám sát dự toán, bảo
đảm cân đối tích cực.
- Trong quá trình quản lý thu, chi Ngân sách nhà nước cần kiểm soát
chặt chẽ các khoản thu, chi ngân sách, kìm hãm chi tiêu quá mức cần ưu tiên các khoản chi kích hoạt đầu tư của khu vực tư và các khoản chi đảm bảo an sinh xã hội.
- Kiểm tra quyết toán thu chi cần chú trọng đến hiệu quả công tác quản
lý thu, chi Ngân sách nhà nước Quá trình lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách.
- Công tác kiểm tra, thanh Ngân sách nhà nước luôn coi trọng hàng đầu định hướng phát triển KT-XH.
Trang 33Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA
BÀN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Khái quát chung về thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Phú Thọ có vị trí trung tâm của tỉnh Phú Thọ, nằm ở vùng tiếp giápgiữa miền núi và đồng bằng Bắc Bộ Theo số liệu thống kê năm 2019: Thị xã PhúThọ có tổngdiện tích tự nhiên: 6.460,07 ha Với vị trí địa lý tiếp giáp như sau:Nằmtrên trục hành lang kinh tế Thị xã Phú Thọ - Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh PhíaBắc giáp huyện Thanh Ba, Phù Ninh; Đông giáp huyện Phù Ninh, Lâm Thao; Tâygiáp huyện Thanh Ba;nam giáp sông Hồng và huyện Tam Nông Thị xã cách thị xãViệt Trì 30 Km,cách sân bay quốc tế nội bài 80km, cách Hà Nội khoảng 40 Km,cách cảng Thị xã Phú Thọ 190 km và cách cửa khẩu Lào Cai và Hà Giang 200 km
“Thị xã phú Thọ có 10 đơn vị hành chính gồm 05 phường và 05 xã Kết cấu
hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị được chú trọng đầu tư, diện mạo đô thị có nhiều đổimới, thực sự là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, ytế phía Tây - Tây Bắc; là một trong những vùng động lực phát triển kinh tế củatỉnh, là đô thị trung gian kết nối khu vực miền núi phía Bắc với đồng bằng Bắc Bộ
và thủ đô Hà Nội Thị xã Phú Thọ thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, là nơitiếp giáp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng đồi núi, trung du, cách thành phố ViệtTrì 25 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 80 km, cách cảng Hải Phòng 190 km, cáchthủ đô Hà Nội 100 km, về phía Tây Bắc và cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai 200 km,cách thị xã Tuyên Quang 55 km, thị xã Yên Bái 50 km ở toạ độ 21024’ vĩ độ bắc và105014’ kinh độ đông Với vị trí trung tâm hình học của tỉnh Phú Thọ, thị xã cónhững lợi thế giao lưu với các vùng lân cận Xung quanh thị xã Phú Thọ đã hìnhthành các nhà máy, các khu công nghiệp, các cơ quan nghiên cứu tài nguyên,các cơ quan nghiên cứu khoa học, các xí nghiệp quốc phòng, các trường đạihọc, trung học chuyên nghiệp các trường công nhân kỹ thuật quân đội, các
Trang 34kho tàng quốc gia tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho thị xã phát triển.Thị xã Phú Thọ có hệ thống giao thông khá thuận lợi cả về đường sắt, đường thuỷ,đường bộ và kể cả đường hàng không khi cần.Trên địa bàn thị xã Phú Thọ có quốc
lộ 2, đường sắt Hà Nội - Lào Cai,đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai và đường HồChí Minh đi qua, ngoài ra thị xã còn có nhà ga đường sắt, bến xe ô tô, cho phép thịxã giao lưu thuận lợi với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Tây Bắc, các tỉnh đồngbằng Bắc Bộ Ngoài đường sắt, đường bộ thì tuyến du lịch đường thuỷ cũng có thể
mở ra nhiều triển vọng, bởi thị xã Phú Thọ nằm trên tuyến du lịch quốc gia và quốctế
2.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Khí hậu thị xã Phú Thọ thuộc vùng khí hậu Trung Du Bắc Bộ, có nhiều đặcđiểm với vùng đồng bằng Bắc Bộ, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từtháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình 230C Lượng mưa ngày lớn nhất701,3mm, trung bình năm 1.960mm, độ ẩm trung bình năm là 84% Số giờ nắngtrung bình năm 1.572 giờ Đây là yếu tố thích hợp cho việc bố trí cây trồng ngắnngày tương đối đa dạng.”
2.1.1.3 Tài nguyên, đất đai
%)
Tài nguyên nước:
Thị xã phú Thọ có nguồn tài nguyên nước phong phú Trước hết, có sông
Trang 35Hồng chảy qua 6km, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất, phục vụ cho giao thôngđường thủy đi Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái Có hệ thống ngòi với tổng độ dài 50km.Với lượng mưa trung bình năm là 1.850mm; độ ẩm trung bình năm là 84%
Tài nguyên khoáng sản:
Thị xã Phú Thọ có mỏ cao lãnh, trữ lượng ước khoảng 1,2 triệu tấn lộ thiên,
dễ khai thác và đủ diều kiện làm giàu quặng bán cơ giới, cát xây dựng khai thác từsông Hồng đáp ứng yêu cầu của thị xã và vùng lân cận
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Về dân số và nguồn lao động
“Theo số liệu thống kê năm 2019, tính trên toàn đô thị, số lao động trong độtuổi lao động là 43.161 người, trong đó lao động làm việc trong ngành công nghiệp,xây dựng là 12.965 người, lao động trong ngành thương mại - dịch vụ là 14.426người, lao động trong ngành nông ngư nghiệp là 12.833 người Tỷ lệ lao động phinông nghiệp là 68,1% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm gần 39% Trong đó khuvực nội thị là: số lao động làm việc trong ngành công nghiệp, xây dựng là 8.485người, lao động trong ngành thương mại – dịch vụ là 10.818 người, lao động trongngành nông ngư nghiệp là 3.848 người Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp là 83,4%
Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm gần 42%.”
2.1.2.2 Truyền thống phát triển kinh tế, văn hóa
Thị xã Phú Thọ thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc Với vị trí trungtâm hình học của tỉnh Phú Thọ, thị xã có những lợi thế giao lưu với các vùng lâncận Xung quanh thị xã Phú Thọ đã hình thành các nhà máy, các khu công nghiệp,các cơ quan nghiên cứu tài nguyên, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các xí nghiệpquốc phòng, các trường đại học, trung học chuyên nghiệp các trường công nhân kỹthuật quân đội, các kho tàng quốc gia tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho thị xãphát triển Với vị trí trung tâm hình học của tỉnh Phú Thọ, thị xã có những lợi thếgiao lưu với các vùng lân cận Xung quanh thị xã Phú Thọ đã hình thành các nhàmáy, các khu công nghiệp, các cơ quan nghiên cứu tài nguyên, các cơ quan nghiêncứu khoa học, các xí nghiệp quốc phòng, các trường đại học, trung học chuyên
Trang 36nghiệp các trường công nhân kỹ thuật quân đội, các kho tàng quốc gia tập trung tạođiều kiện thuận lợi cho thị xã phát triển Sản xuất nông nghiệp được quan tâm đầu
tư phát triển, đạt mức tăng trưởng khá Hệ thống mạng lưới khuyến nông, dịch vụsản xuất nông nghiệp được củng cố đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất Ngoàilàng nghề hoa đào Hồng Vân xã Thanh Minh, năm 2014 thị xã có thêm 3 làng nghềđược tỉnh công nhận: Làng nghề sản xuất rau an toàn phường Trường Thịnh, làngnghề hoa đào Long Ân xã Hà Lộc, làng nghề sản xuất bún, bánh và dịch vụ HàThạch, nâng tổng số làng nghề của thị xã lên 4 làng nghề Thị xã đã quan tâm chỉđạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở 5/5 xã, hoàn thành quy hoạchxây dựng nông thôn mới và từng bước triển khai thực hiện đạt kết quả tích cực;nhiều phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới đã huy động sức mạnhcủa cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân cùng tích cực tham gia Đến năm
2015, có 01 xã được công nhận, 02 xã cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới, 02 xã cònlại đạt 15 tiêu chí Sản xuất nông nghiệp được quan tâm đầu tư phát triển, đạt mứctăng trưởng khá Hệ thống mạng lưới khuyến nông, dịch vụ sản xuất nông nghiệpđược củng cố đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất Ngoài làng nghề hoađào Hồng Vân xã Thanh Minh, năm 2014 thị xã có thêm 3 làng nghề đượctỉnh công nhận: Làng nghề sản xuất rau an toàn phường Trường Thịnh, làngnghề hoa đào Long Ân xã Hà Lộc, làng nghề sản xuất bún, bánh và dịch vụ
Hà Thạch, nâng tổng số làng nghề của thị xã lên 4 làng nghề Thị xã đã quantâm chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở 5/5 xã, hoànthành quy hoạch xây dựng nông thôn mới và từng bước triển khai thực hiệnđạt kết quả tích cực; nhiều phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thônmới đã huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dâncùng tích cực tham gia Đến năm 2015, có 01 xã được công nhận, 02 xã cơ bản đạttiêu chí nông thôn mới, 02 xã còn lại đạt 15 tiêu chí Hiện nay, thị xã Phú Thọ đangtiếp tục đổi mới toàn lực, thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để xây dựng và pháttriển thị xã quê hương, là mục tiêu chung mà đảng bộ cá nhân dân thị xã luôn hướngtới
Trang 37Với truyền thống trên 100 năm xây dựng và phát triển, với vai trò, vị thế của thị xãtrong tỉnh Phú Thọ Việc thành lập thị xã Phú Thọ là cần thiết, khách quan, phù hợpvới định hướng phát triển chung của vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ; quy hoạchtổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2025 tầm nhìn đến 2050; quy hoạchtổng thể phát triển hệ thống đô thị và điểm dân cư nông thôn tỉnh Phú Thọ đến năm2025; nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của thị xã Phú Thọ nói riêng vàtỉnh Phú Thọ nói chung,thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng - anninh; phù hợp nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân thị xã Phú Thọ trong tiếntrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.1.2 Cơ cấu kinh tế và đặc điểm của nền kinh tế thị xã Phú Thọ
Cơ cấu kinh tế cơ bản được duy trì đúng hướng theo hướng cơ cấu kinh tếhiện đại và phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương ; tỷ trọng GDP của các nhómngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ tăng từ 82,0 năm 2015 lên 89,6 năm
2019 Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ-côngnghiệp là xây dựng, giảm tỷ trọng nông, lâm, thủy sản Nhóm ngành công nghiệp
và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP, tốc độ tăng trưởng bìnhquân 5 năm 2015-2019 của nhóm ngành này cao hơn tốc độ tăng GDP chung củathị xã Công nghiệp Thị xã đứng thứ 2 về giá trị sản xuất so với cả nước, đứngthứ 2 t r o n g t ỉ n h , c h ỉ đ ứ n g sau thành phố Việt Trì Cơ cấu trong nội bộngành công nghiệp và xây dựng có sự thay đổi tốt theo hướng tập trung phát triểncác ngành công nghiệp phát huy lợi thế so sánh, tiểm năng của địa phương và đặcbiệt sự phát triển công nghiệp bước đầu hướng đến phát triển các sản phẩm hướngđến xuất khẩu Tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng giátrị sản xuất ngành công nghiệp của thị xã luôn chiếm trên 70%; tỷ trọng các ngànhsản xuất các sản phẩm điện tử, máy vi tính, vật liệu xây dựng và chế biến nông sảnliên tục gia tăng qua các năm
Trang 38Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 5 năm 2019 - 2020
MụctiêuK H2015-
4 Tổng thu NSNN trên địa bàn Tỷđồng 406.004 252.096 345.12 396.079 432.518 500.231 500.231
Trong đó:
B Chỉ tiêu xã hội
2 Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo(theo chuẩn
3 Số lao động được giải quyết việclàm Người 95 47.25% 48.02% 48.49% 48.89% 53.22% 53.22%
Nguồn: Phòng tài chính kế hoạch thị xã Phú Thọ
Trang 39Nhóm ngành nông, lâm, thủy sản luôn là bệ đỡ cho nền kinh tế thị xã nhất là trong giai đoạn khó khăn hiện này, do ảnhhưởng tiêu cực từ đại dịch COVID-19 Ngành này có những đóng góp đáng kể trong việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế vàphát triển một cách ổn định về xã hội của địa phương Cơ cấu tổng giá trị sản xuất của nhóm ngành có sự dịch chuyển tíchcực, tỷ trọng của nhòm ngành nông lâm nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của địa phương giảm từ khoảng 18% năm 2015xuống còn khoảng 10% vào năm 2019 Trong nội bộ nhóm ngành này, tỷ trọng của ngành trồng trọt giảm, ngành chăn nuôi
và dịch vụ tăng là những dẫu hiệu cho thấy ngành nông nghiệp của thị xã đang dịch chuyển theo hướng hiện đại hơn
2.2 Kết quả thu-chi ngân sách của thị xã Phú Thọ
2.2.1 Kết quả thu ngân sách của thị xã Phú Thọ
Chúng ta xem xét bảng 2.3 có thể thấy số thu NSĐP tăng liêu tục theo theo thời gian Thị xã Phú Thọ có nguồn thukhác chiếm một tỉ trọng rất lớn qua hầu hết các năm trong giai đoạn nghiên cứu, năm 2015 số thu từ thu khác đạt 218 tỷ đồng,năm 2019 đạt 455 tỷ đồng, bình quân 5 năm giai đoạn 2015-2019 đạt tỷ đồng Trong giai đoàn thời gian 05 năm từ năm 2015đến năm 2019, thu khác chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng nguồn thu của NSNN tại địa, chiếm trung bình chiếm 90% tổngthu NSNN Trong khi đó, nguồn thu có tính bền vững cho ngân sách nhà nước là nguồn thu từ thuế chỉ chiếm khoảng 10%
Bảng 2.3: Kết quả thu NSNN trên địa bàn thị xã Phú Thọ giai đoạn 2015 – 2019
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu KH 2015- Mục tiêu
2020 TH 2015 TH 2016 TH 2017 TH 2018 TH 2019 TH 2015-2019
Trang 40Thu khác 181.748 218.232 306.477 353.753 383.219 454.893 340.060
Tổng thu 406.004 252.096 345.120 396.079 432.518 500.231 500.231
Nguồn: Phòng tài chính kế hoạch thị xã Phú Thọ
Bảng 2.4: Cơ cấu thu NSNN trên địa bàn của Thị xã phú thọ giai đoạn 2015-2019
Nguồn: Phòng tài chính kế hoạch thị xã Phú Thọ
Thu chuyển nguồn từ năm trước