GI Ớ I THI Ệ U
Bối cảnh chọn đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hay còn gọi là SMEs (Small and Medium Enterprises), chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia.
Theo tổng cục thống kê Việt Nam, tại thời điểm 31/12/2015 cả nước có 442.485 doanh nghiệp đang hoạt động Trong đó, SMES là 433.453 DN, chiếm
Gần 98% doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), trong khi đó, chỉ có 2% là DN quy mô lớn với 9.032 DN SMEs đóng góp đáng kể vào thị trường lao động, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn và địa phương, chiếm gần 60% tổng số lao động Hơn nữa, nhóm doanh nghiệp này cũng đóng góp khoảng 45% vào GDP và có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao.
Bảng 1.1 Số lượng DN phân loại theo quy mô lao động giai đoạn 2000 – 2015 Phân loại DN Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015
Theo báo cáo của NXB Thống kê năm 2017, trong giai đoạn 2000-2015, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã tăng trưởng nhanh chóng, vượt trội hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Hình 1.1 Tốc độ tăng trưởng DNNVV
Nguồn: Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ (2000 2014) NXB thống kê 2017
Hình 1.2 Tỷ trọng DNVVN so với DN lớn giai đoạn 2000 – 2015
Nguồn: DN Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ (2000-2014) NXB thống kê 2017
Không chỉ ở Việt Nam, mà trên toàn thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp, thường dao động từ 90% đến 98% Cụ thể, tại các quốc gia thuộc khối EU, tỷ lệ này khoảng 90%, trong khi ở Mỹ là 98%, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đạt 96%, và Nhật Bản cũng ghi nhận tỷ lệ 98% Số lượng lao động mà các SMEs tạo ra đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
SMEs đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nơi mà SMEs sử dụng hơn 60% lao động, và tại Nhật Bản con số này lên tới khoảng 75% Theo nghiên cứu của Ayyagari, Beck và Demirgüç-Kunt (2007), SMEs trung bình tạo ra khoảng 60% việc làm trong lĩnh vực sản xuất tại các quốc gia đang phát triển và phát triển Hơn nữa, mức đóng góp của SMEs vào sự tăng trưởng kinh tế là đáng kể, với việc các doanh nghiệp này tạo ra khoảng 65% tổng doanh số tại EU và hơn 50% tổng GDP tại Mỹ.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) mặc dù quy mô khiêm tốn nhưng đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhóm doanh nghiệp này nổi bật với sự năng động, linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh chóng với những biến đổi của thị trường, từ đó đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế và tạo ra nhiều cơ hội việc làm.
DN LỚNDNVVN. việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội
Khối DNNVV đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm vấn đề tài chính, trình độ khoa học công nghệ hạn chế, hiệu quả sản xuất thấp, quản lý kém và năng lực tiếp cận chính sách pháp luật hạn chế Trong đó, khó khăn về tài chính được xem là vấn đề quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xuất nhập khẩu và tăng trưởng của doanh nghiệp, như Beck và Demirgỹỗ-Kunt (2006) đã chỉ ra Việc cải thiện khả năng tiếp cận tài chính là điều cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững cho DNNVV.
Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các ngành phối hợp triển khai các chương trình ưu đãi hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực này Tuy nhiên, chỉ một số ít doanh nghiệp được hưởng lợi từ các chính sách này, trong khi phần lớn vẫn gặp khó khăn về vốn Nguyên nhân chính là do nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp chưa đủ cho hoạt động, và việc tiếp cận vốn từ ngân hàng thương mại vẫn còn nhiều rào cản Theo báo cáo Thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 của VCCI, SMEs chiếm 97% tổng số doanh nghiệp nhưng chỉ chiếm chưa tới 40% tổng nguồn vốn kinh doanh Đặc biệt, trong số 97% SMEs, chỉ có 30% tiếp cận được vốn từ ngân hàng, trong khi 70% còn lại phải dựa vào vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác.
Việc tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do thủ tục vay phức tạp (55%), tài sản thế chấp có giá trị thấp (50%) và lãi suất chưa phù hợp (80%) Theo khảo sát của VCCI năm 2015, 39,7% doanh nghiệp cho rằng lãi suất cao là rào cản lớn, 19,8% gặp khó khăn do thiếu tài sản thế chấp và thủ tục phức tạp, 6,3% bị từ chối do nợ xấu, và 6,3% cho rằng kế hoạch kinh doanh không khả thi.
Năm 2016, nhiều ngân hàng đã triển khai các gói tín dụng ưu đãi để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nhưng hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận Theo thống kê từ cuộc điều tra của VCCI, gần 60% doanh nghiệp siêu nhỏ không thể vay vốn từ ngân hàng, trong khi khoảng 35-40% doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không có khoản vay nào.
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, đây là vấn đề chung không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác Tại Bến Tre, tình trạng này cũng không ngoại lệ, theo báo cáo của Sở.
Tính đến ngày 31/8/2016, Bến Tre có 3.027 doanh nghiệp hoạt động, trong đó doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 3,5%, còn lại là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và siêu nhỏ chiếm 96,5% Tiềm lực tài chính của các DNNVV và doanh nghiệp siêu nhỏ còn hạn chế, với vốn đầu tư ban đầu và vốn lưu động thấp, dẫn đến khó khăn trong việc đổi mới trang thiết bị, công nghệ và mở rộng sản xuất Ngoài vốn tự có, các doanh nghiệp còn phụ thuộc vào vốn vay, tuy nhiên khả năng tiếp cận vốn vay còn hạn chế, với gần 30% doanh nghiệp không thể tiếp cận vốn ngân hàng.
Theo khảo sát, 62% doanh nghiệp cho rằng việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ ngân hàng gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân chủ yếu là do lãi suất cao (80% đồng ý), thiếu tài sản thế chấp hoặc giá trị tài sản thế chấp thấp (40%), các thủ tục vay phức tạp (55%), khó khăn trong việc chứng minh mục đích sử dụng vốn (40,1%), và thiếu phương án kinh doanh rõ ràng (26,2%).
Dựa trên tình hình thực tế, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Thực trạng tiếp cận vốn của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Bến Tre” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu
Cơ chế chính sách của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp Để cải thiện tình hình này, cần có những đề xuất và kiến nghị cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong việc huy động nguồn vốn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: các SMEs trên địa bàn Bến Tre
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn và khám phá các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của SMEs trên địa bàn Bến Tre giai đoạn năm 2014 – 2016
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa dựa trên các nghiên cứu của TS Trương Quang Thông cùng với các luận văn thạc sỹ của các khóa trước, bao gồm luận văn của thạc sỹ Nguyễn Hữu Mạnh.
Nguồn thông tin và dữ liệu trong bài viết được thu thập từ bảng phỏng vấn các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) cùng với các cơ quan chức năng như Sở Kế hoạch và Đầu tư Bến Tre, Cục Thống kê Bến Tre, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại tại Bến Tre, cũng như từ các nguồn thông tin liên quan như tạp chí và báo chí.
Kỹ thuật thu thập thông tin được thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp bằng cách gửi bảng câu hỏi đến 150 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tại Bến Tre Dữ liệu thu thập được nhập vào phần mềm Excel để tính toán và phân tích Ngoài ra, tác giả còn tiến hành trao đổi với các cán bộ ngân hàng từ cấp phó trưởng phòng trở lên của một số ngân hàng thương mại tại Bến Tre, cùng với cán bộ và lãnh đạo các cơ quan ban ngành liên quan như Sở.
Kế hoạch, NHNN, UBND tỉnh Bến Tre để nắm các vấn đề có liên quan đến đến đề tài cần nghiên cứu.
Kết cấu luận văn
Luận văn được cấu trúc thành 4 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài; Chương 2 trình bày lý thuyết liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và khả năng tiếp cận vốn của họ; Chương 3 đánh giá khả năng tiếp cận vốn của SMEs tại các ngân hàng thương mại ở tỉnh Bến Tre, dựa trên dữ liệu thu thập từ 150 SMEs; Cuối cùng, Chương 4 đưa ra kết luận và kiến nghị.
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Tổng quan về cơ sở lý thuyết Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME s )
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hoặc doanh thu, được phân chia thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Khái niệm SMEs có thể khác nhau giữa các quốc gia, và việc phân loại phụ thuộc vào tiêu chí sử dụng cũng như điều kiện kinh tế của từng nước Quy mô SMEs thường mang tính tương đối, chịu ảnh hưởng bởi trình độ phát triển kinh tế, ngành nghề và mục đích phân loại trong từng thời kỳ Các tiêu chí xác định SMEs thường dựa trên cả định tính và định lượng.
Tiêu chí định tính cho việc phân loại SMEs dựa trên các yếu tố như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tài chính, bộ máy quản lý và hình thức tổ chức doanh nghiệp Mặc dù các tiêu chí này phản ánh đúng bản chất của doanh nghiệp, nhưng việc xác định chúng trên thực tế thường gặp khó khăn, do đó chúng thường được sử dụng như một công cụ tham khảo.
Tiêu chí định lượng để xác định quy mô doanh nghiệp được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản, vốn cố định, giá trị tài sản thực, tổng doanh thu và lợi nhuận của SMEs Những tiêu chí này có vai trò quan trọng và có thể thay đổi theo thời điểm và ngành nghề, mặc dù vẫn tồn tại những yếu tố chung nhất định Số liệu trong bảng 2.1 minh chứng rõ cho điều này.
Bảng 2.1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng lãnh thổ.
Nước và vùng lãnh thổ
Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản
Hàn Quốc