Để khắc phục những tồn tại trên, đồng thời có cơ sở khoa học chắc chắn trước khi phát triển loài hoa này ở điều kiện vùng Bắc Trung Bộ nói chung và Nghệ An nói riêng, chúng tôi đã tiến h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ -
PHẠM HỒNG THIÊM
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT
TRIỂN MỘT SỐ GIỐNG HOA LILY NHẬP NỘI TẠI
TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH NÔNG HỌC
VINH, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ -
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ GIỐNG HOA LILY NHẬP NỘI TẠI TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : Phạm Hồng Thiêm Lớp : 53K - Nông Học
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Tài Toàn
VINH, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện trong vụ Đông Xuân năm 2015 - 2016, dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Tài Toàn Số liệu và kết quả nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn đúng sự thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ một bài báo cáo hay công trình khoa học nào trong và ngoài nước
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự trích dẫn và giúp đỡ trong đề tài này đã được thông tin đầy đủ, trích dẫn chi tiết và chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Thiêm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Nông – Lâm – Ngư cùng các thầy, cô đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt hơn 4 năm học tại trường Đại học Vinh Bốn năm học qua, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, chỉ bảo tận tình và điều đó đã giúp tôi có thêm nhiều kiến thức không những về chuyên môn mà cả về kinh nghiệm sống
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lời
cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Tài Toàn -người đãdành nhiều
thời gian, tâm huyết dìu dắt và hướng dẫn cho tôi từ bước đầu tiên làm quen với nghiên cứu khoa học; là người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ tôi trong nghiên cứu và thực tiễn sản xuấtvà đã cho tôi nhiều lời khuyên bổ íchtrong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Tôi xin chân thành cảm ơn chị Nguyễn Thị Lan Anh và các anh, chị, cô, gì,chú, bác ở Trung tâm Giống cây trồng Nghệ An đã luôn giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ, bạn bè, những người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng trong suốt quá trình thực tập song do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, mặt khác đây cũng là lần đầu tiên tôi được trực tiếp thực hiện một đề tài khoa học nên sẽ còn nhiều thiếu sót Kính mong quý thầy cô giáo, bạn bè đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Phạm vi và nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ýnghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa Lily trên thế giới và Việt Nam 12
1.2.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa Lily trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa Lily ở Việt Nam 14
1.3.Tình hình nghiên cứu hoa Lily trên thế giới và Việt Nam 15
1.3.1.Tình hình nghiên cứu hoa Lily trên thế giới 15
1.3.2.Tình hình nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam 16
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 20
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 20
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
Trang 62.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 21
2.3.3 Đánh giá đặc điểm hình thái và chất lượng các giống Lily 22
2.4 Xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống Lily 24
3.1.1 Tỷ lệ mọc mầm của các giống hoa Lily 24
3.1.2 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của các giống Lily 25
3.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Lily 26
3.1.4 Động thái tăng trưởng số lá của các giống hoa Lily 28
3.1.5 Động thái tăng trưởng đường kính thân của các giống hoa Lily 30
3.2 Một số chỉ tiêu hình thái và chất lượng của các giống hoa Lily 31
3.2.1 Một số đặc điểm hình thái của các giống Lily 31
3.2.2 Đường kính nụ của các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển 33
3.2.3 Một số đặc điểm sinh trưởng khác của các giống hoa Lily 35
3.2.4 Chất lượng của các giống hoa Lily 36
3.2.5 Tình hình sâu bệnh hại chính trên các giống cây 38
3.3 Hiệu quả kinh tế 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
1 Kết luận 45
2 Kiến nghị 45
MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐỀ TÀI HOA LILY 50
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dánh sách và đặc điểm của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân
2015 – 2016 20 Bảng 3.1 Tỷ lệ mọc mầm của các giống Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 201625 Bảng 3.2 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của các giống Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 26 Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 27 Bảng 3.4 Động thái tăng trưởng số lá của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 29 Bảng 3.5 Động thái tăng trưởng đường kính thân của các giống hoa Lily trong
vụ Đông Xuân 2015 – 2016 30 Bảng 3.6 Đặc điểm hình thái của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 32 Bảng 3.7 Đặc điểm hình thái của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 32 Bảng 3.8 Đặc điểm hình thái của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 33 Bảng 3.9 Đặc điểm hình thái của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 33 Bảng 3.10 Động thái tăng trưởng đường kính nụ các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 34 Bảng.11 Một số chỉ tiêu về sinh trưởng của các giống hoa Lily trong 35 Bảng 3.12 Chất lượng các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016 37 Bảng 3.13 Mức độ sâu hại của các giống hoa Lily trong 39 Bảng 3.14 Mức độ bị bệnh cháy lá của các giống Lily trong 41 Bảng 3.15 Mức độ bị bệnh rụng nụ của các giống Lily trong 42 Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016……… 44
Trang 8Đường kính thân Nhà xuất bản Trung bình Thời gian sinh trưởng Thứ tự
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống, những năm gần đây nghề trồng hoa ở nước ta cũng phát triển khá mạnh mẽ Như chúng ta đã biết, hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, hoa chứa đựng những vẻ đẹp tinh tế, là biểu tượng của tình yêu và hạnh phúc, hoa không những mang lại giá trị tinh thần mà còn mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất hoa lâu đời, bên cạnh phát triển nghề trồng hoa theo phương pháp truyền thống, một phương hướng trồng hoa mới đang được nhiều người tiêu dùng quan tâm và chú trọng đó là nghề trồng hoa chậu Ngày nay nghề trồng hoa chậu được sử dụng rộng rãi trong các công sở, văn phòng, trường học và gia đình Hoa chậu gắn với đời sống con người, mang lại cho con người có cảm giác luôn được sống trong một không gian xanh, một môi trường sinh động, không những xua tan đi những cắng thẳng trong cuộc sống mà còn có thể khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường không khí nhất là trong quá trình đô thị hóa như hiện nay Tuy nhiên từ trước tới nay kỹ thuật trồng hoa chậu nói chung và hoa Lily nói riêng ít được quan tâm nghiên cứu
Những năm gần đây hoa Lily mới được phát triển mạnh ở nước ta, Lily là một loài hoa cao cấp có hình dáng đẹp, màu sắc hoa phong phú và đa dạng, hoa
có độ bền cao, đặc biệt mùi rất thơm rất sang trọng và quyến rũ, do vậy được rất nhiều ưa chuộng Hoa Lily là một trong những loài hoa mới xuất hiện trong những năm gần đây, được người dân ưa chuộng, đặc biệt trong dịp Tết, bên cạnh hoa cắt cành thì hoa chậu cũng là một xu hướng tiêu thụ mạnh hiện nay Giá hoa chậu thường cao gấp đôi cho đến gần gấp ba so với hoa cắt cành, hoa cắt cành thông thường giá bán từ 25.000 – 30.000 VNĐ/cành, trong khi giá hoa chậu là khoảng 50.000 – 60.000 VNĐ/cây, tương đương với khoảng 140.000 – 180.000 VNĐ/chậu mà mức đầu tư của hoa cắt cành và hoa chậu là gần như nhau (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [6] Vì vậy, hoa Lily chậu đang là một xu
Trang 10hướng sản xuất hiện nay, hoa Lily trong chậu bán hiện nay thường trồng ngoài đất sau đó đến thu hoạch mới đánh cây vào chậu bán trong dịp Tết Nhưng trên thực tế, hoa trồng ngoài đất khi đánh và vận chuyển hoa bị dập nát, rách là, đứt rễ, tốn công lao động (đánh cây, trồng vào chậu), không những vậy hoa chóng tàn, dễ bị thúi và rụng nụ Trong khi đó, hoa trồng chậu từ đầu đã khắc phục được tất cả các nhược điểm trên và giá thành đầu tư không cao hơn so với hoa trồng đất bán chậu
Tại Nghệ An, Lily là loại cây trồng mới nghiên cứu và sản xuất còn nhiều hạn chế, tuy nhiên nhu cầu về Lily vào các lễ Tết ngày một tăng cao Lily được bày bán trên địa bàn chủ yếu được nhập khẩu từ các tỉnh Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Bắc khác, dẫn tới giá thành cao, mẫu mã không đẹp Lily là một cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của hoa Lily là 200C độ, ban đêm là 120C, với đặc điểm như vậy, hoa Lily phù hợp với điều kiện tỉnh Nghệ An
Để khắc phục những tồn tại trên, đồng thời có cơ sở khoa học chắc chắn trước khi phát triển loài hoa này ở điều kiện vùng Bắc Trung Bộ nói chung và
Nghệ An nói riêng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả
năng sinh trưởng, phát triển một số giống hoa Lily nhập nội tại Trung tâm Giống cây trồng Nghệ An”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu này nhằm chọn được 1 – 2 giống hoa Lily có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, màu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận, cho thu nhập cao và thích ứng với điều kiện sinh thái tại địa phương
2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học của một số giống hoa Lily nhập
nội
Trang 11- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giồng hoa Lily nhập nội
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về chất lượng của một số giống hoa Lily nhập
nội
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số giống hoa Lily nhập nội
- Từ các giống Lily nhập nội, chọn ra được 1 – 2 giống có ưu điểm về sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa cao, màu sắc đẹp, phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng
3 Phạm vi và nội dung nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một
số giống hoa Lily nhập nội trồng tại nhà lưới của Trung tâm Giống cây trồng tại Nghệ An vào vụ Đông Xuân năm 2015 – 2016
- Nội dung nghiên cứu:
+ Đánh giá khả năng sinh sinh trưởng, phát triển, các đặc điểm hình tháivà chất lượng của các giống hoa Lily trong trong điều kiện vụ Đông Xuân trồng tại Trung Tâm giống cây trồng Nghệ An
+ Đánh giá mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh hại trên hoa Lily trong điều
kiện sinh thái Nghệ An
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn, cũng cố kiến
thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài
- Cung cấp một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, phát triển cho các công trình nghiên cứu về sau
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài
(Barba-b Phân loại
Căn cứ vào đặc điểm hình thái, nguồn gốc, thời gian sinh trưởng, màu sắc hoa người ta có thể phân loại hoa Lily thành các nhóm khác nhau
Dưới đây là một số cách phân loại hoa Lily như sau:
(1) Dựa vào sự ưa thích của các giống Lily:
Theo "Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao-cây Lily" của tác giả
Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2004)[6], phân Lily thành 4 nhóm:
+ Nhóm 1: Nhóm Lily Phương Đông (Oriental Lily): phần lớn có nguồn
gốc từ các chủng L auratum và L speciosum, L japonicum, L rubellum
+Nhóm 2: Nhóm Lily Á Châu (Asiatic Lily): gồm những chủng có nguồn
gốc từ châu Á, như : L.lancifolium, L.lechtlinii, L.maximwiczii, L.pumilum, L.bulbiferum, L.davidii
Trang 13+ Nhóm 3: Nhóm Lily thơm (Longiflorum Lily): với các chủng loại
L.longiflorum, Lily Đài Loan (L.formosanum), Lily trắng (L.candidum), Lily Vương (L.regale) là chính
+ Nhóm 4: Nhóm Lily Tinh Diệp (Martagon Lily): gồm Lily Hán Lâm
(L.hansonii), Lily Tinh Diệp (L.martagon) là chính, cùng với L.chalcedonicum, Lily ốc đan (L.cernuum, L.davidii, L.lancifolium ) lai tạo chọn lọc ra
(2) Phân loại theo Hội làm vườn Hoàng gia Anh
Hội làm vườn Hoàng gia Anh (1964) dựa vào nguyên sản bố mẹ, đặc trưng hình thái, màu sắc hoa người ta chia Lily thành 9 nhóm [26]:
Nhóm 1: Nhóm Lily lai châu Á (Asiatic hybrids)
Gồm những giống lai có nguồn gốc ở châu Á, hoa nở vào đầu mùa hè, là
nhóm lai giữa các loài: L.lancifolium (syn.L.tigrinum), L cernuum, L davidii, L maximowiczii, L.maculatum, L.hollandicum, L amabile, L pumilum, L concolor, và L bulbiferum Đây là nhóm dễ trồng và cũng dễ ra hoa nhất
Nhóm này có đặc điểm là màu hoa rất phong phú: đỏ thẫm, cam, vàng, hồng, xanh tía, mầu mận và trắng; nhìn chung hoa không có mùi thơm
Dựa vào hình dáng hoa nhóm này lại được phân ra làm 3 loại: hướng lên trên, hướng ra ngoài và hướng xuống dưới
- Loại hoa hướng lên trên: mọc đơn hoặc trên hoa tự, ra hoa sớm Các giống thường thấy như:Angel’s Touch, Aurora Borealis, Peachy Keen, Gold Ballerina
- Loại hoa hướng ra ngoài: giống thường thấy là Apricot Pixels, Fire Mountain, Grand Cru, Orange Art, Braudwine
- Loại hoa chúc xuống: gồm các giống: Ambrosia, King Pete, Blackbuttylly, Wtonella
Nhóm 2: Nhóm Lily lai Tinh Diệp (Martagon hybrids)
Là nhóm Lily có nguồn gốc từ các loà: L.martagon với L.hansonii, L medeoloides, and L.tsingtauense Nhóm Martagons là loại Lily ưa bóng, thân
cao, hoa hơi hướng xuống dưới, nhiều màu sắc: vàng, trắng, hồng, xanh tía, cam,
Trang 14màu hoa cà Một số giống như: Black Prince, Blush, Brocade, Cadense, Autumn
Color, Attiwaw, Terrace City…
Nhóm 3 Nhóm Lily lai hoa trắng (Candidum hybrids)
Bao gồm giống lai của các loài L.candidum, L.chalcedonicum, L monadelphum và một số giống khác của châu Âu, bao gồm cả L.martagon
Nhưng nhóm này ít thấy ở thị trường
Một số giống thuộc nhóm này như: Beerensiik, Prankfonce, Whito
Might,Smetterling, Baa, Lilylover-UT, Frostweed, John benoot, Mahans 30
Nhóm 4 Nhóm lai Lily châu Mỹ (American hybrids)
Là nhóm Lily bắt nguồn từ phía bắc châu Mỹ, gồm những giống lai của các
loài như: L.pardalinum, L.parryii, L.humboldtii và L.kelloggii Một số giống
thương mại: parvum #30, parvum#31, parvum#32, parvum#33, kelloggii #3301, bolanderi #4201, canadense var coccineum #24, parvum var hallidayi #33 ,
rubescens #22, Lilium shastense #1801 , superbum #19
Nhóm 5 Nhóm lai Lily thơm (Longiflorum hybrids)
Nhóm này có mùi thơm, gồm những giống lai bắt nguồn từ Lily thơm
L.longiflorum (Easter Lily) và Lily Đài Loan (L.formosanum) lai tạo ra; hoa có
hình dáng giống loa kèn Một số giống thuộc nhóm này, như: Gelria, Avita Come, Snow Queen, Ice Queen, Longistar, Evening Star, Yellow Tullican, Casa
Rosa, Ace of hearts, Dragoon, Bermuda Lily
Nhóm 6 Nhóm Lily lai loa kèn (Trumpet hybrids)
Bắt nguồn từ loài Lily châu Á, như: Lily Vương (L.regale), Lily Thông Giang (L.sargentiae), Lily Nghi Xương (L.luecanthum) Hoa hình loa kèn, có
thể hoa hướng ra ngoài hoặc hướng xuống dưới, có hương thơm, đặc biệt là ban đêm Một số giống thuộc nhóm này: Black Dragon, Copper King, Golden
Sunburst, Midnight, Moonlight, African queen, Pink Perfection,…
Nhóm 7 Nhóm lai Phương Đông (Oriental hybrids)
Phần lớn các giống thuộc nhóm này do lai một số chủng L.auratum và L.speciosum Đặc điểm là thân có chiều hướng cao, hoa khá to, hướng ra ngoài
Trang 15và có hương thơm Hiện nay có rất nhiều giống Lily lai Phương Đông được đưa vào sản xuất thương phẩm, như: Casa blanca, Angelique, Dizzy, Maru, Souvenir, Rio regro, Pink expressions, Stargazer, Sorbonne,Starfighter, Acapulco, Tiber,
Collection, Mixed, Miss Lucky, Montezuma, Muscadet
Nhóm 8 Nhóm Lily lai tạo (interdivisional hybrids-Orienpets: OT hybrids, LA
hybrids, AA hybrids…)
Gồm những giống lai khác, như lai giống giữa nhóm Phương Đông và nhóm Loa kèn, nhóm thơm với nhóm châu Á Hiện nay nhóm này có nhiều, nhờ lai giống đã tạo ra các giống mới có khả năng chống chịu tốt với điều kiện
ngoại cảnh, sâu bệnh Một số giống LA (lai Longiflorum và Asiatic): Aerobic, Ballroom, Best seller, Canillo, Carmine diamond; giống AA (lai Aurelian và Asiatic): Fiery belles, Ivory belles, Silky belles; giống OA (lai Oriental x Asiatic): Elegant crown, Fancy crown, Fuego crown;giống OT (lai Oriental x Trumpet): Yelloween, Altary, American bandstand, American dream, American
jouney
Nhóm 9 Loài hoang dại (The wild species)
Gồm những loài thuộc nội địa của bắc châu Mỹ, châu Âu và châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ ) là những loài được trồng trong môi trường tự nhiên,
chưa bị ảnh hưởng bởi sự lai giống, loài L.auratum (gold-banded Lily) là một loài đẹp nhất trong tự nhiên, loài L.lancifolium (Tiger Lily) nổi tiếng ở Trung
Quốc và Nhật Bản Đây là nhóm Lily quan trọng trong việc phát triển các giống
lai châu Á và nhóm khác Một số chủng: L.cernuum có ở Hàn Quốc và Nga; L.davidii, L.henryi, L.regale có ở Trung Quốc; L.leichtlinii có ở Nhật Bản; L.pardalium có ở Tây Nam nước Mỹ; L.speciosum album, L.speciosum rubrum
có ở Nhật Bản và Trung Quốc…
(3) Phân loại theo thời gian sinh trưởng, ra hoa:
+ Loại ra hoa sớm: từ khi trồng đến khi ra hoa: 60 – 80 ngày
+ Loại ra hoa trung bình: từ khi trồng đến khi ra hoa: 85 – 100 ngày + Loại ra hoa muộn: từ khi trồng đến khi ra hoa: 105 – 120 ngày
Trang 16+ Loại ra hoa cực muộn: 120 – 140 ngày
(4) Phân loại theo màu sắc hoa:
Ngoài ra người ta còn có thể phân loại theo màu sắc của hoa: hoa đỏ, hoa
trắng, hoa vàng (Nguyễn Văn Tấp, 2008) [13]
Như vậy, Lily có thể phân loại nhiều cách khác nhau tuỳ theo mục đích, yêu
cầu của người nghiên cứu
1.1.1.2 Một số giống Lily đang trồng phổ biến trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới có 4 nhóm Lily trồng lấy hoa cắt cành là nhóm lai châu Á
(Asiatic hybrids),lai Phương Đông (Oriengal hybrids), lai Lily thơm (Longiflorum hybrids), và các loại hoa khác (Mise lancous)
Nhóm lai châu Á gồm các giống hoa màu trắng như Alaska, Lavonna, Lucyda, Nivera Các giống có hoa màu vàng là London, Madras, Pollanna, Romano các giống hoa màu đỏ như Watessllo, Latoya, Nassa Các giống có hoa màu phấn hồng là Avati, Azurra, loại hoa nhiều màu như Italia, SansPareil Nhóm lai Phương Đông gồm các giống hoa màu trắng như AlhaBra, Amanda Các giống có hoa màu đỏ như Acapullo, Kinprrop, Loure loại hoa nhiều màu như Areua, Aubade, Cordola
Nhóm lai Lily thơm gồm có các giống Avila, Showgecu, Miami, Starfighter, Berlin
Các loại hoa khác như Eveningstar (màu vàng đỏ có đốm đỏ tím), và RoyalDream (màu trắng) là con lai giữa lily thơm và lily Á châu
Việt Nam có các giống Lily đang được ưa chuộng là Siberia hoa màu trắng, Sorbonne hoa màu hồng nhạt, Acapulco hoa màu hồng sẫm, Tiber hoa màu nâu hồng
1.1.1.3 Đặc điểm thực vật học cuả hoa Lily
a Đặc điểm thực vật học của hoa Lily
Lily là tên gọi chung của tất cả các loài cây thuộc loài Lilium ssp, ngành một lá mầm (Magnoliophyta), lớp hành (Liliopsisa), bộ hành (Liliaceae) (Võ
Đức Chi, Dương Đức Tiến, 1972) [3]
Trang 17Lily là loài cây thân ngầm dưới đất, có một số đặc điểm như sau:
- Thân vảy: thân vảy là phần phình to của thân, trên đãi thân vảy có vài chục vây hợp lại là nơi dữ trữ nước và dinh dưỡng, màu sắc và kích thước thân vảy phụ thuộc vào loài, giống Độ lớn thân vảy liển quan chặt chẽ tới số lượng nụ hoa, như lily thơm chu vi thân vảy 9 – 11 cm có 1 – 2 nụ, chu vi 12 – 14 cm có 2 – 4 nụ và chu vi 12 – 14 cm có trên 4 nụ Vẩy có hình elip, hình kim xòe ra, có đốt hoặc không có đốt Mầm vảy to ở ngoài, nhỏ ở tong, là nơi dự trữ nước và dinh dưỡng, trong đó nước chiếm 70%, chất bột 23%, một lượng nhỏ protein, chất khoáng, chất béo Số lượng vảy cũng tỷ lệ thuận với số lá và số hoa Nếu bóc vỏ ngoài thì tốc độ nảy mầm của củ nhanh hơn, nhưng tốc độ hình thành của các cơ quan sinh sản giảm, hoa ra muộn hơn
- Rễ: gồm 2 phần rễ thân và rễ gốc, rễ thân còn gọi là rễ trên do phần thân mọc dưới đất sinh ra có nhiệm vụ năng đỡ thân, hút nước và dinh dưỡng, có tuổi thọ 1 năm Rễ gốc, còn gọi là rễ dưới sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng mạnh, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng có tuổi thọ tới 2 năm
- Lá: lá mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim hoặc hình thuôn, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn Lá mềm có màu xanh bóng, lá to hay nhỏ còn phụ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt
- Củ non và mầm hạt: Lily có nhiều củ non ở thân rễ, chu vi từ 0,5 – 3 cm,
số lượng củ tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt Một số giống ở nách lá
có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng khi chín có màu tím tối, chu vi từ 0,5 – 1,5
cm
- Hoa: hoa Lily có nhiều màu sắc khác nhau: trứng, hồng, đỏ, tím, hồng mọc đơn lẻ hay xếp đặt trên trục hoa Hoa chục xuống,vươn ngang hoặc hướng lên, gồm 6 cánh hoa hình elip, gốc cánh có chấm màu tím, hồng có 6 nhị, phấn hoa màu vàng hoặc đỏ cam, đỏ nâu và một nhụy nhỏ dài, đầu trục phình to
Trang 18- Quả: quả chín sau khi hoa nở được 2 tháng Khi chín quả có màu vàng, sẽ nứt ra, hạt có cánh, vì vậy ở điều kiện tự nhiên có thể truyền đi theo gió Sau khi thu quả, thân lá, khô héo, lúc này có thể thu hoạch củ để làm giống
b Yêu cầu điều kiện sinh thái
(1) Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát dục của hoa Lily, đặc biệt là ảnh hưởng đến nảy mầm của hạt, sự phát dục của thân, sự sinh trưởng của lá, sự sinh trưởng và phát triển của củ giống (Roh.M.S, 1996) [29]
Lily là cây chịu rét khá, chịu kém nóng, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 20 – 250C, ban đêm là 12 – 150C Các giống lai phương Đông thời kỳ đầu thích hợp với nhiệt độ ban ngày 25 – 280C, ban đêm 12 – 200
C Dưới
120C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù
Từ khi xuất hiện nụ đến khi ra hoa, nhiệt độ chênh lệch ngày/đêm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của thân Nếu chênh lệch tử 00
C đến 160C thì độ cao cây dao động từ 14,2 – 27 cm
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng của rễ, nếu nhiệt độ đất từ 17 – 210C
có lợi cho sinh trưởng của rễ, nhưng nếu nhiệt độ xuống thấp từ 12 – 130C hoặc cao hơn 27 – 280C thì rễ làm chậm lại sự phát triển của thân lá
Nhiệt độ là nhân tố quan trọng điều tiết sự phân hóa mầm hoa và ra hoa Các dòng Lily thơm giai đoạn từ mọc đến xuất hiện nụ nếu quang chu kỳ là 16 giờ, nhiệt độ ngày là 21,10C và đêm là 12,80C thì Lily có thể ra sơm hơn và kích thích nụ 2, nụ 3 ra nhiều hơn, do đó tăng số lượng nụ của cây Nhiệt độđêm 7,20C thì kích thích hình thành nụ 2, nhiệt độ đêm 15,50C thì kích thích hình thành nụ
3 Còn ở giai đoạn phân hóa đến khi ra nụ nếu quang chu kỳ là 12 giờ, nhiệt độ ngày 18,30C, đêm 15,60C có lợi cho hoa ra sớm hơn và tỷ lệ rụng nụ thứ 3 thấp nhất
(2) Ánh sáng
Lily là cây ưa cường độ ánh sáng ở mức trung bình, cường độ ánh sáng thích hợp từ 12 – 15 nghìn lux Vào mùa hè với nhóm Lily châu Á và Lily thơm
Trang 19cần che bớt 50% ánh sáng, nhóm phương Đông nên che bớt 70% ánh sáng Ngược lại trồng trong nhà lưới vào mùa Đông, ánh sáng không đủ, nhị đực sẽ sản sinh Etylen, dẫn đến nụ bị rụng Đặc biệt là nhóm lai châu Á rất mẫn cảm với thiếu ánh sáng, do vậy cần bỏ bớt lưới che phủ để tăng cường ánh sáng tự nhiên cho cây
Đất quá chua hoặc quá kiềm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của hoa Nếu đất chua quá, cây hút nhiều ion sắt, nhôm, magie gây hại cho cây, đất quá kiềm cây sẽ hút sắt, magie giảm dẫn đến thiếu các sắc tố
Các giống châu Á và Lily thơm yêu cầu độ pH thích hợp từ 6 – 7, giống thuộc nhóm Phương Đông yêu cầu pH từ 5,5 – 6,5
Trang 20(6) Dinh dưỡng
Lily yêu cầu mức độ phân bón cao nhất trong 3 tuần đầu kể từ sau khi trồng Tuy nhiên, lúc này rễ non dễ bị ngộ độc muối Muối trong đất chủ yếu do phân bón, nước tưới và hàm lượng dinh dưỡng của cây trồng vụ trước tạo nên Vì vậy để tránh tác hại của muối trong đất, trước khi trồng 6 tuần cần phân tích đất
để biết hàm lượng muối Lily mẫn cảm với hợp chất chứa Clo, yêu cầu lượng Clo trong đất không vượt quá 15mol/lít, nếu không sẽ gây hại rễ Đất thiếu canxi Lily
dễ bị vàng lá, lá phát triển không gọn
1.1.1.4 Cơ sở thực tiễn
Nghệ An là một trong những thành phố có mức tiêu thụ hoa cao trong nước, đặc biệt là trong các dịp lễ tết Lily với vẻ đẹp quý phái, sang trọng và hương thơm dịu ngọt là sự lựa chọn của nhiều gia đình Tuy nhiên, Lily ở Nghệ An là loài cây trồng còn chưa được trồng phổ biến, lượng hoa cung cấp cho thị trường chủ yếu nhập từ Đà Lạt Mặt khác, các giống Lily trồng ở Việt Nam chủ yếu được nhập từ Hà Lan, Đài Loan hoặc Trung Quốc Gía thành củ giống Lily nhập nội rất cao trong khi chúng chưa được nghiên cứu, khảo nghiệm trước khi trồng, dẫn đến thực trạng là một số giống đưa vào trồng cho chất lượng hoa kém, thu nhập của người trồng hoa thấp, có khi dẫn đến sự thất bại
Lily là loài hoa chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ấm, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của hoa Lily ban ngày là 200C, ban đêm là 120C Điều kiện sinh trưởng này phù hợp với vụ Đông Xuân ở Nghệ An
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm chọn ra giống Lily có ưu điểm: sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng hoa cao, màu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu; có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, cho thu nhập cao và thích ứng với điều kiện sinh thái ở Nghệ An
1.2.Tình hình sản xuất và phát triển hoa Lily trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa Lily trên thế giới
Năm 1997, Hà Lan có 356 ha, đứng thứ 2 trong tổng diện tích hoa cắt trồng bằng củ (sau hoa Tuy líp) Sỡ dĩ hoa Lily được phát triển trong những năm gần
Trang 21đây do người Hà Lan đã tạo ra rất nhiều giống mới có hoa đẹp, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao Ngoài ra còn do kỹ thuật điều khiển hoa phát triển nhanh
có thể ra hoa quanh năm Một nguyên nhân nữa là do sự đầu tư cơ giới hóa trong việc trồng và chăm sóc đã làm giảm giá thành vì vậy đã làm hiệu quả kinh tế trồng hoa Lily cao hơn so với trước đây
Hiện nay, Hà Lan mỗi năm trồng 18.000 ha hoa LiLy, trong đó xuất khẩu 70% Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắt và cũng là một trong những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á (mỗi năm khoảng 500 triệu USD) Hoa Lily đứng ở vị trí tứ 4 trong các loài hoa Hiện nay, diện tích trồng hoa Lily ở Nhật khoảng 550 ha (Okazaki K.,1996) [27] Nhật cũng là nước sản xuất hoa lớn, diện tích sản xuất hoa năm 1992 của nước này là 4.600 ha với 36.000 hộ, sản lượng đạt 900 tỷ Yên, trong đó hoa cúc đứng vị trí thứ nhất, tiếp
đó đến hoa hồng và hoa cẩm chướng, hoa Lily đứng ở vị trí thứ tư, trong đó có 2 giống hoa Lily là Star-Gager và Casa-Blanca không những được ưa chuộng ở Nhật Bản mà còn nổi tiếng trên thế giới
Những năm gần đây Hàn Quốc là một nước phát triển nghề trồng hoa mạnh, lượng xuất khẩu hoa của Hàn Quốc là lớn nhất Đông Bắc Á Theo thống kê năm
2002, Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoa với 12.000 người tham gia, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm 1989, trong đó Lily là loại cây có hiệu quả cao nhất trong số các loài hoa ở Hàn Quốc (Kim Y.,1996) [25]
Kênia là nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Phi và là nước xuất khẩu hoa tươi lớn nhất châu lục này Hiện nay, nước này có tới 3 vạn trang trại với hơn 2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa cẩm chướng, hoa Lily, hoa hồng Mỗi năm nước này xuất sang châu Âu 65 triệu USD, trong đó riêng hoa Lily chiếm 35% (Chu Thúy Chinh, 2009) [4]
Công nghệ sản xuất hoa Lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độ canh tác còn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản; năm 2001 nước này đã có 490 ha trồng hoa Lily, trong đó xuất khẩu hoa cắt cành đạt 7,4 triệu USD (Chu Thúy Chinh, 2009) [4] Hà Lan là nước có công nghệ tạo giống và trồng Lily tiên tiến
Trang 22nhất hiện nay Mỗi năm Hà Lan tạo ra từ 15 – 20 giống mới, sản xuất 1,315 triệu
củ giống Lily, cung cấp cho 35 nước khác nhau trên toàn thế giới Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước trồng Lily lớn khác như: Italia, Mỹ, Đức,…
1.2.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa Lily ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loại hoa và cây phát triển Tính đến năm 2005, nước ta có khoảng 13.200 ha diện tích trồng hoa cây cảnh Sản xuất hoa cho thu nhập cao, bình quân cho thu nhập từ 70 – 130 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích trồng
hoa trên những vùng đất có tiềm năng
Lily là loài hoa quý hiếm ở Việt Nam, hiện nay mới được trồng ở một số tỉnh thành phố có nghề trồng hoa phát triển như Đà Lạt, Thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,… So với các chủng loại khác thì chủng loại hoa này chiếm tỷ lệ rất nhỏ cả về diện tích và số lượng
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng Lily lớn nhất cả nước chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa, còn ở Hà Nội, Hải Phòng chỉ mới trồng mang tính chất thử nghiệm Tình hình phát triển hoa Lily Đà Lạt khá thuận lợi,một phần do thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển của các giống hoa nói chung
và cho hoa Lily nói riêng, một phần do kỹ thuật trồng Lily tương đối cao nên hoa sinh trưởng phát triển khá tốt Hiện nay, Lily là một trong những loài hoa đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho một số công ty hoa ở Đà Lạt Hoa Lily cắt cành mới phát triển gần đây nhưng do có dáng đẹp, mùi thơm quý phái, màu sắc hấp dẫn, quanh năm có hoa, được rất nhiều người ưa chuộng do vậy nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao
Hiện nay, ở Việt Nam Lily được xếp vào loại hoa cao cấp, thường đắt gấp
10 – 15 lần so với các loài hoa cúc, hoa hồng, cẩm chướng, hồng môn, chỉ sau phong lan, địa lan Vì bán được giá cao nên việc trồng lily đang thu hút lớn các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, chính vì thế nghề này rất có triển vọng phát triển Thông thường hoa Lily cắt cành được phân làm 3 loại Loại thứ nhất từ 4 hoa trở lên có giá trị từ 25 – 30.000 đồng/cành, loại thứ hai có 3 hoa giá từ 20 –
Trang 2325.000 đồng/cành và loại thứ ba gồm 2 hoa giá từ 15 – 20.000 đồng/cành Hoa trồng chậu có giá 100 – 150.000 đồng/chậu (3cây/chậu) Thời gian gần đây, Phân viện sinh học Đà Lạt lại có một bước đột phá khi nghiên cứu sản xuất thành công
củ giống hoa Lily, có thể cung cấp cho thị trường với giá từ 3.000 – 5.000 đồng
(tùy theo loại và màu sắc), chỉ bằng 1/3 hoặc 1/2 giá nhập ngoại
Tiềm năng đất đai, khí hậu của Đà Lạt rất lý tưởng cho sự phát triển của hoa Lily mà ít nơi nào có được Thời gian tới, nếu đầu tư sản xuất củ giống chất lượng cao, giá rẻ với quy mô hàng hóa ngay tại địa phương thì thì Đà Lạt có triển
vọng trở thành trung tâm lớn sản xuất và xuất khẩu hoa Lily
1.3.Tình hình nghiên cứu hoa Lily trên thế giới và Việt Nam
1.3.1.Tình hình nghiên cứu hoa Lily trên thế giới
Swat [31], Schenk [30] đã nghiên cứu một số dung dịch bảo quản hoa lily cắt cành Kết quả tìm ra dung dịch gồm có 200 ppm 8-hydroxyquinolinecitrate (8-HQC) + 3% sucrose và đã giữ được hoa tươi lâu hơn 4 tuần trong điều kiện bảo quản lạnh
Beattie [18], đã nghiên cứu bảo quản lạnh củ hoa lily trước khi trồng trong
nhà lưới Kết quả đối với các giống Asiatic hybrids cần bảo quản ở nhiệt độ 2 –
50C trong 6 – 10 tuần, còn các giống Oriental hybrids cần bảo quản ở nhiệt độ 2
– 40
C trong 8 tuần cũng có thể 9 – 10 tuần
De Hertogh [21], đã nghiên cứu khoảng cách trồng cho các giống lily.Đối với loại Asiatic hybrids thì mật độ trồng từ 54 – 86 cây/m 2 , loại Orientalhybrids nên trồng từ 32 – 43 cây/m 2 Khoảng cách từ 15 – 17,5 cm/cây
Từ đầu thập niên 1990 nghiên cứu, sản xuất giống lai khác loài Lily đã được tiến hành ở Hàn Quốc (Rhee, 2002) [28] Hàn Quốc đang nghiên cứu sản xuất giống sạch bệnh virus, nghiên cứu sản xuất kết hợp quản lý dịch hại, khắc phụ bệnh sinh lý để đưa vào trồng trọt
Theo Chen và cộng sự (2002) [20], thống kê gần 60 loài và 18 giống phân
bố ở Trung Quốc, chiếm 50% tổng số giống hoa Lily của thế giới, gần đây họ
Trang 24nghiên cứu 12 loài có sức chống chịu tốt với điều kiện bất lợi ở Trung Quốc để phục vụ sản xuất
Dole [23], đã nghiên cứu cấu trúc cây hoa Lily tương lai là những loạidễ nhân giống, dễ kích thích ra hoa, thời gian trồng ngắn, thu hoạch kéo dài,kiểm soát chặt về di truyền, đòi hỏi dinh dưỡng ít, đa dạng về màu sắc và khảnăng chống chịu tốt với điều kiện sinh thái…
Theo Grassotti [24], Lily là một trong những loại hoa cắt quan trọng vàđem lại hiệu quả kinh tế cao cho Italia, diện tích trồng Lily của Italia khoảng 280 – 300ha với tổng giá trị thu nhập 71 triệu $
Hiện nay trên thế giới, Hà Lan là nước có công nghệ tạo giống và trồng hoa Lily tiên tiến nhất, mỗi năm tạo ra 15 – 20 giống mới và sản xuất 1,315 triệu củ giống Lily cung cấp cho 35 nước khác nhau trên thế giới Ở châu Á, công nghệ sản xuất hoa Lily cắt cành ở Đài Loan cũng rất tiên tiến, trình độ canh tác còn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản
1.3.2.Tình hình nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoa Lily được xếp vào loài hoa cao cấp, nhu cầu tiêu dùng loài hoa này ngày càng cao trong những năm gần đây Hầu hết các giống hoa Lily trồng ở nước ta chủ yếu nhập từ Hà Lan, Đài Loan và Trung Quốc Từ năm 2002 đến 2005, một số giống Lily nhập nội từ Hà Lan đã được Viện Nghiên cứu Rau quả và Viện Di truyền Nông nghiệp khảo nghiệm Kết quả đã được tuyển chọn được giống hoa Lily Sorbonne phù hợp với điều kiện vụ Đông miền Bắc Việt Nam Giống hoa Lily Sorbonne đã được Bộ NN&PTNT công nhận là giống tạm thời Giống này có đặc điểm: chiều cao cây trung bình từ 80–90cm, số nụ hoa/cây 5 – 7 nụ, cây sinh trưởng phát triển tốt, màu sắc hoa đẹp, cành cứng, ít sâu bệnh gây hại Song song với việc khảo nghiệm sản xuất các giống hoa Lily, Viện Rau Quả đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sản xuất hoa thương phẩm và cho kết quả: - Mật độ thích hợp trồng hoa Lily là 25 củ/m2 (khoảng cách 20×20 cm) và 20 củ/m2 (khoảng cách 25×20 cm)
- Trong điều kiện miền Bắc Việt Nam nên áp dụng phương pháp xử lý mát củ
Trang 25giống trước khi trồng, trong đó thời gian xử lý mát trong kho lạnh ở nhiệt độ12 –
130C trong 15 ngày giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, giảm hiện tượng cháy lá
và nụ hoa bị biến dạng - Sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt để tưới nước cho Lily
trong nhà có mái che với chế độ tưới 30 phút/ngày là thích hợp nhất
Chu Thúy Chinh (2009) đã nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất lượng củ giống hoa Lily Sorbonne và hoa Lay Ơn đỏ
vụ Đông Xuân 2008 tại thành phố Lạng Sơn [4]
Nguyễn Cảnh Hồng (2013) đã nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng các loại phân bón lá và các chế phẩm kích thích sinh trưởng qua lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của hoa Lily [9]
Trần Đình Báu (2012) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các loài phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của hoa Lily trên đất cát ven biển huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An [1]
Phạm Văn Linh (2012) đã nghiên cứu, so sánh khả năng sinh trưởng và phát triển một số giống hoa Lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ [11]
Các tác giả Nguyễn Văn Tỉnh, Nguyễn Xuân Kết, Đặng Văn Đông, Hoàng Minh Tấn (2013) đã nghiên cứu và sản xuất củ hoa Lily bằng phương pháp tách vảy củ tại miền Bắc Việt Nam [14] Trần Thị Minh Hoa (2014) đã nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho sản xuất hoa Lily tại Lạng Sơn [8]
Nghiên cứu một số giải pháp kĩ thuật: sử dụng chất kích thích tăng trưởng, bón phân qua lá, che bóng cho cây thực hiện ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn đã xác định được một số chất kích thích sinh trưởng: GA3 có tác dụng làm tăng chất lượng hoa (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007) [10], phân bón qua lá Antonik có tác dụng tốt đến sinh trưởng và chất lượng hoa (Phạn Thị Mai Chinh, 2007) [5] Các tác giả Đặng Văn Đông, Nguyễn Văn Tỉnh đã tiến hành nhập tập đoàn
23 giống hoa Lily ở Hà Lan vào trồng thử nghiệm ở miền Bắc Việt Nam từ năm
2002 – 2006 Kết quả đã chọn được 2 giống là giống Sorbonne và Acapulo có khả năng sinh trưởng , phát triển tốt, được hội đồng khoa học bộ Nông Nghiệp và
Trang 26Phát Triển Nông Thôn công nhận giống tạm thời tháng 5 năm 2006 và cho phép sản xuất thử ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam [7]
Trần Duy Qúi [12], đã nghiên cứu và xây dựng mô hình trồng hoa Lily cho vùng Đồng Bằng Sông Hồng, với 20 giống được nhập nội từ Hà Lan (năm 2002) Kết quả cho thấy 2 giống Lily thơm Almaata, Barbados và 4 giống Lily thường Amazone, Avelino, Brunello, Gironde có chất lượng hoa cắt cành không thu kém chất lượng hoa trồng ở Hà Lan có thể bổ sung vào nguồn giống Lily thương mại
ở Việt Nam
Đào Thanh Vân (2005), đã nghiên cứu đặc điểm của một số giống hoa Lily tại Mẫu Sơn – Lạng Sơn Kết quả cho thấy 3 giống Starfighter, Tiber và Siberia
có khả năng sinh trưởng và phát triển khá trên đất Mẫu Sơn [16]
Đinh Ngọc Cầm (2004), đã khảo nghiệm 3 giống hoa Lily thơm vụ Thu Đông 2003 – 2004 tại SaPa Kết quả cho thấy Siberia, Sorbonne, Tiber đều thể hiện được các đặc điểm của giống gốc, khả năng chống chịu tốt với điều kiện khí hậu của SaPa [2]
*Một số đặc điểm chung của nghề trồng hoa Lily ở Việt Nam
Ngành sản xuất hoa nói chung và sẩn xuất hoa Lily nói riêng ở nước ta còn nhiều tồn tạị
- Về quy mô: các cơ sở sản xuất hoa cắt cành ở quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún, tản mạn, sản xuất đơn lẻ, diện tích 1.000 – 2.0000 m2/hộ [33]
- Về kỷ thuật: sản xuất lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm người dân là chủ yếu, nhân giống bằng phương pháp cổ truyền: gieo hạt, trồng bằng củ, mầm nên giống
dễ bị thoái hóa, chất lượng hoa kém, đầu tư khoa học kỹ thuật còn thấp Lớn nhấtở Lâm Đồng với 650 ha diện tích trồng hoa trong nhà màng (Nguyễn Văn Tới, 2007) [15]
- Chưa có sự chỉ đạo đồng nhất, sản xuất thiếu tính đồng bộ
- Diện tích ít sản lượng thấp, chất lượng hoa chưa cao
* Triển vọng của nghề trồng Lily ở nước ta
Trang 27- Hoa Lily mới phát triển mấy năm gần đây ở nước ta nhưng đã được nhiều người ưa thích, thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng.Ở Việt Nam Lily được xếp vào loài hoa cao cấp, thường đắt hơn gấp 10–15 lần so với các loài hoa khác như: Cúc, Hồng, Cẩm Chướng, chỉ sau Phong Lan và Địa Lan (Đặng Văn Đông và
Đinh Thế Lộc, 2004) [6]
-Với nhu cầu tiêu thụ hoa trên thị trường như trên, nước ta có nhiều cơ hội
để sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ hoa ở trong nước và trên thế giới
Trang 28CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Các giống hoa Lily nhập nội từ Hà Lan, bao gồm: Giống Concador, Giống Sorbonne, Giống Tarago,Giống Serano và Giống Kahlua Các thông tin cụ thể về kích thước củ, chiều cao mầm sau xử lý và thời gian sinh trưởng được trình bày ở
bảng 2.1
Bảng 2.1 Dánh sách và đặc điểm của các giống hoa Lily trong vụ Đông Xuân
2015 – 2016 STT Tên giống Nguồn gốc Kích cỡ củ Chiều cao
mầm
Thời gian sinh trưởng
1 Concador Hà Lan 20 – 22 cm 4 cm 75 – 95 ngày
2 Sorbonne Hà Lan 18 – 20 cm 4 cm 70 – 95 ngày
3 Tarago Hà Lan 18 – 20 cm 4 cm 65 – 90 ngày
4 Serano Hà Lan 20 – 22 cm 4 cm 60 – 80 ngày
5 Kahlua Hà Lan 18 – 20 cm 4 cm 60 – 67 ngày
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm Giống cây trồng Nghệ An, xã Hưng Đông, thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Vụ Đông Xuân 2015 – 2016, bắt đầu từ ngày 4/11/2015 đến ngày
20/1/2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh sinh trưởng, phát triển, các đặc điểm hình thái và chất lượng của các giống hoa Lily trong trong điều kiện vụ Đông Xuân trồng tại
Trung Tâm giống cây trồng Nghệ An
Trang 29- Đánh giá mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh hại trên hoa Lily trong điều kiện sinh thái Nghệ An
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại
+ Công thức 1: giống Concador
+ Công thức 2: giống Sorbonne
+ Công thức 3: giống Tarago
+ Công thức 4: giống Serano
+ Công thức 5: giống Kahlua
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), 5 công thức, 3 lần nhắc lại Mỗi công thức bố trí 30 chậu, mỗi chậu trồng 4 cây Các chậu vại được đặt trong nhà lưới có diện tích 200 m2
+ Khoảng cách: chậu cách chậu từ 8 –10 cm
2.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
-Theo dõi tỷ lệ mọc mầm của các giống (%)
+ Theo dõi số củ mọc mầm
Tỷ lệ nảy mầm = số củ nảy mầm / số củ trồng × 100
+ Theo dõi sức mọc mầm của các giống: sau 4 ngày, 6 ngày, 8 ngày, 10 ngày
Trang 30-Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống Lily
+ Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển: đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất (cm)
+ Theo dõi sự ra lá qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển: đếm số lá trên một thân của cây (lá/thân)
+ Theo dõi đường kính thân cuối cùng (đo cách gốc 10cm) (cm)
2.3.3 Đánh giá đặc điểm hình thái và chất lượng các giống Lily
- Đặc điểm hình thái của các giống: quan sát, mô tả một số đặc điểm nông
học của các giống Lily thí nghiệm
+ Thân: màu sắc, đường kính, chiều dài thân
+ Lá: màu sắc, hình dáng, chiều dài, chiều rộng
+ Hoa: màu sắc, mép hoa, cánh hoa, đường kính hoa, hương thơm
- Phương pháp theo dõi
+ Định kỳ theo dõi 10 cây/1 ô thí nghiệm, định kỳ theo dõi 10 ngày/lần + Phương pháp theo dõi: sử dụng phương pháp thống kê, như: đo, đếm, ghi chép
Trang 31+ Điều kiện thí nghiệm: kỹ thuật chăm sóc, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh và các yếu tố thí nghiệm được thực hiện trên các giống là đồng nhất nhưnhau
- Hiệu quả kinh tế của mô hình
+ Hiệu suất đồng vốn (HS): HS=VA/IC
+ Lợi nhuận (Pr): Pr = GO–TC
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống Lily
Sinh trưởng và phát triển là hai quá trình diễn ra liên tục, cùng song song tồn tại trong suốt chu kỳ sống của sinh vật nói chung và cây hoa Lily nói riêng
Đó là kết quả hoạt động tổng hợp của các quá trình sinh lý hóa diễn ra bên trong
cơ thể Sinh trưởng là quá trình biến đổi về số lượng của các yếu tố cấu trúc nên cây, còn phát triển là quá trình biến đổi về chất bên trong để dẫn đến sự thay đổi
về hình thái và chức năng của chúng Cây sinh trưởng, phát triển là tiền đề quan
trọng cho năng suất và chất lượng sản phẩm cao
Hai quá trình có quan hệ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhau và chiụ ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện ngoại cảnh như nước, phân bón, chăm sóc
Vì vậy, nghiên cứu quá trình sinh trưởng, phát triển giúp ta xác định được các tác động phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của sinh vật
nhằm đem lại hiệu quả kinh tê cao nhất
Sinh trưởng và phát triển của Lily có thể chia ra các giai đoạn: phát triển trục thân, ra nụ, nở hoa, kết hoa, chết khô Củ Lily trồng dưới đất thường 1 – 2 tuần sẽ mọc mầm, trong trường hợp không xử lý đầy đủ, hoặc trời lạnh thời gian mọc mầm có thể kéo dài 3 – 5 tuần Thời gian trồng cho đến lúc ra nụ khoảng 6 –
9 tuần, thời gian ra nụ đến khi nở khoảng 4 – 6 tuần Các giống khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau
3.1.1 Tỷ lệ mọc mầm của các giống hoa Lily
Đây là thời kỳ đầu tiên trong chu kỳ sống của cây được tính từ khi gieo củ giống xuống đất, thân vươn lên đẩy lá mầm ra khỏi mặt đất Củ hoa Lily chuyển
từ trạng thái tiềm sinh sang trạng thái sống, thời kỳ này các thành phần Protein, Lipit thành các hợp chất hữu cơ đơn giản là Glucozo và các Axitamin Đây là đơn vị tiền để dữ trữ trong củ đã trải qua một loạt các biến đổi sinh hóa sâu sắc dưới tác động của các Ezim chuyển để tạo nên các Protein mới Các chất dinh dưỡng ở thời kỳ này của cây được lấy từ chất dinh dưỡng của củ giống, do đó chất lượng củ giống là yếu tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ mọc mầm và sức
Trang 33mọc mầm của củ Ngoài yếu tố giống thì điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự mọc mầm của củ Lượng nước củ hút trong giai đoạn này khoảng
100 – 150% trọng lượng củ và trong điều kiện nhiệt độ từ 150C trở lên, kết hợp
với oxy đầy đủ, củ Lily sẽ mọc mầm bình thường
Tỷ lệ mọc mầm của các giống Lily phụ thuộc vào chất lượng củ giống và ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản xuất Thông thường sau 5 – 7 ngày thì củ mọc lên khỏi mặt đất.Kết quả mọc mầm các giống được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Tỷ lệ mọc mầm của các giống Lily trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016
Giống Sau 4 ngày
(%)
Sau 6 ngày (%)
Sau 8 ngày (%) Sau 10 ngày
Kết quả trong bảng 3.1 cho thấy:
Sức mọc mầm của giống Sorbone là mạnh nhất, sau 4 ngày trồng đã mọc mầm 23,3%, sau 8 ngày thì tỷ lệ mọc mầm là 100% Giống Kahlua có sức mọc mầm kém nhất, sau 6 ngày trồng mới mọc mầm 33,3% và kết thúc mọc mầm sau
10 ngày Giống Concador và giống Tarago đạt tỷ lệ mọc mầm sau 8 ngày là 93,3
và kết thúc mọc mầm sau 10 ngày Giống Serano đạt tỷ lệ mọc mầm sau 8 ngày
là 76,7% Tất cả các giống đều đạt tỷ lệ mọc mầm là 100%
3.1.2 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của các giống Lily
Thời gian sinh trưởng là đặc tính của giống Dựa vào thời gian sinh trưởng của chúng mà ta có thể bố trí thời vụ thích hợp cho từng giống để có hoa vào dịp mong muốn, mạng lại hiệu quả kinh tế cao
Thời gian từ trồng đến ra nụ, ra hoa và tổng thời gian sinh trưởng cuả các giống được ghi nhận ở bảng 3.2
Trang 34Bảng 3.2 Thời gian cácgiai đoạn sinh trưởng của các giống Lily trong vụ Đông
Thời gian sinh trưởng
Kết quả ở bảng 3.2 cho thấy
Thời gian từ khi trồng tới khi cây ra nụ của các giống chênh lệch khá nhiều
Ở giống Concador là 40 ngày, giống Sorbonne là 34 ngày, giốngTarago là 11 ngày, giống Serano là 30 ngày, giống Kahlua là 22 ngày Thời gian sinh trưởng
từ trồng tới khi thu hoạch của các giống Lily có sự khác nhau từ 50 – 76 ngày Trong 5 giống trồng thí nghiệm thì giống Kahlua có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 50 ngày, giống có thời gian sinh trưởng dài nhất là giống Sorbone 76 ngày Nhìn chung thì các giống có thời gian sinh trưởng khá ngắn do điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao đã làm rút ngắn thời gian sinh trưởng
3.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Lily
Chiều cao cây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sản lượng hoa Lily Đó là bộ phận trung tâm để vận chuyển vật chất từ rễ lên lá và các sản phẩm do lá đồng hóa được xuống rễ, đến các bộ phận khác trên thân, lá,
nụ hoa…Thân chính sinh trưởng và phát triển tốt, khỏe mạnh là tiền đề cho các
bộ phận khác phát triển
Chiều cao cây chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Ngoài ra yếu tố di truyền, thời vụ thì chiều cao cây còn chịu ảnh hưởng của chế độ bón phân, giống và kỹ thuật chăm sóc Vì vậy nếu có chế độ chăm sóc, bón phân hợp lý thân cây sẽ đạt
chiều cao tối ưu, góp phần tăng chất lượng và năng suất hoa Lily
Trang 35Đối với hoa Lily thì thân là bộ phận quan trọng, thân mang bộ lá là trung gian vận chuyển các chất đồng hóa được từ lá về hoa và quả Sự tăng trưởng chiều cao thân là một chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh khá trung thực về quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chiều cao của hoa Lily được quyết định bởi bản chất
di truyền, các giống khác nhau có chiều cao cây khác nhau Đồng thời chiều cao cây cũng bị chi phối bởi các yếu tố ngoại cảnh Nếu gặp điều kiện bất lợi về nhiệt
độ, ẩm độ, ánh sáng… làm cho thân sinh trưởng chậm, số đốt giảm, cây sinh
trưởng không tốt sẽ ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng hoa về sau
Chỉ tiêu đầu tiên chúng tôi quan tâm là chiều cao cây vì nó có ý nghĩa quan trọng với hoa Lily, không những ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của
cây mà còn ảnh hưởng đến chiều dài hoa cắt, tức là ảnh hưởng tới chất lượng hoa
Qua quá trình theo dõi ở các giai đoạn, số liệu thu thập về chiều cao của các
giống nghiên cứu được thu thập và xử lý ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống hoa Lily trong vụ
Concador 10,46 34,15 56,15 68,58 77,95 83,22 83,45 83,45b Sorbonne 9,47 25,77 39,20 50,49 59,98 66,28 69,12 69,12d Tarago 23,81 36,80 46,96 57,75 63,12 68,31 69,22 69,22d Serano 16,18 33,9 48,11 63,46 70,18 74,75 - 75,21c Kahlua 7,98 33,33 62,22 83,18 94,37 - - 94,37a
Ghi chú: trong cùng một cột, giá trị trung bình của các giống có cùng chữ cái không sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05
Trang 36Kết quả trong bảng 3.3 cho thấy
Chiều cao cây của các giống hoa Lily tăng dần qua các giai đoạn sinh trưởng Sau 10 ngày trồng, chiều cao cây của các giống hoa Lily biến động từ 7,98 – 23,81 cm
Giai đoạn 20: giai đoạn này cây bắt đầu tăng trưởng và hình thành rễ chân kiềng nên việc bón phân và chăm sóc chưa ảnh hưởng đến chiều cao chính của các giống, kết quả nghiên cứu cho thấy chiều cao cây của các giống hoa Lily biến động từ 25,77 – 36,80
Giai đoạn 30 – 40 ngày: giai đoạn này cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực nên các giống Lily đều có sự tăng trưởng chiều cao mạnh Chiều cao cây biến động từ 39,20 – 83,18cm
Giai đoạn 40 – 50 ngày: chiều cao cây biến động từ 50,49 – 94,37 cm Giống Kahlua kết thúc quá trình sinh trưởng với chiều cao đạt 94,37 cm
Giai đoạn 50 – 70 ngày: đây là giai đoạn các giống hoa Lily tăng trưởng chiều cao chậm lại, chiều cao cây của 4 giống còn lại biến động từ 59,98 – 83,45
Chiều cao cây quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến giá trị thương mại
và thẩm mỹ của hoa Lily Trong 5 giống nghiên cứu thì giống Sorbonne có chiều cao cây là 69,12cm, giống Tarago có chiều cao cây 69,22 cm và giống Serano có chiều cao cây 75,21 cm là 3 giống đạt chiều cao phù hợp trong sản xuất trong sản xuất hoa cắt, được thị trường ưu chuộng
3.1.4 Động thái tăng trưởng số lá của các giống hoa Lily
Lá là bộ phận quan trọng giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động sống của cây trồng nói chung và cây hoa Lily nói riêng Đây là cơ quan thoát hơi nước,
Trang 37cũng nhờ thoát hơi nước mà cây chống chịu được với mọi điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao Vai trò quan trọng nhất là quang hợp Nhờ có lá, dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời, các chất vô cơ được chuyển thành các vật chất hữu cơ để nuôi cây, đặc biệt quang hợp sau thời kỳ ra hoa
đóng vai trò quan trọng tới chất lượng hoa
Bảng 3.4 Động thái tăng trưởng số lácủa các giống hoa Lily trong vụ Đông
Ghi chú: trong cùng một cột, giá trị trung bình của các giống có cùng chữ cái không sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05
Kết quả trong bảng 3.4 cho ta thấy:
Số lá của các giống hoa tăng dần theo quá trình sinh trưởng, phát triển Sau
10 ngày trồng, số lá cuả các giống hoa Lily có sự biến động từ 8,10 – 14,63 lá
Sau 20 ngày trồng, số lá tăng dần theo chiều cao của cây, biến động từ 26,87 – 58,70 lá
Giai đoạn từ 20 – 40 ngày: số lá của 5 giống đều tăng nhanh, biến động từ 26,87 – 108,13 lá
Giai đoạn 40 – 50 ngày: số lá vẫn tăng, biến động từ 45,23 – 119,30 lá Giống Kahlua kết thúc quá trình sinh trưởng với số lá trung bình là rất cao 119,30 lá