VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU
Nội dung nghiên cứu
1- Đánh giá ảnh hưởng của phẩm sinh học lên chất lượng nước ao nuôi;
2- Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi;
3- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm chân trắng.
Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài
Việc bố trí các lô thí nghiệm phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, một nghiệm thức được lặp lại 3 lần
- Các yếu tố phi thí nghiệm được quản lý tương đồng đồng giữa các ao thí nghiệm
- Diện tích ao 3600 m 2 , nguồn giống của công ty sản xuất giống Ninh VINA post
13, thả mật độ 140 con/m 2 , sử dụng thức ăn HI-PO
Quản lý và chăm sóc cây trồng cần được điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển, tuy nhiên, các phương pháp thí nghiệm phải đảm bảo tính nhất quán trong chế độ chăm sóc.
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trên 9 ao chia 3 công thức và lặp lại 3 lần
- Công thức 1 : Sử dụng chế phẩm Super VS các ao A1, A2,A3
- Công thức 2 : Sử dụng chế phẩm Sanolife PRO-W các ao A4, A5, A6 Ả nh hưởng của chế phẩm men vi sinh đến tôm thẻ chân trắng
3 Ao sử dụng chế phẩm Super Vs
3 Ao sử dụng chế phẩm Sanolife PRO-
Kết luận Đề xuất ý kiến
3 Ao không sử dụng chế phẩm (ĐC)
Chất lượng nước trong ao nuôi tôm
Tốc độ tăng trưởng của tôm
Tỷ lệ sống của tôm nuôi
- Công thức 3: không sử dụng chế phẩm sinh học A7, A8, A9 (Đối chứng)
2.3.2 Phương pháp xác đ nh một số chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.2.1 Phương pháp theo dõi các yếu tố môi trường
B ng 2.1Theo dõi các yếu tố môi trường trong ao nuôi
STT Yếu tố Dụng cụ Thời gian đo Số lần đo
1 pH Test p 7h và 13h Ngày 2 lần
2 DO (mgO 2 /L) Máy đo O 2 7h và 13h Ngày 2 lần
3 Nhiệt độ Nhiệt kế 7h và 13h Ngày 2 lần
4 Độ mặn(‰) Đo độ mặn 7h Ngày 1 lần
5 NO 2 Test NO 2 7h Ngày 1 lần
6 Amoniac(NH 3 ) Test NH 3 7h Ngày 1 lần
7 Độ kiềm Aqua Base 7h Ngày 1 lần
2.3.3.2 Phương pháp xác đ nh tăng trưởng
- Tăng trưởng về khối lượng
Để xác định trọng lượng trung bình của tôm trong ao, cần thực hiện chài tôm, đếm số lượng tôm và cân tổng trọng lượng tôm chài được Tiến hành chài ở 3 điểm ngẫu nhiên trong ao và tính kết quả trung bình Lấy 30 con tôm bất kỳ từ chài để đo trọng lượng trung bình Mẫu được đo khi tôm được 30 ngày tuổi và lặp lại sau 12 ngày.
Trọng lượng được cân bằng cân đĩa (g) có sai số 0,1gam
- Tăng trưởng về chiều dài
Sử dụng thước có chia vạch (mm) với sai số 0,5 mm để đo chiều dài của 30 con tôm, sau đó tính toán kết quả trung bình Việc đo được thực hiện khi tôm được 30 ngày tuổi và lặp lại sau 12 ngày.
- Công thức tính tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (Average daily growth)
Trong đó:ADG W là: tốc độ tăng trưởng bình quân ngày theo khối lượng (g/con/ngày)
ADG L là: tốc độ tăng trưởng bình quân ngày theo chiều dài (cm/con/ngày) t 2 / t 1 là: thời gian sau/ thời gian trước
L 1 /W 1 : chiều dài tại thời điểm t 1 / khối lượng tại thời điểm t 1
L 2 /W 2 : chiều dài tại thời điểm t2/ khối lượng tại thời điểm t2.
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng hay tốc độ tăng trưởng tức thì theo thời gian nuôi SGR (Specific growth rate)
Trong đó: SGR Tốc độ tăng trưởng đặc trưng
W 1 và W 2 hoặc L1 và L 2 là khối lượng, chiều dài tôm trước và sau thí nghiệm
Xác định tỷ lệ sống dựa vàosố tôm thu được trong mỗi lần chài tôm
- Tỷ lệ sống theo số tôm chài (%)
Số tôm trong chài * diện tích ao
Diện tích chài * số tôm ban đầu
Ghi chép chi tiết các yếu tố đầu vào và đầu ra trong suốt quá trình nuôi trồng là cần thiết để tính toán các khoản thu chi và đánh giá hiệu quả của vụ nuôi.
Dựa vào trọng lượng thức ăn hằng ngày và ước lượng qua chài để xác định năng suất tại thời điểm hết nghiên cứu
H: Sản lượng thu hoạch một vụ
S: Diện tích ao nuôi (ha).
- Phương pháp ước lượng tổng trọng lượng tôm trong ao
M: Tổng trọng lượng tôm trong ao (kg) m: Khối lượng trung bình của tôm (g/con)
T: Tỷ lệ sống tại thời điểm kiểm tra (%)
N: Số tôm lúc thả ban đầu (con)
- Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi
- Tổng thu = Tổng trọng lượng tôm * đơn giá tại thời điểm thu hoạch
- Tổng chi = Tiền con giống + thức ăn + thuốc, hóa chất + nhân công + khấu hao tài sản + chi phí khác
Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học sử dụng phần mềm Microsoft Exel 2007 và spss 16.0.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Từ ngày 20 tháng 1 năm 2015 đến ngày 25 tháng 4 năm 2016 Địa điểm nghiên cứu: Tại trung tâm thực hành hải sản Đại học Vinh.
KẾT QUẢ NGHI N CỨU VÀ THẢO LUẬN
Ảnh hưởng của hai chế phẩm sinh học Super VS và Sanolife PRO-W đến chất lượng nước trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng
3.1.1 Các yếu tố môi trường
B ng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 1 công thức Ao
Nhiệt độ ( o C) pH Độ Kiềm
(Số liệu nhiệt độ trong bảng được thể hiện theo công thức
TB là nhiệt độ trung bình, δ là độ lệch chuẩn, Min là nhiệt độ nhỏ nhất và Max là nhiệt độ lớn nhất)
Quá trình thực nghiệm cho thấy nhiệt độ trung bình dao động từ 24 – 30 o C, với sự ổn định và ít biến động giữa các đợt thí nghiệm Tất cả các ao nuôi đều có nhiệt độ phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm So sánh giữa các nghiệm thức NT1, NT2 và NT3 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), trong đó NT1 và NT2 có giá trị độ trong trung bình gần tương đương, do đó không có sự khác biệt giữa hai nghiệm thức này.
Các thí nghiệm tại Hawaii cho thấy tôm thẻ chân trắng sẽ chết nếu nhiệt độ nước giảm xuống dưới 14°C hoặc tăng lên trên 33°C trong vòng 24 giờ hoặc lâu hơn.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Âu, 2004 và Nguyễn Trọng Nho,
Năm 2002, nghiên cứu cho thấy rằng ấu trùng tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn hậu ấu trùng (Postlarvar) sinh trưởng và phát triển tốt nhất, đồng thời đạt tỷ lệ sống cao nhất khi được nuôi trong môi trường có nhiệt độ từ 28 đến 32 độ C.
pH của nước ao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của tôm, với mức pH lý tưởng từ 7,5 đến 8,5 Sự thay đổi pH có thể làm biến đổi thành phần máu, giảm khả năng chống chịu của tôm và gây tổn thương cho mang và phụ bộ Nếu pH dao động quá 0,5 đơn vị trong một ngày, hoạt động sống của tôm sẽ bị ảnh hưởng xấu Để duy trì pH ổn định, cần thường xuyên điều chỉnh bằng cách thay nước, bón vôi hoặc đánh mật đường Việc theo dõi pH hai lần mỗi ngày là cần thiết để đảm bảo điều kiện nuôi tôm tối ưu, nhằm nâng cao hiệu quả sinh trưởng và phát triển của tôm chân trắng.
NH3 và H2S là hai loại khí độc có khả năng hòa tan trong nước, tồn tại trong ao dưới hai dạng: dạng khí có tính độc cao và dạng ion ít độc hơn Tỷ lệ giữa hai dạng này bị ảnh hưởng bởi độ pH của nước Cụ thể, khi pH cao, lượng NH3 dạng khí tăng lên trong khi H2S dạng khí giảm Ngược lại, khi pH thấp, lượng H2S dạng khí tăng lên và NH3 dạng khí giảm.
Hình 3.2 Biểu đồ biến động pH của nước ao nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, giá trị pH dao động từ 7,4 đến 8,7, với giá trị trung bình của các công thức thí nghiệm nằm trong khoảng 7,7 đến 8,2 So với tiêu chuẩn ngành (pH = 7,5 – 8,5), pH trong thời gian nghiên cứu cho thấy mức độ thích ứng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm nuôi sinh trưởng và phát triển tốt.
Tôm có khả năng thích nghi với độ pH từ 6,5 đến 8,5 Tuy nhiên, pH thấp có thể giải phóng kim loại nặng và gia tăng ảnh hưởng của khí độc H2S, trong khi pH cao lại làm tăng độc tính của NH3 Theo nghiên cứu của Swingle (1961), pH ở mức 4 và 10 có thể gây chết tôm, trong khi pH lý tưởng cho tôm là từ 7,5 đến 8,5 V Thế Trụ (2003) cũng chỉ ra rằng pH trong ao nuôi tôm nên nằm trong khoảng 7,2 đến 8,8 để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho tôm.
Kết quả theo dõi cho thấy pH ở CT1 và CT2 ít biến động trong ngày (< 0,5), nhưng sự biến động tăng lên gần cuối vụ nuôi Trong khi đó, CT3 có sự biến động pH lớn hơn nhiều, với chênh lệch có thể lên tới 1,0 trong một ngày Sự dao động pH thường xảy ra vào những ngày nắng gắt và khi mật độ tảo trong ao cao Tuy nhiên, hiện tượng này cũng xuất hiện trong những ngày thời tiết âm u và mưa nhỏ Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2002), mật độ tảo ảnh hưởng mạnh mẽ đến biên độ dao động pH, khi tảo phù du phát triển quá mức và nhanh chóng tàn lụi sẽ làm pH biến động lớn Ngoài ra, việc nuôi tôm trong môi trường nước mặn thấp (17 - 19‰) cũng dẫn đến hệ đệm bicarbonat và carbonate trong ao thấp, góp phần gây ra sự dao động pH lớn.
Giá trị pH trong ao nuôi tôm có ảnh hưởng lớn đến sự sống, sinh trưởng và phát triển của tôm, cũng như tác động đến vi khuẩn và động vật đơn bào Ngoài ra, pH còn ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của tảo Do đó, việc điều chỉnh pH phù hợp là cần thiết để đảm bảo tôm nuôi phát triển khỏe mạnh.
Kết quả cho thấy CT1 và CT2 có biên độ dao động pH trong ngày tương đối giống nhau, dao động từ 7,5 – 8 vào buổi sáng và 7,9 – 8,5 vào buổi chiều Trong khi đó, NT3 có biên độ dao động pH lớn hơn, với mức từ 7,4 – 8,1 vào buổi sáng và 7,8 – 8,7 vào buổi chiều Tuy nhiên, khi so sánh giữa các NT, không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê (P > 0,05).
Độ kiềm là chỉ số tổng hợp của carbonate và bicarbonate, đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định pH và hạn chế độc tố trong ao nuôi tôm Nó ảnh hưởng lớn đến quá trình lột xác của tôm, với độ kiềm cao làm khó khăn cho việc lột xác, trong khi độ kiềm thấp cản trở việc cứng vỏ sau lột xác Đặc biệt trong nuôi tôm chân trắng, độ kiềm cần được kiểm tra thường xuyên vì chu kỳ lột xác ngắn và tôm cần hấp thụ độ kiềm để tạo ra vỏ mới Mức độ kiềm thích hợp trong ao nuôi tôm là từ 80 – 130 mg/l.
Trong quá trình nuôi tôm, độ kiềm có sự biến đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết, chế độ thay nước, thời gian tôm lột xác và việc bón vôi Dữ liệu cho thấy độ kiềm tăng dần theo thời gian nuôi, nhờ vào việc cung cấp lượng vôi lớn để ổn định độ kiềm và pH Tuy nhiên, vào cuối vụ, sự giảm độ kiềm xảy ra do tôm lột xác nhiều.
Sự chênh lệch độ kiềm trung bình giữa các ao trong nghiệm thức là không lớn, dao động từ 190 - 195 mg/l, cho thấy hai nghiệm thức thí nghiệm có sự khác biệt không đáng kể Để duy trì sự ổn định về độ kiềm, việc quản lý tốt là rất quan trọng, thường xuyên đánh vôi định kỳ 7 - 10 ngày/lần, với lượng vôi bón tùy thuộc vào từng ao Ngoài ra, cần theo dõi độ kiềm, đặc biệt sau mỗi lần tôm lột xác, để đảm bảo duy trì độ kiềm phù hợp và sự đồng đều giữa các ao thí nghiệm.
Hình 3.3 Biến động độ kiềm của nước ao nghiên cứu
Độ mặn tối ưu cho nuôi tôm chân trắng nằm trong khoảng từ 10 – 25 ‰ Nếu độ mặn quá cao (> 30 ‰), tôm sẽ phát triển chậm do vỏ dày, gây khó khăn trong quá trình lột xác Khi tôm không lột xác kịp thời, sự phát triển sẽ bị đình trệ Ngoài ra, nước mặn còn tạo điều kiện cho vi khuẩn vibrio phát triển, đặc biệt là bệnh phát sáng Mặt khác, độ mặn quá thấp (< 10 ‰) cũng không tốt, dễ dẫn đến bệnh tật do thiếu khoáng chất thiết yếu như Na, Ca, Cl, Fe, Cu, P, và Mn, cần thiết cho việc tạo vỏ tôm.
B ng 3.2 Biến động độ mặn ở các ao nghiên cứu TUẦN SUPER VS SanolifePRO-W ĐỐI CHỨNG
Giá trị trên thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn thống kê ở mức (P < 0,05)
Hình 3.4 Biến động đô mặn trong các ao nuôi qua các tuần
Độ mặn trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng giảm dần, đạt giá trị trung bình từ 20 - 21‰ nhờ vào quá trình cấp và thoát nước thường xuyên của công ty Các ao không có biến động lớn về độ mặn và nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tôm từ 15 – 25 ‰ So sánh giữa các nghiệm thức cho thấy không có sự khác biệt đáng kể (P > 0,05), cho thấy chế phẩm sử dụng không ảnh hưởng đến độ mặn của môi trường, mà chủ yếu phụ thuộc vào thời tiết, chế độ cấp thoát nước và sự pha trộn giữa nước mặn và nước ngọt.
Trong quá trình theo dõi giá trị pH của các CT và kết quả so sánh được thể hiện qua bảng 4.2 và hình 4.2
- Hàm lƣợng oxy hòa tan(DO )
Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng
3.2.1 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của tôm thẻ chân trắng
Tôm có khả năng tăng trưởng nhanh trong môi trường nuôi thích hợp, có thể đạt trọng lượng 8 - 10g chỉ sau 60 - 80 ngày và 35 - 40g trong khoảng 180 ngày Tốc độ tăng trưởng nhanh nhất diễn ra trong 60 ngày đầu, sau đó mức tăng trọng sẽ giảm dần theo thời gian nuôi.
B ng 3.6 Tăng trưởng chiều dài thân các nghiệm thức Ngày nuôi CT1 CT2 CT3
Giá trị trên thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn
Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức (P < 0,05)
Hình 3.8 Tăng trưởng chiều dài thân tôm
Theo bảng 4.7, tốc độ tăng trưởng chiều dài của tôm tăng nhanh đến giữa vụ nuôi Trong 30 ngày đầu, CT1 cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng.
Sau 41 ngày nuôi có sự sai khác giữa 3 CT với mức ý nghĩa (P > 0,05); trong đó CT1 đạt giá trị lớn nhất (6,46 cm) và CT3 đạt giá trị nhỏ nhất (5,47 cm) Trong thời gian nuôi từ ngày 53 – 77 ta thấy sự sai khác giữa 2 CT (CT1 và CT2) với CT3 có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05); CT1 có giá trị chiều dài thân lớn hơn NT2 nhưng không thấy sai khác về mặt thống kê (P > 0,05) Vậy CT1 có ảnh hưởng tốt nhất đến sự tăng trưởng về chiều dài của tôm nuôi trong thời gian 77 ngày đầu
- Tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về chiều dài
B ng 3.7 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân theo ngày
Giai đo n CT1 CT2 CT3
Giá trị trên thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn
Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức (P < 0,05)
Hình 3.9 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân theo ngày
Theo hình 3.9, CT1 có tốc độ tăng trưởng chiều dài thân cao nhất đạt 0,194 cm/con/ngày, trong khi CT3 ghi nhận tốc độ tăng trưởng thấp nhất là 0,079 cm/con/ngày trong khoảng thời gian nuôi từ ngày 66 đến 77.
B ng 3.8 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân theo ngày
Giai đo n CT1 CT2 CT3
Giá trị trên thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn
Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức (P < 0,05)
Hình 3.10 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân theo ngày
3.2.2 Ảnh hưởng của chế phẩm men vi sinh đến tốc độ tăng trưởng về trọng lượng của tôm thẻ chân trắng
B ng 3.9 Tăng trưởng khối luợng các nghiệm thức
Ngày nuôi CT1 CT2 CT3
Giá trị trên thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn
Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức (P < 0,05)
Hình 3.11 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng tôm thẻ chân trắng
Kết quả từ bảng 3.9 và hình 3.11 cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình về khối lượng của tôm ở các CT là khác nhau, với sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0.05) ở tất cả các giai đoạn nuôi Tôm ở CT1 có trọng lượng cao nhất, dao động từ 3,8 – 16,3 g/con, tiếp theo là CT2 với 3,8 – 11,9 g/con và CT3 với 3,8 – 8,96 g/con CT1 duy trì tốc độ tăng trưởng trọng lượng vượt trội so với CT2 và CT3 trong suốt giai đoạn nuôi (P < 0,05), dẫn đến kích thước tôm đồng đều và lớn hơn hẳn Đồng thời, sự tăng trưởng chiều dài của tôm ở CT1 và CT2 cũng có sự khác biệt so với CT3 với mức ý nghĩa (P < 0,05) trong tất cả các giai đoạn nuôi.
B ng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về trọng lượng
Giai đo n CT1 CT2 CT3
Giá trị trên thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn
Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức (P < 0,05)
Hình 3.12 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về khối lượng
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của tôm dao động từ 0,016 đến 0,529 g/con/ngày, với trọng lượng tôm tăng dần theo thời gian nuôi Tốc độ tăng trưởng đạt cao nhất vào khoảng 65 – 77 ngày nuôi, trong khi mức thấp nhất là 0,016 g/con/ngày ở giai đoạn 30 - 41 ngày tuổi Tôm đạt tốc độ tăng trưởng tuyệt đối cao nhất là 0,529 g/con/ngày tại giai đoạn 77 ngày tuổi.
Khi kiểm định sự khác biệt về tăng trưởng khối lượng tôm trong các ao nuôi, kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt Khối lượng tôm ở CT1 cao nhất, trong khi CT3 thấp nhất Sự khác biệt về trọng lượng giữa tôm CT1, CT2 và các ao đối chứng đạt ý nghĩa thống kê với P